http://www.thesaigontimes.vn/154208/Ban-dau-gia-no-xau-cac-AMC-phai-dung-ngoai.html
(TBKTSG) - Chiều ngày 17-11 Quốc hội đã thông qua dự thảo Luật Đấu giá tài sản. Theo đó, việc đấu giá nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam (hiện nay đó là Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam - VAMC) đã được đưa vào luật này.
Giải thích lý do quy định việc đấu giá nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của VAMC, Ủy ban Thường vụ Quốc hội dẫn yêu cầu tại Nghị quyết số 05-NQ của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, nhấn mạnh việc giao thẩm quyền và nâng cao năng lực của VAMC trong mua bán nợ theo giá thị trường gắn với xử lý tài sản thế chấp, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của chủ nợ.
Bên cạnh đó, các quy định bán đấu giá nợ xấu trong luật đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội bổ sung lại cho chặt chẽ, minh bạch, khách quan... tránh thất thoát tài sản nhà nước (trong quá trình đấu giá). Ví dụ, luật này không cho phép VAMC bán đấu giá theo trình tự, thủ tục rút gọn.
Tuy nhiên, từ góc độ xử lý nợ xấu, tình trạng hiện tại của luật còn một số tồn tại lớn.
Đó là, luật chỉ chọn và cho phép duy nhất VAMC được đấu giá nợ xấu và tài sản đảm bảo cho khoản nợ xấu mà hoàn toàn không đề cập đến các tổ chức xử lý nợ xấu (AMC) khác của các ngân hàng thương mại. Như đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội diễn giải, mục đích quy định đấu giá xử lý nợ xấu và tài sản đảm bảo của khoản nợ xấu của VAMC là để tạo thẩm quyền và nâng cao năng lực xử lý nợ xấu của VAMC. Nhưng mục đích thực sự cuối cùng là để nhằm giải quyết nhanh nợ xấu theo cơ chế thị trường.
Bởi vậy, nếu song song với VAMC, luật quy định thêm các AMC khác cũng được đấu giá nợ xấu và tài sản đảm bảo khoản nợ xấu của các ngân hàng thương mại mà chúng nắm giữ thì rõ ràng quá trình xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng càng được đẩy nhanh. Đây là một điều tốt và là mong muốn không chỉ của các ngân hàng mà cả toàn xã hội. Vậy, không hiểu vì lý do gì mà các AMC của các ngân hàng thương mại lại không được trao quyền như với VAMC, biến quyền được đấu giá nợ xấu và tài sản đảm bảo khoản nợ xấu trở thành một đặc quyền cho VAMC.
Nếu cho rằng chỉ có VAMC mới cần thiết, mới có đủ khả năng (hay trong mắt của giới quản lý là đáng tin cậy hơn, dễ quản lý hơn so với các AMC) thực hiện đấu giá nợ xấu thì hoàn toàn không chính xác. Nhu cầu xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại và các AMC của họ cũng rất cấp bách, thậm chí còn hơn cả VAMC, vì nợ xấu tồn tại ngày nào thì các ngân hàng thương mại thiệt hại ngày đó vì phải trích lập dự phòng xử lý nợ xấu, vì vốn bị chôn trong nợ xấu. Nếu VAMC xử lý được nợ xấu thì tốt, và thu được thù lao xử lý nợ xấu từ các ngân hàng thương mại; không xử lý được thì cứ để ở đó mà chẳng phải chịu tốn phí gì cả vì nợ xấu không phải là của VAMC mà thực chất chỉ được họ giữ hộ các ngân hàng thương mại mà thôi, nên động lực phải giải quyết nợ xấu không bằng các ngân hàng cũng như các AMC.
Trên hết và quan trọng hơn, vai trò của pháp luật là để điều chỉnh và chế tài tất cả các hành vi của các đối tượng được chế tài nên tất cả những quan ngại và lo sợ về việc trao quyền (và nghĩa vụ) tương đương cho các AMC như với VAMC hoàn toàn có thể hóa giải được bằng việc ban hành và thực thi nghiêm túc các điều luật liên quan, như những quy định cho VAMC. Trên khía cạnh này, việc “lờ” các AMC trong việc được đấu giá nợ xấu và tài sản đảm bảo khoản nợ xấu càng trở nên khó hiểu.
Một tồn tại khác trong luật là dường như không nhận thức, đánh giá đúng được những khó khăn, vướng mắc trong quá trình đấu giá, chuyển giao sở hữu tài sản, nhất là tài sản đảm bảo khoản nợ xấu. Ví dụ, luật quy định VAMC có nghĩa vụ giao tài sản đấu giá và các giấy tờ liên quan đến tài sản đấu giá cho người mua được tài sản đấu giá. Nhưng liệu người mua được tài sản đấu giá sau khi cầm được tất cả các giấy tờ liên quan đến tài sản này, gồm có sổ đỏ nếu tài sản đấu giá là mảnh đất, có sang tên chủ sở hữu thành của mình được hay không thì lại là chuyện khác, không có gì đảm bảo là việc này sẽ thành công, trong trường hợp, ví dụ, người chủ cũ nhất quyết không chịu làm thủ tục sang tên.
Do vậy, chừng nào Luật Đấu giá tài sản không có quy định liên quan, ví dụ, cho phép các cơ quan chức năng công nhận chủ sở hữu mới các tài sản bảo đảm nợ xấu sau quá trình đấu giá mà không cần người chủ mới này phải làm thêm thủ tục sang nhượng quyền sở hữu từ chủ cũ thì chừng đó luật này cũng chỉ phát huy tác dụng trong một số trường hợp hãn hữu nhất định.
Saturday, 26 November 2016
Friday, 25 November 2016
Nên tuân thủ cuộc chơi (Bài đăng trên TBKTSG, 25/11/2016, bản gốc)
http://www.thesaigontimes.vn/154201/Nen-tuan-thu-cuoc-choi.html
Việt Nam cho đến
nay đã đàm phán và ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương,
nhiều hiệp định trong số này đã có hiệu lực mà đáng kể nhất trong số này là TPP
và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam EU.
Tuy vậy, nhận thức
về tự do hóa thương mại còn nhiều lệch lạc, không chỉ trong một bộ phận người
dân mà còn ngay cả trong một bộ phận giới chức.
