Friday, 31 July 2015

Bài học từ thị trường chứng khoán Trung Quốc (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, 1/8/2015)

http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=355225


Hơn một tháng qua, Chính phủ Trung Quốc đã có những biện pháp can thiệp trực tiếp và mạnh mẽ đến mức thái quá vào thị trường chứng khoán nước này như: cấm các cổ đông lớn bán cổ phiếu, cấm bán khống cổ phiếu, bơm tiền với quy mô lớn cho các quỹ và các công ty môi giới mua lại cổ phiếu, đình chỉ các vụ chào bán ra công chúng lần đầu (IPO) mới và hạ lãi suất. Trong khi đó, các phương tiện thông tin đại chúng tích cực tuyên truyền những điều lạc quan, tốt đẹp về tình hình thị trường chứng khoán cũng như những lời trấn an của giới chức nước này. Chính quyền Trung Quốc thậm chí còn hướng chú ý của dư luận sang những hành vi “phá hoại”, làm giá trên thị trường như là nguyên nhân chính của sự suy sụp chứng khoán chứ không phải là bản thân những bất ổn nội tại và những sai lầm của chính quyền Trung Quốc.
Bằng hàng loạt những biện pháp như vậy, Trung Quốc đã phần nào thành công với việc vực lại thị trường chứng khoán (tuy vậy, thị trường cũng chỉ tăng điểm được một tuần trước khi rơi mạnh trở lại vào đầu tuần này). Điều đáng nói ở đây là sự can thiệp thành công, nếu có, của Chính phủ Trung Quốc đang phải trả một cái giá gián tiếp khá đắt mà có thể bây giờ họ mới nhận thấy. Đó là sự đánh mất hình ảnh của một Trung Quốc đang nỗ lực cải cách kinh tế theo hướng một nền kinh tế thị trường đầy đủ và hoàn thiện. Đó là sự sứt mẻ về niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường Trung Quốc khi mà tiền của họ dễ dàng bị tước đoạt bằng những mệnh lệnh của chính quyền; và niềm tin của nhà đầu tư nội địa vào sức mạnh và khả năng của Chính phủ Trung Quốc. Đó là khả năng Trung Quốc sẽ thất bại trong tham vọng quốc tế hóa đồng nhân dân tệ của họ, trong đó có những việc biến nó thành đồng tiền dự trữ của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
Với Việt Nam, tuy mọi việc xem ra vẫn đang trong tầm kiểm soát, nhưng cũng đã có một vài dấu hiệu cho thấy đây đó đang có những chính sách đi ngược lại các quy luật thị trường, mang nặng dấu ấn can thiệp của Chính phủ. Chẳng hạn mới đây nhất thì có kế hoạch Bộ Tài chính vay 30.000 tỷ đồng từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Tuy Bộ Tài chính tuyên bố rằng hành động vay mượn này là hoàn toàn bình thường, đúng luật (vì Luật Ngân sách cho phép làm vậy). Đúng là có điều luật như vậy. Điều đáng nói là hành động “vay” NHNN là một hành động mang tính phi thị trường, vì về bản chất là ngân hàng trung ương in tiền cho Chính phủ chi tiêu, và đây sẽ là nguồn gốc của những bất ổn vĩ mô và những sự không minh bạch trong chi tiêu ngân sách.
Ngoài ra, hành động kiềm chế tỷ giá của NHNN chủ yếu vì mục đích bảo đảm cho nợ công (tính bằng tiền đồng) của Chính phủ và các doanh nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước, không tăng vọt, trong khi đó lại gây tổn hại cho xuất khẩu, cho sản xuất nội địa nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung (do tiền đồng lên giá và lãi suất đứng ở mức cao để bảo vệ tỷ giá) cũng là một hành động đi ngược lại quy luật thị trường, tạo ra những bất trắc và rủi ro cho nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Tất cả những chính sách trên sẽ góp phần làm tăng khó khăn cho Việt Nam khi muốn trở thành một địa chỉ hấp dẫn cho đầu tư nước ngoài, khi muốn được phần còn lại của thế giới công nhận là một nền kinh tế thị trường hoàn thiện và đích thực để không còn bị áp đặt những biện pháp chống bán phá giá như đang phải chứng kiến.
Bởi vậy, bài học can thiệp thô bạo vào thị trường ở Trung Quốc cần được quán triệt ngay và đầy đủ ở Việt Nam.

Lãi suất không chịu giảm (Bài đăng trên TBKTSG, 31/7/2015)

http://www.thesaigontimes.vn/133622/Lai-suat-khong-chiu-giam.html

Trái ngược với diễn biến tăng thấp đến mức kỷ lục trong nhiều năm trở lại đây của lạm phát, vốn vẫn được coi là chỉ biểu quan trọng để xác lập lãi suất, lãi suất huy động và cho vay lại có xu hướng đứng ở mức cao và thậm chí rục rịch tăng trở lại khi một số ngân hàng thương mại đã và đang điều chỉnh tăng lãi suất huy động trong thời gian gần đây.
Giải thích cho hiện tượng “cứng đầu” này của lãi suất, một số lý giải đã được đưa ra. Lý giải phổ biến đầu tiên là về quan hệ giữa tỷ giá và lãi suất. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong năm nay đã phải phá giá VND 2 lần, mỗi lần 1 điểm phần trăm. Đã có tính toán rằng khi phá giá 1 điểm phần trăm thì mặt bằng lãi suất sẽ tăng khoảng 0,3-0,4 điểm phần trăm (trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi). Và do NHNN tiếp tục chịu áp lực phá giá VND nên khả năng tiếp tục phá giá VND là không thể loại trừ nên mặt bằng lãi suất khó có cơ hội được điều chỉnh giảm.
Một lý giải phổ biến thứ 2 là lãi suất đang chịu áp lực gia tăng bởi tăng trưởng tín dụng đang gia tăng mạnh trong 6 tháng đầu năm nay (đạt trên 6% so với cuối năm ngoái) và là mức gia tăng mạnh so với cùng kỳ các năm trước. Như vậy, nhu cầu huy động vốn để tăng cường cho vay của các ngân hàng thương mại đang rất mạnh và bởi thế đã chặn đà giảm lãi suất dù lạm phát đã tăng chậm lại so với cùng kỳ nhiều năm.
Cả 2 lý giải trên đều có phần đúng nhưng không đủ. Chính xác và quan trọng hơn, chúng không phải là lý do căn bản để giải thích cho hiện tượng lãi suất không chịu giảm so với diễn biến thuận lợi của lạm phát.
Về lý do thứ nhất, thực ra, khi NHNN chịu áp lực và phải phá giá VND thì lãi suất phải có xu hướng giảm đi, chứ không phải tăng lên như trong tính toán nêu trên. Bởi song song với việc phá giá VND, một lượng VND sẽ được giải phóng ra thị trường, trong hệ thống ngân hàng, tương thích với mức độ phá giá VND. Lượng VND được giải phóng này có thể đến từ việc các nhà đầu tư/đầu cơ chuyển đổi cơ cấu danh mục tài sản từ VND sang ngoại tệ với lo ngại VND có thể bị phá giá tiếp. Lượng VND này còn có thể đến từ việc NHNN do phải chấp nhận phá giá nên không còn phải bán ra USD để mua vào/thu về VND trên thị trường nhằm làm giảm cung/tăng cầu VND nhờ đó bảo vệ được sự ổn định tỷ giá VND/USD.
Áp lực tăng lãi suất từ việc phá giá VND chỉ có thể xảy ra sau đó một thời gian, nếu có, và theo một cách gián tiếp. Phá giá sẽ làm cho hàng nhập khẩu trở nên đắt hơn nếu quy ra VND, gây áp lực lên lạm phát. Để kiềm chế lạm phát, NHNN có thể sẽ bị buộc phải nâng các lãi suất chính sách để thắt chặt lại, chặt hơn cung tiền VND, từ đó làm cho mặt bằng lãi suất có xu hướng tăng trở lại và/hoặc đứng ở mức cao.
Với lý do thứ hai, tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại đúng là sẽ có thể làm tăng áp lực lên mặt bằng lãi suất huy động, dẫn đến mặt bằng lãi suất cho vay cũng bị áp lực tăng lên tương ứng. Nhưng những điều này sẽ không xảy ra nếu NHNN cung cấp đủ tín dụng, đủ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung. Nói cách khác, nếu NHNN mở rộng cung tiền tương ứng với nhu cầu tăng trưởng huy động để cho vay của các ngân hàng thương mại thì hoàn toàn có thể tránh được hậu quả lãi suất bị đội lên. Nhưng nếu vì một lý do nào đó mà NHNN không thể tùy nghi tăng cung tiền theo nhu cầu của các ngân hàng thương mại thì mặt bằng lãi suất chắc chắn sẽ chịu áp lực tăng lên do cầu tiền lớn hơn cung tiền trong nền kinh tế.
Trên thực tế, dường như đang diễn ra tình trạng NHNN đang không cung cấp đủ vốn cho nền kinh tế. Điều này thể hiện ở tốc độ tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán (TPTTT, còn được gọi tắt là M2) đã tăng chậm lại đáng kể so với cùng kỳ năm trước. Như bảng dưới đây cho thấy, M2 tăng khá chậm trong 6 tháng đầu năm và chỉ tăng 4,88% so với cuối năm 2014, trong khi con số tương ứng của năm 2014 lại ở mức cao hơn nhiều, lên tới 7,29%.
Tăng trưởng M2 so với cuối năm trước
Tháng
Năm 2014
Năm 2015
Tháng 3
3,56%
2,09%
Tháng 4
3,93%
2,57%
Tháng 5
5,28%
3,81%
Tháng 6
7,29%
4,88%

