Wednesday, 17 December 2014

Đồng ruble Nga mất giá sẽ ảnh hưởng thế nào đến kinh tế Việt Nam? (Bài đăng trên CafeF, 18/12)

http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/dong-ruble-nga-mat-gia-se-anh-huong-the-nao-den-kinh-te-viet-nam-201412180718389036ca33.chn

Đồng ruble Nga đã mất hơn 50% giá trị so với USD từ đầu năm đến nay, chủ yếu do các biện pháp trừng phạt kinh tế của EU và Mỹ, kết hợp với sự suy sụp của giá dầu thô – nguồn thu ngoại tệ chính của Nga.

Sự mất giá của đồng ruble chắc chắn sẽ có ảnh hưởng ở mức độ nào đó lên nền kinh tế Việt Nam thông qua kênh ngoại thương.
 
Đầu tiên phải kể đến xuất khẩu của Việt Nam vào Nga. Trên báo chí gần đây có đăng những câu chuyện về người Việt kinh doanh ở Nga gặp khó khăn thế nào khi hàng hóa nhập về từ Việt Nam được tính giá bằng USD trong khi bán ở Nga thì chỉ thu được ruble, vốn đang mất giá mạnh từng ngày nên giá cả hàng hóa thành ra quá tầm với của nhiều người tiêu dùng Nga, buộc họ phải thắt lưng buộc bụng. Điều này cũng có nghĩa là người kinh doanh Việt Nam không bán được nhiều hàng, và đương nhiên cũng không thể nhập được nhiều hàng từ Việt Nam sang nữa. Đây là một minh họa thực tế và sống động cho tình cảnh đang và sẽ phải đối mặt của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam có khách hàng nhập khẩu từ Nga.
 
Hiện tại, Việt Nam xuất khẩu sang Nga ngót nghét 2 tỷ USD (1,44 tỷ USD trong 10 tháng đầu năm nay, giảm 10,6% so với cùng kỳ năm 2013). Trong cơ cấu xuất khẩu, các mặt hàng chính là điện thoại và linh kiện (chiếm hơn 1/3 tổng kim ngạch xuất khẩu sang Nga), hàng dệt may và cà phê (đều có kim ngạch trên 100 triệu USD), theo sau là thủy sản, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, giày dép (đều có kim ngạch trên 50 triệu USD) và các loại nông sản khác v.v...
 
Khi đồng ruble trở nên rẻ hơn so với USD (và tức là so với VND), đương nhiên những mặt hàng xuất khẩu chính trên trở nên xa xỉ với nhiều người tiêu dùng Nga, buộc họ phải cắt giảm mua sắm những mặt hàng này. Bởi vậy, những doanh nghiệp và ngành sản xuất những mặt hàng trên sẽ là nạn nhân trước tiên của việc đồng ruble mất giá.
 
Tất nhiên là có những mặt hàng cơ bản không thể không tiêu dùng được, nhưng người Nga sẽ không nhất thiết phải cắn răng móc túi để mua những thứ hàng hóa nhập khẩu đắt đỏ này. Cũng những câu chuyện về người Việt Nam ở Nga trên báo chí cho thấy đã có một số người tính đến chuyện chuyển nghề sang nuôi trồng, sản xuất ngay trên đất Nga để giảm giá thành sản phẩm. Và như thế có nghĩa là sự mất giá của đồng ruble một mặt làm hại cho doanh nghiệp nước ngoài (trong đó có Việt Nam) xuất khẩu vào thị trường Nga, mặt khác lại có tác động tích cực đến nền kinh tế nội địa nước này.
 
Về mặt nhập khẩu, Việt Nam nhập khẩu từ Nga ít hơn là xuất khẩu vào thị trường này (10 tháng đầu năm nay nhập khẩu 768 triệu USD). Tuy vậy, không có nghĩa là Việt Nam không bị hại gì, hoặc bị hại không đáng kể với con số nhập khẩu khá khiêm tốn này. Khi đồng ruble mất giá tới hơn 50% so với USD và cả với VND, hàng hóa xuất khẩu của Nga ra thế giới nói chung và vào thị trường Việt Nam nói riêng trở nên rẻ một cách bất ngờ, “chấp” tất cả các loại hàng rào thuế quan bảo hộ mậu dịch mà Việt Nam đã dựng lên với hàng hóa của Nga. Bởi vậy, kim ngạch nhập khẩu từ Nga chắc chắn sẽ không dừng lại ở con số vài trăm triệu USD như trên nữa mà có khả năng tăng lên mạnh.
 
Xem xét cơ cấu hàng nhập khẩu, có thể thấy những ngành sản xuất trong nước như xăng dầu, phân bón, sắt thép và sản phẩm từ sắt thép, khoáng sản (quặng và than đá) v.v... có khả năng là những ngành bị ảnh hưởng nặng nề nhất do đây là những mặt hàng xuất khẩu chính của Nga vào Việt Nam trong mấy năm qua. Một ví dụ thực tế khác là ngay cả thời đồng ruble đang ổn định, các doanh nghiệp thép Việt Nam đã phải than trời về sự cạnh tranh của sắt thép từ Nga. Nay đồng ruble mất giá mạnh đã tạo thêm khả năng cạnh tranh lớn hơn nhiều cho sắt thép của Nga ở trên thị trường Việt Nam.
 
Chưa dừng lại ở những tác động trực tiếp này, sự mất giá của đồng ruble còn tạo ra những tác động tiêu cực khác cho Việt Nam, cũng qua kênh thương mại, mà hầu như không ai ngờ đến. Đó là sự mất giá “ăn theo” của nhiều đồng tiền của những quốc gia lân bang chí cốt và/hoặc có liên minh, có quan hệ thương mại chặt chẽ với Nga như Kyrgyzstan, Tajikistan, Uzbekistan, Turkmenistan, Kazakhstan, Armenia, và Belarus. Mới tính đến thời điểm tháng 10 là thời điểm đồng ruble mới chỉ bị mất giá khoảng 20% mà đồng bản tệ của các nước này cũng đã mất giá từ 5% đến gần 20% so với USD.
 
Điều đáng nói là một số nước này lại là thành viên của Liên minh hải quan có hiệu lực từ 1/1/2015 gồm 3 nước khởi xướng là Nga, Belarus, và Kazakhstan, và sau này kết nạp thêm Kyrgyzstan và Armenia. Với kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với chỉ riêng 3 nước khởi xướng ước tính đã lên đến khoảng 4 tỷ USD trong năm 2014 thì rõ ràng tác động bất lợi của việc đồng ruble mất giá kéo theo sự mất giá của đồng tiền các quốc gia này cho Việt Nam qua kênh thương mại như phân tích ở trên sẽ được nhân lên đáng kể.
 