Lệch lạc đầu tiên
là tuy đã hội nhập, đã cam kết mở cửa nhiều thị trường hàng hóa và dịch vụ trong
nước cho cạnh tranh của các nước đối tác, nhưng nhiều người vẫn cứ cố níu kéo,
cản trở sự cam kết mở cửa này bằng nhiều cách, chủ yếu là dùng những hàng rào bảo
hộ phi thuế quan. Một ví dụ điển hình là ngành sản xuất và kinh doanh ô tô. Các
cam kết tự do hóa thương mại với ASEAN, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Liên
minh kinh tế Á Âu, và sắp tới là với EU có những điều khoản về mở cửa thị trường
ô tô ở Việt Nam cho ô tô nhập khẩu từ những thị trường này. Tuy vậy, hiện nay
nhiều người, nhiều tổ chức vẫn đang vận động đưa vào luật ngành, nghề sản xuất,
nhập khẩu và kinh doanh ô tô thành ngành, nghề kinh doanh có điều kiện với mục
đích không chỉ đảm bảo an toàn cho người sử dụng mà còn chủ yếu là để làm khó
thêm ô tô nhập khẩu và bảo hộ ngành công nghiệp ô tô trong nước đang loay hoay
với chiến lược phát triển nhưng lại vẫn đang được hưởng lợi lớn nhờ thuế nhập
khẩu cao và nhiều quy định làm khó ô tô nhập khẩu.
Đương nhiên là những
người và tổ chức vận động bảo hộ ngành công nghiệp ô tô nội địa có lý do thuyết
phục cho việc này vì ngành ô tô là một ngành quan trọng với mọi nền kinh tế.
Tuy vậy, quan trọng là một chuyện nhưng có nhất thiết phát triển bằng mọi cách
và có phát triển được không lại là một chuyện khác. Thực tế cho thấy không phải
nước nào cũng thành công với ngành công nghiệp ô tô, nếu như ngành này không là
thế mạnh cạnh tranh của họ. Hiện tại Việt Nam cũng chẳng có thế mạnh gì có thể
dẫn đến sự phát triển vững chắc của ngành công nghiệp ô tô trong nước, ngoài một
lợi thế duy nhất là dân số đông, hứa hẹn một thị trường tiêu thụ có tốc độ tăng
trưởng nhanh trong… tương lai!
Bù lại, khi hội
nhập qua các hiệp định thương mại tự do, chúng ta được hưởng lợi từ sự mở cửa
thị trường nội địa của các nước đối tác cho những ngành nghề mà Việt Nam có lợi
thế, chủ yếu từ khai thác lực lượng lao động dồi dào và giá tương đối rẻ, như
may mặc, da giày, thủy sản, lắp ráp v.v…, cũng như từ sự lỏng lẻo về bảo vệ môi
trường. Sự đánh đổi các lợi thế này giữa Việt Nam và các nước là theo đúng lý
thuyết về thương mại tự do và lẽ ra không phải là điều đáng ngạc nhiên hay thất
vọng với bất cứ một ai trước và sau khi ký kết các hiệp định thương mại tự do với
nước ngoài.
Vì vậy, nếu cứ
còn lấn cấn giữa lợi ích với thiệt hại khi tham gia các hiệp định thương mại tự
do thì tốt nhất là hãy sớm chủ động rút lại những cam kết này, như cách mà ông
Trump, Tổng thống mới của Mỹ đã chủ trương như vậy với TPP cho nước Mỹ từ khi
đang tranh cử. Ngược lại, nếu đã cam kết mà vẫn cứ ngấm ngầm và cả công khai
tìm mọi cách để “lách luật”, lách các cam kết với nước đối tác bằng những cách
thức “khôn lỏi” như nêu trên thì hoặc chúng ta sẽ bị các nước đối tác trả đũa,
hoặc các cam kết này sẽ phải bị xem xét lại, vì không có quốc gia nào lại cam
chịu thiệt thòi một cách quá đơn giản và vô lý như vậy.
Một lệch lạc phổ
biến khác về tự do hóa thương mại tương tự là quan niệm (dù đã hội nhập sâu rộng)
phải quyết xây cho bằng được một nền kinh tế có sự “phát triển hài hòa” giữa
các ngành kinh tế, chắc có nghĩa là các ngành kinh tế phải có sự phát triển
tương đương nhau “một chín, một mười”, ví dụ từ ngành dệt may đến ngành tự động
hóa. Rồi nữa, phải có chiến lực phát triển sao cho đảm bảo gần như “tự cung tự
cấp” trong nhiều ngành như ngành thép vì nếu không thì sẽ dẫn đến nhập siêu lớn,
gây bất ổn vĩ mô…
Quan niệm “phát
triển hài hòa” theo diễn giải trên là một thực tế, được thể hiện ở chiến lực
phát triển “quả mít”, theo đó có quá nhiều ngành được xác định là ngành ưu
tiên, ngành mũi nhọn. Kể cả với một nền kinh tế đóng cửa thì chiến lược này vẫn
sẽ chắc chắn thất bại bởi nguồn lực kinh tế có hạn, không thể đáp ứng yêu cầu
phát triển cùng một lúc của nhiều ngành khác nhau. Điều này cũng tương tự như một
gia đình nghèo đông con, nếu không dồn sức cho đứa con nào có khả năng học nhất
mà cứ chia đều ra thì đứa nào rồi cũng sẽ học hành làng nhàng như đứa nào.
Trong thời đại hội nhập như hiện nay thì chiến lược này càng sớm thất bại vì giờ
đây còn có thêm sức ép là sự cạnh tranh từ bên ngoài lên những ngành vốn đã ốm
yếu trong nước, trong khi những ngành có khả năng phát triển theo thế mạnh cạnh
tranh thì lại không được đầu tư đầy đủ.
Chuyển sang quan
niệm ngành nào mà nhu cầu trong nước lớn, đang nhập siêu thì phải tìm mọi cách
để phát triển, như ngành thép là một ví dụ điển hình. Nhiều người cho rằng Việt
Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh so với thép nhập khẩu như có cảng nước sâu, có
quặng sắt và nhiều khoáng chất cần cho sản xuất thép dồi dào, nhân công giá rẻ…
Điều này ít nhiều là đúng nhưng chưa đủ. Về quặng sắt và các khoáng chất cần
cho sản xuất thép, Việt Nam tuy có thể có với trữ lượng lớn nhưng điều quan trọng
là điều kiện khai thác của mỏ có thuận lợi không, và chi phí khai khoáng liệu
có đủ thấp để đảm bảo rằng chi phí đưa quặng đến chân công trình luyện thép sẽ
thấp hơn chi phí cho quặng nhập khẩu cùng chất lượng hay không. Điều này chỉ được
đảm bảo khi tối thiểu phải có một cơ sở hạ tầng và công nghệ cho khai khoáng và
vận chuyển phát triển, là điều mà Việt Nam đang thiếu. Việc Thép Hòa Phát mặc
dù có mỏ sắt trong nước nhưng vẫn phải nhập khẩu quặng sắt cho thấy sản xuất
trong nước không nhất thiết là kinh tế nhất.
