Wednesday, 12 December 2018

Thúc đẩy khởi nghiệp - cách làm của Singapore (Bài đăng trên TBKTSG, 12/12/2018)

https://www.thesaigontimes.vn/282502/thuc-day-khoi-nghiep--cach-lam-cua-singapore-.html

Không phải ngẫu nhiên mà Singapore được xếp hạng một trong những nơi có môi trường khởi nghiệp tốt nhất thế giới, và cũng là nơi được nhiều người Việt chọn để thành lập các startup thay vì ở quê nhà.

Ngoài chuyện duy trì được một môi trường kinh doanh minh bạch với các thủ tục đăng ký và duy trì kinh doanh đơn giản, thông thoáng và nhanh gọn, Singapore còn có nhiều ưu đãi và hỗ trợ về tài chính cho doanh nghiệp Singapore, trong đó có một số ưu đãi dành cho doanh nghiệp của người nước ngoài được thành lập tại Singapore.

Chuyện ở Singapore
Thống kê sơ bộ thì Chính phủ Singapore tạo lập ít nhất bảy loại quỹ hoặc chương trình ưu đãi và hỗ trợ tài chính dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) và startup của người Singapore và, trong một số trường hợp, cho người nước ngoài.
Ưu đãi và hỗ trợ tài chính đầu tiên là ACE Startups Scheme, cung cấp 70% vốn đầu tư (tối đa là 50.000 đô la Singapore - SGD, khoảng 850 triệu đồng) cho người mang quốc tịch Singapore hay thường trú nhân (PR) lần đầu tiên trở thành doanh nhân và có ý tưởng mang tính sáng tạo. Tiêu chí lựa chọn là phải có sự độc đáo trong ý tưởng kinh doanh, tính khả thi của mô hình kinh doanh, đội ngũ lãnh đạo, và giá trị thị trường tiềm năng.
Hỗ trợ thứ hai là CDG (Trợ giúp phát triển năng lực) cung cấp hỗ trợ tài chính cho các startup để xây dựng năng lực trong 10 lĩnh vực kinh doanh. Quỹ này chi trả tới 70% (không quá 30.000 SGD) tổng chi phí tư vấn, phí chứng nhận, và chi phí thiết bị và đào tạo cho các startup. Đối tượng là tất cả các SME thành lập và hoạt động tại Singapore.
Hỗ trợ thứ ba là Quỹ mạo hiểm giai đoạn đầu (ESVF) trợ giúp cho các startup trong lĩnh vực công nghệ tại Singapore trong giai đoạn đầu khởi nghiệp. Quỹ cùng với các doanh nghiệp đầu tư mạo hiểm (VC) rót vốn thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm nắm cổ phần của các startup này. Startup khi được lựa chọn có thể nhận tới 3 triệu SGD từ quỹ.
Hỗ trợ thứ tư là PIC (Tín dụng cho sáng tạo và năng suất). Cơ quan thuế vụ Singapore có thể trả tiền mặt hoặc giảm trừ thuế cho các công ty Singapore khi đầu tư vào cải thiện năng suất và thúc đẩy sáng tạo. Hỗ trợ này sẽ chi trả phí nghiên cứu và phát triển, đăng ký bản quyền sáng chế, sáp nhập, mua sắm thiết bị tự động hóa, đào tạo nhân lực và thực thi các dự án được phê duyệt... Theo chương trình này, doanh nghiệp Singapore có thể hưởng miễn, giảm 400% thuế (tối đa 400.000 SGD) hoặc có thể chọn hưởng 40% mức chi trả bằng tiền mặt (tối đa 100.000 SGD). Chương trình hỗ trợ này sẽ chấm dứt trong năm 2018. 

