Thursday, 29 August 2013

Bàn tròn chuyên gia: Tỷ giá và chiếc tăm tre (Bài đăng trên TBKTSG 29/8/2013, nhiều tác giả)




Nguyên văn phát biểu của tớ (viết chung chung khi chưa biết ý kiến của các tác giả khác thế nào)

Ổn định tỷ giá không luôn là một thành tích

Với vấn đề liên quan đến tỷ giá mà TBKTSG đặt ra, có thể thấy rõ ràng rằng tỷ giá đồng đô la biến động (tăng lên) rất ít trong khi lạm phát của Việt Nam tăng mạnh so với Mỹ đã gây phương hại thế nào đến sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam nói riêng và rộng hơn là tăng trưởng kinh tế. Trong kinh tế học, khi tỷ giá danh nghĩa của bản tệ không điều chỉnh kịp với mức chênh lệch lạm phát trong và ngoài nước, lúc đó bản tệ được nói là đã lên giá thực (real appreciation) so với ngoại tệ, và hậu quả trực tiếp là làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế bản địa dẫn đến tăng nhập siêu và kết cục là giảm tăng trưởng kinh tế.

Có lẽ vấn đề cần bàn ở đây là tại sao trước một điều hiển nhiên như vậy nhưng người ta vẫn e ngại chuyện phá giá bản tệ (tăng tỷ giá danh nghĩa) ở mức độ ít ra là bằng một phần của chênh lệch lạm phát để khôi phục lại xuất khẩu, giảm nhập khẩu nhằm giảm nhập siêu? Thậm chí, chuyện giữ cho tỷ giá ổn định bất chấp lạm phát đã tăng thế nào còn luôn được coi là một thành công trong chính sách điều hành kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.

Thường thì điều này xuất phát từ những ngộ nhận và nhận thức phiến diện rằng phá giá sẽ không giúp gì cho xuất khẩu mà chỉ làm tăng lạm phát khi giá nhập khẩu nguyên nhiên liệu đầu vào tăng lên. Rồi là phá giá thì sẽ làm nhà đầu tư nước ngoài chán nản bỏ đi, còn gánh nặng nợ nước ngoài thì tăng lên v.v... Mặc dù là ngộ nhận và phiến diện (xin xem các bài viết của tác giả về tỷ giá trên TBKTSG) nhưng tiếc là nhiều người vẫn mắc phải và đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc hoạch định và điều hành chính sách vĩ mô ở Việt Nam.

Qua hội nghị bàn tròn này với TBKTSG, tôi tin và hy vọng rằng các vị chuyên gia ở đây cũng có chung một quan điểm với tôi, từ đó cùng kiến nghị lên Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực thi một chính sách tỷ giá thân thiện với xuất khẩu hơn, cũng chính là một chính sách kích thích tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô (thông qua giảm nhập siêu).

Ngược lại, tôi cũng rất mong các vị cùng bày tỏ tiếng nói quan ngại với chính sách tỷ giá hiện tại của NHNN khi chủ trương kìm tỷ giá trong khi tiếp tục tăng cung tiền để tăng cầu cho nền kinh tế. Sự “ổn định” của tỷ giá như hiện nay nên được nhìn nhận là một điều có hại hơn là một thành công chính sách, và cần được hiểu là một sự “ổn định” không bền vững và trong ngắn hạn, để rồi kết cục là một sự phá giá mạnh không thể tránh được, có thể châm ngòi cho một cơn hoảng loạn, mất kiểm soát.


Bình luận của tớ:
1.       Các lập luận của đồng chí Thơ và Tuấn có một lỗi sai cơ bản. Mặc dù (hình như) cũng đồng ý rằng tỷ giá hiện tại là bất lợi cho sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam, tức là đồng ý rằng tỷ giá là một trong những nhân tố có tác động đến tính cạnh tranh của hàng hóa nội địa, nhưng mặt khác, thay vì cho ý kiến có đồng ý điều chỉnh tỷ giá hay không thì họ lại quay sang bàn đến những vấn đề khác, nào là gốc rễ thực sự của việc cạnh tranh yếu, nào là khác biệt về tính cạnh tranh v.v.. Nói tóm lại là lạc đề!
 
Để dễ hình dung, tớ đưa ví dụ thế này. Một bệnh nhân bị bệnh tim mạch. Mặc dù bác sĩ điều trị cũng đồng ý với các bác sĩ hội chẩn khác rằng bệnh nhân này bị hẹp động mạch gì gì đó (ví dụ, do mỡ máu) cần phải nong động mạch ra thì mới có nguy cơ sống sót. Nhưng thay vì (kết hợp) điều trị theo cách này, ông ta chỉ chăm chú vào điều trị nguồn gốc của bệnh, tức là chế độ ăn uống, sinh hoạt không lành mạnh của bệnh nhân. Đương nhiên là cần cầu trời cho bệnh nhân này đủ dai sức để sống và chờ cho việc điều chỉnh chế độ ăn kiêng và sinh hoạt phát huy hiệu quả (không tích tụ thêm các cục xơ vữa nữa). Nhưng cho dù có sống được thì mạch máu của bệnh nhân vẫn tắc như cũ, và do đó dễ gây đột quỵ, vì vẫn hẹp do không được nong!
 