Ngoài ra, để thực
sự ngành thép nội địa có sức cạnh tranh thì tất yếu phải phát triển các nhà máy
thép dùng công nghệ lò cao, hiện đại đồng thời rất tốn kém. Như vậy, ngoài vấn
đề là… tiền đâu, sự đi sau về đầu tư công nghệ lò cao làm các nhà máy thép ở Việt
Nam khó cạnh tranh được với các nhà máy thép nước ngoài đã khấu hao máy móc thiết
bị từ lâu, làm cho bài toán lợi thế trở nên mù mờ hơn. Tất nhiên Việt Nam vẫn có
thể dốc sức đầu tư phát triển những thứ này, nhưng như thế thì lại vấp phải bài
toán nhà nghèo đầu tư cho con học ở trên.
Nhân bàn về trữ
lượng quặng sắt với chuyện tự chủ sản xuất trong nước, cũng xin đưa thêm một ví
dụ là về ngành thép Ấn Độ. Nước này ước tính có tới hơn 13 tỉ tấn quặng sắt các
loại, và ngành luyện thép nước này hàng năm sản xuất ra trên dưới 90 triệu tấn
thép. Thế nhưng nước này hàng năm vẫn phải nhập hàng chục triệu tấn quặng sắt từ
Úc, Canada, hay Nam Phi vì cung trong nước không đủ đáp ứng, với nhiều lý do từ
vấn đề bảo vệ môi trường đến cơ sở hạ tầng kém phát triển hay chất lượng quặng
không tốt… Đồng thời nước này cũng phải đương đầu với thép nhập khẩu giá rẻ hơn
(và chất lượng tốt hơn) không chỉ từ Trung Quốc mà còn cả từ Nhật, Hàn Quốc là
những nước đã có các hiệp định thương mại tự do với Ấn Độ, làm cho Ấn Độ chẳng
còn mấy cớ để buộc tội họ bán phá giá.
Bởi vậy, với Việt
Nam, thay vì chủ quan cho rằng ngành thép là ngành có lợi thế cạnh tranh theo
tư duy đơn giản là có quặng sắt, có đầy đủ các yếu tố để phát triển nên phải đầu
tư, phải bảo hộ để nó phát triển bất chấp Việt Nam đã cam kết mở cửa, để cho
thép ngoại tự do cạnh tranh với thép nội, thì chúng ta nên chấp nhận cuộc chơi
mang tên “hội nhập”. Nghĩa là hãy để cho các chủ thể của thị trường tự tính
toán bài toán chi phí và lợi ích trong ngành thép mà không có sự trợ giúp đặc
biệt của nhà nước ngoài những hỗ chung như cho các ngành nghề khác. Nhà nước
không nên đưa ra những biện pháp trợ giá ngầm như hạ giá thuê đất, ưu đãi đặc
biệt về thuế, phí, và bảo vệ môi trường, hay giữ giá điện thấp hơn giá bán cho
các ngành khác, hoặc thấp hơn giá thành… để khuyến khích đầu tư vào ngành thép.
Và cũng tương tự
như với ngành ô tô, nếu vẫn cứ tiếc rẻ và muốn phát triển ngành thép hay bất cứ
ngành nào khác không/chưa có lợi thế cạnh tranh thì tốt nhất là đừng hội nhập nữa!
Tuesday, 22 November 2016
Thực thi Basel II, khó ở đâu? (Bài đăng trên CafeF, 22/11/2016)
Kể từ tháng 2/2016, 10 ngân hàng đã được Ngân
hàng Nhà nước (NHNN) chỉ định thực hiện thí điểm phương pháp quản trị vốn và rủi
ro theo tiêu chuẩn Basel II, đó là các ngân hàng BIDV, VietinBank, Vietcombank,
Techcombank, ACB, VPBank, MB, Maritime Bank, Sacombank và VIB.
Thời
thế mới cần tiêu chuẩn mới
Tiêu chuẩn Basel I, được áp dụng từ năm
1988, có nhiều nhược điểm. Nó không nhạy cảm với rủi ro, không phân biệt giữa rủi
ro tín dụng với các loại rủi ro khác, và có thể dễ dàng vượt qua bằng các biện
pháp lách luật. Vì chạy theo lợi nhuận nên các ngân hàng có xu hướng nắm giữ
các tài sản chất lượng kém (rủi ro cao) thay vì các tài sản chất lượng cao (rủi
ro thấp).
Trong cùng thời gian này, các sản phẩm tài
chính mới như các sản phẩm phái sinh và chứng khoán hóa đã góp phần quan trọng
làm thu hẹp ngành ngân hàng truyền thống. Điều này đã làm thay đổi tương lai của
ngành ngân hàng và tạo ra các thách thức mới cho các nhà làm luật. Bởi vậy,
Basel I được coi là hết tác dụng trong thời đại có nhiều sản phẩm tài chính mới
phức hợp ra đời với sự hậu thuẫn của tiến bộ công nghệ.
Basel
II
Basel II được “trình làng” tháng 6/2004 nhằm khắc phục
các nhược điểm của Basel I bằng việc đo lường rủi ro một cách chính xác hơn và
toàn diện hơn.
Basel II có 3 trụ cột. Trụ cột thứ nhất là luật lệ, theo
đó gắn yêu cầu vốn tối thiểu (CAR) sát hơn với mức độ rủi ro thực tế của ngân
hàng, gồm các rủi ro về tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Như vậy,
trụ cột luật lệ của Basel II tương tự như của Basel I, với khác biệt ở phương
pháp tính rủi ro bình quân gia quyền.
Về rủi ro tín dụng, có 2 phương pháp tính. Phương pháp thứ
nhất, thường được áp dụng bởi các ngân hàng nhỏ, không có khả năng tự xây dựng
các mô hình đánh giá rủi ro tín dụng và có các hoạt động tín dụng các sản phẩm
tài chính không mấy phức tạp.
Phương pháp tính rủi ro tín dụng thứ hai là phương pháp dựa
trên đánh giá tín dụng nội bộ (IRB). Theo đó, lượng vốn ngân hàng cần phải nắm
giữ đối với mỗi một khoản vay sẽ là một hàm số của rủi ro tín dụng ước tính của
khoản vay đó. Đến lượt mình, rủi ro tín dụng ước tính được xác định dựa trên 4
biến số, gồm xác suất mất khả năng thanh toán (PD), lượng vốn bị mất khi xảy ra
mất khả năng thanh toán (LGD), khoản cho vay tại thời điểm mất khả năng thanh
toán (EAD), và kỳ hạn (M). Với sự áp dụng của phương pháp này, hầu như chắc chắn
các ngân hàng sẽ đủ khả năng để hấp thụ hoàn toàn thiệt hại từ việc khách hàng
mất khả năng thanh toán.