Hỗ trợ thứ năm là FSTI (Hỗ trợ về công nghệ và sáng tạo trong khu vực tài chính), do MAS (Ngân hàng Trung ương Singapore) chịu trách nhiệm. MAS đã đầu tư tới 225 triệu SGD cho FSTI nhằm khuyến khích các tổ chức tài chính thành lập các trung tâm sáng tạo tại Singapore và hỗ trợ sự phát triển nền tảng công nghệ và các giải pháp sáng tạo trong toàn ngành. Đối tượng thụ hưởng là các tổ chức tài chính Singapore và những doanh nghiệp cung cấp giải pháp và công nghệ cho những tổ chức này. Nếu dự án hay giải pháp được chấp thuận, MAS sẽ chi trả tối đa 70% các chi phí hợp lý phát sinh (không quá 200.000 SGD) trong thời gian tối đa 18 tháng.
Hỗ trợ thứ sáu là TECS. Đây là quỹ hỗ trợ để thương mại hóa các ý tưởng của các công ty công nghệ đăng ký thành lập tại Singapore không quá năm năm, đang theo đuổi các giải pháp công nghệ mang tính đột phá, dựa trên giao thức mạng (Internet Protocol) và có khả năng thương mại hóa. TECS hỗ trợ ở hai dạng, về ý tưởng là 200.000 SGD, về giá trị là 500.000 SGD.
Cuối cùng là CEF, một hình thức hỗ trợ tương đối mới của Chính phủ Singapore cho các startup trong lĩnh vực xã hội, được thành lập bởi Bộ Phát triển gia đình và xã hội. Đối tượng thụ hưởng là các startup tuyển dụng và đào tạo người Singapore tàn tật. Mức thụ hưởng là 80% chi phí đầu tư và hoạt động, tối đa là 300.000 SGD, trong vòng hai năm hoạt động đầu tiên.
Như vậy, có thể thấy sự đa dạng về hình thức và nội dung hỗ trợ của Chính phủ Singapore dành cho SME và startup. Tuy vậy, nhìn chung các hỗ trợ này được thiết kế và hoạt động có trọng tâm rõ ràng, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực công nghệ, mang tính sáng tạo, thúc đẩy cải thiện năng suất, trừ quỹ hỗ trợ thứ bảy là dành cho lĩnh vực xã hội nhân văn.
Vận dụng vào trường hợp của Việt Nam
Đã vài năm trôi qua kể từ khi chủ trương hỗ trợ cho SME và phong trào khởi nghiệp được khuyến khích ở Việt Nam, kết quả trên thực tế vẫn còn khiêm tốn. Tại Diễn đàn Thanh niên khởi nghiệp 2018 do Trung ương Đoàn tổ chức hồi tuần rồi, một số đề xuất về giải pháp và hình thức hỗ trợ cho các startup cũng đã được nêu ra.
Trước tiên, điều đáng ghi nhận là diễn đàn đã tập trung vào chủ đề “Tìm giải pháp đột phá cho khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam”. Điều này gián tiếp tách bạch startup - khởi nghiệp với các ý tưởng mang tính sáng tạo, cần được khuyến khích, hỗ trợ - với việc khởi nghiệp thông thường, chủ yếu được hiểu dưới dạng mở ra một doanh nghiệp như là một kế sinh nhai, ví dụ mở nhà hàng, dịch vụ giao nhận...
Sự hỗ trợ có trọng điểm nói trên là cần thiết không chỉ ở Việt Nam mà ở mọi nơi trên thế giới trong bối cảnh nguồn lực chính phủ có hạn, và lĩnh vực công nghệ là một trong những lĩnh vực có nhiều tiềm năng thúc đẩy năng suất và tạo ra nhiều giá trị gia tăng, cả ở hiện tại và tương lai.
Chính phủ Việt Nam có thể nghiên cứu mô hình của Singapore để xây dựng có trọng điểm các loại hình và giải pháp hỗ trợ startup tại Việt Nam một cách phù hợp với hoàn cảnh tài chính của mình. Song song đó, cần tạo ra cơ chế để các quỹ đầu tư mạo hiểm cùng đồng hành với startup (và với Chính phủ) để giảm nhẹ gánh nặng tài chính và rủi ro cho các bên.
Điều lưu ý là mọi sự hợp tác, hỗ trợ tài chính của Chính phủ cần được gắn với kết quả cụ thể mang lại và có tính duy trì trong tương lai. Nói cách khác, Chính phủ không chỉ đóng vai trò “bà đỡ” cho startup mà còn có vai trò như một nhà đầu tư sẽ thu hồi được vốn và lợi nhuận, có thể dưới dạng những lợi ích xã hội mà startup tạo ra, tránh việc “ném” tiền vào hư không, theo phong trào. Cơ chế đánh giá và theo dõi kết quả đầu tư này cần được tạo lập một cách rõ ràng và nhất quán.

Monday, 10 December 2018

Khống chế chi phí lãi vay: Không bất hợp lý! (Bài đăng trên CafeF, 11/12/2018)

http://cafef.vn/khong-che-chi-phi-lai-vay-khong-bat-hop-ly-20181211094159354.chn

Nghị định 20/2017/NĐ-CP có hiệu lực từ 1/5/2017 quy định về quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có giao dịch liên kết được ban hành nhằm quản lý, chống thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp với các doanh nghiệp có quan hệ liên kết. Đối tượng áp dụng là doanh nghiệp cả trong và ngoài nước. 