Đáng kể hơn nữa là Việt Nam vừa hoàn tất ký hiệp định mậu dịch tự do (FTA) với Liên minh này, cũng có hiệu lực từ tháng 1 năm sau. Bởi thế, FTA mà Việt Nam ký với khối này lại mở toang cửa cho hàng hóa của họ thâm nhập sâu rộng hơn nữa thị trường nội địa Việt Nam, trong khi thị trường của khối này lại được rào chắn một cách chắc chắn (và không cố ý!) với doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam nhờ sự mất giá mạnh của đồng ruble và các đồng bản tệ trong khối này, tương đương với việc họ áp thuế suất nhập khẩu hàng chục phần trăm, ngoài những rào cản phi thuế quan khác vốn đã làm nản lòng không ít doanh nghiệp Việt Nam.
 
Tóm lại, chừng nào mà đồng ruble và các đồng bản tệ có liên quan còn ở mức yếu và tiếp tục mất giá thì chừng đó Việt Nam tiếp tục bị ảnh hưởng đến mức đáng kể.

Friday, 12 December 2014

Tạo đà cất cánh (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, 13/12)

 
Nền kinh tế đã sắp đi hết một năm với những bất ngờ lớn. Với một bệ phóng vĩ mô được củng cố vững chắc hơn trong năm nay, chúng ta hoàn toàn có thể kỳ vọng nền kinh tế năm 2015 sẽ cất cánh mạnh hơn nữa.
Đầu tiên phải kể đến lạm phát đã có diễn biến bất thường, giảm xuống mức thấp dưới 3% năm nay, là điều từ lâu chưa thấy ở Việt Nam, và nằm ngoài dự kiến của nhiều người.
 
Bất thường này là một nguyên nhân chính khiến cho nhiều người vội vã quy cho là dấu hiệu của tổng cầu yếu. Tất nhiên, khi đã quan niệm rằng tổng cầu yếu thì người ta ắt sẽ liên tục kêu gọi Chính phủ kích cầu bằng cách nới lỏng chính sách tiền tệ và tài khóa để hạ lãi suất, tăng chi tiêu và đầu tư của nhà nước, doanh nghiệp và cá nhân. Để hậu thuẫn cho luận điểm của mình, họ đã đưa ra những số liệu tiêu cực như con số doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động, giải thể lên đến hàng chục nghìn, mức tăng trưởng bán lẻ không tăng mạnh (so với mức của năm trước), tăng trưởng tín dụng thấp, chỉ số tồn kho cao và chỉ số sản xuất công nghiệp ở mức thấp v.v...
 
Tuy nhiên, bất chấp những bất thường và diễn biến tiêu cực này, tăng trưởng kinh tế năm nay lại gây ra một bất ngờ khác khi nó có khả năng cán đích ở mức 5,8 - 5,9%, là mức cao hơn đáng kể so với 2 - 3 năm trở lại đây. Ở mức này thì đương nhiên luận điểm tổng cầu yếu đã mất chỗ đứng. Nguyên nhân không chỉ đơn giản vì những số liệu tiêu cực trên chỉ được nhìn nhận một chiều (chẳng hạn, con số doanh nghiệp giải thể phá sản tuy có lớn nhưng vẫn thấp hơn nhiều con số doanh nghiệp thành lập mới; chỉ số tồn kho cao có thể vì do cung ở một số ngành tăng quá mạnh v.v...), mà có thể còn do các chính sách vĩ mô của Chính phủ đã mang tính thận trọng hơn, phù hợp hơn, mà điển hình là chính sách tiền tệ được nới lỏng có chừng mực, theo lạm phát mục tiêu; và nền kinh tế đã có tự điều chỉnh về cơ cấu và phân bổ nguồn lực mang tính tích cực hơn. Ngoài ra, cũng cần phải kể đến một yếu tố mang tính thiên thời, địa lợi là giá dầu thô thế giới giảm mạnh, tác động tích cực đến mặt bằng giá cả trong nước, và là yếu tố quan trọng đằng sau sự sụt giảm của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) gần đây.
 
Với một bệ phóng vĩ mô được củng cố vững chắc hơn trong năm nay chúng ta hoàn toàn có thể kỳ vọng nền kinh tế năm 2015 sẽ cất cánh mạnh hơn nữa.
 
Ở trong nước, khi lạm phát giảm và ổn định ở mức thấp như hiện nay tạo hậu thuẫn cho các tính toán hiệu quả đầu tư có tính chắc chắn hơn, trong bối cảnh triển vọng tăng trưởng kinh tế sáng sủa, các chủ thể kinh tế sẽ có thêm động lực để tăng cường đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh hơn.
 
Với lạm phát thấp và ổn định, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có thêm room để nới lỏng hơn nữa chính sách tiền tệ, tạo điều kiện cho mặt bằng lãi suất trong nước giảm thêm, càng có tác dụng khuyến khích đầu tư và tiêu dùng trong nước.
 
Lạm phát thấp còn tác động tích cực đến tỷ giá VNĐ/USD, tạo được sự ổn định tỷ giá mà không cần NHNN phải can thiệp bằng cách bán USD từ dự trữ ngoại hối quốc gia. Lạm phát thấp ở Việt Nam cũng là một điều kiện cần để tỷ giá VNĐ/USD danh nghĩa ổn định mà không phải đánh đổi lấy sự lên giá thực của VNĐ so với USD, vốn là yếu tố tiêu cực đến tính cạnh tranh xuất khẩu của hàng Việt Nam ra thị trường thế giới cũng như làm hình thành tâm lý kỳ vọng VNĐ bị phá giá trong tương lai để khôi phục lại sức cạnh tranh của xuất khẩu. Đến lượt mình, tỷ giá ổn định và hợp lý (VNĐ không bị lên giá thực mạnh so với USD để rồi dẫn đến kỳ vọng VNĐ sẽ bị phá giá trong tương lai) sẽ tác động tích cực đến sự khôi phục lòng tin của nhà đầu tư nước ngoài, dẫn đến gia tăng các luồng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp vào Việt Nam trong các năm tới.
 
Trong khi đó, với tác động tích cực từ giá dầu mỏ liên tục suy giảm, có thể kỳ vọng một triển vọng phục hồi mạnh mẽ hơn của kinh tế thế giới nhờ gia tăng tiêu dùng do người tiêu dùng thế giới được lợi lớn từ việc tiết kiệm ngân sách gia đình dành cho chi phí nhiên liệu và năng lượng. Sự phục hồi mạnh mẽ hơn của nền kinh tế thế giới được kỳ vọng làm tăng nhu cầu của hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam, dẫn đến sự tăng trưởng mạnh hơn của các ngành sản xuất hướng xuất khẩu.
 