Trong phương pháp đánh giá tín dụng nội bộ IRB cũng lại
có hai biến thể. Với biến thể “Cao cấp”, các ngân hàng sẽ phải tự xác định cả 4
biến số nói trên trong mô hình nội bộ của mình. Trong biến thể “Cơ bản”, các
ngân hàng chỉ phải chịu trách nhiệm xác định biến số PD, còn 3 biến số còn lại
thì được xác định bởi Ủy ban Basel.
Trụ cột thứ hai của Basel II là giám sát, nhằm xử lý các
rủi ro không được trụ cột thứ nhất xử lý. Các thanh tra, giám sát viên sẽ xem
xét sự đánh giá rủi ro nội bộ của ngân hàng để đưa ra kết luận liệu sự đánh giá
nội bộ này đã phù hợp chưa và các ngân hàng đã nắm giữ đủ vốn tương ứng với mức
rủi ro thực tế của họ hay chưa. Như vậy, trụ cột thứ hai này khuyến khích các
ngân hàng tự xây dựng mô hình đánh giá rủi ro phù hợp.
Trụ cột thứ ba của Basel II là kỷ cương thị trường, thông
qua việc bạch hóa thông tin, nhằm đảm bảo rằng kỷ cương thị trường hữu hiệu là
một con mắt giám sát nữa bên cạnh các thanh tra, giám sát viên.
Như vậy, so với Basel I, Basel II phức tạp, nhạy cảm với
rủi ro và có độ bao phủ rộng hơn nhiều. Bởi vậy, sự thực thi hữu hiệu Basel II
đòi hỏi phải có sự thông hiểu của cơ quan chức năng cũng như của các ngân hàng
về các vấn đề, thách thức và tác động của nó lên nền kinh tế quốc gia. Tuy
nhiên, hàng loạt quốc gia trên thế giới đã có kế hoạch áp dụng Basel II ngay
sau khi nó ra đời, với lộ trình khác nhau, bắt đầu hoặc với biến thể “Cơ bản” của
phương pháp đánh giá tín dụng nội bộ IRB, hoặc “Cao cấp”, hoặc cả hai.
Với Việt Nam, Basel II mới được áp dụng thí điểm vào năm
2016 cho thấy sự khá chậm chễ. Nhưng khách quan mà nói, sự chậm chễ này có
nguyên nhân từ một số trở ngại và thách thức.
Trở ngại và thách
thức trong thực thi Basel II ở Việt Nam
Ngoài tính chất phức tạp và độ bao phủ rộng hơn Basel I
làm cho việc thực thi nó trở nên khó khăn hơn nhiều so với Basel I, việc áp dụng
thành công Basel II trước tiên đòi hỏi quốc gia áp dụng phải có một hệ thống
tài chính phát triển và mạnh. Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF cho rằng sự áp dụng sớm
Basel II ở những nước có nguồn lực hạn chế sẽ làm phân tán các nguồn lực dành
cho các ưu tiên cấp bách, làm loãng thay vì củng cố sự giám sát. Điều quan trọng
là phải có đủ khả năng củng cố hệ thống tài chính và tập trung vào đạt được ở mức
độ cao hơn việc tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi của Basel. Việt Nam có thể đã
theo đuổi phương châm tiến chậm nhưng chắc, chỉ tiến hành áp dụng Basel II sau
khi đã có sự chuẩn bị đầy đủ, bắt đầu với việc lấp các lỗ hổng trong hệ thống
tài chính của mình.Thứ hai, áp dụng thành công Basel II đòi hỏi phải có số liệu chính xác, đáng tin cậy và kịp thời. Nếu rủi ro không được tính toán, hay bị phóng đại hoặc bị tính thấp đi có thể làm vô hiệu hóa tác dụng tích cực của Basel II. Mà điều này ở Việt Nam xem ra vẫn còn là một thách thức lớn, chưa biết bao giờ có thể khắc phục được.
Thứ ba, cùng một số liệu, trình độ và nhận thức của đội ngũ nhân lực liên quan đến thực thi Basel II sẽ quyết định những số liệu này được diễn giải như thế nào. Bởi vậy, một nhân tố quan trọng để áp dụng thành công Basel II là công tác đào tạo nhân lực nhằm trang bị đầy đủ kĩ năng và kiến thức phổ quát và cập nhật cho những người thực thi. Đây cũng là một lĩnh vực Việt Nam còn phải nỗ lực nhiều.
Thứ tư, ở Việt Nam, dường như chỉ có các ngân hàng mới phải
áp dụng Basel II, trong khi các chủ thể khác của thị trường tài chính như công
ty tài chính, chứng khoán, và bảo hiểm lại không bị yêu cầu này. Sự phân biệt
này có thể làm hỏng toàn bộ nỗ lực củng cố thị trường tài chính bởi những chủ
thể này cùng với các ngân hàng sẽ quyết định sự ổn định của hệ thống tài chính.
Vấn đề bất đối xứng về nghĩa vụ này còn được khuyếch đại bởi sự bất đối xứng về
giám sát. Trong khi ngân hàng thương mại và công ty tài chính được giám sát bởi
Ngân hàng Nhà nước thì công ty chứng khoán và bảo hiểm lại được giám sát bởi Bộ
Tài chính. Sự phối hợp giám sát giữa các cơ quan chức năng này vẫn còn phải cải
thiện hơn nữa.
Thứ năm, thực thi Basel II sẽ không hề rẻ. Với gánh nặng
phải tuân thủ các chuẩn mực Basel II, các ngân hàng ở châu Âu đã được ước tính
phải bỏ ra hàng chục triệu USD để thực thi Basel II. Như vậy, thường chỉ có các
ngân hàng lớn ở Việt Nam mới có đủ khả năng theo đuổi cuộc chơi tốn kém mang
tên thực thi Basel II. Tất nhiên, đổi lại, những ngân hàng lớn sẽ đạt được sự
cân bằng tốt hơn giữa rủi ro và lợi nhuận.
Cuối cùng, thực thi Basel II dẫn đến sự phân biệt giữa
các đối tượng cho vay là doanh nghiệp lớn với các doanh nghiệp nhỏ vì doanh
nghiệp nhỏ thường được xem là có độ rủi ro cao hơn các doanh nghiệp lớn. Bởi vậy,
cơ quan chức năng cũng phải có giải pháp để hạn chế mặt trái này của Basel II.