Điều nổi cộm trong Nghị định 20 là điều khoản khống chế chi phí lãi vay. Theo đó, tổng chi phí lãi vay phát sinh trong kỳ của người nộp thuế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp không vượt quá 20% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh cộng với chi phí lãi vay, chi phí khấu hao trong kỳ của người nộp thuế (EBITDA). Khi đó, phần chi phí lãi vay vượt quá 20% sẽ bị coi là chi phí không hợp lý và bị tính thuế.
Quy định trên được nhìn nhận là sẽ tạo thêm nhiều gánh nặng và rào cản cho doanh nghiệp. Thậm chí, Hiệp hội Bất động sản Việt Nam (VNREA) cũng vừa mới gửi công văn "kêu cứu" lên Thủ tướng kiến nghị xem xét lại quy định này.
Cụ thể, VNREA cho rằng quy định khống chế chi phí lãi vay của Nghị định 20 có sự không thống nhất với Nghị định 43/2014/NĐ-CP. Căn cứ theo quy định trong Nghị định 43 thì doanh nghiệp bất động sản có quyền vay hoặc thực hiện các hình thức huy động vốn khác để triển khai dự án với tỷ lệ là từ 80 đến 85%. Như vậy, tỷ lệ chi phí lãi vay trên tổng lợi nhuận theo Nghị định 42 có thể cao hơn  tỷ lệ chi phí lãi vay theo Nghị định 20. Do đó, Nghị định 20 sẽ gây khó cho doanh nghiệp bất động sản trong việc huy động vốn.
Mặt khác, cũng theo VNREA, Nghị định 20 tạo ra rào cản trong việc cho vay nội bộ giữa công ty mẹ và công ty con, làm mất đi khả năng điều tiết sức mạnh chung của một tập đoàn và cơ hội đầu tư dài hạn vào các ngành nghề cần vốn lớn, có ý nghĩa lâu dài cho nền kinh tế.
Vì vậy, không chỉ VNREA mà một số chuyên gia đã kiến nghị nếu có áp dụng điều khoản trên thì chỉ áp dụng với doanh nghiệp có giao dịch liên kết, hoặc chỉ áp dụng với các khoản vay giữa các doanh nghiệp có mức lãi suất thấp hơn lãi suất cho vay trung bình trên thị trường, hoặc chỉ áp dụng cho doanh nghiệp nước ngoài.
Những kiến nghị trên, theo tác giả, là không hoàn toàn thích hợp. Hay nói cách khác, quy định trần chi phí lãi vay 205 của Nghị định 20 không phải là hoàn toàn bất hợp lý.
Trước tiên, việc so sánh các quy định có liên quan trong Nghị định 20 với Nghị định 43 là không thích hợp. Quy định trong Nghị định 20 là đặt ra trần chi phí lãi vay, nếu vượt trần này thì phần chi phí lãi vay sẽ bị tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Như vậy, Nghị định 20 không hề cấm, mâu thuẫn, hay vi phạm quy định về mức trần tối đa được huy động vốn trong Nghị định 43 (cho phép doanh nghiệp bất động sản vay tới 85% tổng vốn đầu tư). Để dễ hiểu hơn, có thể ví chuyện này với chuyện Chính phủ áp đặt hệ thống quota nhập khẩu, theo đó doanh nghiệp được phép nhập khẩu một mặt hàng nào đó với một định lượng tối đa là X tấn để được phép hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi 0%, và sẽ phải trả thuế nhập khẩu 20% nếu vượt định lượng này (với khối lượng không hạn chế).    
Thứ hai, và cũng tương tự như trên, Nghị định 20 cũng không tạo rào cản trong việc cho vay nội bộ giữa công ty mẹ và công ty con bởi nghị định này không có điều khoản nào cấm việc cho vay nội bộ này. Thay vào đó, nghị định này chỉ giới hạn mức chi phí lãi vay, gồm cho vay nội bộ, được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (tối đa là 20% của EBITDA). Với cùng logic trong ví dụ về quota nhập khẩu để được miễn thuế nói trên, công ty mẹ vẫn hoàn toàn được phép cho công ty con vay vốn, miễn là công ty con phải sẵn sàng chi trả phần thuế thu nhập doanh nghiệp phụ trội do vay quá định mức 20% này.
Nếu lo ngại rằng các khoản vay mà công ty mẹ vay về và cho công ty con vay lại sẽ bị áp trần hai lần thì VNREA hoặc các doanh nghiệp khác nên kiến nghị Chính phủ sửa lại Nghị định 20 theo hướng quy định và hướng dẫn rõ ràng khoản vay nội bộ thế nào và khi nào thì được miễn hoặc hoàn thuế ở cấp độ công ty mẹ hoặc công ty con để tránh tình trạng đánh thuế thu nhập doanh nghiệp 2 lần trên cùng một khoản vay.
Với kiến nghị chỉ áp dụng quy định về trần chi phí lãi vay đối với các khoản vay giữa các doanh nghiệp có lãi suất thấp hơn lãi suất cho vay trung bình trên thị trường, điều này tuy phần nào có lý (có lẽ vì khó có thể lý giải các doanh nghiệp có mối liên hệ lỏng lẻo lại sẵn lòng cho nhau vay với lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất thị trường) nhưng lại khó thực hiện trên thực tế mà không gây ra những rắc rối không cần thiết. Chẳng hạn, ai và chuẩn mực nào để xác định lãi suất cho vay trung bình trên thị trường? Liệu cái gọi là lãi suất trung bình trên thị trường này có đúng là như vậy không? Cần nhớ là ngay Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khi phải công bố mức lãi suất cho vay trên thị trường thì cũng chỉ có thể đưa ra được một phạm vi từ, ví dụ, 6% đến 9% mà không phải là một con số trung bình, vốn sẽ có nhiều ý nghĩa so sánh (giữa các thời kỳ, giai đoạn) hơn.
Còn riêng về kiến nghị chỉ áp dụng quy định về trần chi phí lãi vay với riêng doanh nghiệp nước ngoài, điều này không chỉ là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc đối xử bình đẳng cơ bản của WTO mà Việt Nam là một thành viên, mà còn sai ở chỗ là Nghị định 20 có đối tượng áp dụng là cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam.
Trên hết, cần lưu ý không chỉ Việt Nam mới là nước có quy định hạn chế về chi phí lãi vay được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp. Ví dụ, Trung Quốc thậm chí còn không cho phép vay mượn lẫn nhau giữa các công ty liên kết, trong khi Ấn Độ thì hạn chế chặt chẽ việc vay mượn này.

Thursday, 6 December 2018

Chấm dứt cho vay ngoại tệ sẽ không đẩy lãi suất VND lên cao! (Bài đăng trên CafeF, 7/12/2018)

http://cafef.vn/chuyen-gia-cham-dut-cho-vay-ngoai-te-se-khong-day-lai-suat-vnd-len-cao-20181207090430947.chn