Không chỉ có vậy, giá dầu giảm dẫn đến giá xăng dầu và năng lượng trong nước cũng suy giảm (tuy ở mức ít hơn, vì lý do nói thêm ở dưới đây), nên người tiêu dùng trong nước cũng được hưởng lợi. Bởi thế, với bối cảnh vĩ mô ổn định (không có lạm phát cao cũng như suy thoái) và chi phí dành cho năng lượng và nhiên liệu giảm đi, người tiêu dùng Việt Nam chắc chắn sẽ đẩy mạnh chi tiêu hơn, từ đó tạo tác động tích cực đến các ngành sản xuất và dịch vụ hướng thị trường trong nước.
 
Tuy vậy, cần phải cảnh báo trước 2 xu hướng chính không mấy tích cực có khả năng diễn ra trong thời gian tới. Thứ nhất, đó là sự lạm dụng chính sách, thông qua nới lỏng các chính sách vĩ mô như chính sách tiền tệ và tài khóa quá mức, với lý do là lạm phát đang thấp. Sự nới lỏng quá mức các chính sách này có nguy cơ làm bùng nổ tiêu dùng và tín dụng ngoài tầm kiểm soát, và đẩy nền kinh tế vào một vòng xoáy bất ổn vĩ mô và tăng trưởng thấp khác. Thứ hai, với lo ngại rằng thâm hụt ngân sách sẽ tăng mạnh do thu ngân sách từ xuất khẩu dầu thô và các loại thuế phí lên nhập khẩu xăng dầu bị sụt giảm khi giá dầu tiếp tục đứng ở mức thấp, Chính phủ sẽ tăng mạnh thuế nhập khẩu xăng dầu. Nếu vậy thì tổng cầu sẽ gián tiếp bị ảnh hưởng, trong khi thực ra thì Chính phủ không nhất thiết phải tăng thuế nhập khẩu xăng dầu vì thu ngân sách sẽ được hưởng lợi từ việc gia tăng các hoạt động kinh tế nhờ giá nhiên liệu và năng lượng giảm đi.

Thursday, 11 December 2014

Nhìn thẳng và thừa nhận sự thật về tỷ giá (Bài đăng trên TBKTSG, 12/12, tiêu đề do báo đặt lại)

 
(TBKTSG) - Trong năm nay tỷ giá tiền đồng/đô la Mỹ đã đôi lần tăng mạnh, bất chấp những khẳng định và cam kết bình ổn tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
 
Điểm trùng lặp ở những đợt tăng tỷ giá này là cách thức xử lý của NHNN, với tuyên bố rằng họ sẽ không điều chỉnh tỷ giá vì không có lý do gì để điều chỉnh tỷ giá, không cần can thiệp vì cung cầu ngoại tệ cơ bản là bình thường, và rằng tỷ giá tăng là do tâm lý trước tin đồn NHNN tăng tỷ giá...
 
Những bằng chứng luôn được NHNN viện dẫn ra để cho thấy thị trường ngoại tệ vẫn ổn định, không có gì bất thường trong các giai đoạn tỷ giá biến động mạnh thường là: Việt Nam đang xuất siêu (cộng dồn trong các tháng từ đầu năm đến thời điểm đó); cán cân thanh toán tổng thể ở mức thặng dư cao; giải ngân FDI và kiều hối đều tăng so với cùng kỳ năm trước; trên thị trường ngoại tệ doanh số giao dịch, hoạt động mua bán ngoại tệ diễn ra bình thường, không có gì đột biến...
 
Thường thì tỷ giá sẽ chựng lại và/hoặc giảm đi một chút sau những tuyên bố này của NHNN. Đằng sau sự chựng lại hoặc giảm đi này, khó có thể biết được rằng thị trường đã “sợ” NHNN, “thấm” được cái sự vô lý của tỷ giá (tăng) như lời giải thích của NHNN để mà tự điều chỉnh, hay đơn giản chỉ là do NHNN đã lẳng lặng can thiệp vào thị trường ngoại hối bằng cách bán đô la Mỹ ra để bình ổn tỷ giá (NHNN thường không công bố có can thiệp hay không, và, nếu có, quy mô can thiệp là bao nhiêu).
 
Nhưng ít ra thì trong đợt tăng tỷ giá tháng 11 vừa rồi, đã có bằng chứng rõ ràng rằng NHNN đã phải can thiệp bằng cách bán ra đến 1,5 tỉ đô la Mỹ, “trong bối cảnh nhu cầu ngoại tệ cuối năm tăng cao so với trước”, như TBKTSG đưa tin tuần trước, mặc dù trước đó họ đã tái lập những tuyên bố như trên.
 
Điều rút ra từ sự kiện này là thị trường luôn có cái lý riêng của nó. Tỷ giá biến động rõ ràng thường là hậu quả của việc mất cân đối cung, cầu ngoại tệ (tạm thời hay mang tính cơ cấu), nên lời giải thích “do tâm lý” như của NHNN nếu có đúng thì chỉ ở trên góc độ rằng thị trường đã kỳ vọng NHNN phải bán đô la Mỹ ra để lập lại cân bằng cung, cầu. Và nếu NHNN không chịu làm hay không làm được việc này thì trên thị trường sẽ xuất hiện tâm lý đầu cơ, mua gom, tích trữ đô la Mỹ để đón đầu sóng tỷ giá chắc chắn sẽ phải tăng trong thời gian tới. Mà như vậy thì cái “tâm lý” này hoàn toàn không có gì là vô lý, bất bình thường, không thể trở thành nguyên nhân mang tính dài hạn hơn cho những biến động của tỷ giá nếu NHNN không can thiệp, không xử lý thích đáng vào thị trường ngoại hối.
 
Vì thế, một trong những điều NHNN cần làm ở những đợt biến động tỷ giá trong tương lai là nhìn nhận minh bạch và thẳng thắn những nguyên nhân gây biến động tỷ giá, điều mà các thành viên trên thị trường ngoại hối như các ngân hàng thương mại, công ty xuất nhập khẩu, nhà đầu tư tổ chức và cá nhân... đều nhận thấy qua những giao dịch hàng ngày trên thị trường. Thay vì đưa ra những giải thích, những tuyên bố một cách đơn giản, chiếu lệ và cũ mòn, hoàn toàn không có tính thuyết phục như vẫn làm trong thời gian qua, NHNN nên một mặt thừa nhận có chênh lệch bất thường về cung, cầu ngoại tệ (và nguyên nhân), mặt khác nên tỏ rõ lập trường chính sách của mình, ví dụ như để tỷ giá danh nghĩa ổn định về cơ bản hay để nó biến động linh hoạt theo mức chênh lệch lạm phát giữa Việt Nam với nước ngoài để hỗ trợ xuất khẩu... Đi kèm với lập trường chính sách này là hành động công khai và nhất quán của NHNN để thị trường thấy rõ là NHNN nghiêm túc, nhất quán và có đủ nguồn lực để thực thi định hướng chính sách của mình.
 
