Monday, 18 June 2018

Sửa đổi Thông tư 06: Giải quyết sở hữu chéo có bị ảnh hưởng? (Bài đăng trên CafeF, 18/06/2018)

http://cafef.vn/sua-doi-thong-tu-06-giai-quyet-so-huu-cheo-co-bi-anh-huong-20180618104418829.chn

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang lấy ý kiến góp ý cho dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 06/2015/TT-NHNN quy định thời hạn, trình tự, thủ tục chuyển tiếp đối với trường hợp sở hữu cổ phần vượt giới hạn quy định tại Điều 55 Luật các tổ chức tín dụng (TCTD).
Điều đáng chú ý là dự thảo thông tư quy định trước ngày 30/06/2019, tổ chức tín dụng khác phối hợp với cổ đông lớn của một tổ chức tín dụng và người có liên quan của cổ đông đó sở hữu cổ phần vượt giới hạn lập Kế hoạch khắc phục đảm bảo tuân thủ quy định tại Luật các tổ chức tín dụng (đã được sửa đổi, bổ sung). 
Trong khi đó, tại Thông tư 06/2015, NHNN quy định TCTD phối hợp với cổ đông, nhóm cổ đông có liên quan sở hữu cổ phần vượt giới hạn lập Kế hoạch khắc phục việc sở hữu cổ phần vượt giới hạn, đảm bảo chậm nhất ngày 31 tháng 12 năm 2015 tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông, nhóm cổ đông có liên quan tại TCTD phải tuân thủ quy định tại Luật các tổ chức tín dụng, trừ một số trường hợp ngoại trừ theo quy định.
Thời hạn mới nêu trong dự thảo thông tư như trên dẫn đến một câu hỏi liên quan là phải chăng NHNN đang tìm cách trì hoãn thời hạn xử lý sở hữu chéo trong ngành ngân hàng (chuyển thời hạn từ 31/12/2015 sang thời hạn 30/06/2019)?
Câu trả lời là không. Bởi căn cứ để ban hành Thông tư 06/2015 là Luật Các tổ chức tín dụng 47/2010/QH12. Nhưng Luật các tổ chức tín dụng này đã được sửa đổi, bổ sung Bởi Luật số 17/2017/QH14 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng, ban hành ngày 20/11/2017. Do đó, tất yếu là Thông tư 06/2015 cũng sẽ phải được sửa đổi tương ứng để hướng dẫn các quy định mới trong Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng.
Một điều liên quan khác đến thời hạn mới nói trên là khoảng cách thời gian từ lúc Luật Các tổ chức tín dụng có hiệu lực đến lúc thông tư hướng dẫn về thời hạn, trình tự, thủ tục chuyển tiếp đối với trường hợp sở hữu cổ phần vượt giới hạn đã được rút ngắn lại đáng kể.
Cụ thể, Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010 có hiệu lực từ 1/1/2011 nhưng phải đến tận tháng tháng 6/2015 thì Thông tư 06/2015 mới được ban hành (và có hiệu lực từ 15/7/2015). Trong khi đó, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng được ban hành ngày 20/11/2017 (và có hiệu lực từ 15/1/2018) nhưng NHNN đã xây dựng dự thảo sửa đổi Thông tư 06/2015 và nhắm đến ngày có hiệu lực của dự thảo này là ngày 30/6/2019, tức một năm rưỡi sau khi Luật Các tổ chức tín dụng được sửa đổi và có hiệu lực.
Bên cạnh khả năng là "hiệu quả" làm việc của NHNN đã được cải thiện (!), việc rút ngắn thời hạn ban hành và thực thi thông tư hướng dẫn như trên có khả năng là do việc thi hành quy định về thời hạn, trình tự, thủ tục chuyển tiếp đối với trường hợp sở hữu cổ phần vượt giới hạn quy định tại Điều 55 Luật Các tổ chức tín dụng đã trở nên dễ dàng hơn so với trước, không cần phải tốn quá nhiều thời gian chuyển tiếp.
Cụ thể hơn, dự thảo thông tư mở rộng phạm vi điều chỉnh so với Thông tư 06/2015, có thêm đối tượng là các cổ đông lớn và người có liên quan sở hữu cổ phần từ 5% trở lên vốn điều lệ của một TCTD khác quy định tại khoản 14 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật các tổ chức tín dụng số 17/2017/QH14 phát sinh trước ngày Luật sửa đổi này có hiệu lực thi hành.
Với những cổ đông lớn và người có liên quan được điều chỉnh bởi Luật Các tổ chức tín dụng cũ (năm 2010) thì có thể hiểu là đã (và đang) được xử lý bởi các quy định hiện hành. Nói cách khác, số lượng vụ việc và khối lượng công việc phải xử lý theo dự thảo thông tư mới, nếu có, sẽ không nhiều, hoặc chỉ là một phần so với hiện tại, nên việc rút ngắn thời hạn xử lý là có cơ sở.
Tóm lại, việc soạn thảo và ban hành thông tư mới thay thế Thông tư 06/2015 chắc chắn không phải là một bước lùi trong việc xử lý sở hữu chéo tại các TCTD, mà chỉ đơn giản là một hành động cần thiết để hướng dẫn thi hành các quy định mới khi Luật Các tổ chức tín dụng đã được sửa đổi, bổ sung, liên quan đến sở hữu chéo.
Tuy vậy, do Luật Các tổ chức tín dụng được sửa đổi theo hướng chặt chẽ hơn liên quan đến sở hữu chéo nên có thể tin rằng việc cho ra đời một thông tư mới thay thế Thông tư 06/2015 cũng là một bước tiến mới và cần thiết trong việc khắc phục và phòng chống nạn sở hữu chéo tràn lan trong hệ thống ngân hàng, góp phần cải thiện sức khỏe và tính bền vững của các TCTD trong tương lai.
Nhưng cũng cần lưu ý rằng sở hữu chéo thể hiện trên sổ sách chỉ là một phần của tảng băng nổi nên sửa đổi và ban hành các văn bản luật và dưới luật cũng chỉ là một điều kiện cần trong công cuộc xử lý sở hữu chéo ở Việt Nam. 

Tuesday, 5 June 2018

XỬ LÝ CHO VAY KIỂU LÀM PHIỀN KHÁCH, ĐÒI NỢ QUẤY RỐI RA SAO? (Bài đăng trên Zing, 6/6/2018)

https://news.zing.vn/xu-ly-cho-vay-kieu-lam-phien-khach-doi-no-quay-roi-ra-sao-post847430.html

TỪ MỘT THỊ TRƯỜNG ĐẦY TIỀM NĂNG...

Cho vay tiêu dùng đang trên đà khởi sắc mạnh mẽ ở Việt Nam từ vài năm gần đây với một loạt yếu tố hỗ trợ tích cực.
Mặt bằng lãi suất đã ở mức “dễ thở” hơn nhiều so với cách đây 5 năm do lạm phát đã được kiềm chế khá thành công, trong khi thu nhập vẫn tiếp tục được cải thiện song hành cùng tăng trưởng GDP.
Phát triển tín dụng tiêu dùng còn được cổ vũ như một công cụ để chống lại nạn "tín dụng đen".
Chuyên gia Phan Minh Ngọc
Đây là những tiền đề để người tiêu dùng trở nên cởi mở và sẵn sàng hơn trong việc đi vay để mua sắm tiêu dùng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của mình và gia đình.
Thu nhập cải thiện và chất lượng cuộc sống tốt hơn cũng làm cho người tiêu dùng hiện nay ngày càng quan tâm hơn đến vay trả góp để mua sắm hay sửa chữa nhà cửa.
Mặt khác, sự phổ cập thẻ tín dụng đã diễn ra với tốc độ nhanh chóng nhờ sự gia tăng mạnh của ngành bán lẻ qua sự phổ cập ngày càng sâu rộng của mạng Internet và nhờ ngày càng có nhiều điểm bán lẻ chấp nhận thanh toán thẻ tín dụng.
Ở tầm vĩ mô hơn, phát triển tín dụng tiêu dùng thậm chí còn được cổ vũ như một công cụ để chống lại nạn "tín dụng đen". Những động thái này đã cộng hưởng mạnh với nhu cầu mua sắm tiêu dùng cao hơn của người tiêu dùng để tạo ra một thị trường cho vay tiêu dùng đầy tiềm năng tăng trưởng ở Việt Nam.