Trước việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư 24/2015/TT-NHNN, một số người đã lo ngại nếu Thông tư sửa đổi này chấm dứt cho vay ngoại tệ với một số doanh nghiệp cho đến nay vẫn được phép vay ngoại tệ thì sẽ đẩy lãi suất cho vay VND lên cao. Và dù dự thảo Thông tư sửa đổi là để chống đô la hóa nhưng vì quan ngại tác động tiêu cực lên lãi suất VND như vậy nên họ cũng đề xuất phải có lộ trình chứ không chấm dứt ngay việc cho vay ngoại tệ này trong năm 2019.
Sở dĩ có quan điểm trên bởi đã có sự nhầm lẫn lớn giữa chống đô la hóa và lãi suất.
Nhưng trước khi đi sâu vào phân tích, cần nói luôn, về nguyên tắc, nếu đã thống nhất rằng chống đô la hóa là điều bắt buộc và cần thiết thì cần phải thi hành các giải pháp chống đô la hóa, bao gồm không cho vay ngoại tệ. Đương nhiên là chính sách nào cũng sẽ gây ra thiệt hại cho một nhóm đối tượng nào đó, nhưng vì lợi ích chung của nền kinh tế thì không thể vì sự thiệt hại của nhóm đối tượng đó mà "bàn chùn" hay ngập ngừng, thoái thác.
Hơn nữa, trên thực tế, NHNN đã có chủ trương và từng bước thực hiện chủ trương xiết cho vay ngoại tệ để chống đô la hóa từ nhiều năm nay, nên nay nói rằng doanh nghiệp cần thời gian để chuẩn bị và tránh sốc là điều không hợp lý (và dự thảo Thông tư sửa đổi trên cũng đã cho phép việc cho vay ngoại tệ được tiếp tục thêm mấy tháng nữa, chứ không phải dừng lại ngay).
Chuyển sang vấn đề chính là nếu ngừng cho vay ngoại tệ thì có làm cho lãi suất cho vay VND tăng lên không?
Giả sử cung tiền của NHNN ra nền kinh tế và hệ thống ngân hàng có thể cho vay là 100 VND. Bên cạnh đó, tín dụng ngoại tệ hệ thống ngân hàng có thể cung cấp giả sử tương đương 10 VND. Giả sử tiếp là toàn bộ lượng tín dụng ngoại tệ 10 VND này sẽ được doanh nghiệp vay để nhập khẩu hàng hóa, chứ không lợi dụng việc vay này để làm những việc không được phép như đầu cơ ngoại tệ v.v…
Điều gì sẽ xảy ra khi các ngân hàng phải ngừng cho doanh nghiệp vay ngoại tệ để nhập khẩu? Những người lo ngại nói trên có lẽ nghĩ rằng những doanh nghiệp nhập khẩu này sẽ chuyển sang vay VND. Theo đó, vì cầu tín dụng VND vẫn sẽ là 110 VND, trong khi cung VND vẫn chỉ có giới hạn là 100 VND, nên sự bất cân đối cung cầu tín dụng ngoại tệ này chắc chắn sẽ đẩy lãi suất cho vay VND lên.
Rất tiếc là không đúng như vậy. Như đã nói, nếu doanh nghiệp vay ngoại tệ để nhập khẩu thì cái họ cần là ngoại tệ chứ không phải là VND nên nếu không vay được ngoại tệ thì họ buộc phải dừng nhập khẩu. Tất nhiên là với nhiều doanh nghiệp nhập khẩu, việc dừng này là không thể nên họ buộc phải mua ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng (và thị trường tự do một cách không chính tắc).
Việc mua ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu thanh toán đơn hàng nhập khẩu hợp pháp thì không bị pháp luật ngăn cấm và chắc chắn sẽ được ngân hàng đáp ứng đầy đủ. Nên doanh nghiệp nhập khẩu cũng sẽ không bị ảnh hưởng tiêu cực gì từ chuyện cấm cho vay ngoại tệ của NHNN. Còn với cả nền kinh tế, do doanh nghiệp nhập khẩu không chuyển sang vay VND để nhập khẩu nên lãi suất cho vay VND cũng chắc chắn sẽ không tăng lên.
Sẽ có người băn khoăn là nếu doanh nghiệp nhập khẩu vay VND để mua ngoại tệ từ hệ thống ngân hàng thì phải chăng là việc này vẫn sẽ làm tăng lãi suất cho vay VND? Câu trả lời là không, vì khi doanh nghiệp nhập khẩu vay VND mua ngoại tệ, họ phải nộp VND cho ngân hàng và ngân hàng trả lại cho doanh nghiệp số ngoại tệ tương ứng với lượng VND mà doanh nghiệp chi trả cho ngân hàng. Vì vậy, do lượng VND mà doanh nghiệp rút ra khi vay ngân hàng sẽ (gần) đúng bằng lượng doanh nghiệp nộp lại cho ngân hàng để đổi lấy ngoại tệ nên rốt cuộc cung cầu VND không thay đổi và không làm cho lãi suất cho vay VND tăng lên như lo ngại.
Ngược lại, nếu cứ khăng khăng phải cho doanh nghiệp vay ngoại tệ, tức vẫn cứ phải chấp nhận hoặc muốn duy trì một mức độ nhất định đô la hóa, thì điều này sẽ dẫn đến hậu quả nhãn tiền là tỷ giá sẽ trở nên bất ổn, dễ dẫn đến việc doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, hoàn trả khoản vay ngoại tệ (vì doanh thu của họ là bằng nội tệ), từ đó kích hoạt sự phá sản hàng loạt doanh nghiệp theo kiểu dây chuyền và sự hoảng loạn của giới đầu tư mỗi khi có cú sốc tỷ giá do, ví dụ, khủng hoảng kinh tế v.v...
Nguy hiểm không kém, nếu doanh nghiệp vẫn cứ được phép vay ngoại tệ tương đương với 10 VND bên cạnh lượng cung tín dụng 100 VND như nói trên thì chính sách tiền tệ của NHNN sẽ mất bớt hiệu lực mỗi khi NHNN muốn, ví dụ, thắt chặt chính sách tiền tệ để giảm áp lực lạm phát.
Cụ thể hơn, nếu không tồn tại tình trạng đô la hóa và cả nền kinh tế chỉ có lượng tín dụng là 100 VND (không có tín dụng ngoại tệ) thì khi NHNN rút bớt 10 VND về, lãi suất VND chắc chắn sẽ tăng, dẫn đến thu hẹp chi tiêu và làm giảm áp lực lạm phát một cách hữu hiệu. Nhưng nếu cho phép ngân hàng cho doanh nghiệp vay lượng ngoại tệ tương đương 10 VND như trước đây thì khi NHNN rút bớt 10 VND về, lập tức một phần doanh nghiệp sẽ chuyển sang vay bằng ngoại tệ, thế chỗ hoàn toàn cho 10 VND bị NHNN rút về. Do không có doanh nghiệp nào phải thắt chặt chi tiêu (vì vẫn vay được đủ bằng nội tệ hoặc ngoại tệ như cũ, với lãi suất không đổi) nên áp lực lên lạm phát không giảm bớt đi như ý đồ của NHNN.
Tóm lại, từ phân tích trên có thể thấy rõ việc chống đô la hóa triệt để (thậm chí cần/nên chấm dứt cho vay bằng ngoại tệ với ngay cả doanh nghiệp xuất khẩu có nguồn thu bằng ngoại tệ) luôn là điều có lợi và cần làm, cần sớm đạt được để giảm thiểu bất ôn vĩ mô, trong khi việc này không hề làm tăng lãi suất cho vay VND như có người lo ngại và "bàn ra" như hiện nay.
Và trước những nhận định sai lầm này, NHNN cần tăng cường tuyên truyền lợi ích và ý nghĩa của việc ngừng cho vay ngoại tệ, chống đô la hóa, cũng như cương quyết thực hiện những giải pháp này của mình. 