Tóm lại, nhìn thẳng và thừa nhận sự thật đồng thời hành động tương ứng để thị trường luôn thấy NHNN nói và làm đi đôi với nhau là cách truyền thông hiệu quả và cần thiết của NHNN, ít nhất là trong vấn đề chính sách tỷ giá ở Việt Nam. Với cách làm hiện thời của NHNN, nếu có chăng thì tính hiệu quả của nó cũng đã và đang mai một nhanh chóng, không thể lạm dụng thêm nữa.

Saturday, 6 December 2014

Siết sở hữu chéo: vấn đề nằm ở thực thi! (Bài đăng trên TBKTSG, 4/12)

http://www.thesaigontimes.vn/123493/siet-so-huu-cheo-van-de-nam-o-thuc-thi!.html/

Thông tư 36/2014/TT-NHNN đã được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành và có hiệu lực từ ngày 1-2-2015 được coi là một bước tiến về mặt pháp lý để siết lại sở hữu chéo và cho vay cổ đông nội bộ, góp phần tiếp tục thúc đẩy việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam.

So với quy định hiện hành (Thông tư 13/2010), Thông tư 36 hạn chế thêm việc các tổ chức tín dụng (TCTD) mua cổ phần lẫn nhau, và bởi vậy được kỳ vọng giảm tình trạng sở hữu chéo giữa các TCTD đồng thời giảm tình trạng tăng vốn điều lệ ảo của TCTD nhằm đáp ứng các quy định về vốn và các tỷ lệ an toàn tối thiểu có liên quan do NHNN đặt ra.
 
Trên thực tế, điều đáng chú ý là hiện tượng vi phạm nặng những quy định hiện hành về sở hữu chéo (trong Thông tư 13) không phải là hiếm. Một ví dụ điển hình là vụ việc ông Nguyễn Đức Kiên (bầu Kiên) bị phát hiện đã dễ dàng qua mặt hệ thống kiểm soát giám sát của NHNN với thủ đoạn “mỡ nó rán nó” không quá phức tạp để tạo ra vốn ảo nhằm nắm giữ cổ phần mang tính thâu tóm và chi phối ở một số TCTD.
 
Đây chỉ là một trong rất nhiều trường hợp cho thấy ý chí luật pháp không nhất thiết đi đôi với thực thi và thừa hành luật pháp ở Việt Nam. Tuy là một bước tiến mới đáng hoan nghênh về pháp lý, theo hướng nâng cao an toàn hệ thống theo sát hơn những chuẩn mực quốc tế, mà cụ thể ở đây là Basel II, nhưng khi Thông tư 36 có hiệu lực và thay thế Thông tư 13, không có gì đảm bảo rằng các TCTD và cá nhân cổ đông (lớn) sẽ tự giác, tự nguyện thi hành những điều kiện, điều khoản nắm giữ cổ phiếu của TCTD khác nay trở nên chặt chẽ hơn. Đồng thời, Thông tư 36 cũng không thể hứa hẹn hay đảm bảo rằng NHNN sẽ thanh tra giám sát sát sao, phát hiện và xử lý kịp thời được những vi phạm liên quan của các TCTD và cá nhân để có thể nói rằng tình trạng sở hữu chéo và tăng vốn ảo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ được loại bỏ về cơ bản trong tương lai gần.
 
Trở lại ví dụ về ông Nguyễn Đức Kiên, theo cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, tuy chỉ là phó chủ tịch hội đồng sáng lập ngân hàng và đại diện cho nhóm cổ đông chiếm 9,03% vốn điều lệ nhưng ông Kiên lại nắm vai trò chỉ đạo, chi phối toàn bộ hoạt động, quản trị, điều hành Ngân hàng ACB. Thực tế này cho thấy quy định trong Thông tư 36 rằng, ví dụ, việc mua cổ phần phải được hội đồng quản trị và hội đồng thành viên thông qua, trong nhiều trường hợp sẽ chỉ mang tính hình thức mà không góp phần gì trong việc làm chặt chẽ mọi quyết định mua cổ phiếu của TCTD khác.
 
Tương tự, với quy định phải có quy trình xét duyệt và đánh giá rủi ro đối với việc mua và nắm giữ cổ phiếu của TCTD khác, tuy có thể là một điều kiện mới theo hướng gây khó khăn hơn cho những khoản đầu tư dễ dãi trước đây, quy trình này không nhất thiết làm cho việc mua, nắm giữ cổ phiếu của TCTD an toàn hơn, “tốt” hơn. Vì ngay đến cả hội đồng quản trị, hội đồng thành viên cũng có thể bị cho qua mặt thì việc làm cho một đề xuất mua cổ phiếu của TCTD khác trở nên “đúng chuẩn”, phù hợp với quy trình xét duyệt chỉ là chuyện nhỏ, thuộc nội bộ.
 
Về quy định chỉ được nắm giữ cổ phiếu của không quá hai TCTD (và dưới 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết), rõ ràng trên lý thuyết các TCTD sẽ gặp khó khi muốn lách để sở hữu nhiều cổ phần hơn, chi phối nhiều TCTD khác hơn. Nhưng về bản chất sở hữu chéo chính là một cách để lách luật về giới hạn sở hữu. Nên với Thông tư 36, tuy có thể các TCTD sẽ không còn tùy tiện như trước được nữa, nhưng bằng việc cho vay, cấp tín dụng, đầu tư và ủy thác đầu tư... mỗi nơi một ít, trong giới hạn cho phép, với mục đích ngụy tạo hoặc không ngụy tạo... rốt cuộc TCTD cũng có được cơ hội, tạo được sức chi phối đối với một TCTD khác thông qua một mạng lưới sở hữu nhằng nhịt và, quan trọng hơn, lại hợp pháp.
 
Do đó, để Thông tư 36 có hiệu quả trong thực tế thì điều thiết yếu là phải có một cơ chế khuyến khích và xử phạt nghiêm minh, hữu hiệu để TCTD tự giác xây dựng và vận hành được một hệ thống kiểm soát, giám sát nội bộ hiệu quả giúp họ hạn chế các hành vi lách luật cố ý (cụ thể ở đây là việc chi phối các TCTD khác). Chỉ khi nào làm cho TCTD hiểu rằng việc ngăn ngừa từ trong nội bộ là cần thiết và có lợi cho chính bản thân mình thì mới hy vọng chế ngự được nạn sở hữu chéo. Bản thân NHNN cũng phải chuẩn bị đủ và triển khai được năng lực theo dõi, giám sát và xử lý việc tuân thủ các quy định pháp luật của TCTD, tránh để tình trạng NHNN chỉ biết khi mọi việc đã rồi như thời gian qua.