... ĐẾN CHUYỆN LÀM PHIỀN KHÁCH, ĐÒI NỢ KIỂU QUẤY RỐI

Tuy vậy, sự phát triển mạnh của cho vay tiêu dùng cũng đã và đang tạo ra nhiều hệ lụy.
Về phía các công ty tài chính và ngân hàng thương mại cung cấp tín dụng tiêu dùng, kiểm soát nợ xấu là một thách thức lớn, do bản chất cho vay tiêu dùng phần nhiều dựa vào tín chấp chứ không phải là thế chấp bằng tài sản. Trong khi đó, các con nợ có vô vàn lý do để bị/chủ động “mất khả năng thanh toán”.
Về phía người vay, họ cũng gặp nhiều phiền toái, đối mặt với nhiều vấn đề.
Nếu người vay đang có khoản vay quá hạn do bất kể lý do nào đó, họ sẽ liên tục bị quấy rầy, làm phiền bởi các chủ nợ hoặc công ty đòi nợ thuê.
Nếu là người vay tiềm năng, họ sẽ bị quấy rầy bởi, ví dụ, các loại quảng cáo, tin nhắn, cuộc gọi điện thoại vào bất cứ thời điểm nào, ở bất cứ địa điểm nào...
Bởi vậy, thị trường cho vay tiêu dùng cần được quản lý để phát triển lành mạnh. Nhiệm vụ này chủ yếu nằm ở các cơ quan hữu trách của Nhà nước, điển hình là Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính.

QUẢN LÝ THẾ NÀO?

Cho vay có chọn lọc, tránh kiểu "ai cũng vay được":
Giải pháp quản lý cần thực hiện trước tiên là từng bước siết chặt các quy chế và luật lệ về cho vay tiêu dùng không có tài sản bảo đảm, thế chấp.
Thực tế cho thấy không phải món nợ xấu nào cũng là do người vay cố tình chây ì, không trả nợ. Nhiều khi việc không trả được nợ là do gánh nặng trả lãi và gốc của các khoản vay tiêu dùng ngày càng tăng lên vượt quá khả năng chi trả của người vay.
Các con nợ có vô vàn lý do để bị/ chủ động "mất khả năng thanh toán".

Để hạn chế rủi ro mất khả năng chi trả này, các cơ quan chức năng cần đặt ra các quy định cho ngân hàng và tổ chức tài chính thực hiện.
Chẳng hạn phải rà soát, xem xét tổng số nợ của các cá nhân và hộ gia đình cũng như hạn mức tín dụng cho họ trước khi phát hành thẻ tín dụng hoặc cấp hạn mức tín dụng không có tài sản thế chấp, đảm bảo. 
Để làm được việc này, cần thiết phải xây dựng, củng cố và phát triển cơ sở dữ liệu cá nhân thống nhất và tập trung cho toàn bộ dân số trong độ tuổi trưởng thành. Chỉ khi thực hiện tốt được việc này thì các ngân hàng và tổ chức tài chính mới có thể nắm chính xác lịch sử tín dụng như thế nào và các khoản vay nợ hiện tại của mỗi cá nhân ở Việt Nam là bao nhiêu, cho những mục đích gì.
Giám sát hạn mức đảm bảo an toàn:
Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cũng cần xây dựng, ban hành và giám sát việc thực thi những hạn mức bảo đảm an toàn.
Ví dụ như hạn mức tỷ lệ tổng chi trả nợ và lãi vay so với tổng thu nhập cá nhân và hộ gia đình, nhằm hạn chế người tiêu dùng trong việc vay tiêu dùng quá mức (từ các ngân hàng và tổ chức tài chính khác nhau), vượt quá khả năng chi trả định kỳ lãi và gốc các khoản vay của họ.
Đây là những “chiếc van” an toàn hữu hiệu cần thực thi nghiêm túc, bởi, trong nhiều trường hợp, chỉ riêng nghĩa vụ trả lãi và nợ gốc vay (mua nhà, ôtô) đã vượt quá nửa thu nhập của cả hộ gia đình người vay ở Việt Nam, dẫn đến khả năng vỡ nợ cao nếu có bất cứ rủi ro nào trong thu nhập và việc làm của các thành viên gia đình.
Hạn mức bảo đảm an toàn là chiếc van hữu hiệu cần thực thi nghiêm túc để tránh khả năng vỡ nợ khi có rủi ro thu nhập, việc làm.

Có quy định chặt chẽ và yêu cầu thực hiện nếu bên cho vay muốn thu phí, lãi suất cao “bất thường”:
Ngược lại, các cơ quan chức năng phải ban hành và thực thi các quy định bắt buộc ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính phải công bố và thực thi đầy đủ các điều khoản và điều kiện để được áp dụng phí và lãi suất cao “bất thường” với một số khoản cho vay. Việc ban hành và áp dụng các hạn mức về lãi phạt trả trước hạn và lãi suất theo kiểu cho vay nặng lãi “xã hội đen” cũng cần được thực hiện.
Có khuôn khổ luật pháp chế tài với việc đòi nợ của chủ nợ, công ty đòi nợ thuê: Các cơ quan chức năng cần xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ luật pháp chế tài việc đòi nợ của các chủ nợ và công ty đòi nợ thuê.
Tuy hiện nay đã có một số quy định pháp lý liên quan đến vấn đề này (Nghị định 104/2007/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ đòi nợ với một số quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong dịch vụ đòi nợ) nhưng các quy định này còn khá chung chung và việc xử lý các vụ việc vi phạm vẫn chưa thực sự hữu hiệu, có tính chất răn đe và phòng ngừa mạnh mẽ.
Do đó, việc cần thực hiện ngay là xây dựng và ban hành quy định pháp luật về các biện pháp đòi nợ thỏa đáng tương tự như đạo luật FDCPA (Fair Debt Collection Practices Act) ở Mỹ, để bảo vệ người tiêu dùng không bị chủ nợ và công ty đòi nợ thuê áp dụng các biện pháp đòi nợ mang tính xúc phạm, không thỏa đáng.
Song song đó, cần tuyên truyền rộng rãi quyền và những việc có thể làm được của người vay nếu bị vướng vào những hoàn cảnh này, ví dụ, lưu lại mọi bằng chứng đe dọa, nhục mạ của chủ nợ/công ty đòi nợ thuê và tố cáo với cơ quan chức năng theo dõi việc thực hiện quy định liên quan về đòi nợ.
Có giải pháp để người tiêu dùng không bị làm phiền: Trước thực tại ở Việt Nam là người tiêu dùng hàng ngày hàng giờ bị tra tấn không ngừng nghỉ bởi các tin nhắn rác và cuộc gọi quảng cáo đủ thứ từ bất động sản đến thẻ tín dụng và mua ôtô... cần có những quy định bảo vệ người tiêu dùng.
Chẳng hạn củng cố việc bảo vệ dữ liệu cá nhân, thiết lập và duy trì việc đăng ký các các số điện thoại không được làm phiền (Do Not Call Registry) như có ở một số nước để nghiêm cấm các cá nhân và doanh nghiệp gọi điện, gửi tin nhắn và thư quảng cáo đến những số điện thoại đã đăng ký trong danh sách không được làm phiền này.

