Monday, 20 July 2015

Nới room thị trường chứng khoán: Khó xảy ra tăng trưởng bong bóng (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, 19/7/2015)

http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=354214


Bằng việc ban hành Nghị định 60/2015, Chính phủ cuối cùng đã quyết định cho phép nới room thị trường chứng khoán. Và như vậy, từ 1.9, nhà đầu tư nước ngoài có thể nắm giữ 100% cổ phần các công ty lâu nay có hạn chế về sở hữu nước ngoài như Vinamilk, FPT, Dược Hậu Giang, REE…

Bên cạnh những vui mừng của không ít cá nhân và tổ chức liên quan với quyết định này, cũng có một số ý kiến lo ngại việc mở room đến mức tối đa như vậy sẽ mở màn cho một làn sóng thâu tóm của các nhà đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước. Quan trọng hơn, sự lao dốc và thoái trào của thị trường chứng khoán Trung Quốc lan rộng ra các thị trường chứng khoán trên thế giới và trong khu vực sẽ có khả năng kích hoạt một số bộ phận các nhà đầu tư chuyển đổi danh mục đầu tư từ những thị trường chứng khoán đang có chiều hướng đi xuống sang thị trường chứng khoán Việt Nam. Với trần giới hạn sở hữu mới là 100% với nhiều doanh nghiệp, làn sóng này có thể hun nóng thị trường chứng khoán Việt Nam vốn đang có quy mô khá hạn chế  để có khả năng hấp thụ nhiều tỷ USD vốn đầu tư mới mà không làm nó nổ tung. Một dẫn chứng cho nỗi lo ngại này là thị trường chứng khoán Việt Nam đã và đang tăng trưởng khá tốt, đi ngược lại những gì đang xảy ra ở nước láng giềng Trung Quốc.

Tuy vậy, từ việc nới room đến khả năng xảy ra một bong bóng mới trên thị trường chứng khoán Việt Nam dường như không có mối liên hệ chặt chẽ hoặc cự ly vẫn còn quá xa để có thể kết luận ngay được rằng nới room là nguy hiểm.

Thứ nhất, nhà đầu tư nước ngoài nếu có mối quan tâm vào thị trường chứng khoán Việt Nam thì sự quan tâm của họ sẽ mang tính lựa chọn cẩn trọng chứ không phải nhắm mắt mua đại bất kể cổ phiếu nào với bất cứ giá nào. Đương nhiên là tính lựa chọn này có khả năng sẽ làm cho giá cả của những cổ phiếu mà họ nhắm đến tăng mạnh và liên tục, từ đó dẫn đến chỉ số chứng khoán của Việt Nam nói chung tăng mạnh tương ứng. Nhưng việc tăng này cũng sẽ chỉ có giới hạn, đến một ngưỡng nào đó thì chứng khoán Việt Nam trở nên đắt đỏ quá mức so với chứng khoán trên thị trường khác trong khu vực và trên thế giới. Điều này làm cho các nhà đầu tư nước ngoài dù có quan tâm đến đâu cũng phải cân nhắc thiệt hơn khi tiếp tục lao vào cuộc chơi chứng khoán ở Việt Nam.

Thứ hai, quyết định nới room sẽ làm cho một số bộ phận nhà đầu tư trong nước bị thay thế bởi nhà đầu tư nước ngoài trong việc nắm giữ và sở hữu các cổ phiếu đã được nới room. Điều này thực ra lại là điều tích cực nếu xét đến khía cạnh đa phần nhà đầu tư nước ngoài là các nhà đầu tư tổ chức chứ không phải là nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ như trong nhiều trường hợp hiện nay ở Việt Nam và cả ở Trung Quốc. Chính những nhà đầu tư nhỏ lẻ thường bị tác động bởi tâm lý bầy đàn do ít kiến thức và hiểu biết về thị trường chứng khoán cũng như các vấn đề liên quan... mới là nguyên nhân chính góp phần đẩy thị trường chứng khoán trên thế giới vào các cuộc khủng hoảng và sụp đổ. Nay, nếu các nhà đầu tư nước ngoài có lấn át nhà đầu tư nội địa trong một số loại cổ phiếu nào đó thì họ đã gián tiếp làm giảm rủi ro đẩy thị trường chứng khoán Việt Nam vào các cơn sốt nóng lạnh thất thường.

Thứ ba, việc nới room sẽ làm tăng tính hấp dẫn của thị trường chứng khoán Việt Nam và sẽ lôi kéo thêm sự quan tâm cũng như đầu tư của giới đầu tư nước ngoài, từ đó có nhiều khả năng dẫn đến giá cổ phiếu tăng mạnh trên diện rộng. Nhưng mặt khác, chính sự quan tâm của giới đầu tư nước ngoài kéo theo mặt bằng giá cổ phiếu tăng lên lại kích thích nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu và niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Chương trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cũng vì thế mà hanh thông hơn, với giá trị thu về cho ngân sách lớn hơn, đến lượt chúng lại kích thích và tạo thuận lợi cho cổ phần hóa và niêm yết cổ phần của các DNNN. Điều này có nghĩa là song song với nhu cầu nắm giữ và sở hữu chứng khoán Việt Nam tăng lên thì nguồn cung chứng khoán mới khi ra thị trường chứng khoán Việt Nam cũng có khả năng tăng mạnh tương ứng hoặc thậm chí hơn. Cân bằng trên thị trường vì thế sẽ luôn được thiết lập với những biến động về giá sẽ là không lớn, nếu có.

Tóm lại, với ít nhất 3 lý do trên, việc nới room cho nhà đầu tư nước ngoài sẽ không làm thị trường chứng khoán Việt Nam tăng trưởng bong bóng trong thời gian tới, kể cả khi thị trường chứng khoán Trung Quốc sụp đổ thật sự.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).