Friday, 5 December 2014

Ủy ban giám sát tài chính quốc gia - sự đổi hướng ngoạn mục!

http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/uy-ban-giam-sat-tai-chinh-niem-tin-dau-tu-va-tieu-dung-da-tro-lai-3116167.html

Tớ đã vài lần phang cái ủy ban này về cái luận điệu tổng cầu yếu và đề xuất kích thích tổng cầu rất nguy hiểm của nó nói riêng và cái tính ngụy học thuật của nó nói chung. Hình như cho đến số mới gần đây (hồi tháng 11), nó vẫn giữ nguyên cái luận điệu này, tuy có phần giảm bớt mức độ mạnh mẽ về "kiến nghị" (chắc chủ yếu do thấy tình hình không đúng như nó lý luận).

Nhưng đột nhiên đến số ra mắt trong tháng này (như ở cái link trên), nó lại thay đổi đột ngột tông mầu, chuyển sang mô tả một bức tranh tươi sáng, lạc quan về tổng cầu, quên tiệt cái lập luận dai dẳng và cũ rích hàng năm trời của nó về "tổng cầu yếu"! Thật là một sự lột xác, đổi hướng ngoạn mục trong tư duy!

Làm gì có phép mầu nào làm thay đổi tình hình ("tổng cầu yếu") nhanh chóng và ngoạn mục đến thế chỉ trong vòng có 1 tháng? Chẳng phải là nó đã nhận ra rằng nó đã (cố tình) stupid đến mức độ nào, hoặc thấy rằng luận điệu của mình trở nên lạc lõng trong bối cảnh hiện nay hay sao?

Cũng tốt thôi, nếu biết sai và sửa thì cũng là điều đáng hoan nghênh, nhất là với nhữn tổ chức cũng có ít nhiều ảnh hưởng như nó. Chỉ có điều là nó cần phải thay đổi, trước tiên phải từ việc thay thế ngay những người cầm đầu, những người tham gia trong việc đưa ra những báo cáo ngụy khoa học nguy hiểm như thế bằng những người có trình độ và có tâm hơn. Những khuôn mặt hiện nay trong ủy ban này thật tớ chẳng muốn bình luận thêm tẹo nào!

Wednesday, 26 November 2014

Giáo sư, tiến sĩ không nhất thiết hiểu được những logic thông thường

Trong bài "Xin đừng nói tại suy thoái!" đăng trên TBKTSG của tớ, tớ có nêu ra ví dụ về Ebola và cơn sốt (vốn là ví dụ đã được một đồng chí dùng để phang tớ trong blog này cách đây vài tháng nhân chuyện tớ viết về tổng cầu yếu) để minh họa cho cái quan hệ nhân quả giữa tổng cầu yếu và lạm phát thấp.
 
Nhưng tiếc là  do không đọc đến nó hoặc không thèm hiểu cái logic thông thường trong đó nên có nhẽ đến 90% giáo sư với tiến sĩ ở Việt Nam xuất hiện trên báo chí đều bị nhầm lẫn, giống nhau đến kinh ngạc khi có cùng một tư duy rằng lạm phát âm do tổng cầu yếu.
 
Cũng may là cũng còn một số người khác, không nhất thiết là giáo sư hay tiến sĩ, như tác giả của bài báo trong link dưới đây (đương nhiên là kể cả ban biên tập TBKTSG) vẫn hiểu được và hiểu đúng vấn đề. Và tớ thấy mừng là người của Tổng cục thống kê (đồng chí Đỗ Thị Ngọc) đã lý giải rõ ràng lại một lần nữa tại sao nói tại tổng cầu yếu là vớ vẩn.
 
(Xin tiết lộ rằng bài viết này cũng đã bị một tờ báo từ chối thẳng thừng, đại loại là không thể bàn về một vấn đề lớn như vậy trong một bài viết ngắn tũn như vậy, làm tớ tủi thân và xấu hổ mất 2 tiếng đồng hồ cho đến khi được TBKTSG nhận đăng).
 
Nhưng nói gì thì nói, chắc chắn chúng ta sẽ còn được nghe dài dài điệp khúc lạm phát thấp vì tổng cầu yếu (nền kinh tế suy thoái, kiệt quệ) này trong những tháng tới đây nếu lạm phát cứng đầu không theo hướng tăng lên như hàng năm. Tớ đã vốn sợ giới giáo sư tiến sĩ ở Việt Nam nay thì lại sợ thêm một bậc nữa.
 

Ảnh hưởng của thông tư 36 lên tiến trình cổ phần hóa (Bài đăng trên CafeF, 26/11)

http://cafef.vn/thi-truong-chung-khoan/anh-huong-cua-thong-tu-36-len-tien-trinh-co-phan-hoa-2014112608060552310ca31.chn

Thông tư 36/2014/TT-NHNN đã được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành và có hiệu lực từ 1/2/2015 với các giới hạn và tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
 
Do thông tư này có những điều khoản liên quan đến việc mua và nắm giữ cổ phiếu của doanh nghiệp nên nhiều người lo ngại nó có thể siết dòng vốn vào thị trường chứng khoán, làm giảm giá cổ phiếu và làm chậm quá trình cổ phần hóa.
 
Để trấn an, NHNN giải thích rằng giới hạn 5% vốn điều lệ, vốn được cấp là tổng mức dư nợ cấp tín dụng của các ngân hàng đối với tất cả các khách hàng để đầu tư kinh doanh cổ phiếu, chứ không phải là giới hạn cho đầu tư chứng khoán nói chung như trong các quy định trước đây, vốn có phạm vi rộng hơn. Thêm nữa, NHNN cũng cho biết cho đến nay tỷ lệ đầu tư cho cổ phiếu chỉ xoay quanh 4% (của vốn điều lệ/vốn tự có). Như thế, theo NHNN, Thông tư 36 không hoàn toàn siết vốn vào thị trường chứng khoán vì lâu nay thị trường chưa bao giờ dùng hết hạn mức cấp tín dụng cho cổ phiếu. Thậm chí NHNN còn cho rằng thông tư 36 còn thúc đẩy thị trường chứng khoán cả về nguồn lực và chất lượng vì nhiều ngân hàng có vốn điều lệ lớn chưa bao giờ dùng hết (hạn mức) 5% cho vay đầu tư cổ phiếu.
 
Về quan điểm trên của NHNN có mấy ý cần được làm rõ hơn như sau:
 
Thứ nhất, theo số liệu thống kê của NHNN, vốn tín dụng của ngân hàng đổ vào thị trường chứng khoán đã trên dưới 4%, nên so với hạn mức 5% thì “room” còn lại trong tín dụng cấp cho khách hàng để đầu tư kinh doanh cổ phiếu chỉ là trên dưới 1% tổng vốn điều lệ/vốn tự có của hệ thống ngân hàng.
 
Cũng theo số liệu thống kê trên Website của NHNN thì tổng vốn tự có của các ngân hàng thương mại (bao gồm ngân hàng Thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần và ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài) là 478.883 tỷ đồng, và vốn điều lệ là 411.940 tỷ đồng, tính đến tháng 9/2014.
 