Monday, 4 June 2018

Những điểm mới trong nghị định về đầu tư theo hình thức PPP (Bài đăng trên TBKTSG, 4/6/2018)


http://www.thesaigontimes.vn/272953/nhung-diem-moi-trong-nghi-dinh-ve-dau-tu-theo-hinh-thuc-ppp.html
Chính phủ mới ban hành Nghị định 63/2018/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 19/6/2018 để thay thế Nghị định 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư trong các dự án hợp tác công – tư (PPP).

Những điểm khác biệt chủ yếu của Nghị định 63 so với Nghị định 15 được nêu ra như dưới đây.

Thứ nhất, về nguồn vốn hỗ trợ chuẩn bị đầu tư. Theo Nghị định 15, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) có trách nhiệm huy động một số nguồn vốn hợp pháp rồi cấp phát cho các bộ, ngành, UBND cấp tỉnh. Nhưng theo Nghị định 63, các bộ, ngành, UBND cấp tỉnh phải chủ động việc huy động vốn cho mục đích này. Như vậy, nghị định mới đã chuyển trách nhiệm của Bộ KHĐT trong việc huy động vốn phục vụ cho công tác chuẩn bị đầu tư sang cho các bộ, ngành, UBND, và điều này cũng góp phần tránh được những rủi ro liên quan do làm tăng tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cơ quan này trong cùng vấn đề.

Thứ hai, về vốn chủ sở hữu và vốn huy động của nhà đầu tư, Nghị định 63 đã nâng tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư lên tối thiểu 20% so với mức 15% trong Nghị định 15 đối với dự án có tổng đầu tư đến 1.500 tỷ đồng. Với dự án có tổng đầu tư trên 1.500 tỷ thì mức vốn chủ sở hữu theo quy định mới cũng được sửa theo hướng nâng cao hơn. Cụ thể, vốn chủ sở hữu tối thiểu là 20% với phần vốn đến 1.500 tỷ (cao hơn so với mức 15% trong Nghị định 15), và tối thiểu là 10% với phần vốn trên 1.500 tỷ (bằng với mức trong Nghị định 15). Như vậy, có thể thấy quy định mới hướng đến việc lựa chọn nhà đầu tư có năng lực tài chính vững vàng hơn so với trước, tránh được tình trạng nhà đầu tư dựa phần lớn vào vốn vay ngân hàng để thực hiện dự án, dễ dẫn đến những hệ lụy như mất khả năng thanh toán, “treo” hoặc làm đội vốn dự án, tăng thời gian khai thác dự án...

Thứ ba, về hình thức nhà nước tham gia trong dự án PPP, ngoài vốn góp và vốn thanh toán cho nhà đầu tư, điểm mới trong Nghị định 63 là nhà nước có thể tham gia dự án PPP bằng cách góp quỹ đất, trụ sở làm việc, tài sản kết cấu hạ tầng thanh toán cho nhà đầu tư hoặc quyền kinh doanh, khai thác công trình, dịch vụ được nhượng cho nhà đầu tư trong dự án áp dụng loại hợp đồng BT (Xây dựng - Chuyển giao). Cũng theo Nghị định 63, nếu vốn góp của nhà nước có nguồn từ nguồn vốn đầu tư công thì vốn này không được áp dụng với dự án BT. Ngoài ra, Nghị định 63 còn quy định, đối với dự án do nhà đầu tư đề xuất, nhà nước chỉ bố trí vốn góp hoặc vốn thanh toán cho nhà đầu tư khi dự án không áp dụng hình thức chỉ định thầu đối với nhà đầu tư.

Những quy định mới nói trên vừa mở rộng các hình thức tham gia của nhà nước vào dự án PPP (có thêm hình thức tham gia bằng đất đai, hạ tầng, quyền kinh doanh...), vừa sẽ góp phần làm giảm gánh nặng chi ngân sách cho đầu tư công (không chi cho dự án BT), đồng thời làm giảm rủi ro thất thoát vốn (không góp vốn hoặc thanh toán cho các dự án có chỉ định thầu).

Thứ tư, về lập kế hoạch vốn đầu tư công làm phần nhà nước tham gia trong dự án PPP, Nghị định 63 đã không còn yêu cầu Bộ KHĐT và Bộ Tài chính tổng hợp kế hoạch sử dụng vốn trong kế hoạch đầu tư công quốc gia như trong Nghị định 15 nữa. Một mặt, điều này cho thấy sự phân cấp hoàn toàn cho các bộ, ngành, địa phương trong việc lập kế hoạch vốn này. Mặt khác, điều này cũng cho thấy khó khăn khi muốn biết nhà nước sẽ phải bỏ ra bao nhiêu vốn đầu tư vào trong các dự án PPP trong khắp các ngành, địa phương, vì con số này sẽ không còn được tổng hợp và báo cáo một cách tập trung, thống nhất như trước nữa.

Thứ năm, Nghị định 63 có thêm một mục về chuyển đổi từ dự án đang được đầu tư bằng nguồn vốn đầu tư công sang dự án PPP, trừ các loại hình gồm Hợp đồng Kinh doanh - Quản lý (O&M), và dự án đối ứng của dự án BT.  Với quy định này, sẽ có thể có nhiều dự án đầu tư công được chuyển đổi và nhận được sự quan tâm của nhà đầu tư khi rủi ro liên quan đến dự án PPP được giảm thiểu do cơ chế pháp lý rõ ràng và đầy đủ hơn liên quan đến dự án PPP đã được công bố. Nhà nước do vậy cũng bớt đi được gánh nặng do vốn đầu tư công bị dàn trải ở nhiều dự án đầu tư công khác nhau trên cả nước, có thể tập trung vào một số dự án trọng điểm, ưu tiên mà không cần hoặc không có sự tham gia của nhà đầu tư tư nhân.

Thứ sáu, Nghị định 63 dành hẳn một chương mới cho riêng hình thức hợp đồng BT. Những điều khoản quan trọng trong chương này gồm các quy định về phương thức thanh toán cho nhà đầu tư hợp đồng BT (gồm sử dụng giá trị quyền sử dụng đất, trụ sở làm việc..., và nhượng quyền kinh doanh...); nguyên tắc thực hiện hợp đồng BT theo phương thức sử dụng giá trị quyền sử dụng đất như xây dựng và điều chỉnh quy hoạch, điều chỉnh giá trị sử dụng đất, tiền thuê đất; và nguyên tắc thực hiện hợp đồng BT theo phương thức nhượng quyền kinh doanh, khai thác công trình, dịch vụ cho nhà đầu tư, gồm các nguyên tắc xác định phạm vi và thời hạn nhượng quyền kinh doanh...

Tuy nhiên, bên cạnh sự rạch ròi, chi tiết của những quy định liên quan đến dự án BT như trên, có một điểm bất cập. Đó là trong nguyên tắc thực hiện hợp đồng BT theo phương thức nhượng quyền kinh doanh khai thác công trình, dịch vụ cho nhà đầu tư, Nghị định 63 quy định rằng “phạm vi, thời hạn nhượng quyền kinh doanh, khai thác công trình, dịch vụ cho nhà đầu tư được xác định trên cơ sở cân bằng lợi ích giữa Nhà nước và nhà đầu tư”. Quy định như vậy tức là Nghị định 63 đã gạt ra bên lề quyền lợi của người dân – tối thiểu là quyền được lựa chọn có sử dụng hay không dịch vụ cung cấp bởi dự án BT, vốn là nguồn gốc gây xung đột giữa người dân và chủ đầu tư của nhiều dự án giao thông thu phí hiện nay.

