Sunday, 27 July 2014

Năng suất lao động Việt Nam thấp do đâu? (Bài đăng trên Doanh nhân Sài Gòn 28/7/2014 , bản gốc)

http://www.doanhnhansaigon.vn/online/dien-dan-doanh-nhan/thoi-su/2014/07/1082748/nang-suat-lao-dong-viet-nam-thap-do-dau/

Mới đây, theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) năng suất lao động của Việt Nam năm 2013 thuộc nhóm thấp nhất Châu Á – Thái Bình Dương; ví dụ, thấp hơn Singapore, Nhật và Hàn Quốc lần lượt là 15 lần, 11 lần và 10 lần. Ngay cả so với các nước ASEAN có mức thu nhập trung bình, năng suất lao động của Việt Nam vẫn có khoảng cách lớn, chỉ bằng một phần năm Malaysia và hai phần năm Thái Lan.
Cũng đáng chú ý là hiện tốc độ tăng của năng suất lao động đang giảm đi tại Việt Nam. Trong giai đoạn 2002-2007, năng suất lao động tăng trung bình 5,2%/năm - mức cao nhất trong khu vực. Tuy nhiên, kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, tốc độ tăng năng suất trung bình hàng năm của Việt Nam chậm lại, chỉ còn 3,3%/năm.
Một số chuyên gia cho rằng nguyên nhân của tình trạng năng suất lao động ở Việt Nam thấp là do, ví dụ, lao động chưa được đào tạo phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp, thể lực người lao động kém, kỹ năng yếu, kỹ thuật và công nghệ sản xuất thấp v.v... Nên, cứ thế mà suy ra, để cải thiện năng suất lao động thì tất nhiên phải khắc phục những mặt yếu kém này, ví dụ phải củng cố nguồn nhân lực, tăng cường thể chất, kỹ năng và trình độ người lao động, áp dụng kỹ thuật và công nghệ sản xuất tiên tiến.
Nhưng mọi chuyện đều không đơn giản, đúng hơn là không thẳng tuột như thế!
Để tìm đúng nguyên nhân năng suất lao động thấp thì trước tiên cần hiểu đúng khái niệm năng suất lao động. Theo định nghĩa chung nhất, năng suất lao động đo lường lượng hàng hóa và dịch vụ được tạo ra trong một giờ lao động.
Vì không thể đo lường năng suất lao động của những người lao động thuộc các ngành nghề khác nhau tạo ra những sản phẩm và dịch vụ khác nhau (chẳng hạn không thể so sánh để biết năng suất lao động của một công nhân xây dựng liệu có cao hơn một công nhân dệt trong một giờ làm việc hay không nếu chỉ sử dụng sản phẩm họ tạo ra tương ứng là bao nhiêu m2 tường và bao nhiêu m2 vải), nên người ta sử dụng một đại lượng chung, đó là giá trị GDP ròng, hoặc giá trị gia tăng (đo bằng đơn vị tiền tệ), tạo ra trong một giờ lao động.
Với khái niệm và cách đo lường năng suất lao động như trên, có thể nói một cách khái quát rằng năng suất lao động tỷ lệ thuận với tổng GDP của cả nền kinh tế và tỷ lệ nghịch với tổng số giờ lao động tiêu tốn trong cả nền kinh tế để làm ra từng đó GDP. Như vậy, với cùng quy mô dân số và lao động (giả thiết là cùng một cơ cấu dân số) thì nước nào có GDP lớn hơn sẽ có năng suất lao động cao hơn nước kia.
Trở lại với kết quả so sánh năng suất lao động nói trên của ILO. Không có gì đáng ngạc nhiên khi năng suất lao động của Việt Nam lại quá thấp so với những nước phát triển như Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, nơi có GDP bình quân đầu người đều cao tới hơn chục lần so với Việt Nam. Cũng tương tự nếu so với Malaysia và Thái Lan, nơi có thu nhập GDP bình quân đầu người gấp dăm lần Việt Nam thì mức chênh lệch dăm lần về năng suất lao động là một sự thật chẳng nên lấy làm ngạc nhiên.
Đến đây ta đã rõ hơn về nguồn gốc của chênh lệch năng suất lao động giữa Việt Nam và các nước khác. Do đó, để giảm chênh lệch này thì đương nhiên phải lấp đi khoảng cách về thu nhập bình quân đầu người. Mà để giảm chênh lệch thu nhập bình quân đầu người thì phải tăng tốc độ tăng trưởng GDP. (Và từ đây có thể giải thích được tại sao tốc độ tăng trưởng năng suất lao động của Việt Nam lại chậm lại kể từ 2008 đến nay, như ILO chỉ ra bên trên. Đó là do tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đã tụt giảm đáng kể so với giai đoạn tăng trưởng cao 2002-2007 trước đó).
Nhưng để nâng tốc độ tăng trưởng GDP nhằm tăng năng suất lao động thì ta lại vấp phải bài toán khó vốn đang là đề tài nổi cộm hiện nay mà vì thế mới phải có những việc lớn như tái cơ cấu nền kinh tế, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy kinh tế tư nhân và FDI, cải cách thể chế, tăng cường hòa nhập với nền kinh tế thế giới v.v...
Chưa kể, nâng tốc độ tăng trưởng GDP và tăng năng suất lao động hóa ra lại là vấn đề con gà và quả trứng. Vì tăng năng suất lao động cũng chính là giải pháp chính để cải thiện tốc độ tăng trưởng GDP.
Cũng may, để tăng GDP hay tăng năng suất lao động thì đều cần phải có vốn tư bản (nôm na: phải có tiền để đầu tư mua máy móc, công cụ làm việc, càng nhiều tiền thì càng mua được máy móc, công cụ tốt), công nghệ mới (có công nghệ mới, ví dụ dùng tự động hóa, có thể giảm được số người làm việc), và vốn con người (người lao động có kiến thức và kỹ năng tốt thì mới sử dụng và làm chủ được công nghệ mới, thiết bị mới, mới tổ chức được sản xuất một cách hợp lý...). Nhưng bản thân công nghệ mới và vốn con người suy cho cùng lại đều phụ thuộc vào vốn tư bản ở một mức độ lớn (có tiền thì mới có khả năng đầu tư cho công nghệ cao, hiện đại, đầu tư vào giáo dục, đào tạo nhân lực v.v...).
Tất nhiên, có tiền mới chỉ là điều kiện cần, và điều kiện đủ là phải tiêu số tiền đó ra sao cho hợp lý, ví dụ, phải biết dành bao nhiêu cho đầu tư vào máy móc, thiết bị, bao nhiêu vào ngành nào, lĩnh vực nào, bao nhiêu vào đào tạo và nâng cao thể chất, kỹ năng, trình độ người lao động, và biết làm thế nào để tránh bị mất mát do tham nhũng, lãng phí, hay thậm chí do tham lam, vĩ cuồng và ngu xuẩn đem tiền đi đổ vào những cái thùng không đáy v.v...
Như vậy, nói cho cùng, nguyên nhân của năng suất lao động, và rộng hơn là thu nhập bình quân đầu người, thấp kém ở Việt Nam là do thiếu tiền và thiếu (những cái đầu biết) cách tiêu tiền cho hợp lý, đúng đắn nhất. Nếu lại hỏi tiếp và để trả lời tiếp tại sao Việt Nam lại thiếu những cái này thì chỉ còn cách đổ tại... số phận! 