Với cung tiền đã tăng chậm lại đáng kể trong nửa đầu năm nay, không khó hiểu tại sao lãi suất đã khó giảm, và thậm chí còn có xu hướng tăng lên song song với nhu cầu huy động của hệ thống ngân hàng thương mại.
Vậy vấn đề đặt ra ở đây là tại sao NHNN lại không chớp lấy thời cơ lạm phát đang ở mức thấp để gia tăng cung tiền và, tức là, tín dụng cho nền kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng GDP hơn nữa? Chắc chắn không có chuyện GDP đã và đang có xu hướng tăng quá nhanh, quá mạnh hoặc quá đủ để không cần thiết phải tăng cao hơn nữa. Bằng chứng là Chính phủ vẫn cứ tỏ ra nôn nóng và theo dõi sát sao với diễn biến tăng trưởng GDP và cứ mỗi quý đi qua với GDP tăng trưởng nhanh hơn cùng kỳ năm trước đều được đón nhận một cách hân hoan. 
Vậy chỉ còn một khả năng là NHNN do phải bận tâm đến một (vài) biến số vĩ mô khác mà phải khống chế mức tăng M2. Trong số đó, không thể không có tỷ giá. Do NHNN đã lặp đi lặp lại chủ trương không phá giá VND quá 2 điểm phần trăm trong năm 2015 này nên bằng mọi cách NHNN phải bảo vệ được sự ổn định tỷ giá ở mức hiện tại. Mà một trong những biện pháp chính sách cần thiết và bắt buộc để bảo vệ tỷ giá là phải giữ được ổn định giãn cách lãi suất VND với lãi suất USD để tránh tình trạng giới đầu tư/đầu cơ chuyển mạnh sang nắm giữ USD để vừa hưởng lãi tiền gửi USD, vừa chờ đến ngày VND bị phá giá so với USD. Và để ổn định được giãn cách lãi suất VND với lãi suất USD thì NHNN buộc phải giảm tốc độ tăng hoặc thậm chí thắt chặt hơn cung tiền VND. Điều này hoàn toàn phù hợp với và là lý do tại sao M2 có xu hướng tăng chậm đáng kể so với năm trước.
Do đó, điều rút ra từ phân tích trên là lãi suất đã không và sẽ khó có thể giảm vì NHNN đang phải nỗ lực bằng mọi giá bảo vệ tỷ giá VND. Nói cách khác, NHNN đang “hy sinh” khả năng giảm lãi suất để đánh đổi lấy sự ổn định tỷ giá. Một trong những kết quả nhãn tiền của sự đánh đổi này là NHNN hoàn toàn có khả năng và sẽ “thành công” với (cam kết) chính sách không phá giá VND quá 2 điểm phần trăm trong năm nay, nhưng đổi lại thì nền kinh tế phải lãnh hậu quả khi các doanh nghiệp đã, đang và sẽ tiếp tục phải chịu lãi suất cao khi đi vay cho các hoạt động đầu tư của mình, và vì thế mà tăng trưởng GDP sẽ có xu hướng chậm lại trong tương lai.
Cũng từ phân tích trên có thể rút ra thêm một điều nữa có liên quan đến lý giải thứ nhất nêu ở trên. Đó là việc NHNN rất không nên vì lo sợ phá giá sẽ làm tăng lãi suất để mà ra sức bảo vệ tỷ giá như theo cách hiểu từ lý giải thứ nhất. Ngược lại, chính vì NHNN phải bảo vệ tỷ giá bằng mọi giá sẽ dẫn đến hậu quả trực tiếp và ngay lập tức là lãi suất không thể hạ được, thậm chí sẽ tăng lên, như đang phải chứng kiến. Còn chuyện phá giá sẽ làm tăng áp lực lạm phát để rồi buộc NHNN phải tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát như lý giải thứ nhất nêu ra, thực tế đã cho câu trả lời, minh chứng bằng việc lạm phát vẫn đứng ở mức thấp kỷ lục mặc dù NHNN đã phá giá VND thêm 2 điểm phần trăm trong vòng mấy tháng đầu năm nay.

Saturday, 25 July 2015

Tăng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng sẽ kèm rủi ro (Bài đăng trên TBKTSG, 25/7/2015)

http://www.thesaigontimes.vn/133323/Tang-chi-tieu-tang-truong-tin-dung-se-kem-rui-ro.html

(TBKTSG) - Mới đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã quyết định cho 18 ngân hàng thương mại cổ phần và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm nay. Trong đó, có ngân hàng được mức tăng trưởng tín dụng cao nhất tới 36%.

Những quan điểm trái chiều
 
Quyết định mới này của NHNN đã tạo ra những quan điểm trái chiều.
Nhìn một phần từ kinh nghiệm của nền kinh tế Việt Nam trải qua một thời gian dài tăng trưởng nóng rồi lạnh mấy năm qua, nhiều người lo ngại rằng với tốc độ tăng trưởng tín dụng dự kiến tăng vọt trong năm nay, một lượng tiền khổng lồ sẽ được bơm vào nền kinh tế.