Và cuối cùng, để khắc phục lỗ hổng tạo tham nhũng, thất thoát trong dự án PPP do thiếu thông tin minh bạch, Nghị định 63 đã bổ sung điều khoản về công khai thông tin hợp đồng dự án, gồm thời hạn và nội dung thông tin được công khai. Tuy nhiên, đây là một bước tiến nửa vời vì Nghị định 63 không bắt buộc phải công bố rộng rãi những nội dung thông tin này, thay vào đó là “khuyến khích” việc đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc trên các phương tiện thông tin đại chúng khác.

Tóm lại, nghị định mới về dự án PPP có một số điểm mới quan trọng như tăng cường tính phân cấp, tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở các bộ, ngành, địa phương; loại bớt những nhà đầu tư yếu kém về năng lực tài chính; gia tăng hình thức tham gia của nhà nước vào các dự án PPP, và ngược lại, gia tăng sự tham gia của nhà đầu tư vào các dự án đầu tư công chuyển đổi sang dự án PPP, giúp giảm gánh nặng chi lên ngân sách…

Nhưng nhìn chung, những điểm mới của Nghị định 63 chủ yếu hướng đến hoặc xoay quanh chủ thể là nhà nước. Về phía nhà đầu tư và người sử dụng, không có thêm quy định quyền lợi, nghĩa vụ gì khác đáng kể so với nghị định cũ, ngoài việc một số nội dung được trình bầy đầy đủ, rõ ràng, chặt chẽ và theo một trình tự hợp lý hơn, tạo cảm giác minh bạch hơn, tuy sự minh bạch về thông tin dự án lại không bị bắt buộc. 

Sunday, 3 June 2018

Vòng luẩn quẩn giải ngân vốn đầu tư công chậm (Bài đăng trên TBKTSG, 4/6/2018)

http://www.thesaigontimes.vn/273292/vong-luan-quan-giai-ngan-von-dau-tu-cong-cham.html

Giải ngân vốn đầu tư công chậm trễ đã trở thành bệnh kinh niên, bất chấp nhiều “liệu pháp” điều trị được đưa ra.
Chỉ riêng trong năm 2017, điểm lại có thể thấy hàng loạt cuộc họp hoặc giải trình giữa các cơ quan chức năng của Quốc hội, Thủ tướng, Phó thủ tướng với các bộ, ngành và địa phương về vấn đề chậm chạp trong giải ngân vốn đầu tư công. Trong những cuộc họp này, nhiều lý lẽ của cả hai bên được đưa ra, xem chừng đều hợp lý. Và thường những cuộc họp này được kết thúc bằng những lời lẽ gay gắt, “quyết liệt”, chẳng hạn nếu không làm được, không có biến chuyển thì sẽ bị mất chức, và những lời nhận khuyết điểm, lời hứa. Nhưng rồi tình hình vẫn không có biến chuyển gì trong năm nay.
Có ý kiến cho rằng Luật Đầu tư công là luật mới, ban hành lần đầu tiên (có hiệu lực từ ngày 1-1-2015), liên quan đến quyền lợi, trách nhiệm của nhiều bộ, ngành, địa phương nên không tránh khỏi vướng mắc, có nhiều cách hiểu, cách làm khác nhau. Thêm nữa, việc xây dựng và hoàn chỉnh các nghị định hướng dẫn cũng mất thêm hai năm nữa (tới tháng 12-2016), ảnh hưởng đến việc phổ biến, tập huấn và áp dụng thống nhất các quy định liên quan đến đầu tư công trong cả nước. Ngoài ra, khi thực hiện, quy định của Luật Đầu tư công với các luật khác cũng chưa có sự thống nhất. Ví dụ, đã có sự quy định khác nhau về báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án trong việc phê duyệt chủ trương đầu tư giữa Luật Đầu tư công và Luật Bảo vệ môi trường.
Ý kiến trên có thể là một thực tế. Mặc dù đánh giá tốt về luật này vì đã khắc phục và giải quyết được hàng loạt tồn tại liên quan đến đầu tư công, nhưng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đã chỉ ra 11 vướng mắc trong Luật Đầu tư công.
Tuy vậy, thực tế cũng cho thấy chẳng có một luật nào từ khi được ban hành lại không có vấn đề tồn tại, trục trặc trong thực thi, cần khắc phục, sửa đổi. Và, công bằng mà nói, ít có luật nào mà quá trình thực thi lại chật vật và kết quả thực hiện lại kém như Luật Đầu tư công. Do đó, cho dù có những vướng mắc trong Luật Đầu tư công nhưng chúng cũng chỉ là một phần, chứ không phải là tất cả nguyên nhân gây chậm trễ giải ngân đầu tư công.
Hơn nữa, việc sửa luật được yêu cầu phải thận trọng bởi “có khi mắc lại không phải ở luật này mà ở các luật khác”(1). Việc sửa Luật Đầu tư công, nếu có, cần phải đặt trong một tổng thể và được thực hiện đồng bộ với những luật liên quan khác để việc sửa đổi không tiếp tục tạo ra những mâu thuẫn, khác biệt mới.
Như vậy, trước mắt, trong lúc chờ sửa đổi Luật Đầu tư công và các luật có liên quan với lộ trình hoàn toàn không xác định, xem ra các nỗ lực đang được tập trung vào khắc phục những yếu kém trong việc thực thi Luật Đầu tư công.
Theo hướng này, lại nảy sinh vấn đề xác định đâu là nguyên nhân chủ quan, đâu là khách quan, và giải pháp khắc phục phù hợp. Chẳng hạn, có bộ lý giải rằng giải ngân vốn đầu tư công năm 2018 chậm vì còn đọng vốn năm 2017 kéo sang năm nay nên được ưu tiên xử lý trước. Nếu cho rằng đây là lỗi chủ quan và thúc ép họ giải ngân ngay và hết theo đúng kế hoạch trong năm 2018 thì họ có thể viện ra lý do năng lực xử lý không đáp ứng được sự giải ngân “dồn cục” kiểu này và mọi sự thúc ép đều có khả năng dẫn đến chất lượng giải ngân không cao, gây thất thoát, lãng phí, trong khi bản thân họ cũng không dám và không muốn làm vì sợ sai quy định.
Có bộ giãi bày rằng họ giải ngân vốn đầu tư công chậm vì được Thủ tướng giao vốn chậm (sau khi được Quốc hội phê duyệt danh mục) trong khi việc phê duyệt chủ trương đầu tư, mời tư vấn lập dự án đầu tư, chọn tư vấn để đấu thầu… mất từ một đến hai năm theo khung tối đa được quy định. Như thế, sự chậm trễ là khách quan và… đúng quy trình, cũng khó có thể phê phán họ được!
Chính phủ tỏ ra rất sốt ruột với tình trạng bùng nhùng, lắm lý do rất khách quan này nên đã không ít lần quy trực tiếp nguyên nhân của tình trạng chậm giải ngân vốn đầu tư công là do người đứng đầu và khẳng định sẽ dùng những giải pháp “quyết liệt” như làm rõ trách nhiệm, kỷ luật, thay thế, luân chuyển cán bộ… Tuy vậy, cho đến nay, vẫn chưa thấy có vụ việc (chậm giải ngân) nào được làm rõ ai là “thủ phạm” và/hoặc việc áp dụng các hình thức kỷ luật nghiêm khắc này. Chuyện này có lẽ một phần bởi rốt cuộc lỗi là do… hệ thống!
“Lỗi hệ thống” này cho thấy nếu chỉ tìm nguyên nhân ở khâu thực thi, ở từng đơn vị liên quan và quy trách nhiệm thì cũng sẽ khó có kết quả khả quan. Trong bối cảnh khá bế tắc này, có lẽ giải pháp duy nhất còn lại là quay trở lại từ điểm xuất phát, bắt đầu từ sửa chữa, hoàn thiện Luật Đầu tư công, các nghị định và luật liên quan. Việc sửa chữa, hoàn thiện luật này cũng cần được làm theo đúng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về trình tự và thời gian, tránh tình trạng, ví dụ, mất đến hai năm mới xây dựng và ban hành được các nghị định hướng dẫn Luật Đầu tư công.
Một khi đã có khuôn khổ pháp luật hoàn chỉnh, quy định rõ ràng quy trình, chức năng, nhiệm vụ và xử lý trách nhiệm của từng chủ thể thì việc tìm nguyên nhân và làm rõ trách nhiệm sẽ dễ dàng hơn. Đến lúc đó, thái độ không cả nể, dung thứ với mọi cá nhân, tổ chức thiếu trách nhiệm, sai phạm, kể cả cấp cao nhất, sẽ là điều quyết định sự thành công của (giải ngân) đầu tư công. 