Wednesday, 5 December 2018

Tỷ giá đang diễn biến "lạ", sẽ ra sao trong thời gian tới? (Bài đăng trên CafeF, 5/12/2018)

http://cafef.vn/ty-gia-dang-dien-bien-la-se-ra-sao-trong-thoi-gian-toi-20181205144530729.chn

Tỷ giá VND/USD đang có diễn biến "lạ" kể từ đầu tháng 12. Trong mấy phiên liên tiếp vừa qua, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều chỉnh tăng và đạt mức cao nhất từ trước đến nay là 22.757 VND/USD vào ngày 5/12. 

Động thái này diễn ra trong bối cảnh đồng USD trên thị trường thế giới đã suy yếu trở lại khi căng thẳng thương mại Mỹ-Trung chưa được giải quyết triệt để. Ở thị trường trong nước, tỷ giá VND/USD cũng giảm liên tục trong suốt cả tuần, cả trên thị trường tự do lẫn trong hệ thống ngân hàng.
Xoay quanh diễn biến này cũng như nhìn nhận ra sao về xu hướng của tỷ giá trong thời gian tới, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với chuyên gia, TS. Phan Minh Ngọc.
PV: Thưa ông, ông nhìn nhận thế nào về biến động của cặp tỷ giá VND/USD trong thời gian gần đây?
TS. Phan Minh Ngọc: Tôi thấy được ý định của NHNN chủ động để VND suy yếu đi so với USD, dù chưa thấy rõ thêm yếu tố bất lợi rõ ràng cho ổn định tỷ giá, không chỉ được thể hiện qua động thái điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm của NHNN mà còn được thể hiện thông qua động thái bán ngoại tệ kỳ hạn (forward) cho các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ âm và có nhu cầu mua ngoại tệ.
Cụ thể, NHNN bán ngoại tệ kỳ hạn cho các tổ chức tín dụng này trong 2 phiên 23 và 26/11, ngày đến hạn là 31/1/2019, tỷ giá bán kỳ hạn là 23.462 VND/USD, cao hơn đáng kể tỷ giá giao ngay hiện thời ở mức 23.375 VND.
PV: Trước những động thái trên của NHNN có phần trái chiều so với điều kiện thực tế, nhiều người cho rằng NHNN đón đầu trước đợt tăng lãi suất của Fed có nhiều khả năng sẽ diễn ra vào tháng 12 này bằng cách chủ động tăng tỷ giá VND/USD, còn ông đánh giá ra sao?
TS. Phan Minh Ngọc: Lý giải này có thể phần nào có lý, nhưng không giải thích thỏa đáng được tại sao NHNN lại sẵn lòng phá giá thêm VND, chấp nhận sự bất ổn định (tăng lên) của tỷ giá trong khi Chính phủ đã và đang có chủ trương không phá giá VND quá 2% trong năm nay (dù trên thực tế thì tỷ giá trong hệ thống ngân hàng đã vượt định mức này). Việc NHNN chủ động điều chỉnh tăng đáng kể tỷ giá trung tâm chắc chắn sẽ được dư luận nhìn nhận như một hành động "bật đèn xanh" cho xu hướng tỷ giá thời gian tới.
Sự "phá rào" trên của NHNN sẽ trở nên hoàn toàn hợp lý và phù hợp nếu chúng ta nhìn rộng bức tranh tỷ giá ra cả nền kinh tế. Như đã thấy, lãi suất liên ngân hàng đã tăng liên tục và đứng vững ở mức cao trong suốt mấy tháng nay, kéo theo lãi suất huy động tại các ngân hàng. Cuộc đua lãi suất huy động tại các ngân hàng đang làm tăng áp lực lên lãi suất cho vay doanh nghiệp, đe dọa đến khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng GDP trong những quý tới.
Một trong những nguyên nhân chính làm mặt băng lãi suất tăng lên trong thời gian qua là do NHNN buộc phải "hy sinh" sự ổn định lãi suất để đổi lấy sự ổn định tương đối của tỷ giá trong mấy tháng nay bất chấp các điều kiện hậu thuẫn cho tỷ giá trong và ngoài nước đang ngày càng bất lợi.
Do sự đánh đổi này là không mấy "dễ chịu" và cũng khó có thể khẳng định rằng việc đánh đổi để lãi suất tăng lên thay vì tỷ giá tăng lên là tốt hơn cho nền kinh tế nên NHNN có lẽ đã phải cân nhắc đến giải pháp xì hơi thêm chiếc van tỷ giá để giảm áp lực dồn nén lên van lãi suất.
PV: Song song với quyết định điều hành kể trên, NHNN còn đang dự thảo sửa đổi Thông tư 24 về quy định cho vay bằng ngoại tệ, theo ông liệu đây có phải là chủ ý của NHNN, là một tín hiệu khác nữa với tỷ giá thời gian tới?
TS. Phan Minh Ngọc: Đúng vậy. Chúng ta đang có điều đáng lưu tâm là song song với quyết định xả van tỷ giá, NHNN đã tiến hành một động thái khác rất quan trọng và có ý nghĩa trong việc giảm thiểu tác động bất lợi của việc phá giá VND đó là việc NHNN tiếp tục xiết chặt thêm nhu cầu tín dụng ngoại tệ cho các doanh nghiệp thông qua dự thảo sửa đổi Thông tư 24 về quy định cho vay bằng ngoại tệ của ngân hàng với khách hàng là người cư trú. Theo dự thảo, chủ yếu chỉ các doanh nghiệp xuất khẩu mới được vay ngoại tệ để thanh toán chi phí trong nước để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu.
Việc xiết lại nhu cầu vay ngoại tệ trên sẽ ngăn chặn và giảm thiểu tác động tiêu cực lên cung cầu ngoại tệ trước các đợt biến động mạnh của tỷ giá VND/USD, ít nhất là trong hệ thống ngân hàng. Do doanh nghiệp không còn được dễ dàng vay ngoại tệ, nếu không có nguồn thu ngoại tệ, nên khi tỷ giá biến động mạnh sẽ không gây ra trạng thái mất khả năng chi trả (bằng ngoại tệ) của các doanh nghiệp do tỷ giá đã tăng cao bất lợi cho họ. Điều này đương nhiên sẽ có tác dụng như một chiếc gối giảm sốc hữu hiệu cho các cơn biến động tỷ giá, không dẫn đến làn sóng phá sản của doanh nghiệp cũng như các cuộc tháo chạy hoảng loạn của giới đầu tư, đầu cơ như trước nữa.
Tóm lại, tôi cho rằng, NHNN dường như đang có chủ ý để VND suy yếu thêm so với USD nhằm giảm áp lực đã gia tăng mạnh lên lạm phát như là hậu quả của việc bảo vệ tỷ giá trước đây, mặc dù điều kiện thực tế cho thấy NHNN vẫn có khả năng ổn định tỷ giá nếu muốn. Và khác với những đợt điều chỉnh tỷ giá trước đây trong thế bị động, NHNN lần này đã sẵn sàng và chủ động với tỷ giá khi đã "dọn đường" cho việc điều chỉnh tỷ giá bằng động thái xiết chặt thêm nhu cầu vay ngoại tệ. Đây là một động thái hết sức hợp lý và đáng hoan nghênh.
Xin cảm ơn những chia sẻ của ông