Wednesday, 16 July 2014

Về đâu chính sách tỷ giá? (Bài đăng trên TBKTSG, 17/7/2014, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/117608/Ve-dau-chinh-sach-ty-gia?.html

Sau khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng lên thêm 1 điểm phần trăm nữa với lý do để hỗ trợ xuất khẩu, tỷ giá đã có những diễn biến lạ. Sau một thời gian tăng khá mạnh lên gần mức trần trong mấy ngày đầu tiên sau điều chỉnh, tỷ giá hiện đã giảm mạnh về gần mức trước khi điều chỉnh.

Một trong những lý do hiển nhiên cho tình trạng này là cung ngoại tệ có thể đang rất dồi dào, thể hiện qua thông báo của NHNN rằng họ đang tiếp tục mua vào ngoại tệ để nâng dự trữ ngoại hối. Nhưng mặt khác, nếu xét đến lý do NHNN đưa ra trong đợt điều chỉnh  tỷ giá vừa rồi, rằng không phải là do áp lực cung cầu ngoại tệ mà là để thúc đẩy xuất khẩu, thì người ta có thể thấy sự bất nhất trong chính sách tỷ giá của NHNN.
Nếu đã định thúc đẩy xuất khẩu thì, về nguyên tắc, NHNN phải duy trì một tỷ giá cao hơn trước đây (tức làm VND yếu đi). Trong bối cảnh cung ngoại tệ tăng mạnh thì NHNN càng phải tích cực mua vào ngoại tệ với tỷ giá cao hơn trước để sao cho tỷ giá VND trong hệ thống ngân hàng và trên thị trường tăng thêm quanh quẩn 1 điểm phần trăm, tạo thuận lợi cho xuất khẩu đúng như ý đồ.