(1) http://cand.com.vn/thoi-su/Giai-ngan-dau-tu-cong-cham-con-co-nguyen-nhan-ngoai-bao-cao-460533/

Khối ngoại bán ròng, không hẳn vốn nước ngoài đảo chiều (Bài đăng trên TBKTSG, 3/6/2018)

http://www.thesaigontimes.vn/273287/khoi-ngoai-ban-rong-khong-han-von-nuoc-ngoai-dao-chieu.html


Thống kê trên thị trường chứng khoán cho thấy từ tháng 2 đến nay nhà đầu tư nước ngoài đã bán ròng hơn 10 nghìn tỷ đồng, trái ngược hoàn toàn với tình trạng mua ròng mạnh diễn ra trong tháng 1 trước đó. Điều này là một trong những lý do Việt Nam-Index đã giảm mạnh, xóa đi toàn bộ thành quả tăng điểm từ đầu năm đến nay.

Tất nhiên là khi nhà đầu tư ngoại bán ròng, và ở mức lớn, rủi ro hiện hữu đi kèm với tình trạng này là tình trạng vốn ngoại tệ đảo chiều, chảy ngược ra nước ngoài, thay vì là chảy ròng vào nền kinh tế như khi mọi chuyện vẫn đang tốt đẹp.

Khi một quốc gia phải chứng kiến dòng vốn nước ngoài chảy ngược ra khỏi biên giới của mình ở quy mô lớn và kéo dài (không phải chỉ là hiện tượng nhất thời, ngắn hạn) thì họ cần phải chuẩn bị đối mặt với những hậu quả như tỷ giá tăng (nội tệ mất giá), lạm phát tăng, ngân hàng nhận được ít tiền gửi hơn do đó cũng phải cắt giảm cho vay, dẫn đến làm giảm đầu tư và, do đó, giảm tăng trưởng GDP thực. Khả năng trả nợ nước ngoài của Chính phủ và doanh nghiệp cũng trở nên khó khăn hơn, ở giác độ là nếu nguồn thu để trả nợ phụ thuộc phần lớn vào thị trường nội địa và/hoặc bằng nội tệ, họ sẽ phải mất nhiều nội tệ hơn cho cùng một khoản trả nợ bằng ngoại tệ.

Nguy hại không kém là sự sụt giảm lòng tin của người tiêu dùng vào nội tệ. Khi họ thấy tài sản bằng nội tệ của mình có khả năng mất giá mạnh (do nội tệ mất giá), họ sẽ tự bảo vệ mình bằng cách chuyển các tài sản của mình ra ngoại tệ hoặc những tài sản khác không niêm yết bằng nội tệ, và/hoặc dịch chuyển các tài sản này ra nước ngoài. Điều này càng làm tăng vòng xoáy chảy máu ngoại tệ à mất giá nội tệ à sụt giảm niềm tin à chảy máu ngoại tệ (capital flight).

Trở lại với trường hợp của Việt Nam. Việc nhà đầu tư ngoại bán ròng là một thực tế được phản ánh trên sổ sách thống kê. Tuy nhiên, chỉ từ việc bán ròng này thì khó có thể khẳng định rằng đã và đang có hiện tượng đảo chiều vốn nước ngoài, hoặc nghiêm trọng hơn, chảy máu ngoại tệ. Có một số yếu tố không ủng hộ quan ngại rằng đang có hiện tượng đảo chiều vốn nước ngoài.

Thứ nhất, theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) đã đạt mức 1,89 tỷ đô la Mỹ trong quý 1 năm nay, tăng 121,6% so với cùng kỳ năm 2017. Như vậy, nếu đã có một sự đảo chiều của vốn ngoại thì sự đảo chiều này chỉ mới diễn ra gần đây, và phải ở quy mô rất lớn, hàng tỷ đô la, trung hòa toàn bộ lượng vốn FII đã đổ vào trong quý 1 để có thể sinh ra tình trạng đảo chiều vốn ngoại (đổ ra ròng) như dư luận đang lo ngại. Tuy nhiên, khả năng đảo chiều này lại cũng khó xảy ra, khó là hiện thực, nếu xét đến yếu tố thứ hai.

Đó là, dù nhà đầu tư ngoại đã bán ròng (từ tháng 2), nhưng lượng vốn thu được từ việc bán ròng này không nhất thiết được chuyển hết thành ngoại tệ, và cũng không nhất thiết được chuyển ra nước ngoài. Rất có thể nhà đầu tư ngoại vẫn đang nắm giữ một phần vốn từ bán ròng này ở trong các tài khoản ngân hàng ở Việt Nam, bằng tiền đồng (để, ví dụ, chờ đợi cơ hội đầu tư mới). Bởi vậy, sự bán ròng của khối ngoại nhìn chung đã không gây ra sự đảo chiều vốn ngoại ở Việt Nam trong thời gian qua.

Tất nhiên là không thể loại trừ có một số nhà đầu tư ngoại đã chuyển hóa số vốn thu hồi thành ngoại tệ và chuyển ra nước ngoài. Nhưng nếu điều này diễn ra ở quy mô đáng kể thì nó sẽ được phản ánh ngay vào yếu tố thứ ba, đó là tỷ giá tiền đồng. Thực tế, tỷ giá tiền đồng/đô la Mỹ chỉ tăng đáng kể vào từ hạ tuần tháng 3, nhưng lại dịu đi sau đó, và mới chỉ “bùng lên” từ giữa tuần trước, tăng tổng cộng khoảng 90 đồng cho đến ngày 29/5. Như vậy, dù được cho là tăng ở mức rất mạnh trong năm nay nhưng tỉ giá cũng chỉ tăng khoảng 0,4%, một mức tăng vẫn cần được theo dõi trước khi kết luận là đã thành xu hướng nguy hiểm và kéo dài.

Cũng có thể có ý kiến cho rằng tỷ giá niêm yết ở ngân hàng (và tỷ giá trung tâm của Ngân hàng Nhà nước) không phản ánh đúng tình trạng căng thẳng ngoại tệ ở Việt Nam, nên không thể căn cứ vào sự ổn định tương đối về tỷ giá trong thời gian qua để phủ nhận khả năng đã có sự đảo chiều vốn ngoại tệ. Tuy vậy, ít nhất thì sự “lình xình” của tỷ giá tiền đồng/đô la Mỹ trên thị trường tự do (và không quá cách biệt với tỷ giá niêm yết trong ngân hàng thương mại) cũng là một hàn thử biểu cho thấy không có sự căng thẳng về cung cầu đô la Mỹ tại Việt Nam cho đến hiện tại (với giả thiết là đã có hàng tỷ đô la Mỹ được nhà đầu tư ngoại mua và chuyển ra nước ngoài).