Tùng Lâm (thực hiện)

Theo Nhịp sống kinh tế

Monday, 3 December 2018

Ì ạch cổ phần hóa - chung quy chỉ là chữ “lờn”! (Bài đăng trên TBKTSG, 3/12/2018)

https://www.thesaigontimes.vn/282197/i-ach-co-phan-hoa--chung-quy-chi-la-chu-lon-.html

Nhớ lại, khi còn đang làm việc tại một ngân hàng Nhật Bản ở Singapore, người viết có theo dõi khá kỹ kế hoạch và tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (cũng như tiến trình thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp vì việc này liên quan trực tiếp đến cơ hội kinh doanh của ngân hàng. Nhưng sau một vài báo cáo sơ bộ đánh giá tình hình và cơ hội, tôi gần như “buông xuôi” vì không nhìn thấy mấy triển vọng khả quan.

Quả thật, tình hình trên thực tế có thể nói là rất tệ. Báo cáo của Bộ Tài chính mới đây cho thấy năm 2018 không cổ phần hóa được doanh nghiệp nào theo kế hoạch. Năm 2017 có khá hơn một chút là đã cổ phần hóa được một số trong kế hoạch (và một số lại chỉ được thực hiện trong năm 2018). Cho đến nay mới chỉ cổ phần hóa được 27/127 (21%) doanh nghiệp trong kế hoạch 2017-2020 được Thủ tướng phê duyệt.
Về số lượng là như vậy, về chất lượng cũng không khá hơn. Báo cáo trên cho thấy khi bán cổ phần lần đầu ra công chúng, còn nhiều doanh nghiệp bán được tỷ lệ rất thấp so với phương án đã được phê duyệt, thậm chí chưa đạt đến 1% (như Tổng công ty Máy và Thiết bị công nghiệp chỉ đạt 0,1%, Tổng công ty Sông Đà chỉ đạt 0,8%).
Tương tự, việc thoái vốn cũng rất chậm, cho đến nay mới chỉ có 31/316 doanh nghiệp đã thoái vốn theo kế hoạch trong năm 2017 và 2018. Chưa hết, việc bàn giao quyền đại diện vốn chủ sở hữu nhà nước về Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) cũng chậm trễ, với 35 doanh nghiệp hiện chưa được bàn giao.