Do đó 1% trên tổng vốn tự có hoặc vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại như nói trên sẽ tương ứng là 4.789 và 4.110 tỷ đồng. “Room” còn lại này sẽ là quá nhỏ để giúp cho thị trường chứng khoán hấp thụ thêm những đợt IPO lớn hàng nghìn tỷ đồng trong tương lai như những đợt IPO của Vietnam Airlines (1.093 tỷ) hoặc Vinatex (1.216 tỷ), chưa kể hàng loạt vụ IPO của các doanh nghiệp nhỏ hơn.
 
Nói cách khác, mặc dù hệ thống ngân hàng thương mại hiện tại vẫn chưa dùng hết hạn mức cấp tín dụng tương đương 5% vốn điều lệ/vốn tự có của mình, nhưng nếu như trong thời gian sắp tới việc cổ phần hóa và thoái vốn tại nhiều doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trong đó có nhiều doanh nghiệp quy mô lớn, sẽ được diễn ra đồng loạt theo đúng kế hoạch thì hoàn toàn có thể kỳ vọng có một phần (đáng kể) nhu cầu tín dụng để đầu tư kinh doanh những cổ phiếu mới phát hành và/hoặc do thoái vốn này sẽ không được đáp ứng bởi các ngân hàng thương mại do chúng đã hết “room”. Hậu quả sẽ là những cổ phiếu này sẽ bị ế và/hoặc buộc phải bán với giá rẻ (giả thiết là những điều kiện khác, ví dụ như sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài và luồng vốn của họ đổ vào, không thay đổi). Đây là một trong những trở ngại có thể sẽ cản trở tiến độ cổ phần hóa và thoái vốn của DNNN hoặc sẽ làm ảnh hưởng đến doanh thu của quá trình này.
 
Thứ hai, ngay cả việc NHNN cho rằng nhiều ngân hàng lớn vẫn chưa dùng hết hạn mức đầu tư cổ phiếu của mình cũng không làm thay đổi đáng kể được tình hình. Như đã tính toán ở trên, room cho vay đầu tư cổ phiếu còn lại tính cho cả hệ thống ngân hàng thương mại chỉ là dưới 5.000 tỷ đồng nên cho dù có một số ngân hàng (lớn) nào đó chưa dùng hết hạn mức thì tổng khối lượng tín dụng chúng có thể cho vay thêm vào thị trường chứng khoán cũng chỉ dưới con số 5.000 tỷ đồng này mà thôi.
 
Thứ ba, không phải ngân hàng thương mại nào cũng có khẩu vị mạnh trong việc cấp tín dụng cho khách hàng mua, đầu tư cổ phiếu, nên giới hạn 5% trên của NHNN sẽ làm hạn chế hơn nữa nguồn vốn đổ vào cổ phiếu nói chung và cổ phiếu mới từ thoái vốn/ cổ phần hóa DNNN nói riêng. Những ngân hàng nào có thể và muốn mở rộng tín dụng trong lĩnh vực này thì đã mở rộng hết mức được phép (5% tổng vốn điều lệ/vốn tự có của nó). Còn những ngân hàng khác chưa dùng hết hạn mức hoặc không quan tâm lắm đến thị trường cho vay cổ phiếu này thì trong hoàn cảnh bình thường Thông tư 36 này không có liên quan gì đến chúng cả.
 
Nhưng nếu xét trong trạng thái động thì khi nhu cầu tín dụng cho cổ phiếu không được thỏa mãn đầy đủ, nó sẽ góp phần đẩy lãi suất cho vay đầu tư cổ phiếu để hấp dẫn những ngân hàng nào vẫn còn room cho vay nhưng lại không mặn mà lắm đến lĩnh vực này tăng cường cho vay lĩnh vực này hơn. Kết cục là với chi phí tín dụng tăng làm giảm lợi nhuận đầu tư và kinh doanh cổ phiếu nói chung và cổ phiếu từ cổ phần hóa nói riêng, sự hấp dẫn của cổ phần hóa với nhà đầu tư cũng bị mai một (vẫn với giả định các điều kiện khác không thay đổi).
 
Nói cách khác, xét trên khía cạnh toàn bộ hệ thống cũng như từng ngân hàng thương mại thì Thông tư 36 rõ ràng sẽ làm hạn chế luồng vốn đổ vào thị trường cổ phiếu và/hoặc lãi suất của luồng vốn này cũng như giá của cổ phiếu. Do đó trên ý nghĩa này cũng có thể nói rằng Thông tư 36 sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình cổ phần hóa.
 
-------------------------------
Bổ sung: Tớ quên không đề cập thêm một yếu tố hạn chế vốn ngân hàng vào cổ phiếu nữa là chuyện ngân hàng chỉ được cho vay khi có tỷ lệ nợ xấu nhỏ hơn 3%. Như vậy, với thêm hạn chế này nữa thì vốn tín dụng ngân hàng cho đầu tư cổ phiếu càng hạn hẹp hơn.
 
 

Tuesday, 25 November 2014

Vai trò của FDI trong phát triển kỹ thuật và công nghệ (bài đăng trên TBKTSG Online, 25/11)

http://www.thesaigontimes.vn/123065/Vai-tro-cua-FDI-trong-phat-trien-ky-thuat-va-cong-nghe.html

Khu vực kinh tế FDI đang ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ví như một trong 4 động lực tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam (bên cạnh nông nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân). Tuy vậy, trong bối cảnh nền kinh tế đang trải qua thời kỳ tăng trưởng chậm lại sau giai đoạn mở cửa và cất cánh với sự đóng góp tích cực và rõ ràng của FDI, đồng thời khu vực FDI bộc lộ một số tiêu cực như chuyển giá, ô nhiễm môi trường, trả lương thấp và môi trường làm việc khắc nghiệt v.v... ngày càng có nhiều người hoài nghi về vai trò và đóng góp thật sự của FDI đối với nền kinh tế Việt Nam.
Ngay cả một đóng góp hiển nhiên và hết sức quan trọng của FDI cho nền kinh tế Việt Nam là chuyển giao, lan tỏa công nghệ và kỹ thuật – yếu tố thiết yếu cho sự phát triển và thịnh vượng của mỗi quốc gia – cũng bị nhiều người xem nhẹ khi cho rằng các doanh nghiệp FDI không hoặc không tích cực, miễn cưỡng chuyển giao công nghệ, hoặc chuyển giao công nghệ từ FDI là không đáng kể, thể hiện qua số lượng hợp đồng kinh tế với doanh nghiệp FDI có điều khoản chuyển giao công nghệ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số (có thống kê cho biết con số đâu như 10%).