Và cũng sẽ có ý kiến cho rằng sự đảo chiều vốn nước ngoài từ FII đã được “che lấp” bởi sự tiếp tục đổ vào (ròng) của luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), và, do đó, ở góc độ này, Việt Nam đã “may mắn” tránh được hậu quả của sự chảy máu ngoại tệ. Khả năng có sự bù đắp này cũng có thể là sự thật, nhưng lý do chủ yếu nằm ở sự khác biệt về bản chất giữa FDI và FII, khi FDI là dòng vốn có tính chất dài hạn, không biến động ngắn hạn, nhất thời như FII. Và suy cho cùng, xét trên góc độ ổn định vĩ mô, FDI hay FII không quan trọng bằng, về tổng thể, lượng ngoại tệ đang có ở Việt Nam không bị suy giảm đi (thậm chí tăng lên) ở mọi thời điểm.

Wednesday, 30 May 2018

Chuyên gia: Tỉ giá tăng là… hợp lý (Bài đăng trên CafeF, 31/5/2018)

http://cafef.vn/ts-phan-minh-ngoc-ti-gia-tang-la-hop-ly-20180531065201982.chn


Tỉ giá đã trên đà tăng liên tục kể từ tuần trước và đã có lúc vượt ngưỡng 22.900 đồng/USD trong ngày hôm qua 30/5. Đây là một diễn biến khá bất ngờ khi tỉ giá đã có một thời gian dài tính bằng tháng khá bình lặng. Diễn biến này làm dấy lên nỗi lo về những tác động khi tỉ giá tiếp tục gia tăng trong thời gian tới.


Xoay quanh vấn đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với TS. Phan Minh Ngọc, chuyên gia kinh tế tài chính.
PV: Theo ông nguyên nhân nào làm tỉ giá lên mạnh những ngày qua?
TS. Phan Minh Ngọc: Nói về nguyên nhân, giới chuyên gia đã chỉ ra nhiều yếu tố góp phần tạo ra sự biến động của tỉ giá hiện nay. Tuy vẫn có sự bất đồng ở một mức độ nhất định nhưng tựu trung sự mạnh lên của USD là một trong những yếu tố được viện dẫn ra hàng đầu.
Quả thật, nhìn vào đồ thị của chỉ số Đô la (dollar index), đồng USD đã tăng một mạch từ mức thấp trong nhiều tháng trở lại đây là 89,03 vào ngày 26/3 lên đỉnh kỷ lục mới kể từ tháng 11/2017 là 94,88 vào ngày 30/5/2018. Như vậy, trong vòng 3 tháng, USD đã lên giá tới 6,6% so với các đồng tiền chủ chốt trên thế giới.
Trong bối cảnh USD lên giá mạnh như vậy thì việc mất giá của bất cứ đồng tiền nào, kể cả tiền đồng, là một điều không có gì lạ, khó hiểu, khó có thể tránh khỏi. 
PV: Mặc dù tỉ giá biến động khá mạnh nhưng Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn không có động thái nào, phải chăng đó là sự chủ động để cho tiền đồng yếu đi?
TS. Phan Minh Ngọc: Như đã nói, sự biến động của tỉ giá là khó tránh khỏi, nhưng điều đáng nói hơn ở đây là giữa sự mất giá và sự ổn định tương đối của tiền đồng với USD, đâu là điều hợp lý hơn?
Trước tiên, nếu nói về sự ổn định tỉ giá, NHNN ít nhất là trong thời gian vài tháng tới hoàn toàn có đủ khả năng ổn định tỉ giá tiền đồng như họ vẫn làm vậy cho đến tận gần đây. Quỹ dự trữ ngoại hối đã được bổ sung liên tục của NHNN, tuy vẫn chỉ ở mức "sạch nước cản" – tương đương khoảng 3 tháng nhập khẩu theo tiêu chuẩn quốc tế - nhưng lại đủ lớn ở mức độ tuyệt đối để can thiệp ra thị trường trong phạm vi vài tỉ USD mà không làm ảnh hưởng quá lớn đến sức khỏe của quỹ này.
Ngoài ra, NHNN còn có sẵn một vài công cụ để siết tỉ giá nếu muốn, chẳng hạn quy định siết chặt hơn việc vay mượn bằng ngoại tệ - hiện đang khá "thoáng" khi NHNN tiếp tục gia hạn cho các đối tượng được phép vay mượn bằng ngoại tệ, dẫn đến tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ đã tăng mạnh hơn tăng trưởng tín dụng bằng tiền đồng từ đầu năm đến nay. Bên cạnh đó, cơ chế tỉ giá trung tâm cũng cho phép NHNN "trói" tỉ giá tại các ngân hàng thương mại ở mức họ mong muốn, ít nhất là trong ngắn hạn.
Nhìn rộng ra, sự khan hiếm tương đối của USD hiện tại dường như là hiện tượng mới có, với bằng chứng là tỉ giá trên thị trường tự do đã và đang không chênh lệch quá lớn với tỉ giá trong các ngân hàng thương mại. Điều này có nghĩa là tỉ giá chưa bị dồn nén quá mức, nếu có, dẫn đến rủi ro là khi không kiểm soát được thì sẽ bùng lên như những năm trước.
Tuy vậy, việc NHNN không có dấu hiệu can thiệp tỉ giá, thậm chí còn có xu hướng thuận theo xu hướng của thị trường khi cũng điều chỉnh tăng tỉ giá trung tâm cho thấy dường như họ đã lựa chọn phương án để tiền đồng yếu đi ở mức độ nhất định so với USD.
Lý do gì khiến NHNN chọn "hành động" như vậy, thưa ông?
TS Phan Minh Ngọc: Lý do để NHNN lựa chọn như trên đương nhiên vẫn là mục đích không để tiền đồng lên giá thực so với USD do lạm phát ở Việt Nam đã gia tăng gần đây, và tất nhiên là cao hơn lạm phát ở Mỹ. 
Quan trọng không kém, việc để tiền đồng yếu đi so với USD cũng tức là đặt tiền đồng vào trong xu thế chung (yếu đi) của nhiều đồng bản tệ khác trên thế giới (so với USD). Trên giác độ này, tỉ giá tiền đồng/USD tăng lên như hiện nay sẽ góp phần duy trì sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam so với hàng hóa và dịch của của nhiều nước trên thế giới khi chúng được làm lợi bởi sự suy yếu của các đồng bản tệ của các nước này. Và trên hết, NHNN càng có thêm lý do để theo đuổi một đồng tiền yếu hơn khi thâm hụt thương mại đã quay trở lại trong tháng này sau khi đã xuất siêu trong nhiều tháng trước.
Nhưng cần lưu ý một điều rằng NHNN không chỉ có động thái một chiều là điểu chỉnh tăng tỉ giá trung tâm. Kể cả những ngày gần đây vẫn có lúc NHNN điều chỉnh giảm tỉ giá trung tâm này. Đây là một điều khó hiểu và có vẻ mâu thuẫn với phần phân tích ở trên. Tuy nhiên, sẽ không còn là khó hiểu khi đặt mình vào vị trí của NHNN khi phải thận trọng với diễn biến tâm lý trên thị trường ngoại hối. Việc chỉ có điều chỉnh tăng tỉ giá sẽ gửi một tín hiệu rõ ràng rằng NHNN chấp nhận/buộc phải để tiền đồng yếu đi, và điều này có thể gây ra những xáo trộn và những cú sốc lớn khi tâm lý đầu cơ được kích hoạt và nhập cuộc.
Với tính chất (theo công bố) của tỉ giá trung tâm là gắn bó hơn với thị trường, NHNN có sẵn lý do cho việc điều chỉnh tỉ giá trung tâm theo cả 2 chiều tăng, giảm để làm dịu tâm lý thị trường. Nhưng về tổng thể, có thể thấy rõ tỉ giá trung tâm đã tăng lên một cách có chủ đích, mở đường cho tỉ giá thương mại tại ngân hàng và trên thị trường tự do điều chỉnh theo.
Xin cảm ơn những chia sẻ của ông!