Nay tỷ giá chỉ tăng nhẹ hoặc hầu như không tăng so với trước đây cho thấy khả năng NHNN hoặc đã không tích cực mua vào USD, và/hoặc đã không mua với tỷ giá cao hơn đáng kể so với trước đây. Nếu đúng như vậy thì có thể kết luận rằng NHNN không muốn để VND yếu đi (so với hiện tại) và vì thế, mục đích đợt điều chỉnh tỷ giá vừa rồi thực chất không phải là để hỗ trợ xuất khẩu như tuyên bố.
Cùng với việc NHNN tiếp tục hút VND về thông qua kênh tín phiếu NHNN và tốc độ tăng trưởng tín dụng vẫn chậm, trong khi lượng vốn lớn của ngân hàng tiếp tục đổ vào trái phiếu chính phủ có thể suy luận rằng thanh khoản VND hiện đang dồi dào ở mức dư thừa. Trong bối cảnh này, có thể đối với NHNN nỗi lo ngại chính vẫn là nếu để VND mất giá như đã định thì sẽ lại có thêm một lượng lớn VND được tung thêm ra lưu thông, làm trầm trọng thêm tình trạng dư thừa VND, tăng áp lực lạm phát. Mà với mục tiêu chính sách đặt kiềm chế lạm phát là ưu tiên hàng đầu thì sẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi chính sách tỷ giá của NHNN trên thực tế vẫn thiên về giữ ổn định tỷ giá để giảm áp lực lạm phát, thay vì để nó tăng lên nhằm thúc đẩy xuất khẩu.

Nhưng về nguyên tắc, có thể vừa phá giá, vừa giữ áp lực lạm phát không thay đổi bằng cách điều chỉnh cung tiền, thông qua công cụ tín phiếu NHNN và dự trữ bắt buộc. Trong trường hợp hiện nay ở Việt Nam, cùng với việc tích cực mua vào ngoại tệ với tỷ giá cao hơn để tỷ giá tăng thêm 1 điểm phần trăm (hoặc hơn nữa) nhằm hỗ trợ xuất khẩu, NHNN song song với đó cần tung thêm tín phiếu NHNN và/hoặc nâng dự trữ bắt buộc để hút bớt VND tăng thêm từ quá trình mua vào ngoại tệ trước đó. Nếu thực hiện được như vậy thì NHNN không còn phải bận tâm đến khả năng xung đột mục tiêu chính sách, giữa ổn định vĩ mô (lạm phát) và hỗ trợ xuất khẩu nữa.

Bởi vậy, một khi đã công khai tuyên bố mục tiêu hiện thời của chính sách tỷ giá của mình - hỗ trợ xuất khẩu - thì NHNN nên hiện thực hóa chính sách này để gây dựng lòng tin của thị trường vào chính sách của mình, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu và tăng trưởng GDP. Phối hợp hài hòa với chính sách tiền tệ, chính sách nới lỏng tỷ giá sẽ thành công mà không gây ra hậu quả phá vỡ bất ôn vĩ mô, tăng lạm phát như NHNN đã có thể lo ngại và dẫn đến một chính sách tỷ giá dùng dằng, mất phương hướng như hiện nay.

Thursday, 10 July 2014

"Tự diễn biến" nhận thức!

Mấy lần trước tớ định lọc ra một số ví dụ về quá trình "tự diễn biến" của một số đồng chí chuyên gia và quan chức về nhận thức rất thú vị nhưng lại thôi vì không muốn tốn thời gian vô ích.

Nay đọc bài này của đồng chí Lịch về tỷ giá (ủng hộ thậm chí là khuyến khích NHNN phá giá thêm), tớ nhớ ra là trước đây cũng phang đồng chí này trong entry này (do cái tội đồng chí Lịch phản đối phá giá) rồi nên lục lại để so sánh cho các đồng chí thấy con người ta có cái khả năng rất đáng ca ngợi là tự diễn biến có khi một cách vô thức theo hướng "thiện", hehe.

Còn nhiều đồng chí khác dạo này cũng đã và đang tự diễn biến nhận thức và tư tưởng rồi (ít nhất về chuyện tỷ giá, là cái dễ thấy và nóng hổi). Nhưng các đồng chí tự tìm tòi, phát hiện nhé.

Sunday, 29 June 2014

Phá giá không nhất thiết gây bất ổn vĩ mô!