Trong bài này ta sẽ làm rõ hơn về vai trò của khu vực FDI trong phát triển kỹ thuật và công nghệ đối với nước tiếp nhận, cũng như các điều kiện để tối ưu hóa vai trò tích cực này của FDI.
Với phần lớn các nước đang phát triển, tiến bộ công nghệ thường chỉ là quá trình du nhập và áp dụng công nghệ sẵn có từ nước ngoài, chứ không phải là quá trình sáng tạo ra công nghệ (mới). Bởi vậy, chuyển giao và làm lan tỏa công nghệ là một trong những tiền đề để xây dựng được năng lực công nghệ nội địa. Trên giác độ này, FDI đóng vai trò rất quan trọng trong các hoạt động công nghệ cao và cung cấp trọn gói kiến thức, trong khi đó hoạt động R&D của nó không chỉ còn được gói gọn ở quê hương của mình mà đang lan rộng ra các nước đang phát triển, góp phần nâng cao trình độ công nghệ của các nước này.

FDI có thể chuyển giao và làm lan tỏa công nghệ ở nhiều dạng, cả phần cứng và phần mềm, chính thức hay ngầm định, và thường thông qua sự tương tác với các doanh nghiệp địa phương, bên cạnh kênh R&D mà doanh nghiệp FDI tiến hành ngay tại nước bản địa.
Về phần cứng, công nghệ nằm sẵn trong các hàng hóa tư bản như máy móc và thiết bị. Khi nền kinh tế sở tại mua/tiếp nhận máy móc thiết bị thì hoặc mặc nhiên (ngầm định), hoặc theo thỏa thuận (chính thức) trong hợp đồng kinh tế, nó sẽ được hưởng các công nghệ và kỹ thuật hiện tại hoặc mới của thế giới cũng như kỹ năng và kiến thức cần thiết để sử dụng và làm chủ công nghệ và thiết bị đó.

Về phần mềm – yếu tố (ngày càng) quan trọng hơn – nó có thể bao  gồm các kỹ năng quản lý, tổ chức và điều hành sản xuất. Trong ngắn hạn, nền kinh tế sở tại sẽ được hưởng lợi do cải thiện năng suất, có thêm sản phẩm mới và hạ giá thành sản xuất nhờ tiếp nhận công nghệ và kỹ năng mới. Trong dài hạn hơn, sự hưởng lợi này sẽ phụ thuộc vào chính khả năng của nền kinh tế sở tại trong việc phát triển năng lực riêng của mình dựa trên những công nghệ và kỹ năng mới tiếp thu, cũng như khả năng nhân rộng những công nghệ và kỹ năng này ra toàn nền kinh tế, chứ không chỉ gói gọn trong doanh nghiệp và ngành kinh tế tiếp nhận công nghệ và kỹ năng đó.
Sự tương tác giữa doanh nghiệp FDI và bản địa sẽ giúp tăng cường mức độ lan tỏa công nghệ và kiến thức nhờ một số kênh như bắt trước, học và làm theo, tăng sự cạnh tranh, các liên kết chuỗi hạ nguồn và cả thượng nguồn, đào tạo và tăng tính lưu động của thị trường lao động có kỹ năng. Ví dụ, khi một doanh nghiệp FDI thâm nhập vào ngành nào đó, nó sẽ áp dụng cách thức sản xuất mới, công nghệ mới, hệ thống mua hàng và phân phối sản phẩm mới, hình thức marketing mới, tuyển dụng và đạo tạo mới... Những điều này có thể là mới mẻ với doanh nghiệp địa phương, tạo nên nhu cầu bắt trước và học hỏi từ phía chúng, từ đó tạo ra một loạt tập quán, thông lệ mới cũng như một trình độ sản xuất mới cao hơn.

Sự xuất hiện của doanh nghiệp FDI còn mang đến sự cạnh tranh mới, buộc những doanh nghiệp địa phương trong cùng ngành phải ra sức tự nâng cấp trình độ công nghệ và năng lực sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của mình nếu không muốn bị đào thải khỏi cuộc chơi. Quá trình này tất yếu sẽ buộc các doanh nghiệp địa phương phải du nhập công nghệ mới và kỹ năng tổ chức và quản trị mới mà chẳng cần phải một cơ quan chính quyền nào can thiệp, thúc giục.
Hoặc sự tương tác với doanh nghiệp địa phương còn ở dạng doanh nghiệp FDI sẽ đặt hàng cung ứng sản phẩm đầu vào và dịch vụ (liên kết chuỗi hạ nguồn và thượng nguồn) từ doanh nghiệp địa phương. Ví dụ, một doanh nghiệp FDI trong ngành chế tạo máy sẽ đặt hàng doanh nghiệp địa phương cung ứng bao bì đóng gói sản phẩm. Việc này không những giúp phát triển ngành bao bì in ấn và các dịch vụ, sản phẩm ăn theo, mà còn phát triển ngành thượng nguồn từ sản xuất giấy nguyên liệu đến làm bìa carton, cùng với đó là việc du nhập và áp dụng các công nghệ mới phù hợp với các ngành này. Cũng cần lưu ý một thực tế rằng khi cung ứng sản phẩm và dịch vụ cho các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp bản địa phải khá vất vả đáp ứng một loạt các điều kiện và tiêu chuẩn do doanh nghiệp FDI đặt ra để đảm bảo chất lượng và giá thành tối ưu của sản phẩm và dịch vụ mà họ đặt hàng. Quá trình điều chỉnh để đáp ứng được những điều kiện và quy định này tự thân nó đã là một quá trình nâng cấp công nghệ nói chung, từ phần cứng đến phần mềm, của doanh nghiệp bản địa nói riêng, cũng như của nền kinh tế bản địa nói chung. Đó là chưa kể trong nhiều trường hợp, các doanh nghiệp FDI khi đặt hàng thường cũng sẽ cung cấp các trợ giúp công nghệ, kỹ thuật, kiến thức, kỹ năng, và cả phần cứng (vật tư, phương tiện, thiết bị...) đã gói ghém trong đó nhiều công nghệ và bí quyết mới.

Liên quan đến lợi ích lan tỏa này, một số người lại cho rằng ở Việt Nam phần lớn lợi ích này rơi vào tay các doanh nghiệp FDI khác liên đới. Cho dù có thể là vậy, nhưng ngoài sự phiến diện khi có sự phân biệt doanh nghiệp đang hoạt động ngay trên lãnh thổ Việt Nam theo thành phần chủ sở hữu (vì dù là FDI hay trong nước thì chúng đều đóng góp vào nền kinh tế Việt Nam), ý kiến này bỏ qua thực tế là các doanh nghiệp FDI liên đới này đến lượt mình lại tạo ra những tác động tích cực và lan tỏa như đối với các doanh nghiệp FDI khác đến phần còn lại của nền kinh tế, theo kiểu “lọt sàng xuống nia”.