Tuesday, 29 May 2018

Thay vì tăng thuế môi trường với xăng dầu... (Bài đăng trên TBKTSG, 30/5/2018)

http://www.thesaigontimes.vn/272956/thay-vi-tang-thue-moi-truong-voi-xang-dau-.html

Bộ Tài chính mới đây đã đề xuất tăng kịch trần thuế môi trường với xăng dầu, lên 4.000 đồng/lít. Trước đó thì bộ này cũng có đề xuất nâng khung thuế bảo vệ môi trường xăng dầu lên tối đa 8.000 đồng/lít.

Lý do thiếu thuyết phục

Điều đáng nói là lý do cho những đề xuất nâng thuế này không phải trực tiếp là để bảo vệ môi trường, như tên gọi của chúng. Thay vào đó, Bộ Tài chính đưa ra mấy lý do cho việc tăng thuế như cơ cấu lại ngân sách nhà nước (NSNN), đảm bảo an toàn nợ công; chênh lệch giữa thuế ưu đãi (20%) với thuế nhập khẩu xăng dầu theo cam kết trong WTO (40%); và giá bán xăng ở Việt Nam hiện đang ở mức thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực và thế giới(1).

Những lý do trên là thiếu thuyết phục. Cụ thể hơn, về lý do cơ cấu lại NSNN, đảm bảo an toàn nợ công, việc tăng thuế môi trường với xăng dầu trong khi tiền thu về không được khẳng định sẽ dùng cho bảo vệ môi trường sẽ làm cho người dân nghĩ rằng nhà nước đang “tận thu” mọi nguồn có thể, trong khi việc cần làm nhất và có thể làm ngay được là cắt giảm chi tiêu để đảm bảo sự an toàn của ngân sách.


Suy cho cùng, nếu cứ nhất định muốn tăng thu kiểu này thì tốt nhất là nên áp một loại thuế thống nhất gọi là “thuế xăng dầu” và mỗi lần muốn tăng thu thì chỉ cần tăng thuế suất hoặc mức tuyệt đối của thuế này, vừa để đạt mục đích tăng thu cho ngân sách, vừa không gây dị nghị trong dư luận bởi sự “danh không thuận”.

Ví dụ về thuế này có ở nhiều nước. Chẳng hạn ở Singapore, năm 2015, nước này tăng thuế xăng dầu thêm 20 xu (đô la Singapore (SGD), khoảng gần 3.500 đồng) lên mức 64 xu/lít với xăng loại 1 (15 xu với xăng thường, lên 56 xu/lít). Tuy nhiên, song song với việc tăng thuế xăng dầu, dự tính tăng thu thêm khoảng 177 triệu SGD/năm cho ngân sách, Chính phủ Singapore tiến hành hoàn thuế đường sá cho các phương tiện giao thông trong một năm với các mức hoàn thuế khác nhau tùy loại xe. Việc hoàn thuế này sẽ lấy đi của chính phủ khoảng 144 triệu SGD. Tuy nó không được giải thích một cách bao biện, như là để bảo vệ môi trường, nhưng việc tăng thuế này đã được chấp nhận một cách “hòa bình”, vì người dân tin tưởng vào sự minh bạch và hiệu quả của Chính phủ, và cũng vì Chính phủ đã tìm cách “giảm sốc” cho người dân bằng biện pháp hoàn thuế này.

Với lý do chênh lệch giữa thuế ưu đãi và thuế cam kết trong WTO, việc tăng thuế môi trường lên xăng dầu không giúp giảm chênh lệch này. Bởi, theo logic, điều này chỉ có thể xảy ra nếu nhà nước chỉ áp thuế môi trường (và tăng thuế này) lên xăng dầu nhập khẩu từ các nguồn được hưởng thuế suất thuế ưu đãi theo các hiệp định FTA mà Việt Nam là thành viên, ví dụ như Hàn Quốc, Singapore, mà không áp hay tăng thuế này lên xăng dầu nhập khẩu từ các nước thành viên WTO nhưng không phải là thành viên các FTA này.

Về lý do giá bán xăng Việt Nam vẫn còn thấp so với khu vực và thế giới, điều này là một thực tế. Số liệu cập nhật trên một trang mạng so sánh giá xăng thế giới(2) cho thấy giá xăng ở Việt Nam đứng vào khoảng thứ 50 từ dưới trở lên trên tổng số gần 170 nước. Giá xăng ở Việt Nam tính đến thời điểm 14-5-2018 là 0,93 đô la Mỹ/lít, thấp hơn mức trung bình của thế giới là 1,15 đô la Mỹ/lít. Tuy nhiên, cũng trên trang mạng này có nhận xét rằng thường thì những nước giàu sẽ có giá xăng cao hơn những nước nghèo, và những nước khai thác và xuất khẩu dầu sẽ có giá xăng thấp hơn. Cả hai lý do nay đều ít nhiều đúng với Việt Nam nên sẽ không phù hợp lắm nếu cứ khăng khăng so sánh mức giá xăng dầu thấp ở Việt Nam với thế giới rồi đòi tăng nó lên cho bằng thiên hạ.

Giải pháp thay thế

Giả sử Chính phủ Việt Nam cũng thực sự muốn bảo vệ môi trường (thông qua biện pháp tăng thuế môi trường xăng dầu). Khi đó, ngoài giải pháp “danh chính ngôn thuận” hơn như nói trên, tức là áp thuế xăng dầu thống nhất và tăng thuế này lên như trường hợp của Singapore, đất nước đại diện của xanh và sạch, Việt Nam cũng nên học hỏi kinh nghiệm của Singapore khi họ còn có thêm những “vũ khí” khác rất hiệu quả mà không gây bức xúc dư luận. Đó là việc áp dụng các chương trình thuế trong một gói chính sách thuế carbon tổng thể mới nhằm cắt giảm phát thải, được thực thi từ năm 2019.

Cụ thể, Singapore sẽ áp thuế sử dụng dầu diesel ở mức 10 xu SGD/lít, thay vì áp một mức thuế tuyệt đối lên ô tô sử dụng động cơ diesel như hiện tại. Và cũng với mục đích “giảm sốc” cho người sử dụng, Chính phủ cũng sẽ giảm mức thuế tuyệt đối này xuống còn 100 SGD cho xe hơi, và 850 SGD cho taxi. Song song đó, Singapore cũng thay thế Chương trình giảm phát khí thải xe cộ hiện tại (thực thi từ năm 2013) bằng chương trình mới khuyến khích sử dụng xe có động cơ đốt trong ít ô nhiễm hơn. Chương trình mới đưa thêm vào danh sách bốn chất gây ô nhiễm khác có trong khí thải ngoài duy nhất khí CO2 như trong chương trình cũ, và quy định các mức được hoàn thuế hay bị tính thuế phụ trội tùy thuộc vào mức ô nhiễm mà xe đó gây ra.