Trong khi tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế thực chỉ ở mức có hạn và không thay đổi mang tính nhảy vọt so với trước đây thì gia tăng thái quá tín dụng sẽ làm nền kinh tế tăng trưởng quá nóng, đẩy giá trị các tài sản như bất động sản, chứng khoán tăng theo kiểu bong bóng, và tiêu dùng cũng nhảy vọt nhờ phần lớn được tài trợ một cách dễ dãi bởi tiền đi vay ngân hàng và/hoặc các công ty tài chính. Kết quả cuối cùng không tránh khỏi sẽ là bong bóng giá các tài sản một ngày nào đó không xa trong tương lai phải xì hơi về lại mặt đất, để lại những hậu quả tai hại cho nền kinh tế, trong đó có nợ xấu tăng vọt, hệ thống ngân hàng lâm vào khủng hoảng, lạm phát bùng nổ, kinh tế suy thoái...

Đáng lo hơn, xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng chưa thực sự có bước đột phá hữu hiệu. Mặc dù NHNN đã tăng cường chỉ đạo và triển khai các giải pháp xử lý nợ xấu với việc ban hành Chỉ thị 02 ngày 27-1-2015 yêu cầu giảm tỷ lệ nợ xấu xuống dưới mức quy định với từng mốc thời gian cụ thể, đồng thời áp dụng cách phân loại nợ xấu mới khắt khe hơn (thay cho Quyết định 780 về cơ cấu nợ), nhưng nợ xấu vẫn chỉ chủ yếu được xử lý bằng cách “gom” về VAMC. Cách xử lý như vậy chỉ giúp làm đẹp tỷ lệ nợ xấu trên sổ sách của các ngân hàng thương mại, làm rộng đường cho họ theo đuổi tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh hạn mức tín dụng được NHNN nới rộng.
Rủi ro của sự nới hạn mức tín dụng này, kể cả cho những lĩnh vực nóng như bất động sản và chứng khoán, sẽ đáng ngại nếu Ngân hàng Nhà nước đồng thời cũng nới hạn mức tín dụng của chính mình cho nền kinh tế.
 
Cũng trong bối cảnh nền kinh tế thực chưa có bước nhảy đột phá và nợ xấu vẫn còn nguyên đó về bản chất, một câu hỏi thích đáng đã được đặt ra là tại sao tăng trưởng tín dụng đã tăng vọt ở nhiều ngân hàng và buộc NHNN phải “chiều” theo yêu cầu của họ? Phải chăng tín dụng đang tăng trưởng nóng vì đang đổ vào những lĩnh vực nhiều rủi ro như bất động sản và chứng khoán?
 
Ngược lại, một số người thì lại hoan nghênh quyết định trên của NHNN, cho rằng mặc dù hạn mức tăng trưởng tín dụng được nới cho nhiều ngân hàng nhưng điều này không có nghĩa là tăng trưởng tín dụng trong toàn hệ thống sẽ tăng vọt. Đa số những ngân hàng được nới hạn mức đều là những ngân hàng nhỏ, nên xét tỷ lệ tăng trưởng thì có thể cao, song số tuyệt đối tín dụng tăng thêm cũng không lớn. Ngoài ra, nhiều ngân hàng tuy được cấp thêm hạn mức tăng trưởng tín dụng nhưng họ vẫn phải chọn lựa khách hàng tốt để giải ngân, vì mục tiêu là tăng tín dụng nhưng không tăng nợ xấu. Hơn nữa, song song với việc nới hạn mức tăng trưởng tín dụng, NHNN còn yêu cầu các ngân hàng nâng cao hiệu quả kinh doanh, đảm bảo an toàn hệ thống và góp phần ổn định thị trường tiền tệ, kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng phù hợp với khả năng huy động vốn, chấp hành các quy định của pháp luật về tỷ lệ bảo đảm an toàn, ngoại hối, quản trị rủi ro và giới hạn cấp tín dụng đối với khách hàng để hạn chế phát sinh nợ xấu...
 
Rủi ro, nếu...
 
Nhìn nhận một cách khách quan, mối quan ngại về nới hạn mức tín dụng là hoàn toàn xác đáng, nhưng với một điều kiện quan trọng. Đó là song hành với nới hạn mức tín dụng cho các ngân hàng thương mại, NHNN cũng đồng thời nới hạn mức tín dụng của chính mình (một cách thái quá) cho nền kinh tế.

Chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của từng ngân hàng thương mại chỉ được hiện thực hóa nếu tổng lượng tín dụng NHNN sẵn lòng cấp cho hệ thống ngân hàng cũng tăng tương ứng để mọi nhu cầu về tín dụng của từng ngân hàng (trong hạn mức cho phép) đều được đáp ứng đầy đủ.
 
Tuy nhiên, NHNN dường như vẫn trung thành với định hướng tăng trưởng tín dụng cả năm nay trong toàn hệ thống ngân hàng ở mức 13-15% hoặc có thể lên đến 17% nếu thấy cần thiết, như đã khẳng định đầu năm nay. Mức tối đa 17% tuy cũng là cao so với tốc độ tăng trưởng GDP dự kiến cho năm nay (trên 6%) nhưng công bằng mà nói cũng không phải là quá cao, đặc biệt nếu so với những năm trước đây. Hơn thế, NHNN cũng đã tỏ ra thận trọng một cách cần thiết khi luôn phải “căng mắt” để ý đến diễn biến lạm phát trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ của mình, và điều này sẽ làm giảm đáng kể rủi ro nới lỏng chính sách tiền tệ một cách bất cẩn và quá mức như trước.
 
Với sự “trói” của NHNN về hạn mức tín dụng ở tầm vĩ mô thì dù các ngân hàng thương mại có được phép tăng hạn mức tín dụng, nguồn tín dụng có khả năng huy động được cũng chỉ trong phạm vi chừng đó, và họ buộc phải cạnh tranh với nhau để giành lấy nguồn tín dụng có hạn này cho các hoạt động cho vay của mình. Điều này trên một giác độ nào đó lại là điều có lợi vì nó sẽ cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn vốn cũng như chất lượng hoạt động của hệ thống ngân hàng nói chung, so với khi NHNN vẫn bó chặt mức tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng như trước đây.
 
Thanh tra, giám sát, xử phạt phải hữu hiệu
 
Cũng cần phải khẳng định thêm rằng chính sự “trói” trên mới là điều quan trọng để giảm rủi ro tăng trưởng tín dụng quá nóng trong nền kinh tế. Những biện pháp mà NHNN đang yêu cầu các ngân hàng thương mại thực hiện như nói trên chỉ có ý nghĩa trên giấy tờ là nhiều vì điều quan trọng là NHNN phải tổ chức được hữu hiệu công tác thanh tra, giám sát và xử phạt việc thi hành các quy định và luật lệ của mình trong hệ thống ngân hàng. Việc chỉ yêu cầu và trông chờ vào sự tự giác thực hiện của các ngân hàng, hoặc kỳ vọng rằng các ngân hàng biết rõ thế nào là đúng, sai, nên hay không nên làm... thường không mấy khi mang lại kết quả tốt đẹp (cho lợi ích chung).
 
Từ đây suy ra thêm rằng mọi cuộc sốt nóng tín dụng, và do đó kinh tế tăng trưởng nóng trong tương lai, đều bắt nguồn từ NHNN, người lĩnh xướng “cuộc chơi” tín dụng, nếu vì một lý do nào đó NHNN lại quay trở lại với thời kỳ theo đuổi chính sách ưu tiên tăng trưởng tín dụng như trước đây.
 
Quay trở lại với câu hỏi về đích đến của tăng trưởng tín dụng trong thời gian qua và liệu có phải NHNN đang chiều lòng các ngân hàng thương mại.
 