Về nguyên nhân, như thường lệ, được Chính phủ chỉ ra hoặc thừa nhận, đó là sự thiếu trách nhiệm của một bộ phận lãnh đạo các doanh nghiệp. Và cũng như thường lệ, Chính phủ cam kết sẽ có những biện pháp xử lý trách nhiệm người đứng đầu trong việc chậm thực hiện các quyết định về cổ phần hóa và thoái vốn. Những nguyên nhân và biện pháp với cam kết này đã được lặp đi lặp lại quá nhiều lần, tại nhiều thời điểm, trong nhiều sự kiện, bởi nhiều cơ quan và quan chức hữu trách. Nhưng điều quan trọng là mọi việc vẫn gần như “giậm chân tại chỗ”, dường như chẳng có “người đứng đầu” nào bị vạch mặt, chỉ tên chứ chưa nói là bị xử lý trách nhiệm một cách nghiêm túc.
Đã biết nguyên nhân, đã có biện pháp, đã thể hiện quyết tâm và sự quyết liệt mà tình hình không có mấy biến chuyển thì chỉ có thể quy cho một nguyên nhân của mọi nguyên nhân là sự “lờn”, coi thường pháp luật và sự chỉ đạo của “một bộ phận lãnh đạo”, và sự bất lực của luật pháp cũng như của “một bộ phận lãnh đạo” ở cấp cao hơn (và cấp cao nhất) trong việc buộc “một bộ phận lãnh đạo” ở cấp thấp hơn thực thi kế hoạch cổ phần hóa và thoái vốn.
Điều đáng quan ngại là trước tình hình “lờn” pháp luật và bất lực trong việc buộc tuân thủ trên, đã xuất hiện xu hướng “bàn ra”. Theo đó, có một số ý kiến cũng như chỉ đạo gần đây cho rằng cổ phần hóa không nên hay không được chạy theo tiến độ, lấy thực chất là chính, tránh chuyện dồn ép mà không đạt hiệu quả tối đa...
Cần nhớ rằng chủ trương, đối tượng và kế hoạch cổ phần hóa và thoái vốn đã được chuẩn bị từ rất lâu, phải qua rất nhiều tầng lớp chỉ đạo và phê duyệt từ cơ sở lên đến tận thậm chí là Chính phủ, với quy trình đầy đủ các bước, tính đến nhiều yếu tố thiệt hơn về điều kiện và hoàn cảnh nội tại và bên ngoài. Chưa hết, các thủ tục và quy định pháp lý liên quan đến cổ phần hóa và thoái vốn cũng không ngừng được bổ sung và hoàn thiện... nên việc chạy theo tiến độ, bị “dồn nén” chẳng qua chỉ là kết quả của việc kế hoạch cổ phần hóa và thoái vốn đã không được thực hiện nghiêm và đúng ngay từ đầu.
Nói cách khác, lẽ ra thay vì phải kiên quyết xử lý theo đúng quy định của pháp luật với “một bộ phận lãnh đạo” đã thiếu trách nhiệm để làm gương, cách nói mang tính thoái thác như trên chẳng khác nào “vẽ đường cho hươu chạy”, tạo ra một cái cớ ngụy biện cực kỳ đắc dụng cho những người có trách nhiệm trong cổ phần hóa và thoái vốn cố tình không hoàn thành trách nhiệm này.
Cứ như vậy, sẽ không có gì là lạ nếu tiến trình cổ phần hóa và thoái vốn tiếp tục ì ạch trong những năm tới với lý do không thể hợp lý hơn là do phải đảm bảo thực chất và hiệu quả tối đa...
Sự “lờn” còn được thể hiện qua hàng loạt vụ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng liên quan đến cổ phần hóa và thoái vốn mà không bị “tuýt còi” kịp thời để đến mức mà gần đây buộc phải đưa ra chủ trương thu hồi lại tài sản doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa. Sự “lờn” luật này còn tệ hơn sự “lờn” luật trong chậm trễ cổ phần hóa và thoái vốn.
Nếu như ở các trường hợp chậm trễ cổ phần hóa và thoái vốn thường có nguyên nhân là các cơ quan hữu trách liên đới, nhất là các cấp, cá nhân có thẩm quyền phê duyệt cuối cùng, đã thiếu trách nhiệm trong việc đốc thúc tiến trình cổ phần hóa theo kế hoạch, thì trong các vụ việc sai phạm nghiêm trọng về cổ phần hóa và thoái vốn có nguyên nhân chủ yếu là các cơ quan, cá nhân liên đới này đã (cố tình) nhắm mắt làm ngơ hoặc trực tiếp đưa ra các quyết định sai trái có chủ ý. Vì vậy, trong trường hợp này, có thể nói họ đang coi thường, ngồi trên pháp luật.
Sắp tới, để tiến trình cổ phần hóa, thoái vốn tăng tốc, trước tiên, dư luận cần thấy một vài khuôn mặt điển hình, một vài vụ việc vi phạm quy định về cổ phần hóa, thoái vốn được mang ra xử lý theo pháp luật để làm gương. Làm được như vậy, xã hội sẽ yên tâm là chủ trương cổ phần hóa sẽ được thực thi nghiêm túc.

Friday, 30 November 2018

Nên chấm dứt hoàn toàn cho vay bằng ngoại tệ (Bài đăng trên TBKTSG, 1/12/2018)

https://www.thesaigontimes.vn/282192/nen-cham-dut-hoan-toan-cho-vay-bang-ngoai-te-.html

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2015/TT-NHNN về quy định cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng là người cư trú.

Dự thảo này có ba điểm mới liên quan đến vấn đề đô la hóa. Thứ nhất, cho vay ngắn hạn để nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ cho nhu cầu trong nước thì được thực hiện đến hết ngày 31-3-2019. Thứ hai, cho vay trung, dài hạn để thanh toán nhập khẩu thì thực hiện đến hết ngày 30-9-2019. Thứ ba, cho vay ngắn hạn để thanh toán chi phí trong nước để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu thì không bị giới hạn về thời gian (trước đây thì quy định là đến hết ngày 31-12-2018).
Như vậy, dự thảo lần này nếu được thông qua sẽ là một bước hiện thực hóa chủ trương hạn chế tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế, từng bước thực hiện lộ trình chuyển dần từ quan hệ huy động - cho vay sang quan hệ mua - bán ngoại tệ của Chính phủ.