Chưa hết, Singapore còn tăng cường và gia hạn Chương trình thay thế sớm xe thương mại hiện tại dùng động cơ diesel từ tiêu chuẩn Euro II và III sang Euro VI với các ưu đãi tài chính và thuế. Họ cũng tăng cường chương trình thưởng thêm thời gian được lưu hành ô tô thân thiện với môi trường.

Tóm lại, tuy không nhất thiết mọi đồng thuế thu được từ xăng dầu nhân danh “bảo vệ môi trường” phải được dùng cho mục đích này nhưng trong bối cảnh chi từ thuế không được minh bạch, Việt Nam cần tránh lạm dụng, tận thu thuế bảo vệ môi trường xăng dầu, dễ gây bức xúc trong dư luận. Thay vào đó, học hỏi kinh nghiệm của Singapore, Việt Nam có thể cân nhắc áp đặt và điều chỉnh thuế suất và mức thuế đối với từng loại phương tiện sử dụng xăng dầu, vừa đảm bảo tăng thu thuế, vừa đảm bảo mục đích bảo vệ môi trường một cách đúng đối tượng và hợp lý. Và, quan trọng không kém, cũng luôn cần phải có những biện pháp quá độ để giảm sốc cho các đối tượng bị điều chỉnh.

(1) http://dantri.com.vn/kinh-doanh/tang-kich-tran-thue-moi-truong-xang-dau-lanh-dao-bo-tai-chinh-noi-khong-bi-phan-ung-2018051710312797.htm
(2) https://www.globalpetrolprices.com/gasoline_prices/

Thursday, 24 May 2018

Lý giải tài sản ngân hàng "bốc hơi" (Bài đăng trên CafeF, 25/5/2018)

http://cafef.vn/tai-san-ngan-hang-boc-hoi-chuyen-gia-noi-gi-20180525083738266.chn

Theo số liệu cập nhật của Ngân hàng Nhà nước (NHNN),  tổng tài sản của hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) đến cuối tháng 2 năm nay giảm tới gần 70 nghìn tỷ so với cuối năm 2017. Giảm mạnh nhất được chứng kiến ở khối ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP), giảm gần 50 nghìn tỷ. Tiếp đó là các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước, giảm trên 20 nghìn tỷ. Khối ngân hàng liên doanh nước ngoài cũng có mức sụt giảm tới gần 14 nghìn tỷ.
Có thể nói rằng, hiện tượng giảm tài sản ở mức độ đáng kể như trên của hệ thống là điều hãn hữu trong nhiều năm trở lại đây, đặc biệt trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng luôn ở mức cao. Điều này là khá bất ngờ và gây ngạc nhiên với nhiều người. Nên câu hỏi nhận được sự quan tâm lớn là tại sao lại có hiện tượng giảm sút tài sản mạnh như vậy?
Có khoảng 20 ngân hàng thương mại cả cổ phần lẫn có vốn nhà nước có báo cáo đầy đủ số liệu tài chính của quý 1/2018 và quý 4/2017.
Trong khối ngân hàng TMCP có vốn nhà nước, chỉ có 3 trong số 7 ngân hàng công bố báo cáo tài chính quý 1/2018 là VietinBank (CTG), BIDV, và Vietcombank (VCB). Trong 3 ngân hàng này, chỉ có VCB là có mức tổng tài sản giảm, và giảm rất mạnh, tới gần 36 nghìn tỷ trong quý. Nếu bù trừ với giá trị tài sản tăng lên ở BIDV và CTG thì tổng tài sản của 3 ngân hàng này vẫn tăng hơn 8 nghìn tỷ. Vậy, có thể suy ra là 4 ngân hàng còn lại trong nhóm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước, gồm Agribank, CBBank, OceanBank, và GPBank đã có sự sụt giảm mạnh về tài sản trong quý. Và vì 3 ngân hàng CBBank, OceanBank và GPBank là những ngân hàng đang được tái cơ cấu, nên sẽ là điều không bất ngờ nếu quá trình tái cơ cấu này dẫn đến sự sụt giảm mạnh một (số) hạng mục tài sản có nào đó của chúng, làm sụt giảm tổng tài sản của chúng trong kỳ.
Trong khối ngân hàng TMCP gồm 17 ngân hàng có báo cáo tài chính quý 1/2018, tổng cộng tài sản của nhóm này đã tăng tới gần 51 nghìn tỷ đồng trong quý. Mặc dù có 4 ngân hàng đã báo cáo sự sụt giảm tổng tài sản, gồm ABBank (-10,5 nghìn tỷ), BacABank - BAB (-4,6 nghìn tỷ), Eximbank - EIB (-5,3 nghìn tỷ), và TPBank - TPB (-2,8 nghìn tỷ), nhưng sự sụt giảm này được bù đắp hoàn toàn bởi sự tăng lên về tài sản tại các ngân hàng TMCP còn lại, đặc biệt là ACB (+15,5 nghìn tỷ), VIB (+12,7 nghìn tỷ), Sacombank - STB (+12,5 nghìn tỷ), và SHB (+8,9 nghìn tỷ).
Như vậy, sự sụt giảm mạnh tổng tài sản trong khối ngân hàng TMCP (31 ngân hàng, theo số liệu của NHNN đến 2017) rất có thể là do những ngân hàng TMCP còn lại ngoài 17 ngân hàng TMCP nêu trên gây ra. Một số trong những ngân hàng này thuộc diện tái cơ cấu nên chắc chắn cũng đã có những sự xáo trộn lớn về tài sản. Tuy nhiên, do không có thêm thông tin xác thực nào nên không thể phân tích sâu thêm được ở đây.
Câu hỏi tiếp theo có liên quan là nếu tổng tài sản giảm thì khoản mục tài sản có nào đã giảm (mạnh)?
Trong khối ngân hàng TMCP có vốn nhà nước, do chỉ có VCB có báo cáo về sụt giảm tài sản nên có thể tập trung vào ngân hàng này. VCB có sự sụt giảm rất mạnh ở 2 khoản mục tài sản có là tiền gửi tại NHNN (-65,7 nghìn tỷ) và tiền/vàng gửi và cho vay các TCTD khác (-75 nghìn tỷ). Tuy có một số khoản mục ghi nhận sự tăng lên, điển hình là khoản mục cho vay khách hàng (+30 nghìn tỷ), nhưng sự sụt giảm mạnh của 2 khoản mục trên đã làm tổng tài sản của ngân hàng này giảm mạnh trong quý.
Trong số 4 ngân hàng TMCP báo cáo sụt giảm tổng tài sản trong quý, sự sụt giảm mạnh trong khoản mục tiền/vàng gửi và cho vay các TCTD khác diễn ra ở cả 4 ngân hàng, cụ thể ABB (-6,8 nghìn tỷ), BAB (-4,9 nghìn tỷ), EIB (-4,1 nghìn tỷ), và TPB (-7,9 nghìn tỷ).
Ở khoản mục quan trọng khác là cho vay khách hàng, ABB giảm 2,4 nghìn tỷ, EIB giảm 0,7 nghìn tỷ.
Từ những phân tích trên có thể thấy sự sụt giảm tổng tài sản của một ngân hàng nói riêng và cả hệ thống nói chung không phải là điều bất thường. Sự biến động thường xuyên của một số khoản mục, ví dụ tiền/vàng gửi và cho vay các TCTD khác và cho vay khách hàng, là những khoản mục có quan hệ chặt chẽ với tình hình thanh khoản và khả năng cho vay dựa trên các chỉ tiêu an toàn về vốn v.v... là một trong những nguyên nhân chính gây làm sụt giảm tổng tài sản của một số ngân hàng, dẫn đến sụt giảm tổng tài sản trong cả  hệ thống.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).