Một phiên bản của bài này được đăng trên Doanh nhân Sài Gòn, 30/6/20 ở link sau:
http://www.doanhnhansaigon.vn/online/dien-dan-doanh-nhan/thoi-su/2014/06/1082245/dieu-chinh-ty-gia-co-gay-bat-on-vi-mo/
-----------------------------------

Sau khi  Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều chỉnh tỷ giá ngày 19/6 với lý do là để hỗ trợ xuất khẩu, có một số người đã lo ngại rằng việc điều chỉnh này sẽ tác động tiêu cực lên ổn định vĩ mô. Chẳng hạn, theo tác giả Hồ Quốc Tuấn trên TBKTSG Online ngày 26/6, giữa chính sách ổn định vĩ mô (và duy trì niềm tin vào VND) và chính sách điều chỉnh tỷ giá (phá giá) để hỗ trợ xuất khẩu vốn tồn tại mâu thuẫn ở mức độ nhất định.
Lý do đằng sau quan hệ mâu thuẫn này là do, theo ông Tuấn, “...khi phá giá và mở đường cho nới lỏng tiền tệ hơn nữa, sẽ tạo nguy cơ lạm phát và khiến cầu mua USD tăng lên. Một sự mất ổn định trong giá cả tiêu dùng và giá VND có thể dẫn đến kỳ vọng lạm phát sẽ tăng càng cao và VND sẽ càng mất giá. Nếu rủi ro càng cao, kỳ vọng về phá giá và lạm phát sẽ càng lớn, tạo thành một vòng xoáy liên tục. Như vậy, có sự mâu thuẫn ở một mức độ nào đó giữa việc muốn giữ ổn định vĩ mô và việc phá giá đồng tiền (ở một qui mô lớn) để cải thiện sức cạnh tranh. NHNN không thể lựa chọn cả hai”.

Trên thực tế, phá giá chỉ gây ra/làm tăng áp lực lạm phát khi đi kèm với phá giá là một chính sách tiền tệ nới lỏng quá mức bình thường. Nếu song hành với phá giá mà NHNN thu hút lượng VND thặng dư phát sinh do phá giá về kho quỹ của mình thì áp lực lạm phát không hề tăng lên so với trước khi phá giá.
Để dễ hiểu, hãy xem ví dụ sau. Kế hoạch tăng cung tiền của NHNN trong năm 2014, trước khi phá giá, là 100 đơn vị (để tương ứng với mục tiêu lạm phát là 5%/năm, tăng trưởng tín dụng là 10%), và giả sử là NHNN đã sử dụng hết hạn mức cung tiền này vào quý 1. Nhận thấy VND đã bị lên giá thực so với USD ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu, NHNN quyết định phá giá VND thêm 1 điểm phần trăm. Để phá giá VND 1 điểm phần trăm, NHNN cần phải và sẵn sàng mua USD từ hệ thống ngân hàng với tỷ giá 21.246 VND/USD, tăng 1% từ mức trước đây là 21.036 cho đến lúc các ngân hàng thương mại không còn nhu cầu bán USD cho NHNN tại mức giá này nữa. Tương ứng với việc mua USD này của NHNN là một lượng VND được tung ra lưu thông, giả sử là tương đương với 10 đơn vị nữa, qua hệ thống ngân hàng thương mại, làm tăng cung tiền lên thêm 110 đơn vị, tức là vượt hạn mức 100 đơn vị (đã sử dụng hết), và do đó tăng áp lực lạm phát, có thể đẩy lạm phát vượt trên mức mục tiêu 5% cho cả năm 2014.

Với sự kiên quyết khống chế lạm phát ở mức bằng hoặc thấp hơn 5%, NHNN phải và sẽ tung tín phiếu ngân hàng hoặc dùng công cụ dự trữ bắt buộc để hút 10 đơn vị VND thặng dư do phá giá về kho quỹ của NHNN. Nếu muốn làm và làm được như thế thì hoàn toàn có thể khẳng định rằng phá giá (kể cả ở quy mô lớn như ông Tuấn nói) không nhất thiết gây ra lạm phát, không nhất thiết phải đi kèm với chính sách tiền tệ nới lỏng. Nói cách khác, không nhất thiết đúng như ông Tuấn lập luận, NHNN vẫn có thể đồng thời lựa chọn và đạt được cả hai mục tiêu (phá giá để hỗ trợ xuất khẩu và ổn định vĩ mô)!
Sẽ có người phản biện rằng phá giá mà phải thắt chặt chính sách tiền tệ thì sẽ gây ra tác dụng ngược là làm giảm tăng trưởng, chính là mục đích để phá giá (thông qua hỗ trợ xuất khẩu). Nhưng lưu ý từ ví dụ trên, chính sách tiền tệ thực ra vẫn được nới lỏng thêm 100 đơn vị như kế hoạch ban đầu của NHNN, chứ không bị thắt chặt lại chỉ còn, ví dụ, 50 đơn vị cho cả năm 2014, sau khi phá giá. Nói cách khác, nền kinh tế vẫn có đủ tín dụng, đủ thanh khoản để vận động và tăng trưởng như kế hoạch (giả sử kế hoạch này là đúng đắn theo tính toán của NHNN).