Không thể phủ nhận rằng một phần đáng kể trong tăng trưởng tín dụng thời gian qua đã được hấp thu vào bất động sản và chứng khoán đang có chiều hướng ấm lên rõ nét, qua những số liệu như số giao dịch bất động sản thành công và thực tế tăng trưởng khả quan trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
 
Với nhiều ngân hàng, hạn mức tăng trưởng tín dụng như cũ đã trở thành chiếc áo quá chật giới hạn khả năng theo đuổi lợi nhuận gia tăng đang hiện hữu trước mặt họ. Mặt khác, do nhiều ngân hàng đã được tái cơ cấu và giảm đáng kể được tỷ lệ nợ xấu (một phần nhờ bán cho VAMC), họ đã đáp ứng được một trong những tiêu chí đặt ra bởi NHNN để được tăng trưởng tín dụng. Do đó, NHNN không còn lý do gì để không cho phép các ngân hàng này tăng cường cho vay thêm ra nền kinh tế.

Trên khía cạnh này thì nói NHNN “chiều” các ngân hàng thương mại cũng không phải là sai, sự nới hạn mức tín dụng thực chất cũng là một sự tưởng thưởng cho hành động “cộng tác” với NHNN của các ngân hàng thương mại khi tích cực tham gia tái cơ cấu và xử lý nợ xấu theo đúng định hướng của NHNN.
 
Và cần lặp lại rằng rủi ro của sự nới hạn mức tín dụng này, kể cả cho những lĩnh vực nóng như bất động sản và chứng khoán, sẽ có hạn, nếu tổng hạn mức tín dụng của NHNN cho cả nền kinh tế được kìm giữ ở mức tối đa 17% như nói ở trên.

Friday, 24 July 2015

Chỉ thị 05/CT-NHNN về kiểm soát rủi ro tín dụng cho dự án giao thông - Liều thuốc chưa đủ mạnh (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, 25/7/2015)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=354669

Trong khi các NHTM tài trợ một nguồn vốn khá lớn cho các dự án hạ tầng giao thông thì Chỉ thị 05 có ý nghĩa như một hành động thể hiện cam kết của NHNN trước Chính phủ về việc bảo đảm tín dụng phát triển lành mạnh, hơn là một chương trình hành động cụ thể, hữu hiệu với những tác động đáng kể đến công tác tín dụng nói chung và tín dụng cho các dự án giao thông nói riêng.
 
Ngày 15.7, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Chỉ thị số 05/CT-NHNN về việc tăng cường kiểm soát rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng đối với các dự án giao thông theo mô hình BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao) hoặc BT (xây dựng - chuyển giao).
 
Bối cảnh ra đời của Chỉ thị 05, theo NHNN là do việc nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) đã tài trợ một nguồn vốn lớn cho các dự án hạ tầng giao thông và xu hướng này đang có chiều hướng gia tăng. Trong khi đó, việc cấp tín dụng này còn có một số bất cập, chưa đánh giá đủ các rủi ro có liên quan. Bên cạnh đó, Chính phủ đã giao NHNN thúc đẩy tăng trưởng tín dụng gắn với bảo đảm cơ cấu tín dụng phù hợp, trong đó tập trung tín dụng vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, giám sát chặt chẽ khi cho vay các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro (bất động sản, các dự án thu hồi vốn trong thời gian dài). Do đó, để bảo đảm tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, bền vững theo đúng mục tiêu đã đề ra, giảm thiểu rủi ro trong việc cấp tín dụng đối với các dự án BOT, BT giao thông, đặc biệt các dự án có thời gian thu hồi vốn dài, NHNN yêu cầu các đơn vị thuộc cơ quan mình và các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài triển khai các công việc liên quan định hướng trên.

Nhận xét đầu tiên về Chỉ thị 05 là phạm vi đề cập đến các dự án giao thông. Các hình thức dự án giao thông không chỉ có BOT và BT mà còn có các hình thức khác như BTO (xây dựng - chuyển giao - vận hành), BOO (xây dựng - sở hữu - vận hành), BTL (xây dựng - thuê vận hành - chuyển giao). Không hiểu vì lý do gì mà NHNN chỉ đề cập đến BOT và BT trong Chỉ thị 05. Có thể lý giải là BOT và BT là hai hình thức dự án phổ biến nhất và đang chiếm đa số trong dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng cấp cho các dự án xây dựng giao thông. Thế nhưng nếu chỉ giới hạn ở hai hình thức này thì chắc chắn các dự án dưới hình thức như BTO, BOO, BTL và BLT (tuy có ít trong hiện tại nhưng sẽ gia tăng trong tương lai) dù có thể có nhiều rủi ro nhưng vẫn được các ngân hàng thương mại cho vay vì đơn giản nó nằm ngoài phạm vi của Chỉ thị 05. Và cũng phải kể thêm một khả năng là các chủ dự án và các ngân hàng thương mại sẽ “lách” Chỉ thị 05 sang các hình thức nói trên để không bị NHNN “soi” việc cho vay của mình cho các dự án này nữa.
 
Thứ hai, về cách thức triển khai Chỉ thị 05, NHNN yêu cầu các đơn vị thuộc hệ thống kiểm soát chặt chẽ tình hình tăng trưởng tín dụng và chất lượng tín dụng, đặc biệt đối với các dự án BOT, BT giao thông, cung cấp thông tin và kịp thời cảnh báo cho các tổ chức tín dụng về những rủi ro phát sinh. Tăng cường quản lý, giám sát, thanh tra việc chấp hành các quy định về bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng. Giám sát thường xuyên diễn biến hoạt động ngân hàng để phát hiện các vi phạm. Giám sát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức tín dụng trong cho vay các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt là các dự án BOT, BT giao thông có thời gian thu hồi vốn kéo dài.
 
Những biện pháp giám sát chủ yếu mang tính định tính trên tuy cũng cần thiết nhưng xem ra không đủ. Chắc chắn khi lập dự án vay vốn thì các chủ dự án bao giờ cũng cố gắng đưa vào những căn cứ và giải trình hết sức thuyết phục để làm đẹp dự án của mình. Về phía NHTM, khi đã quyết định cho vay họ cũng sẽ chuẩn bị và trưng ra khi bị yêu cầu những báo cáo đánh giá tín dụng nội bộ làm nổi bật lên tính khả thi của dự án cũng như khả năng thu hồi vốn cho vay của chủ dự án.
 
Bởi vậy, từ góc độ quản lý ngành, các đơn vị thuộc NHNN tuy có tăng cường giám sát, kiểm soát thì cũng không thể hạn chế tín dụng tăng mạnh cho các dự án giao thông, đơn giản vì không có lý do gì để ngăn các NHTM cho vay các dự án được coi là “tốt”. NHNN chỉ có thể kiểm soát một cách hữu hiệu hơn dòng tín dụng đổ vào lĩnh vực giao thông khi họ áp đặt thêm các hạn chế định lượng cho lĩnh vực này cũng giống như đã từng làm cho các lĩnh vực như chứng khoán, bất động sản, trái phiếu Chính phủ... Chẳng hạn, NHNN đặt giới hạn tỷ trọng tín dụng của các NHTM cấp cho các dự án giao thông không quá 10% tổng tài sản hoặc tổng dư nợ của mỗi ngân hàng.
 
Nếu còn băn khoăn rằng áp đặt giới hạn đồng nhất cho các ngân hàng sẽ trói tay nhiều ngân hàng có thế mạnh và kinh nghiệm trong dự án giao thông thì NHNN có thể xem xét tiếp biện pháp quy định giới hạn cho vay dự án giao thông cho từng ngân hàng thương mại dựa trên tiềm lực và kinh nghiệm của từng ngân hàng.
 