Cụ thể hơn, việc cho vay cả ngắn hạn lẫn trung và dài hạn để nhập khẩu đáp ứng nhu cầu trong nước - về nguyên tắc, là những hoạt động không được khuyến khích vì góp phần tạo thâm hụt thương mại, chèn lấn sản xuất trong nước, gây bất ổn vĩ mô - đã được chặn bằng các mốc thời gian khá gần (tối đa là ba và chín tháng tới, đến hết ngày 30-9-2019). Việc đặt ra các mốc thời gian trên có thể là để các doanh nghiệp nhập khẩu có thời gian thích nghi trước khi việc vay vốn để nhập khẩu cho tiêu dùng trong nước của họ bị chấm dứt hoàn toàn (nếu thông tư này không bị tiếp tục sửa đổi).
Tuy nhiên, mặt khác, việc không giới hạn về thời gian cho vay ngoại tệ để thanh toán chi phí trong nước để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu về bản chất lại đang đi ngược chủ trương chống đô la hóa, và, quan trọng không kém, vẫn tạo ra rủi ro cho sự ổn định của tỷ giá.
Có lẽ do cách hiểu về thước đo đô la hóa ở Việt Nam chỉ là tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ trong tổng tiền gửi cá nhân và tổ chức nên mới có quy định nới lỏng như trên. Cần giải thích thêm ở đây là thông tư quy định tiền vay ngoại tệ phải bán lại ngay cho ngân hàng cho vay. Với cách thức này, cơ quan chức năng quan niệm rằng ngoại tệ không được đưa vào lưu thông mà quay trở lại ngay hệ thống ngân hàng (nên không làm tăng tình trạng đô la hóa). 
Thực ra, do mức độ đô la hóa rất khó đo lường trên thực tế nên người ta mới phải lấy thước đo tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ trong tổng số tiền gửi trong nước để làm một chỉ số. Với thước đo này, khi người vay ngoại tệ buộc phải bán lại ngoại tệ vay được cho ngân hàng thì đúng là tiền gửi ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng không tăng tương ứng (vì người vay ngoại tệ không cầm được số ngoại tệ vay được này để gửi vào ngân hàng), do đó không làm tăng tình trạng đô la hóa.
Tuy nhiên, nếu đô la hóa được hiểu trên nghĩa rộng là ngoại tệ được sử dụng thay cho nội tệ trong các giao dịch trong nước thì bản thân việc cho phép ngân hàng cho vay bằng ngoại tệ cũng đã là một hình thức làm trầm trọng thêm nạn đô la hóa, vì giao dịch cho vay giữa ngân hàng và khách hàng đã thực sự diễn ra bằng ngoại tệ, còn tiền đồng thì bị gạt qua một bên.
Nếu chỉ dừng lại ở mặt câu chữ và ý nghĩa thì tình trạng đô la hóa như đề cập ở trên cũng chưa cho thấy có nguy hại, rủi ro gì. Nhưng hãy hình dung khi người vay không thu được số ngoại tệ đúng như kế hoạch vì những lý do khách quan (ví dụ, đơn hàng xuất khẩu bị ách tắc, hủy bỏ). Khi đến hạn thanh toán khoản vay ngân hàng bằng ngoại tệ, người vay sẽ buộc phải mua ngoại tệ để trả lại cho ngân hàng vì không có nguồn thu bằng ngoại tệ nữa. Điều này gây ra bất ổn về tỷ giá tương tự như khi ngân hàng cho doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa vay để bán trong nước - là mục đích vay hiện nay không còn được phép nữa.
Sự bất ổn về tỷ giá này càng trở nên trầm trọng trong bối cảnh có căng thẳng về cung cầu ngoại tệ, làm cho doanh nghiệp xuất khẩu tìm mọi cách (lách) găm ngoại tệ lại để bán trong tương lai với tỷ giá cao hơn, còn hiện tại thì sẽ vay tiền đồng để mua ngoại tệ với tỷ giá thấp hơn để tất toán khoản vay.
Do đó, nếu thực sự vì mục tiêu chống đô la hóa và, vì thế, giảm được rủi ro tỷ giá, tăng cường ổn định vĩ mô, thì dự thảo thông tư cũng cần đặt ra mốc thời gian để tiến tới chấm dứt hoàn toàn cho vay bằng ngoại tệ kể cả với doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu.
Tất nhiên là khi chấm dứt cho vay ngoại tệ với doanh nghiệp xuất khẩu (thực chất đây là một hình thức trợ giá cho xuất khẩu) thì doanh nghiệp xuất khẩu sẽ không còn được hưởng lợi so với các doanh nghiệp khác. Nhưng nếu muốn hỗ trợ các doanh nghiệp này thì có thể áp dụng hình thức cam kết cung ứng (bán) ngoại tệ đầy đủ và kịp thời cho nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu của họ. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong các thời điểm căng thẳng về tỷ giá. Và nếu Chính phủ muốn ưu đãi thêm nữa thì bán với tỷ giá ưu đãi.
Tất nhiên, đổi lại, điều kiện là các doanh nghiệp này phải đã và luôn bán ngoại tệ cho ngân hàng (trước đó). Nhưng lưu ý là làm gì thì làm, cần tránh khả năng bị nước khác cáo buộc chúng ta trợ giá cho xuất khẩu, gồm cho vay ngoại tệ với riêng doanh nghiệp xuất khẩu.
Hình thức chuyển từ cho vay sang bán ngoại tệ trên còn có thể áp dụng ngay với cả doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu. Với những doanh nghiệp này, việc bán ngoại tệ thay vì cho vay càng trở nên cần thiết vì xăng dầu đang (được kỳ vọng) ngày càng phản ánh đúng các điều kiện thị trường, gồm cả tỷ giá và chi phí tài chính (lãi vay).



Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).