2.       Vấn đề mà TBKTSG đặt ra rất đơn giản và dễ hiểu. Họ hỏi là có nên phá giá không, chứ không hỏi là có cần phải phá giá bao nhiêu, phá giá mạnh không. Vì thế, lẽ ra câu trả lời tất yếu chỉ cần/đương nhiên là: Cần phải phá giá, dù ít, dù nhiều, chứ không thể tuyên bố như NHNN nói là không “điều chỉnh”. Tất nhiên cách thức và lộ trình phá giá như thế nào là chuyện khác, như đã được đồng chí Giang bàn đến và tớ cũng nói nhiều lần rồi (chẳng hạn cứ lẳng lặng mà làm, thỉnh thoảng làm bụp một phát, tùy theo mức độ cảm thấy phù hợp). Đằng này các đồng chí Thơ và Tuấn lại quay sang phản đối rằng phá giá/điều chỉnh mạnh là không phù hợp. Tức là, một lần nữa tớ nhấn mạnh, lại lạc đề!
 
3.       Như tớ đã góp ý với TBKTSG đặt lại câu hỏi thứ hai, như trong bài gốc, khi mọi thứ vẫn như nguyên mà tỷ giá vẫn cố định (tức VND lên giá thực so với USD) thì rõ ràng là hàng hóa Việt Nam càng mất tính cạnh tranh và vì thế càng phải nên phá giá chứ? Đây là vấn đề có tính logic mà các đồng chí Thơ và Tuấn đang vi phạm trong lập luận của mình, khi họ chuyển vấn đề từ việc có nên phá giá không sang việc phân tích yếu tố nào mới là yếu tố chính ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam, hoặc lặp lại vấn đề không nên phá giá mạnh (như đồng chí Tuấn ví dụ là 13%). Để tăng phần thuyết phục, họ đưa ra những lập luận mà xét cho cùng vừa rắm rối, và quan trọng hơn, vừa ... lạc đề!
 
4.       Đồng chí Giang, mặc dù như tớ vẫn thường hoan nghênh, nhất là trong bài này khi cùng đưa ra ý kiến khá giống với tớ, mắc một sai lầm nhỏ, khi cho rằng phá giá sẽ làm tăng gánh nặng nợ Nhà nước. Đây là vấn đề mà tớ đã phản biện trên TBKTSG mấy tháng trước đây (đại loại, nếu không phá giá thì nợ Nhà nước – tính bằng VND - có thể không tăng lên, nhưng rốt cuộc quỹ dự trữ ngoại hối của NHNN lại hao hụt tương ứng để kìm giữ tỷ giá. Tức là tiền từ chui từ lỗ hổng nọ ra lỗ hổng kia trong cùng một cái quần quốc gia).
 
5.       Còn về ý kiến của đồng chí Phạm Thế Anh, tuy có phân tích theo một hướng hơi khác một chút (chỉ số giá sản xuất), nhưng có thể thấy rõ ràng nó cũng phạm phải những sai lầm giống của đồng chí Thơ và Tuấn (tập trung vào tìm căn nguyên của tính cạnh tranh yếu, bỏ qua việc cần thiết phải phá giá, như là một trong những biện pháp cần làm).
 
Và qua bài này, mới thấy, như tớ đã phát biểu trong bài, rằng sự ngộ nhận và hiểu một chiều về tỷ giá đang ngự trị trong đầu của rất, rất nhiều người, kể cả giới học giả được coi là tinh hoa (nhất) của Việt Nam như trong bài này (bạn đọc nào còn nghi ngờ nhận định của tớ thì tìm đọc lại các bài phản biện về tỷ giá của tớ trên báo chí và post lại trên blog này), và chúng đã rất có ảnh hưởng (tiêu cực) đến việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ và tỷ giá ở Việt Nam. Và cứ nhìn lực lượng tương quan giữa phe phản đối và phe ủng hộ tỷ giá trong bài này thì sẽ dễ hiểu, dễ thấy tại sao NHNN lại “kiên định” với chuyện không phá giá đến thế. Có 5 người tham gia trong bài thì quá bán, 3 người, phản đối phá giá (mạnh); chỉ còn mỗi tớ và đồng chí Giang là luôn kiên định với việc phá giá (tất nhiên phá giá ở mức bao nhiêu là chuyện bàn sau).
 
 
Các comment trên của tớ có thể gây khó chịu cho ai đó, nên rất mong mỏi các đồng chí không tán thành hãy vào đây tranh luận ra ngô ra khoai với tớ.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).