Tất nhiên, khi phá giá ở quy mô lớn như lo ngại của ông Tuấn thì cũng có thể gây ra một sự hoảng loạn nào đó trong dân chúng và giới đầu tư. Nhưng trước tiên, không ai bắt ép NHNN (nếu họ không muốn) phải tiến hành phá giá ở mức độ lớn và đột ngột cả! Và NHNN cũng không nên, không dại gì để bị dồn vào thế phải phá giá ở mức lớn đến độ gây ra hoảng loạn như vậy. Thay vào đó, tại sao NHNN lại không (chủ động) phá giá từng nấc ở nhiều thời điểm khác nhau?
Ngược lại, chính vì quan niệm phiến diện là phá giá sẽ làm tăng lạm phát, tăng kỳ vọng lạm phát, gây bất ổn vĩ mô đã làm cho NHNN cố gắng neo tỷ giá ở mức “ổn định” nhất có thể, với niềm tin rằng làm thế sẽ làm tăng lòng tin của dân chúng và nhà đầu tư vào VND (trong khi cung tiền tiếp tục được mở rộng để kích thích tăng trưởng gây ra áp lực lạm phát lớn). Nhưng ngay như ông Tuấn cũng nhận định trong bài của mình rằng nếu tỷ giá bị neo quá lâu thì sẽ dẫn đến nguy cơ phải thực hiện một đợt điều chỉnh tỷ giá mạnh. Như thế có nghĩa là việc neo tỷ giá để đạt được sự ổn định tạm thời về tỷ giá, về lòng tin, không phải là giải pháp cơ bản và bền vững cho chính sách tỷ giá. Thay vào đó, cái cần có là một chính sách quản lý tỷ giá linh hoạt sao cho tỷ giá luôn phản ánh sát thực nhất có thể quan hệ cung cầu USD và đồng thời chênh lệch lạm phát giữa Mỹ và Việt Nam. Khi đã thiết lập được một sự linh hoạt như vậy rồi thì phá giá nếu có chỉ là những bước điều chỉnh nhỏ, không gây xáo trộn lớn trong xã hội (vì xã hội nhận thức rõ và thông cảm được tại sao NHNN phải “điều chỉnh” tỷ giá như vậy), và càng không có lý do gì để nói hoặc e ngại rằng phá giá sẽ làm bất ổn vĩ mô và mất lòng tin vào VND cả!

Tiện đây, xin bàn thêm về luận điểm của ông Tuấn rằng ông “...không ủng hộ một đợt phá giá mạnh VND để cải thiện sức cạnh tranh ngay lúc này. Đơn giản là vì ta phá giá được thì nước người ta cũng phá giá được, huống chi kiểu cạnh tranh như thế này sẽ chỉ khiến cho người ta càng có bằng chứng nói rằng chúng ta “trợ giá” cho nhiều loại đầu vào của nền kinh tế (gần đây nhất là chuyện giá nhiên liệu)”.
Như trên đã nói, nếu NHNN linh hoạt hơn với chính sách tỷ giá của mình thì NHNN đã không việc gì phải tiến hành “một đợt phá giá mạnh” vì đã và sẽ phá giá nhiều đợt, mỗi đợt phá giá một chút. Và để cải thiện sức cạnh tranh thì phá giá dù chỉ vài điểm phần trăm cũng đã là quý rồi vì như thế cũng đã làm lợi cho xuất khẩu, chứ không cần phải ở mức ví dụ như 10 điểm phần trăm (không biết đây có phải là mức ông Tuấn coi là mạnh hay không).

Và chắc chắn rằng khi VND đã lên giá thực (ở mức lớn) so với USD thì Việt Nam hoàn toàn có quyền và có cơ sở hợp lý để tiến hành phá giá (kể cả phá giá mạnh) mà không phải e ngại bất kỳ “nước người ta” nào dị nghị cả. Và nếu người ta bắt trước phá giá theo thì âu cũng là việc bình thường, giống như việc 2 đối thủ tìm mọi cách hạ giá thành để tăng tính cạnh tranh của sản phẩm. Có điều cần lưu ý là không phải nước người ta nào cũng (luôn) có thể bắt trước phá giá theo được, vì nhiều lý do.