Thứ ba, NHNN đã giao chỉ tiêu hạn mức tín dụng cho từng ngân hàng trong năm. Nếu phối hợp thêm với quy định giới hạn định lượng tín dụng của mỗi NHTM được cấp cho các dự án giao thông như nói trên, và điều kiện nữa là NHNN kiên quyết không cho phép các NHTM vượt chỉ tiêu hạn mức tín dụng tổng thể và hạn mức tín dụng được phép cấp cho lĩnh vực giao thông ở mỗi NHTM, thì có thể nói NHNN đã loại bỏ được phần lớn rủi ro về việc các NHTM cho vay quá hạn mức vào các dự án giao thông.
 
Tóm lại, chỉ với ba điều trên có thể thấy rằng, Chỉ thị 05 có ý nghĩa như một hành động thể hiện cam kết của NHNN trước Chính phủ về việc bảo đảm tín dụng phát triển lành mạnh, hơn là một chương trình hành động cụ thể, hữu hiệu với những tác động đáng kể đến công tác tín dụng (theo hướng siết chặt lại) nói chung và tín dụng cho các dự án giao thông nói riêng.

Tuesday, 21 July 2015

Đẩy mạnh bán lẻ, trào lưu chung của các ngân hàng (Bài đăng trên CafeF, 21/7/2015)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/day-manh-ban-le-trao-luu-chung-cua-cac-ngan-hang-20150721085945536.chn

Ngay từ vài năm trước, nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ đã được đại bộ phận các ngân hàng thương mại Việt Nam xác định là trọng tâm trong chiến lược phát triển của mình. Điều này là đúng ngay với cả những ngân hàng lớn, thuộc sở hữu nhà nước và có thế mạnh trong nghiệp vụ cho vay doanh nghiệp và/hoặc dự án.

Cho đến tận mấy năm trước đây, nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ, một mảnh đất cũng rất màu mỡ, đã chưa được khai phá đúng mức ở Việt Nam trước đây. Nguyên nhân là do mức độ phổ quát dịch vụ ngân hàng trên phạm vi toàn quốc và toàn bộ dân số ở Việt Nam vẫn còn rất khiêm tốn so với tiêu chuẩn của khu vực và thế giới, một thực trạng không thể tránh khỏi đi kèm với mức độ phát triển kinh tế vẫn ở mức thấp. Trong khi đó, phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ cần một sự đầu tư lớn vào mạng lưới, dịch vụ, nhân sự, phần mềm, và thiết bị. Do đó, trong bối cảnh nhu cầu tiềm năng còn khá hạn chế, chi phí dịch vụ bán lẻ tính trên đầu người hay giao dịch sẽ trở nên quá lớn, không kinh tế với đa số ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Nhưng nếu tìm cách tăng cước phí dịch vụ để bù đắp chi phí thì số lượng khách hàng muốn và sẵn lòng sử dụng dịch vụ bán lẻ của ngân hàng sẽ sụt giảm một cách tự nhiên hoặc bị các ngân hàng đối thủ cạnh tranh “vợt” mất khi họ cũng đang tích cực tìm kiếm cơ hội phát triển.


Ngược lại, cho vay doanh nghiệp và dự án thì lại “nhàn” hơn và có lợi nhuận hơn nhiều, cũng như ít rủi ro hơn so với cho vay bán lẻ, đặc biệt là cho vay các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), vốn được ngầm định là không thể phá sản và nhà nước bảo lãnh cho các khoản vay của chúng.


Nhưng trong mấy năm gần đây ngành ngân hàng bán lẻ đã trực tiếp và gián tiếp nhận được những cú hích phát triển mới. Yếu tố quan trọng đầu tiên phải kể đến là cho vay doanh nghiệp và dự án ngày càng phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn. Sự cạnh tranh thị trường cho vay doanh nghiệp và dự án ngày càng trở nên khốc liệt với sự ra đời và tăng trưởng về quy mô và khả năng “bao sân” của nhiều ngân hàng trong nước, cũng như sự đổ bộ của nhiều ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài.


Song song với đó là sự co hẹp về quy mô, đồng thời đi kèm với sự xuống cấp về sức khỏe tín dụng, của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN), một đối tượng cho vay chính và “mầu mỡ” với nhiều ngân hàng thương mại trong và ngoài nước, từ đó đã làm giảm đáng kể các cơ hội cho vay của các ngân hàng thương mại vốn chỉ tập trung vào nhóm đối tượng khách hàng cho vay này. Tốc độ tăng trưởng kinh tế sụt giảm xuốn mức thấp trong mấy năm trước cũng đã làm co hẹp thị trường cho vay doanh nghiệp và dự án khi số lượng doanh nghiệp mới ra đời giảm, số doanh nghiệp đóng cửa và giải thể gia tăng. Nợ xấu gia tăng và chất lượng tín dụng đáng ngờ của nhiều doanh nghiệp cũng làm hẹp cửa cho vay các đối tượng này.


Trong khi đó, tuy là một nước đang phát triển với mức thu nhập quốc dân trên đầu người ở mức trung bình thấp trên thế giới, nhưng Việt Nam lại đang có những tiền đề thuận lợi cho phát triển ngân hàng bán lẻ như xuất phát điểm thấp, tỷ trọng dân số trẻ lớn, tốc độ và phạm vi phổ cập internet cao, tỷ trọng người dân có hiểu biết, quan tâm và cập nhật nhanh nhậy với những tiến bộ kỹ thuật trong tin học và truyền thông lớn, mức thu nhập đầu người liên tục vẫn tiếp tục được cải thiện, tuy có chậm lại so với thập kỷ trước v.v...


Về phía quản lý nhà nước, ngành ngân hàng bán lẻ cũng được tạo điều kiện thuận lợi hơn với những quy định và chỉ thị của cơ quan chủ quản trong, ví dụ, tăng cường cho vay tín chấp, nới hạn mức tăng trưởng tín dụng cho nhiều ngân hàng thương mại, hạ hệ số rủi ro các khoản cho vay chứng khoán và bất động sản, khai thông cho vay tiêu dùng của các ngân hàng qua các công ty tài chính v.v...


Trước những thuận lợi và khó khăn như vậy, không khó hiểu khi nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ đã trở nên hấp dẫn và là một lựa chọn chính để giúp các ngân hàng tiếp tục tồn tại và phát triển. Nhưng điều đáng nói là từ lý thuyết đến thực tế lại là một khoảng cách xa vời với rất nhiều ngân hàng. Ngay bản thân nhiều người trong cuộc qua một số cuộc phỏng vấn trực tiếp cũng phải thú nhận rằng mặc dù hay nhắc đến ngân hàng bán lẻ nhưng triển khai bắt đầu từ đâu và cụ thể thế nào thì họ cũng không thể trả lời một cách rành mạch được. Bởi thế, sẽ không lấy gì làm lạ khi “soi” chiến lược phát triển ngành ngân hàng bán lẻ của nhiều ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay lại thấy có quá nhiều điểm trùng lặp, từ phương châm, định hướng, đến giải pháp thực hiện... cứ như thể chúng được copy của nhau.


Sự “na ná nhau” trong chiến lược phát triển ngân hàng bán lẻ còn có một phần nguyên nhân là nhiều ngân hàng đã thuê những công ty và tổ chức tư vấn nước ngoài xây dựng và cách thức tổ chức thực hiện các chiến lược này cho họ. Điểm đi điểm lại thì cũng chỉ có một số ít nhà tư vấn có uy tín kiểu này trên thị trường hiện nay nên không tránh khỏi khả năng họ bê nguyên xi các chiến lược này cho các khách hàng khác nhau của mình.