Trong chuyển giao công nghệ từ FDI, còn có một tác động tích cực do FDI mang đến mà ít được để ý và đánh giá cao. Đó là sự lan tỏa các kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm quản lý, quản trị, ngoại ngữ, bí quyết, am hiểu thị trường trong và ngoài nước, tay nghề... của người lao động. Lực lượng lao động này được đào tạo khá bài bản từ nhiều doanh nghiệp FDI, học và thực hành được nhiều kiến thức và kỹ năng mới để rồi sau đó họ mang đến áp dụng và phát huy ở những doanh nghiệp nội địa khác khi họ rời bỏ doanh nghiệp FDI. Chính bởi hiện thực này mà không khó thấy khi các cán bộ và nhân viên có trình độ ở các doanh nghiệp FDI lại được đón nhận một cách ưu đãi bởi các doanh nghiệp trong nước.

Về kênh chuyển giao công nghệ qua các hoạt động R&D tại bản địa, hiện các doanh nghiệp FDI ngày càng quốc tế hóa các hoạt động R&D của mình, chuyển các hoạt động này ra nước ngoài nơi chúng có chi nhánh, nhằm củng cố khả năng phát triển sản phẩm và năng lực sáng tạo của mình nhờ tận dụng chất xám của nhân viên bản địa với chi phí rẻ. Ngay ở Việt Nam, dù còn rất hữu hạn nhưng cũng đã có một số doanh nghiệp đa quốc gia lớn như Samsung, HP, Bosch, hay Panasonic thành lập các cơ sở R&D tại đây. Các hoạt động R&D bản địa này đến lượt chúng lại khuyến khích sự phát triển nhân lực, tạo hiệu ứng lan tỏa kiến thức (thông qua sự dịch chuyển lao động, bắt trước, và học hỏi), nâng cao tính cạnh tranh công nghiệp bản địa, vốn là những yếu tố thiết yếu cho khả năng học hỏi và tiếp thu công nghệ của nền kinh tế bản địa. Có không ít ví dụ thực tiễn về việc các nhân viên và kỹ sư R&D rời bỏ các trung tâm R&D của doanh nghiệp nước ngoài về làm việc cho các doanh nghiệp nội địa hoặc tự thành lập các doanh nghiệp của riêng mình để áp dụng những kiến thức và kỹ năng đã học được.

Đương nhiên, tiếp nhận chuyển giao và lan tỏa công nghệ, kỹ thuật từ doanh nghiệp FDI không phải là tự nhiên mà có, và đương nhiên sẽ diễn ra. Mức độ công nghệ và kỹ thuật được chuyển giao hay lan tỏa phụ thuộc vào một loạt các điều kiện phức hợp như ngành kinh tế nội địa mà doanh nghiệp FDI thâm nhập vào, cách thức và mức độ thâm nhập của chúng, khả năng tiếp nhận và hấp thụ của doanh nghiệp và nền kinh tế bản địa, và môi trường chính sách liên quan đến công nghệ và bảo vệ sở hữu trí tuệ của nước sở tại có tác dụng khuyến khích chuyển giao và lan tỏa công nghẹ thế nào.

Thông thường, những nước đang phát triển có mức thu nhập cao hơn sẽ có khả năng tiếp nhận nhiều hơn. Những nước đang phát triển ở mức thấp hoặc chậm phát triển vẫn chưa tham gia một cách tích cực được vào mạng lưới R&D toàn cầu của doanh nghiệp FDI để tạo ra những công nghệ mới. Trên giác độ này, rõ ràng không thể so sánh trường hợp của Việt Nam với những nước thành công hơn trong việc thu hút chuyển giao công nghệ như Trung Quốc và Malaysia, để rồi đổ lỗi cho FDI ở Việt Nam rằng họ không đóng góp đáng kể đến chuyển giao công nghệ ở đây.
Mức độ phát triển của nền kinh tế bản địa còn quyết định mức độ năng lực và khả năng học hỏi kỹ thuật và công nghệ của các chủ thể trong nền kinh tế bản địa. Những hạn chế liên quan này ở Việt Nam rõ ràng sẽ hạn chế sự năng động của thị trường thúc đẩy chuyển giao và nâng cấp công nghệ thông qua kênh liên kết chuỗi và tác động lan tỏa.

Cơ cấu theo ngành của các hoạt động FDI cũng quyết định một phần mức độ đóng góp vào tiến bộ công nghệ và kỹ thuật cho nước sở tại. Với một tỷ trọng khá lớn FDI ở Việt Nam chảy vào những ngành ít tạo ra giá trị gia tăng và các chuỗi liên kết với doanh nghiệp nội địa như khai khoáng thì tất yếu mặt bằng chuyển giao công nghệ nói chung ở Việt Nam sẽ thấp hơn ở những nước so sánh nơi mà FDI tập trung vào các ngành chế tạo và dịch vụ.

Sự trợ giúp chính sách tích cực từ phía nhà nước cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển giao và lan tỏa công nghệ từ FDI. Nhà nước cần thiết lập một khuôn khổ pháp lý cân bằng về quyền sở hữu trí tuệ tạo cơ sở cho sự phát triển năng lực công nghệ và tri thức. Sự nhất quán giữa chính sách FDI và các chính sách liên quan khác (đặc biệt là chính sách khoa học kỹ thuật và sáng chế) là điều quan trọng. Những điểm này hiện khá mờ nhạt ở Việt Nam.
Để thu hút và tận dụng hơn nữa những hiệu ứng tích cực từ các trung tâm R&D của doanh nghiệp nước ngoài, cần phải đáp ứng ngày càng nhiều hơn nhu cầu nhân lực lành nghề trong lĩnh vực công nghệ và khoa học với chi phí thấp, một cơ sở sản xuất lớn để áp dụng được thành quả của R&D. Theo đó, với những nước ở trình độ phát triển thấp như Việt Nam thì không có gì đáng ngạc nhiên khi địa phương hóa hoạt động R&D mới chỉ diễn ra ở một số hữu hạn doanh nghiệp FDI. Do đó, Việt Nam cũng cần củng cố khuôn khổ thể chế cho phát triển nguồn nhân lực có trình độ và cho sáng tạo.

Tóm lại, chuyển giao và làm lan tỏa công nghệ của doanh nghiệp FDI ở Việt Nam đã có thể diễn ra trên diện rộng, ở mức độ và quy mô lớn hơn những gì mà người ta thường nhìn thấy và cảm nhận. Tuy nhiên, thực tế là so với các nước thành công hơn, vai trò này của FDI bị hạn chế hơn, nhưng không phải hoàn toàn là do ý muốn chủ quan của doanh nghiệp FDI, mà còn bởi những hạn chế về năng lực hấp thu, về nguồn lực, thể chế và chính sách nội tại liên quan đến hoạt động FDI nói chung và chuyển giao công nghệ nói riêng.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2014, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam" forthcoming in "Emerging Markets Finance and Trade".

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).