Thursday, 7 November 2019

Doanh nghiệp FDI lên sàn: Đừng biến bình thường thành bất thường (Bài đăng trên TBKTSG bản in số 44-2019)


Theo báo cáo, hiện nay ở Việt Nam đã có một số doanh nghiệp FDI đã chuyển đổi thành công ty cổ phần nhưng chưa có quy định pháp lý cụ thể về việc niêm yết/đăng ký giao dịch. Hiện Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước mới chỉ làm được đến đoạn là “xin ý kiến của các cơ quan, đơn vị liên quan” để sẽ “sớm trình Thủ tướng Chính phủ cơ chế niêm yết/đăng ký giao dịch đối với doanh nghiệp FDI” (1). 


Đồng thời, dù vẫn chưa cho ra đời được cơ chế niêm yết/đăng ký nhưng Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã “lo xa” hơn khi “cũng sẽ có cơ chế phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư để thực hiện giám sát sau khi các doanh nghiệp FDI lên sàn”.

Do nghi ngờ?

Lý do của việc chậm chễ, trì hoãn kéo dài, và tuy chưa làm được (chưa ban hành cơ chế niêm yết) nhưng đã lo đến chuyện giám sát này có thể gói gọn trong hai chữ “nghi ngờ”!

Lý do trên có thể được thấy rõ qua trường hợp cụ thể là công ty Seoul Metal Việt Nam (SMV). Theo đó, “SMV được niêm yết cũng gây ra lo ngại cổ đông sáng lập bán cổ phiếu, nhà đầu tư nước ngoài rút vốn” (2). Với những doanh nghiệp FDI khác đã niêm yết, thời gian đầu thì kết quả tốt đẹp nhưng sau này thì thua lỗ, cổ phiếu rơi xuống dưới mệnh giá, thậm chí bị hủy niêm yết..., đã có các giả thuyết đưa ra để giải thích là do chuyển giá, trốn thuế, nhà đầu tư ngoại rút vốn khi doanh nghiệp lên sàn... (1).

Tóm lại, viễn cảnh doanh nghiệp FDI lên sàn rõ ràng không được ít nhất là “thị trường” nhìn nhận một cách thiện cảm. Nếu có lên sàn thì họ sẽ bị nghi ngờ với những động cơ “không trong sáng” và thậm chí sẽ phải chịu nhiều phiền phức, rủi ro sau niêm yết do nhận được sự chú ý trên mức bình thường của cơ quan giám sát, xuất phát từ thành kiến với họ.

“Ngoại” cũng (phải được coi) là “nội”

Nếu quả thực lý do trên là nguyên nhân chính gây ra sự chậm chễ trong ban hành quy định và hướng dẫn doanh nghiệp FDI niêm yết trên sàn chứng khoán thì đây là một điều rất đáng tiếc và đáng trách, thể hiện một nhận thức hạn hẹp, sai lầm rất không phù hợp với bối cảnh thời nay.

Trước hết, cần khẳng định lại là mọi doanh nghiệp đăng ký và hoạt động hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam, dù là có nguồn gốc FDI, phải được đối xử công bằng như nhau, đặc biệt trong bối cảnh mà Việt Nam đã và đang ký kết các hiệp định tự do hóa thương mại và đầu tư (FTA). Trên cái nghĩa này, nếu doanh nghiệp FDI vẫn còn đang bị đối xử bất công ít nhất từ góc độ niêm yết trên sàn thì nghĩa vụ của Chính phủ là phải lập tức xóa bỏ ngay các đối xử này, để doanh nghiệp FDI được niêm yết theo cách áp dụng với các doanh nghiệp trong nước. Nếu không làm vậy thì hãy chuẩn bị tinh thần để bị kiện cáo vì phân biết đối xử.

Đó là về pháp lý. Còn về lý luận, việc niêm yết chẳng có liên quan gì đến những điều “xấu xí” mà “thị trường” đang đặt ra cho các doanh nghiệp FDI (muốn) niêm yết. Muốn chuyển giá/trốn thuế thì không cần phải đợi niêm yết mới thực hiện được (mà thậm chí là ngược lại thì đúng hơn, bởi khi niêm yết thì doanh nghiệp phải minh bạch thông tin). Hơn nữa, chẳng phải chỉ có doanh nghiệp FDI (niêm yết) mới có (xu hướng) chuyển giá, trốn thuế, mà ngay cả doanh nghiệp nội cũng vậy. Thế nên nếu lo ngại khi niêm yết, doanh nghiệp FDI sẽ trốn thuế/chuyển giá thì cùng một logic, doanh nghiệp nội cũng nên bị cấm/không khuyến khích niêm yết. Và, nói cho cùng, hiện cơ quan chức năng của Việt Nam đã “chỉ mặt” được mấy doanh nghiệp FDI (chưa niêm yết) có hành vi chuyển giá/trốn thuế, hay mới chỉ dừng lại ở những nghi vấn? 