Saturday, 19 November 2016
Để bảo hộ hay bảo đảm an toàn? (Bài đăng trên TBKTSG, 19/11/2016)
http://www.thesaigontimes.vn/153932/De-bao-ho-hay-bao-dam-an-toan.html
Chiều 17/11 Quốc hội đã thông qua Luật Đấu giá tài sản. Theo đó, việc đấu giá nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức mà Nhà
nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của các tổ
chức tín dụng Việt Nam (Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt
Nam - VAMC) đã được đưa vào luật này.
Giải thích lý do quy định việc đấu giá nợ xấu
và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của VAMC, theo báo chí đưa tin, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội dẫn yêu cầu tại nghị quyết Trung ương 4, nhấn mạnh việc giao thẩm
quyền và nâng cao năng lực của VAMC trong mua bán nợ theo giá thị trường gắn với
xử lý tài sản thế chấp, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của chủ nợ. Bên cạnh
đó, các quy định bán đấu
giá nợ xấu trong dự thảo luật đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội bổ sung lại cho
chặt chẽ, minh bạch, khách quan... tránh thất thoát tài sản Nhà nước
(trong quá trình đấu giá). Ví dụ,
luật này không cho phép
VAMC bán đấu giá theo trình tự, thủ tục rút gọn.
Tuy nhiên, từ góc độ xử lý nợ xấu, tình trạng hiện tại của dự thảo còn một số tồn
tại lớn.
Trước tiên, không rõ có chính xác là Ủy ban
Thường vụ Quốc hội đã đưa vào dự thảo quy định không cho phép VAMC bán đấu giá
theo trình tự, thủ tục rút gọn, như báo chí đưa tin, hay không. Nếu đúng là như
vậy thì thật khó hiểu khi điều 53 “Đấu giá theo thủ tục rút gọn”, mục 1.c của dự
thảo lại vẫn cho phép VAMC được đấu giá nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của mình theo thủ tục rút gọn. Và nếu đúng là VAMC được đấu giá nợ xấu và
tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo thủ tục rút gọn như vậy thì những lo ngại
của dư luận và của ngay chính Ủy ban Thường vụ Quốc hội, như báo chí đưa tin, về
chuyện thất thoát tài sản nhà nước trong quá trình đấu giá là có khả năng thành
sự thật.
Tồn tại thứ hai là, dự thảo luật chỉ chọn và
cho phép duy nhất VAMC được đấu giá nợ xấu và tài sản đảm bảo cho khoản nợ xấu
mà hoàn toàn “lờ” đi các Tổ chức xử lý nợ xấu (AMC) khác của các ngân hàng
thương mại. Như đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội diễn giải, mục đích quy định
đấu giá xử lý nợ xấu và tài sản đảm bảo của khoản nợ xấu của VAMC là để tạo thẩm
quyền và nâng cao năng lực xử lý nợ xấu của VAMC. Nhưng mục đích thực sự cuối
cùng (không được nói rõ ra) là để nhằm giải quyết nhanh nợ xấu theo cơ chế thị
trường. Bởi vậy, giả sử song song với VAMC, dự thảo luật quy định thêm các AMC
khác cũng được đấu giá nợ xấu và tài sản đảm bảo khoản nợ xấu của các ngân hàng
thương mại mà chúng nắm giữ thì rõ ràng quá trình xử lý nợ xấu trong hệ thống
ngân hàng càng được đẩy nhanh bội phần và đây là một điều tốt và mong muốn
không chỉ của các ngân hàng mà cả toàn xã hội. Vậy, không hiểu vì lý do gì mà
các AMC của các ngân hàng thương mại lại không được trao quyền như với VAMC, biến
quyền được đấu giá nợ xấu và tài sản đảm bảo khoản nợ xấu trở thành một đặc quyền
cho VAMC.
Nếu cho rằng chỉ có VAMC mới cần thiết, mới
có đủ khả năng (và “có tóc”, tức đáng tin cậy hơn, dễ quản lý hơn so với các
AMC, trong con mắt của giới quản lý) thực hiện đấu giá nợ xấu thì hoàn toàn
không chính xác. Nhu cầu xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại và các AMC của
họ cũng rất cấp bách, thậm chí còn hơn cả VAMC vì nợ xấu tồn tại ngày nào thì
các ngân hàng thương mại thiệt hại ngày đó vì phải trích lập dự phòng xử lý nợ
xấu, vì vốn bị trôn trong nợ xấu, trong khi VAMC thì xử lý được nợ xấu thì tốt,
và thu được thù lao xử lý nợ xấu từ các ngân hàng thương mại; không xử lý được
thì cứ để ở đó mà chẳng phải chịu tốn phí cắc bạc nào cả vì nợ xấu không phải
là của VAMC mà thực chất chỉ được họ giữ hộ các ngân hàng thương mại mà thôi.
Nếu cho rằng chỉ có VAMC mới đủ khả năng, mới
đủ độ tin cậy để đứng ra thực hiện việc đấu giá thì đây chỉ là quan niệm của giới
“cạo giấy” quan liêu. Đội ngũ nhân viên VAMC cũng chỉ được tuyển dụng quanh quẩn
trong hệ thống ngân hàng, với trình độ xêm xêm như với những đồng nghiệp của họ
ở các ngân hàng thương mại, ở các AMC. Về độ tin cậy thì VAMC cũng chỉ hơn được
các AMC ở cái mác thuộc “sở hữu nhà nước 100%” nhưng cái mác này hiện nay không
còn nhiều giá trị như trước, và cũng không nói lên nhiều về sự đáng tin cậy.
Trong khi đó, động cơ làm việc thì VAMC có thể kém xa các AMC, vì, như đã nói,
xử lý nợ xấu nhanh và hiệu quả là quyền lợi sát sườn của các AMC và các ngân hàng
thương mại chủ nợ xấu, chứ không phải của VAMC.
Trên hết và quan trọng hơn, vai trò của pháp
luật là để điều chỉnh và chế tài tất cả các hành vi của các đối tượng được chế
tài nên tất cả những quan ngại và lo sợ về việc trao quyền (và nghĩa vụ) tương
đương cho các AMC như với VAMC hoàn toàn có thể hóa giải được bằng việc ban
hành và thực thi nghiêm túc các điều luật liên quan, như (hoặc hơn, nếu cần) những
quy định cho VAMC. Trên khía cạnh này, việc “lờ” các AMC trong việc được đấu
giá nợ xấu và tài sản đảm bảo khoản nợ xấu càng trở nên khó hiểu, khó chấp nhận.