Wednesday, 25 June 2014

Cần một nhận thức chung đúng đắn về tỷ giá (Bài đăng trên TBKTSG, 26/6/2014, bản gốc)

Bài này xuất hiện trên TBKTSG dưới tiêu đề: "Tỷ giá- cần cái nhìn đa chiều", do báo đặt lại.
---------------------------------------------
http://www.thesaigontimes.vn/116699/Ty-gia---can-cai-nhin-da-chieu.html

Cuối cùng thì đồng Việt Nam cũng đã “bất ngờ” bị phá giá nhẹ (hay tỷ giá được “điều chỉnh”) sau bao nhiêu nỗ lực kêu gọi phá giá bất thành của một số ít người trước bức tường bảo thủ sai lầm của các nhà chức trách và đại bộ phận chuyên gia kiên quyết chống lại chuyện phá giá, dù là nhẹ.
Trước đó cho đến tận tuần mới đây, chưa nói gì đến ý kiến phản đối phá giá của nhiều chuyên gia, ngay chính các quan chức Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã nhiều lần tuyên bố một cách rất thống nhất rằng hoàn toàn không hoặc chưa thấy có lý do gì để phá giá vì “cung cầu ngoại tệ hết sức dồi dào”, không có gì biến động bất thường, vì tài khoản thanh toán đang thặng dư lớn, vì quỹ dự trữ ngoại hối đã và đang tăng mạnh, vì những áp lực phá giá nếu có chỉ là do tin đồn, do đầu cơ trục lợi...

Trên hết, họ cực lực phản đối ý kiến của một số ít người kiến nghị phá giá để kích thích xuất khẩu vì tỷ giá đã bất động quá lâu trong khi chênh lệch lạm phát giữa Việt Nam và Mỹ lớn dẫn đến tiền đồng bị lên giá thực ở mức lớn, ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu, tăng nhập siêu. Lưu ý rằng thực tế tiền đồng lên giá thực so với đô la Mỹ cũng chính là nhận định của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong cuộc trả lời phỏng bấn Bloomberg hồi tháng 9/2013 tại New York khi ông cho biết Chính phủ có kế hoạch “hạ giá VND tối đa 2% vào cuối năm (2013)”.
Nhưng theo nhiều chuyên gia và quan chức NHNN, phá giá không làm tăng xuất khẩu, mà, ngược lại, thậm chí làm tăng nhập siêu vì hàm lượng đầu vào nhập khẩu của hàng hóa sản xuất tại Việt Nam có tỷ trọng cao. Họ còn cho rằng phá giá sẽ làm cho lạm phát tăng lên. Hơn nữa, phá giá làm cho lòng tin vào tiền đồng suy giảm, gây bất ổn định vĩ mô.

Và rồi điều gì phải đến đã đến. Phá giá đã phải diễn ra như đã thấy. Điều đáng nói là lý do để phá giá lần này được chính NHNN đưa ra là để “hỗ trợ xuất khẩu”, điều mà mới đó chính họ còn ra sức phủ nhận. Chưa hết, để trấn an dư luận về lo ngại phá giá làm tăng lạm phát, điều mà chính họ cảnh báo trước đây, NHNN tuyên bố rằng phá giá không làm tăng lạm phát.
Còn riêng về chuyện lòng tin vào tiền đồng, NHNN dường như vớt vát rằng đợt phá giá này là nằm trong kế hoạch để cho tỷ giá biến động không quá 1-2% trong năm nay. Nhưng e rằng hành động phá giá diễn ra không lâu ngay sau những lời tuyên bố mạnh mẽ không phá giá của NHNN (vì “không có lý do gì để phá giá”) mới chính là cái làm sứt mẻ lòng tin của công chúng vào lập trường chính sách của NHNN nói chung, vào tiền đồng nói riêng. Minh chứng là đã có nhiều ý kiến trên các phương tiện thông tin đại chúng bày tỏ sự ngạc nhiên, bất ngờ với đợt phá giá lần này khi họ bị thuyết phục bởi những biện hộ cứng rắn của NHNN cho việc không điều chỉnh tỷ giá trước đó.