Chủ đầu tư nước ngoài muốn thoái vốn thì cũng không cần phải đợi niêm yết mới thoái được, mà thậm chí là ngược lại thì đúng hơn, bởi lúc đã niêm yết, khi cổ đông lớn muốn thoái vốn thì phải thông báo, nên việc thoái vốn sau khi niêm yết có thể sẽ khó khăn hơn do thị trường hiểu rằng công ty hoặc cổ đông lớn “có vấn đề”, và sẽ không chấp nhận mua cổ phiếu doanh nghiệp, hoặc mua với giá không như cổ đông kỳ vọng. 

Đừng “ngược dòng” một mình!

Xem ra quan niệm tiêu cực về niêm yết của các doanh nghiệp FDI và hậu quả là sự chậm chễ trong niêm yết của các doanh nghiệp này ở Việt Nam như nói trên là trường hợp hãn hữu so với thế giới hiện nay. Nhìn chung, ở các nước khác, muốn niêm yết thì doanh nghiệp, không phân biệt nội hay ngoại, phải và chỉ cần đáp ứng một số điều kiện chung đặt ra bởi thị trường chứng khoán/sàn giao dịch của nơi mà doanh nghiệp muốn niêm yết (thậm chí với những nước có nhiều hơn một sàn giao dịch, như ở Mỹ, thì mỗi sàn giao dịch lại có một bộ các điều kiện khác nhau đối với việc niêm yết).

Ở Singapore, chỉ có hai loại hình doanh nghiệp/công ty chính, gồm công ty tư nhân (private company) và công ty đại chúng (public company). Công ty tư nhân có thể chọn chuyển đổi thành công ty đại chúng và (sau đó) lên sàn nếu thấy việc chuyển đổi và lên sàn có lợi cho mình hơn. Những lợi ích này gồm dễ gọi thêm vốn, làm tăng giá trị nắm giữ, dễ dàng mua bán cổ phần hơn, dễ gây dựng uy tín/hình ảnh doanh nghiệp hơn, dễ dùng cổ phiếu để mua bán, sáp nhập doanh nghiệp khác hơn... Ngược lại, việc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp và niêm yết sẽ đi kèm với nhiều bất lợi, gồm việc phải công khai thông tin, tốn thêm nhiều loại chi phí, dễ bị thôn tính, chịu thêm các quy định và thủ tục... 

Việc chuyển đổi thành công ty đại chúng và/hoặc niêm yết phải thỏa mãn một số điều kiện và tuân theo quy trình chung, thống nhất được quy định rõ ràng, công khai mà chẳng có điều kiện nào áp dụng riêng cho doanh nghiệp (có nguồn gốc) FDI (3). Thậm chí một doanh nghiệp tư nhân có thể bị bắt buộc phải chuyển đổi thành công ty đại chúng khi cơ quan quản lý thấy rằng công ty đó không còn đáp ứng điều kiện để là công ty tư nhân nữa (chẳng hạn như khi số lượng cổ đông của công ty vượt quá ngưỡng quy định là 50). Khi đó, công ty muốn tiếp tục tồn tại và hoạt động thì phải tuân theo quy định như áp dụng đối với công ty đại chúng.

Như vậy, nhìn rộng ra thế giới thì việc “cổ phần hóa” (biến công ty tư nhân thành công ty đại chúng, dù đó là một doanh nghiệp FDI như khái niệm đang được dùng ở Việt Nam) và niêm yết chỉ là một việc hết sức bình thường mà khuôn khổ pháp luật cho nó cần phải có, cần phải tạo dựng và áp dụng với mọi doanh nghiệp thích ứng, ngay khi thị trường chứng khoán ra đời.

Trước một điều bình thường, hiển nhiên và là một thông lệ trên thế giới như vậy, việc phân biệt đối xử, chậm chễ, trì hoãn cho doanh nghiệp FDI sau “cổ phần hóa” ở Việt Nam như hiện nay chẳng có bất cứ lý do gì để biện minh và kéo dài thêm.

(1) http://ndh.vn/som-co-co-che-dua-cac-doanh-nghiep-fdi-len-san-chung-khoan-20190712021346506p4c147.news
(2) http://ndh.vn/cua-nao-len-san-cho-doanh-nghiep-goc-fdi-nhin-tu-truong-hop-seoul-metal-viet-nam--2018062804357992p4c147.news
(3) https://www.3ecpa.com.sg/resources/finances-and-grants/going-for-public-listing-in-singapore

No comments:

Post a Comment

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).