Tồn tại thứ ba của dự thảo luật là dường như
không nhận thức, đánh giá đúng được những khó khăn, vướng mắc trong quá trình đấu
giá, chuyển giao sở hữu tài sản, nhất là tài sản đảm bảo khoản nợ xấu. Ví dụ, dự
thảo luật quy định VAMC có nghĩa vụ giao tài sản đấu giá và các giấy tờ liên
quan đến tài sản đấu giá cho người mua được tài sản đấu giá. Nhưng liệu người
mua được tài sản đấu giá sau khi cầm được tất cả các giấy tờ liên quan đến tài
sản này, gồm có sổ đỏ nếu tài sản đấu giá là mảnh đất, có sang tên chủ sở hữu
thành của mình hay không thì lại là chuyện khác, không có gì đảm bảo là việc
này sẽ thành công, trong trường hợp, ví dụ, người chủ cũ nhất quyết không chịu
làm thủ tục sang tên.
Do vậy, chừng nào Luật đấu giá không có quy định
liên quan, ví dụ, cho phép các cơ quan chức năng công nhận chủ sở hữu mới các
tài sản bảo đảm nợ xấu sau quá trình đấu giá mà không cần người chủ mới này phải
làm thêm thủ tục sang nhượng quyền sở hữu từ chủ cũ thì chừng đó luật này cũng
chỉ để cho có, chỉ phát huy tác dụng trong một số hãn hữu trường hợp mà, ví dụ,
chủ cũ tự nguyện hợp tác trong việc sang tên, đổi chủ mà thôi.
Tóm lại, nếu chỉ dừng lại ở hiện trạng như dự
thảo thì Luật Đấu giá tài sản cũng không giúp gì nhiều cho việc xử lý nợ xấu của
hệ thống ngân hàng nói chung và của VAMC nói riêng!
Thursday, 17 November 2016
Nên chủ động nới lỏng tỉ giá (Bài đăng trên CafeF, 16/11/2016, bản gốc)
http://cafef.vn/can-chu-dong-voi-ti-gia-20161116082225138.chn
Tỉ giá mấy ngày
qua, nhất là kể từ khi đã rõ kết quả bầu cử Tổng thống ở Mỹ, đã có xu hướng
tăng (VND giảm giá so với USD) đáng kể. Về nguyên nhân, lần này áp lực tăng tỉ
giá VND không còn gì bí ẩn, đáng tranh luận như những lần trước nữa, vì hầu như
ai cũng phải thừa nhận rằng sự mạnh lên của USD so với các ngoại tệ chủ chốt
khác như Euro, Bảng Anh, Yen Nhật và Yuan (Nhân dân tệ) Trung Quốc là nguyên
nhân chính đằng sau áp lực tăng tỉ giá VND.
Tuy vậy, cũng như
nhiều lần trước, so với mức mất giá đến vài điểm phần trăm của các đồng tiền chủ
chốt trên với USD, sự mất/giảm giá của VND với USD vẫn còn là quá nhỏ, chỉ vài
chục điểm cơ bản (từ đầu năm đến nay, tỉ giá trung tâm chỉ tăng 0,7%). Một số
người cho rằng tỉ giá VND ổn định vì nguồn cung ngoại hối tiếp tục dồi dào, Việt
Nam tiếp tục xuất siêu, thặng dư cán cân thương mại v.v… Điều này là đúng nhưng
chưa phải là nguyên nhân cơ bản.
Nhiều người đã
nhìn ra rằng lãi suất liên ngân hàng đã tăng mạnh trong mấy ngày qua, và thực tế
là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tăng mạnh lãi suất tín phiếu của mình để hút tiền
đồng về qua kênh thị trường mở OMO. Mục đích của việc siết cung tiền đồng (bất
chấp áp lực phải giảm lãi suất cho vay tiền đồng để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế)
không gì khác ngoài nâng đỡ sức hấp dẫn tương đối của tiền đồng với USD, từ đó
nhằm ổn định tỉ giá.
Cung tiền đồng bị
siết lại làm lãi suất bị “neo” ở mức cao đương nhiên sẽ dẫn đến dòng vốn nước
ngoài tiếp tục đổ vào Việt Nam (và chuyển đổi ra VND) để tìm kiếm cơ hội sinh lời
như đã và đang chứng kiến. Nói cách khác, cung USD tiếp tục dồi dào ở Việt Nam
không phải là điều tự nhiên có, tự nhiên xảy ra, hay xảy ra vì tính hấp dẫn của
nền kinh tế Việt Nam một cách chung chung, mà cụ thể có phần đóng góp đáng kể của
lãi suất tiền đồng bị neo cao. Mà như thế thì chuyện nguồn cung USD dồi dào và sự
ổn định tỉ giá không phải là một điều hoàn toàn tốt, đáng ca ngợi và có thể an
tâm được.
Cụ thể hơn, như
đã phân tích qua, cái giá phải trả cho việc ổn định tỉ giá là lãi suất cao, sẽ
tiếp tục gây khó cho doanh nghiệp khi chi phí sản xuất kinh doanh tiếp tục đứng
ở mức cao. Ổn định tỉ giá cũng làm cho tính cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu
và kể cả doanh nghiệp sản xuất cho thị trường nội địa thêm lao đao vì hàng hóa
nước ngoài, nhất là Trung Quốc khi đồng tiền của nước này liên tục bị mất giá một
cách có chủ ý, trở nên rẻ hơn đáng kể, chèn lấn thêm hàng của Việt Nam không chỉ
trên thị trường xuất khẩu và còn cả ngay trên thị trường nội địa.
Bởi vậy, cách ứng
xử với tỉ giá VND hiện nay cần phải khác với những năm trước. Những năm trước,
NHNN luôn ở thế phải chống đỡ chật vật với áp lực phá giá tiền đồng do lạm phát
lớn trong khi tỉ giá danh nghĩa bị neo chặt gần như cố định làm tiền đồng bị
lên giá thực (real appreciation) tự gây ra áp lực phải phá giá. Sự chống đỡ này
có hạn nên NHNN mỗi lần phải điều chỉnh tỉ giá là phải điều chỉnh mạnh và sự điều
chỉnh này là hoàn toàn thụ động, tùy thuộc áp lực của thị trường.
Hiện nay, lạm
phát đã “dễ thở” hơn, ở mức chấp nhận được trong khi mặt bằng lãi suất đứng ở mức
cao so với lạm phát nên áp lực phá giá VND không còn mấy. Nhưng, như đã nói, nếu
để VND “vững” giá như hiện tại thì cả nền kinh tế phải trả giá, nên NHNN cần
thiết phải chủ động trong “cuộc chơi” tỉ giá như nhiều đối tác của mình ở các
nước khác cũng đã chủ động để bản tệ của họ ít nhất là không lên giá theo USD
và với các bản tệ khác, chưa nói đến việc họ còn chủ động để bản tệ của mình yếu
đi so với USD nhằm duy trì tính cạnh tranh của mình.