Những diễn biến trên cho thấy đã có sự biến chuyển theo hướng tích cực trong nhận thức về tỷ giá của NHNN. Và dư luận dường như cũng đã có sự biến chuyển tương tự khi không còn nghe thấy mấy lời phàn nàn, phê phán chuyện phá giá của NHNN từ giới chuyên gia nữa, mà thay vào đó là sự tán đồng (đây không phải là điều bất ngờ), hoặc sự cố gắng giải thích hành động phá giá này theo hướng không “chệch” quá xa so với ý kiến phản đối của mình trước đây (cũng không phải là điều bất ngờ).
Nhưng vạch ra những mâu thuẫn trong lời nói và hành động, cũng như sự biến chuyển tích cực trên trong giới chuyên gia và chức trách không phải là mục đích chính của bài viết này. Thay vào đó, như tiêu đề của bài, đây là cơ sở để nó lên tiếng kêu gọi hình thành một nhận thức chung đúng đắn về tỷ giá ở Việt Nam để tránh những tranh luận không còn cần thiết từ nay về sau nữa, ví dụ phá giá có hay không làm tăng xuất khẩu, tăng nhập siêu (vì đã rõ ràng, từ lý thuyết đến thực tế), và cũng là để tránh những hành động chính sách sai lầm như kiên định mù quáng với chính sách kìm giữ tỷ giá bất chấp điều kiện vĩ mô bất lợi thế nào.

Nhận thức này cụ thể là, việc quyết định có phá giá hay không không chỉ dựa vào quan hệ cung cầu ngoại tệ có thiếu hụt, căng thẳng hay không, mà còn phải dựa vào những yếu tố khác, trong đó có việc tiền đồng có lên giá thực (ở mức lớn) so với đô la Mỹ làm ảnh hưởng bất lợi đến cán cân thương mại hay không.
Cũng từ nhận thức thống nhất nói trên, mỗi khi có biến động gây áp lực lên tỷ giá và khi NHNN phải lên tiếng với công chúng về lập trường và ý định của mình thì NHNN cần phải thay đổi cách giải thích và lập luận phiến diện truyền thống của mình như nêu ở trên. Mọi giải thích và lập luận từ nay trở về sau phải xuất phát từ góc nhìn đa chiều bao hàm các yếu tố về quan hệ cung cầu ngoại tệ, về tương quan lạm phát trong và ngoài nước, về sức ép của tỷ giá lên thâm hụt thương mại, về cơ sở để gây dựng và củng cố lòng tin vào tiền đồng... Chỉ có như vậy thì chính sách về tỷ giá của NHNN mới có tính thực tiễn và sức sống lâu dài hơn trong nền kinh tế.

Thursday, 19 June 2014

Cười một cái với tỷ giá

Tớ thực ra không muốn cười vào bản thân cái tỷ giá mà chỉ là cười vào cái sự im lặng khá tế nhị của nhiều đồng chí vốn lớn tiếng phê phán chuyện phá giá, và cười vào cái sự tráo trở, nói kiểu gì cũng được của nhiều đồng chí khác.

Chẳng hạn trước đây cũng các đồng chí này cho rằng phá giá thì sẽ không làm tăng xuất khẩu, mà chỉ tăng lạm phát, tăng nhập khẩu. Nay thì từ Thống đốc đến Vụ trưởng Vụ tiền tệ NHNN, đến những chuyên gia này kia đều rất tự nhiên khi nói phá giá (chính xác là "điều chỉnh" tỷ giá) là để hỗ trợ xuất khẩu, rằng tỷ giá tăng nhưng không làm tăng lạm phát. Hình như ngay cả Bình Thống đốc trước đây nói ngược lại thế thì phải nhi?

Hoặc trước đây thì tất cả đều một giọng giống nhau (như là có đạo diễn) rằng không có lý do gì để phá giá vì "cung cầu ngoại tệ rất dồi dào", vì nào là thặng dư cán cân thanh toán và cán cân tổng thể v.v... Nay thì dường như chẳng vì lý do gì ngoài lý do "hỗ trợ xuất khẩu" mà phá giá, hỏi thế có trêu ngươi không cơ chứ?

Rồi nhiều đồng chí ăn theo nói leo, hoặc trót tin vào lời hứa của Bình Thống đốc nên khẳng định như đúng rồi rằng tỷ giá sẽ ổn định, không tăng quá 1% năm nay. Nay thì đã nhỡ nhàng rồi, biết ăn nói với thiên hạ ra sao, làm sao lấy lại được lời đã nói đây? Cơ khổ!

Thôi tớ không muốn cười nữa, chỉ mong các đồng chí từ bây giờ trở đi ráng mà nhớ lấy cái lần này để lần sau có nói gì ấm ớ thì cũng ấm ớ cho nó vừa vừa, có chừng mực thôi, không sẽ lại có thêm nhiều kẻ cười cho.