Thiếu vắng những bước đi sáng tạo và giải pháp đột phá để phát triển hữu hiệu ngành ngân hàng bán lẻ với phương châm giá và phí thấp, phục vụ nhiều khách hàng hơn trong nhiều mảng dịch vụ hơn, khai thác được những lợi thế cộng sinh giữa các nghiệp vụ và đối tượng khách hàng, nhiều ngân hàng quay ra “tận thu” trên những dịch vụ sẵn có và khách hàng hiện tại, đẩy khách hàng của họ vào tình trạng sử dụng dịch vụ nhưng luôn trong trạng thái bất bình và sẵn sàng từ bỏ ngay chúng và các ngân hàng này khi có thể.


Tất nhiên, trên thực tế, khách hàng khó mà từ bỏ được dù bất bình đến mấy khi mà hầu như ngân hàng nào cũng đều “tận thu” như vậy cả. Nhưng điều này vô hình trung sẽ là một cái vòng kim cô vạch ra giới hạn phát triển cho ngành ngân hàng bán lẻ ở Việt Nam. Điều này đặt ra một vấn đề về vai trò và trách nhiệm của các cơ quan chủ quản trong việc định hướng và chế tài để ngành ngân hàng bán lẻ Việt Nam bước sang một trang phát triển mới, lành mạnh và bền vững hơn.

Monday, 20 July 2015

Nới room thị trường chứng khoán: Khó xảy ra tăng trưởng bong bóng (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, 19/7/2015)

http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=354214


Bằng việc ban hành Nghị định 60/2015, Chính phủ cuối cùng đã quyết định cho phép nới room thị trường chứng khoán. Và như vậy, từ 1.9, nhà đầu tư nước ngoài có thể nắm giữ 100% cổ phần các công ty lâu nay có hạn chế về sở hữu nước ngoài như Vinamilk, FPT, Dược Hậu Giang, REE…

Bên cạnh những vui mừng của không ít cá nhân và tổ chức liên quan với quyết định này, cũng có một số ý kiến lo ngại việc mở room đến mức tối đa như vậy sẽ mở màn cho một làn sóng thâu tóm của các nhà đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước. Quan trọng hơn, sự lao dốc và thoái trào của thị trường chứng khoán Trung Quốc lan rộng ra các thị trường chứng khoán trên thế giới và trong khu vực sẽ có khả năng kích hoạt một số bộ phận các nhà đầu tư chuyển đổi danh mục đầu tư từ những thị trường chứng khoán đang có chiều hướng đi xuống sang thị trường chứng khoán Việt Nam. Với trần giới hạn sở hữu mới là 100% với nhiều doanh nghiệp, làn sóng này có thể hun nóng thị trường chứng khoán Việt Nam vốn đang có quy mô khá hạn chế  để có khả năng hấp thụ nhiều tỷ USD vốn đầu tư mới mà không làm nó nổ tung. Một dẫn chứng cho nỗi lo ngại này là thị trường chứng khoán Việt Nam đã và đang tăng trưởng khá tốt, đi ngược lại những gì đang xảy ra ở nước láng giềng Trung Quốc.

Tuy vậy, từ việc nới room đến khả năng xảy ra một bong bóng mới trên thị trường chứng khoán Việt Nam dường như không có mối liên hệ chặt chẽ hoặc cự ly vẫn còn quá xa để có thể kết luận ngay được rằng nới room là nguy hiểm.

Thứ nhất, nhà đầu tư nước ngoài nếu có mối quan tâm vào thị trường chứng khoán Việt Nam thì sự quan tâm của họ sẽ mang tính lựa chọn cẩn trọng chứ không phải nhắm mắt mua đại bất kể cổ phiếu nào với bất cứ giá nào. Đương nhiên là tính lựa chọn này có khả năng sẽ làm cho giá cả của những cổ phiếu mà họ nhắm đến tăng mạnh và liên tục, từ đó dẫn đến chỉ số chứng khoán của Việt Nam nói chung tăng mạnh tương ứng. Nhưng việc tăng này cũng sẽ chỉ có giới hạn, đến một ngưỡng nào đó thì chứng khoán Việt Nam trở nên đắt đỏ quá mức so với chứng khoán trên thị trường khác trong khu vực và trên thế giới. Điều này làm cho các nhà đầu tư nước ngoài dù có quan tâm đến đâu cũng phải cân nhắc thiệt hơn khi tiếp tục lao vào cuộc chơi chứng khoán ở Việt Nam.

Thứ hai, quyết định nới room sẽ làm cho một số bộ phận nhà đầu tư trong nước bị thay thế bởi nhà đầu tư nước ngoài trong việc nắm giữ và sở hữu các cổ phiếu đã được nới room. Điều này thực ra lại là điều tích cực nếu xét đến khía cạnh đa phần nhà đầu tư nước ngoài là các nhà đầu tư tổ chức chứ không phải là nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ như trong nhiều trường hợp hiện nay ở Việt Nam và cả ở Trung Quốc. Chính những nhà đầu tư nhỏ lẻ thường bị tác động bởi tâm lý bầy đàn do ít kiến thức và hiểu biết về thị trường chứng khoán cũng như các vấn đề liên quan... mới là nguyên nhân chính góp phần đẩy thị trường chứng khoán trên thế giới vào các cuộc khủng hoảng và sụp đổ. Nay, nếu các nhà đầu tư nước ngoài có lấn át nhà đầu tư nội địa trong một số loại cổ phiếu nào đó thì họ đã gián tiếp làm giảm rủi ro đẩy thị trường chứng khoán Việt Nam vào các cơn sốt nóng lạnh thất thường.

Thứ ba, việc nới room sẽ làm tăng tính hấp dẫn của thị trường chứng khoán Việt Nam và sẽ lôi kéo thêm sự quan tâm cũng như đầu tư của giới đầu tư nước ngoài, từ đó có nhiều khả năng dẫn đến giá cổ phiếu tăng mạnh trên diện rộng. Nhưng mặt khác, chính sự quan tâm của giới đầu tư nước ngoài kéo theo mặt bằng giá cổ phiếu tăng lên lại kích thích nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu và niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Chương trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cũng vì thế mà hanh thông hơn, với giá trị thu về cho ngân sách lớn hơn, đến lượt chúng lại kích thích và tạo thuận lợi cho cổ phần hóa và niêm yết cổ phần của các DNNN. Điều này có nghĩa là song song với nhu cầu nắm giữ và sở hữu chứng khoán Việt Nam tăng lên thì nguồn cung chứng khoán mới khi ra thị trường chứng khoán Việt Nam cũng có khả năng tăng mạnh tương ứng hoặc thậm chí hơn. Cân bằng trên thị trường vì thế sẽ luôn được thiết lập với những biến động về giá sẽ là không lớn, nếu có.

Tóm lại, với ít nhất 3 lý do trên, việc nới room cho nhà đầu tư nước ngoài sẽ không làm thị trường chứng khoán Việt Nam tăng trưởng bong bóng trong thời gian tới, kể cả khi thị trường chứng khoán Trung Quốc sụp đổ thật sự.