Sự chủ động của
NHNN trong việc điều chỉnh tỉ giá có thể dưới dạng NHNN tạm giãn bớt đà bán tín
phiếu qua kênh OMO để giãn bớt đà siết cung tiền, và để cho tỉ giá tự điều chỉnh
theo hướng VND yếu đi một cách có kiểm soát. Việc để cho VND yếu đi sẽ không
làm “giật mình” thị trường hay nhất thiết sẽ tạo ra những cú sốc lớn vì trong bối
cảnh hiện tại thì sự ổn định của tỉ giá VND mới là điều lạ, mới là điều mà thị
trường và các nhà đầu cơ sẽ chú trọng đến với tư cách là một nguồn cơn gây bất ổn
trong tương lai gần khi NHNN buộc phải điều chỉnh mạnh tỉ giá để lập lại cân bằng
thương mại và phản ánh đúng hơn xu thế của thị trường ngoại hối Việt Nam như một
mắt xích trong thị trường ngoại hối quốc tế.
Hơn nữa, sự cho
ra đời của tỉ giá trung tâm là nhằm tạo ra một tấm đệm giảm sóc để không phải
chứng kiến những cú phá giá bắt buộc, dồn nén và lớn như trước đây nên nó cần
phải được phát huy tác dụng bằng cách để cho tỉ giá VND dần tăng lên hàng ngày,
hàng tuần (nhưng ở mức độ lớn hơn so với hiện tại), tương tự như cách mà Trung
Quốc đang làm với đồng Yuan của họ.
Nếu chủ động
trong cuộc chơi như vậy thì Việt Nam sẽ có một tỉ giá phù hợp hơn với xu thế
chung của thế giới trong khi vẫn kiểm soát được các tác động phụ của việc tiền
đồng yếu đi so với USD.
Friday, 11 November 2016
Nên làm gì với những doanh nghiệp “ngàn tỉ” đắp chiếu? (Bài đăng trên TBKTSG, 11/11/2016)
Tuần qua, Bộ Công Thương đã giải trình trước Quốc hội về
5 dự án ngàn tỉ “đắp chiếu”, gồm Xơ
sợi Đình Vũ, Gang thép Thái Nguyên, Bột giấy Phương Nam, Đạm Ninh Bình, Nguyên
liệu sinh học Dung Quất. Cũng theo Bộ Công Thương thì ngoài 5 dự án này ra còn một
số dự án khác còn tiềm ẩn nguy cơ và tồn đọng các vướng mắc, nếu không tháo gỡ
kịp thời sẽ có khả năng rơi vào tình trạng kém hiệu quả, gây nguy cơ mất vốn nhà
nước và xã hội.
Về nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất thoát, kém hiệu quả
ở 5 dự án trên, Bộ Công Thương nêu những lý do như: thực trạng dự án khác xa
tính toán ban đầu; quá trình điều hành thực hiện của chủ đầu tư và cấp quản lý
chưa đến nơi đến chốn...
Sai ngay từ gốc
Tuy nhiên, những nguyên nhân mà Bộ Công Thương đưa ra ở
trên xem ra quá sơ sài, thậm chí chỉ là hậu quả chứ không phải nguyên nhân. Cụ
thể, về nguyên nhân thực trạng dự án khác xa tính toán ban đầu, đây có thể nói
thẳng là kết quả của nhiều nguyên nhân như khi thiết kế các bên liên quan đã cố
tình tính toán thấp chi phí và tính cao lên giá bán trong tương lai để đảm bảo
dự án có lãi. Hoặc quá trình lựa chọn nhà thầu, thi công dự án, sử dụng vốn đã
có những hành động vụ lợi, khuất tất, “đi đêm” để cùng nhau “tàn phá” các dự án
này đến nỗi chúng gần như không được hoàn thành, hoặc hoàn thành thì cũng hoạt
động theo kiểu “năm ngày ba tật”.
Để minh họa, hãy xem kết quả thanh tra của Chính phủ vừa
công bố về các nhà máy nhiên liệu sinh học ethanol, trong đó có nhà máy ethanol
Phú Thọ. Theo đó, Tổng công ty Xây lắp Dầu khí (PVC) đã được Tập đoàn Dầu khí
(PVN) chấp thuận cho thực hiện gói thầu EPC cho dự án này theo hình thức chỉ định
thầu mà không hề qua đấu thầu. Vấn đề còn tệ hại hơn nữa khi PVC không hề có
kinh nghiệm thực hiện hợp đồng EPC trong các dự án nhiên liệu sinh học hoặc các
dự án có tính chất tương tự. Thanh tra Chính phủ đã kết luận việc chỉ định thầu
để PVC thực hiện các công việc chính của dự án khi hạn chế năng lực và chưa có
kinh nghiệm đã vi phạm Luật Đấu thầu và là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc ngừng
thi công dự án từ tháng 11/2011, và khó có thể tiếp tục thực hiện.
Chưa hết, trong quá trình thi công, cả PVC, PVN và chủ đầu
tư là công ty CP Hoá dầu và nhiên liệu sinh học dầu khí (PVB) đã cùng nhau vi
phạm nhiều quy định của pháp luật như chấp nhận cho PVC tăng chi phí một cách
sai nguyên tắc, không bắt PVC bảo lãnh thực hiện hợp đồng…
“Chữa cháy” ra sao?Kết quả thanh tra như trên của Thah tra Chính phủ có một số hàm ý quan trọng. Việc cố tình vi phạm các nguyên tắc, quy định trong quá trình chọn nhà thầu và tổ chức thực hiện của tất cả các bên liên quan đến các dự án dang dở như trên không những chỉ gây tổn thất cho ngân sách vì phải chi nhiều hơn cho cùng một dự án so với dự toán ban đầu, mà còn gây ra hậu quả khó có thể khắc phục được là chất lượng thi công, lắp đặt máy móc, thiết bị không đảm bảo như yêu cầu do nhà thầu EPC không có năng lực.