Sunday, 19 July 2015

Soi trách nhiệm từ vụ Giang Kim Đạt (Bài không được báo đăng vì sợ)

Vụ Giang Kim Đạt nguyên quyền Trưởng phòng Kinh doanh của Công ty TNHH MTV vận tải Viễn Dương Vinashin, thuộc Tập đoàn Vinashin) với cáo buộc chiếm đoạt gần 19 triệu USD và chuyển rất nhiều tiền tham ô, tham nhũng ra nước ngoài đã làm bộc lộ ra nhiều vấn đề nghiêm trọng, không chỉ về trách nhiệm quản lý vốn nhà nước của các cơ quan hữu trách mà còn cả về sự vô hiệu của cơ chế và bộ máy phòng chống tham nhũng cực kỳ hùng hậu nhưng thực ra lại “hữu danh vô thực” ở Việt Nam.
Về trách nhiệm quản lý vốn nhà nước, mà cụ thể là ở cái “thây ma” Vinashin, đã có quá nhiều chuyện để nói, để phê phán, và vụ Giang Kim Đạt chỉ là hé cho công luận biết thêm một chút nữa về những chuyện kinh khủng trong bóng tối chưa được biết về Vinashin và những doanh nghiệp nhà (DNNN) nước tương tự như nó. Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải ở đâu, làm gì mà để nhưng con sâu từ rất nhỏ như Giang Kim Đạt đến những con sâu cỡ bự hơn thi nhau gậm nhấm tài sản công như vậy? Tại sao không một ai trong số đương sự tại những cơ quan quản lý và giám sát nhà nước này bị hề hấn gì sau bao nhiêu vụ tham ô, tham nhũng khổng lồ được phanh phui ra ánh sáng? Họ không thể vô can vì nhà nước đã giao trách nhiệm cho họ là đại diện chủ sở hữu nhà nước điều hành và giám sát các DNNN này.
Thử lật lại vấn đề, giả sử nếu Vinashin nằm trong tay một ông chủ tư nhân nào đó, liệu những chuyện tầy đình này có (được phép) xảy ra? Của đau con xót, nên chắc chắn câu trả lời sẽ là “Không!”. Không một ông chủ tư nhân nào lại phó thác tiền của của mình cho một bộ máy quản lý tham nhũng từ trên xuống dưới để rồi tiền của mình thi nhau đội nón ra đi, và doanh nghiệp rơi vào tình trạng “làm ít phá nhiều” như vậy cả. Nên nói gì thì nói, vụ Giang Kim Đạt và những vụ việc tương tự “bị lộ” sau này càng gióng thêm một tiếng chuông nguyện cho sứ mệnh và vai trò của các DNNN. Đã đến lúc, tuy đã muộn, phải mạnh dạn xóa bỏ càng nhiều DNNN càng tốt, cũng như từ bỏ mô hình phát triển dựa trên những “quả đấm” DNNN đã tỏ ra cực kỳ nguy hại trên thực tế.
Về trách nhiệm của bộ máy phòng chống tham nhũng ở Việt Nam, cũng tương tự như trách nhiệm phải được quy rạch ròi cho các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Tài chính và Giao thông vận tải, các cơ quan phòng chống tham nhũng cũng phải chịu trách nhiệm khi đã để hàng loạt vụ việc tham nhũng xảy ra ngay trước mũi họ. Bộ máy phòng chống tham nhũng không chỉ có các cơ quan thanh tra, phòng chống ở cấp cơ sở và địa phương, ngay trong doanh nghiệp, mà còn ở cấp trung ương, không chỉ thuộc trong biên chế phía nhà nước mà còn trong biên chế của hệ thống song trùng là đảng, với đủ loại ban bệ và bộ máy tiêu tốn vô số tiền thuế của dân. Vậy mà họ đã làm được gì?
Những vụ việc tham nhũng bị lôi ra ánh sáng chỉ là một con số quá nhỏ nhoi. Quan trọng hơn, mọi việc chỉ được biết đến khi đã quá muộn, thiệt hại đã phát sinh quá lớn đến mức có cố tình nhắm mắt bịt tai cũng vẫn phải thấy. Và rồi sự “quyết liệ vào cuộc của cả hệ thống chính trị” để xử lý các vụ tham nhũng bị lộ này chỉ như là một hành động để chứng tỏ bộ máy phòng chống tham nhũng vẫn còn đang tồn tại và đang làm việc.
Vậy thì giải pháp để phòng chống tham nhũng một cách có hiệu quả không phải là tiếp tục rót tiền thuế của dân nghèo vốn đang bị khai thác triệt để bởi đủ loại thuế phí để nuôi bộ máy phòng chống tham nhũng tiếp tục ngày càng phình to để ngõ hầu mong chúng một ngày nào đó phát huy được tác dụng. Thay vào đó, nếu thu hẹp tối đa được quy mô và số lượng các DNNN thì tự khắc cơ hội tham nhũng trong hệ thống DNNN sẽ bị giảm mạnh. Song song đó là việc trừng phạt các quan chức trong bộ máy phòng chống tham nhũng nếu họ không làm tốt được chức năng và nhiệm vụ của mình, chứ không phải là “cho qua” một cách đơn giản như hiện nay.

Friday, 17 July 2015

Chứng khoán Trung Quốc lao dốc và ảnh hưởng đến VN (Bài đăng trên TBKTSG, 17/7/2015, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/132993/Chung-khoan-Trung-Quoc-lao-doc-va-anh-huong-den-VN.html