Do đó, để có phương án “chữa cháy” phù hợp cho những dự
án “đắp chiếu” này thì điều đầu tiên phải làm rõ là tình trạng có thể phục hồi
các dự án này được không. Ví dụ, với những dự án như ethanol Phú Thọ, đã dừng
thi công từ tháng 11/2011 và trở nên dang dở bởi PVC không có khả năng thực hiện,
nếu tính toán cụ thể chi phí bỏ ra để sửa sai, chữa lại hoặc thay thế những gì
PVC bỏ lại hoen gỉ đằng sau lưng, đồng thời tiếp tục bỏ tiền ra để mua sắm và lắp
đặt thiết bị để thực hiện tiếp dự án mà cho ra kết quả là sẽ còn tốn kém hơn cả
nếu xây dựng lại từ đầu thì tốt nhất là “dẹp tiệm” dự án này. Bởi chuyện này
cũng tương tự như xây một ngôi nhà cao tầng dang dở mà cái móng của nó đã bị
xây sai do thợ vụng (chưa nói đến chuyện bị bớt xén, đánh tráo nguyên vật liệu),
thì dù có bỏ tiền ra để tiếp tục xây tiếp thì cũng không có gì bảo đảm ngôi nhà
sẽ đứng vững nhiều năm sau này khi đưa vào sử dụng. Lúc đó, điều tốt nhất có thể
làm là phải phá bỏ cái móng đó và xây lại từ đầu.
Với những dự án chưa đến nỗi bị “bỏ ngang” như ethanol
Phú Thọ, thì phải xem liệu có nên bỏ thêm tiền ra để sửa chữa, thay thế thiết bị,
máy móc và đồng thời xây dựng, lắp đặt lại. Ở một số dự án, ví dụ như Đạm Ninh
Bình, những người có trách nhiệm đưa ra một số lý do, trong đó đáng chú ý là
máy móc không đồng bộ, hay hỏng vặt… Điều này làm người ta nghi ngờ nhà thầu
và/hoặc chủ đầu tư đã cố tình ăn bớt hoặc mua thiết bị, linh kiện và phụ tùng
thứ phẩm, không đúng quy cách để “ăn” chênh lệch giá, giảm giá thành gây tổn hại
đến chất lượng hoạt động chung của dự án.
Nếu đúng là như vậy thì cũng phải tính toán lại bài toán
kinh tế, mạnh dạn xóa bỏ khi cần. Như một cái xe máy Tầu, lắp đặt phụ tùng
“trung ương”, chất lượng cũng đã gây hoài nghi, nay lại còn bị “tráo” bởi phụ
tùng “địa phương”, “năm cha ba mẹ” thì nó chạy được, không xảy ra sự cố và tai
nạn lúc nào là may lúc đó. Trong trường hợp này, tính tổng cộng công sửa chữa,
mua lẻ thay thế phụ tùng, tính kèm thêm với rủi ro hoạt động không ổn định, an
toàn, tốn xăng… có khi còn tốn hơn cả mua một chiếc xe mới và bán sắt vụn chiếc
xe cũ này.
Với những dự án khác đã hoàn thành, tuy có nhúc nhắc hoạt
động được nhưng hoạt động ngày nào gây lỗ ngày đó, ví dụ như Xơ sợi Đình Vũ thì
phương án xử lý có đôi chút khác biệt. Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ về
Xơ sợi Đình Vũ, chủ đầu tư và nhà thầu đã không tuân thủ quy định của hợp đồng,
thay đổi nguồn gốc xuất xứ nhiều thiết bị, và nhiều thiết bị khác sau khi nhập
về sử dụng đã bị trục trặc, hỏng hóc. Như vậy, cũng tương tự như với các dự án
ethanol trên, việc đầu tiên phải làm với những dự án như Xơ sợi Đình Vũ là thẩm
định, đánh giá lại chất lượng, hiệu quả của hệ thống máy móc thiết bị, chất lượng
xây dựng và lắp đặt xem có đảm bảo đúng như yêu cầu kỹ thuật và hiệu quả kinh tế
hay không (ví dụ, tỷ lệ hao phí nguyên nhiên liệu và sản phẩm lỗi trên một đơn
vị thành phẩm…). Nếu thấy những vấn đề về kỹ thuật không thể khắc phục được, hoặc
quá tốn kém so với vốn đầu tư ban đầu thì cũng phải tính đến phương án thanh lý
nhà máy.
Nếu thấy các tồn tại về kỹ thuật có thể khắc phục được
thì cần chuyển sự chú ý sang những tồn tại về mặt kinh tế. Việc thua lỗ ở những
dự án kiểu này còn bởi suất đầu tư quá cao do bị đội vốn (một cách gian dối bởi
những người trong cuộc). Đây là một nguyên nhân không thể sửa chữa, khắc phục
được nữa. Vậy, muốn cố gắng duy trì hoạt động của dự án mà không gây thêm thua lỗ
quá lớn nữa thì một trong các giải pháp khắc phục là phải tập trung vào kiểm
soát, cắt giảm chi phí, nâng cao chất lượng quản trị của dự án. Những tồn tại mà
Thanh tra đã chỉ ra như lực lượng cán bộ công nhân quá dư thừa so với yêu cầu của
dự án cho thấy việc cắt giảm chi phí đã không được coi trọng đúng mực bởi những
người quản lý ở cấp cao nhất dự án mà động cơ, năng lực điều hành của họ là một
dấu hỏi lớn.
Nếu tất cả các biện pháp cắt giảm chi phí có thể thực hiện
được vẫn sẽ không giúp cắt giảm được thua lỗ và thời gian hoàn vốn vẫn kéo dài
hàng chục năm thì điều này có nghĩa là dự án đã lâm vào bế tắc và giải pháp duy
nhất chỉ là cho phá sản, thanh lý dự án. Lúc đó, tất cả những lý do đưa ra để
biện minh cho việc duy trì dự án như giải quyết công ăn việc làm, bảo đảm đời sống
cho cán bộ công nhân viên, hay to tát hơn, là gây mất vốn nhà nước, vốn xã hội,
là đảm bảo an ninh nguyên liệu, giảm phụ thuộc nhập khẩu, giảm nhập siêu, hay
phát triển chuỗi sản xuất… đều chỉ là ngụy biện. Chí ít thì việc không phải bù
lỗ vài ngàn tỷ đồng/năm cho mỗi một dự án “xác sống” loại này để chúng tiếp tục
tồn tại sẽ là thừa đủ để bù đắp những “hậu quả” khi các dự án này được đem đi
chôn!
Subscribe to:
Posts (Atom)
Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ
(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)
19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU
18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.
17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)
16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)
15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)
14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)
13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)
12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)
11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)
10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)
9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)
8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)
7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)
6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)
5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)
4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).
3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)
2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).
1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).
19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU
18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.
17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)
16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)
15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)
14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)
13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)
12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)
11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)
10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)
9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)
8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)
7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)
6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)
5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)
4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).
3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)
2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).
1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).