Sau khi đã mất 1/3 giá trị, chứng khoán Trung Quốc đã tăng giá trở lại trong 2 ngày liên tiếp cuối tuần trước nhờ những nỗ lực cứu vớt “quyết liệt” chưa từng có tiền lệ của nhà đương cục Trung Quốc. Chỉ số chứng khoán Thượng Hải tăng 4,5% vào cuối ngày thứ 6 sau khi có lúc đã tăng tới 6,7% trong ngày. Tương tự, chỉ số chứng khoán Thẩm Quyến cũng tăng 4,6%.
Tuy vậy, sự phục hồi này mới chỉ là bước đầu và còn quá sớm để nói rằng chứng khoán Trung Quốc đã qua cơn nguy kịch và sẽ tiếp tục phục hồi và lấy lại những gì đã mất trong gần 1 tháng qua. Bởi thị trường chứng khoán Trung Quốc thực tế đã tăng trưởng bùng nổ theo kiểu bong bóng trong 1 năm qua bất chấp nền tảng kinh tế - tăng trưởng kinh tế của nước này – đã suy yếu đi đáng kể gần đây, quanh quẩn 7%/năm so với thời hoàng kim 9%-10% trong cả 3 thập kỷ trước. Điều này cho thấy thành công của nhà đương cục Trung Quốc trong việc vực dậy thị trường chứng khoán nước này có chăng cũng chỉ là ngắn hạn, và sự điều chỉnh mạnh chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.
Điều đáng quan tâm hơn là nếu chứng khoán Trung Quốc tiếp tục lao dốc hoặc, may mắn hơn, dừng lại ở mức hiện tại thì sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam như thế nào.
Ảnh hưởng kinh tế trực tiếp
Người ta có thể hình dung trước tiên đến hậu quả thua lỗ, tổn thất nặng của những nhà đầu tư Việt Nam vào thị trường chứng khoán Trung Quốc. Tuy nhiên, hậu quả này có lẽ chỉ ở phạm vi rất hẹp. Điều này có thể suy ra từ danh mục đầu tư của các quỹ đầu tư trên thế giới. Chẳng hạn, thống kê cho thấy quỹ Vanguard Total International Stock, một quỹ được ưa thích bởi các nhà đầu tư muốn vươn ra thị trường chứng khoán nước ngoài, chỉ có chưa đến 4% tài sản đầu tư vào các cổ phiếu Trung Quốc. Với sự đa dạng trong danh mục đầu tư của nhiều nhà đầu tư, ít nhất vài loại cổ phiếu trên vài thị trường, thì rủi ro mất mát đến từ thị trường chứng khoán Trung Quốc sẽ chỉ là một phần của con số 4% này với đa phần nhà đầu tư. Tương tự như vậy, với các nhà đầu tư Việt Nam, chắc rằng thiệt hại từ sự lao dốc của chứng khoán Trung Quốc cũng không khác biệt thế nhiều.
Một ảnh hưởng trực tiếp khác là sự chuyển đổi danh mục đầu tư của không chỉ các nhà đầu tư Trung Quốc mà còn của các nhà đầu tư quốc tế khác hướng vào thị trường chứng khoán Việt Nam. Sau khi đã thấm bài học đau đớn từ việc đầu tư vào thị trường chứng khoán Trung Quốc, sẽ có một bộ phận nhà đầu tư, kể cả nhà đầu tư Việt Nam, tìm kiếm một thị trường thay thế khác an toàn hơn và cũng có tiềm năng tăng trưởng tương đối tốt. Thị trường chứng khoán Việt Nam có thể lọt vào tầm ngắm của họ, nhưng có bao nhiêu trong số này và sẽ phân bổ bao nhiêu vốn cho thị trường này lại là một chuyện khác, phụ thuộc trực tiếp vào tính hấp dẫn của thị trường chứng khoán Việt Nam tương đối so với các thị trường khác trên thế giới. Tuy người viết không lạc quan lắm trước viễn cảnh này vì quan ngại sẽ xảy ra tâm lý co cụm, bảo toàn tài sản của nhiều nhà đầu tư sau khi vướng vào tình trạng “con chim bị tên nên sợ cành cong”, nhưng hãy cứ hy vọng một sự khởi sắc mới, hoặc ít ra thì cũng không bị nhiễm cơn bạo bệnh của thị trường chứng khoán Trung Quốc cho thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới!
Ảnh hưởng kinh tế gián tiếp
Như vậy thì các ảnh hưởng của thị trường chứng khoán Trung Quốc lên nền kinh tế Việt Nam sẽ chủ yếu là gián tiếp. Ảnh hưởng gián tiếp đầu tiên là qua kênh thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam. Khi chứng khoán Trung Quốc tụt dốc thì giá trị tài sản của nhiều nhà đầu tư nắm giữ chứng khoán Trung Quốc bốc hơi mạnh, sẽ ngay trực tiếp ảnh hưởng đến tổng cầu của nước này. Mức độ tiêu dùng, mua sắm, đầu tư vào bất động sản, mở rộng đầu tư vào các ngành và lĩnh vực kinh tế của Trung Quốc sẽ sụt giảm khi lượng tài sản khả dụng của đa phần nhà đầu tư trở nên teo tóp. Tổng cầu của Trung Quốc suy giảm sẽ tác động tiêu cực đến xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường nước này. Những ngành xuất khẩu chủ chốt của Việt Nam vào Trung Quốc như nông nghiệp, thủy hải sản, khoáng sản và các loại nguyên liệu khác sẽ bị ảnh hưởng đầu tiên.
Ngược lại, với tổng cầu suy yếu trong khi năng lực sản xuất vẫn đã và đang tiếp tục dư thừa thì Trung Quốc một mặt sẽ tìm mọi cách bảo hộ thị trường nội địa trước hàng nhập khẩu, mặt khác sẽ nỗ lực thúc đẩy xuất khẩu của họ sang các nước khác bằng nhiều chiêu trò, kể cả gian lận, và Việt Nam sẽ là một trong số những nạn nhân đầu tiên.
Chưa hết, tổng cầu suy yếu, tăng trưởng kinh tế giảm sút sẽ dẫn đến áp lực giảm giá đồng bản tệ của Trung Quốc (CNY, chủ yếu so với USD). Khi CNY giảm giá so với USD, nếu Việt Nam vẫn “quyết liệt” với chính sách neo tỷ giá VND vào USD như hiện nay thì hậu quả lên thương mại và nhập siêu của Việt Nam sẽ càng nghiêm trọng hơn, vì Trung Quốc là nước xuất siêu lớn nhất vào Việt Nam.
Ảnh hưởng gián tiếp thứ hai sẽ là lên... chứng khoán Việt Nam. Như đã phân tích ở trên, một số ngành xuất khẩu của Việt Nam có thị trường xuất khẩu chủ yếu là Trung Quốc sẽ bị tác động tiêu cực. Tính hấp dẫn và khả năng sinh lời của những cổ phiếu của các doanh nghiệp trong các ngành này vì thế sẽ bị suy giảm tương ứng với tình trạng sụt giảm doanh thu và lợi nhuận của chúng. Kỳ vọng hiển nhiên sẽ là giá cổ phiếu của nhóm doanh nghiệp này sẽ đi xuống sau đó. Ngược lại, cổ phiếu của các doanh nghiệp nhập khẩu và phân phối, kể cả những doanh nghiệp có nguyên phụ liệu đầu vào nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ có cơ hội khởi sắc hơn.
Ảnh hưởng gián tiếp thứ ba sẽ rộng hơn nhưng cũng mông lung và khó lượng hóa hơn. Suy giảm tăng trưởng hay những biến động kinh tế lớn của Trung Quốc luôn là một nỗi quan ngại sâu sắc mang tính toàn cầu, đơn giản vì quy mô khủng của nền kinh tế nước này, đứng thứ 2 thế giới. Viễn cảnh tiếp theo sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Trung Quốc sẽ là áp lực giảm phát mạnh hơn trên phạm vi toàn cầu. Trong bối cảnh khủng hoảng nợ công Hy Lạp đe dọa tính ổn định của châu Âu, và phục hồi chưa chắc chắn của Mỹ và Nhật, sự lao đao của Trung Quốc, vốn từng là phao cứu sinh cho nền kinh tế khu vực và toàn cầu, sẽ làm xấu thêm triển vọng tăng trưởng kinh tế thế giới năm nay và năm tới. Và khi tăng trưởng thế giới bị giảm sút thì Việt Nam cũng không thể đứng an toàn ngoài cuộc vì các ảnh hưởng tiêu cực sẽ xảy đến thông qua các kênh thương mại và đầu tư nước ngoài như đã từng chứng kiến mấy năm trước.
Và ảnh hưởng chính trị?
Cũng không phải là quá hoang đường khi kỳ vọng rằng nhà cầm quyền Trung Quốc khi đang phải nỗ lực thậm chí đến mức tuyệt vọng để vực nền kinh tế và trấn an dân chúng của họ qua cơn bĩ cực hiện nay sẽ có những hành động tiêu cực như kích động tính dân tộc cực đoan hay gây hấn (trở lại) với những nước láng giềng, trong đó có Việt Nam. Mục đích không ngoài chuyện đánh lạc hướng dư luận, làm dân chúng của họ bớt bận tâm đến các vấn đề kinh tế trong nước, “quên” phê phán giới chóp bu nước này, và đảm bảo sẽ không xảy ra bạo loạn xã hội do dân chúng đã bất bình với những vấn đề chính trị và kinh tế trong nước đến mức bộc phát. Bởi vậy, trên khía cạnh này, sẽ không có gì là ngạc nhiên nếu trong tuần này, tháng này, đột nhiên Trung Quốc, ví dụ, lại tái khởi động việc đưa giàn khoan nổi của họ đang cắm ở Vịnh Bắc Bộ đi sâu vào vùng biển chủ quyền của Việt Nam. Những tình huống tương tự như vậy là không thể không xảy ra nên chúng ta cần chuẩn bị sẵn sàng.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2014, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam" forthcoming in "Emerging Markets Finance and Trade".

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).