Chẳng nhẽ tớ lại hô tớ muôn năm?!.

Wednesday, 18 June 2014

Ngủ trưa, Gmail với tặng quà (Bài đăng trên TBKTSG, 19/6/2014, bản gốc, tiêu đề do báo đặt)

http://www.thesaigontimes.vn/116429/Ngu-trua-Gmail-voi-tang-qua.html

Nhân chuyện FPT IS vừa có quyết định cấm nhân viên nằm ngủ trưa trong khu vực làm việc, có một số tờ báo đã liệt kê ra những lệnh cấm mà họ gọi là “bá đạo” của các sếp Việt, trong đó, ngoài lệnh cấm nằm ngủ trưa này, còn có những lệnh cấm như cấm nhân viên dùng yahoo mail, gmail, và cấm nhân viên tặng quà sếp.

Nhìn chung, nếu để ý theo dõi thì sẽ thấy dư luận có vẻ sốc và không đồng tình với những lệnh cấm này, ngoài một số lý do biện hộ này kia được đưa ra, sâu xa là vì chúng “xâm phạm” đến những thói quen cố hữu của người Việt. Điều đáng nói là những thói quen này không phải là tốt đẹp, đáng duy trì trong thời hiện tại, nhất là nhìn từ ngoài vào, và không phải là không thể thay đổi được.
Ví dụ về thói quen (nằm) ngủ trưa tại văn phòng. Bản thân tôi đã từng có một thời gian làm tại Việt Nam và cũng (buộc phải) có thói quen ngủ trưa khi xung quanh mọi người đều ngủ cả, tắt điện tối om. Và chuyện ngủ trưa này trở thành bình thường, đương nhiên trong quan niệm của tôi cho đến thời điểm đó.

Nhưng sau này đi du học và làm việc tại, tiếp xúc với nhiều công ty và tổ chức, tôi thấy rằng ở nhiều nước (những nơi mà tôi đã qua, đã làm việc), chuyện ngủ trưa, tắt đèn, đặc biệt là chuyện nằm trên bàn, trên ghế, rải tấm trải ra sàn văn phòng v.v... như ở Việt Nam dường như là chuyện chỉ có ở Việt Nam.

Bản thân tôi, sau khi rời khỏi Việt Nam, đã nhanh chóng đánh mất thói quen ngủ trưa để hòa vào cung cách làm việc xung quanh suốt từ hàng chục năm nay. Thú thực là đôi khi quá căng thẳng và ngủ ít từ hôm trước, tôi cũng cảm thấy buồn ngủ vào chiều hôm sau, đến nỗi có khi ngủ gật một cách vô thức. Nhưng đó chỉ là hãn hữu và cơn buồn ngủ cũng nhanh chóng qua trôi qua.

Các đồng nghiệp xung quanh tôi cũng vậy, không bao giờ thấy họ ở lại trong phòng để ngủ trưa, mà đều tranh thủ giờ nghỉ trưa để đi ăn, đi mua sắm, làm việc riêng, hoặc ngồi nhâm nhi cà phê tán gẫu với bạn bè.
Dù vậy, chỗ tôi làm việc, cơ quan cũng rất “nhân văn” khi bố trí một phòng ăn kiêm nghỉ ngơi thư dãn (chỉ có vài cái ghế bố) dành cho nhân viên ai có nhu cầu chợp mắt. Nhưng những cái ghế này cũng rất ít khi được sử dụng.

Không những đã mất thói quen ngủ trưa, tôi còn trở nên rất “dị ứng” với cái cảnh đến giờ nghỉ trưa thì hầu như đồng loạt tất cả công sở, văn phòng ở Việt Nam đều đóng cửa, treo biển ngủ trưa, kể cả những nơi làm dịch vụ, phục vụ khách hàng, ví dụ như ngân hàng. Thật là có trải qua mới biết không gì khó chịu bằng cảnh Thượng đế phải đợi người phục vụ ngủ trưa dậy rồi mới được phục vụ. Ở nước ngoài, với nhiều người làm công ăn lương, giờ nghỉ trưa là giờ họ tranh thủ đi giải quyết nhiều việc cá nhân, còn người dân thì vẫn có nhu cầu công việc như bình thường, nên các văn phòng, công sở mang tính chất dịch vụ thường cho nhân viên luân phiên nhau nghỉ/ăn trưa để vẫn tiếp tục phục vụ Thượng đế, chứ không đóng cửa, ngừng trệ công việc hoàn toàn như ở Việt Nam.
Chưa hết, nhìn cái cảnh nhân viên uể oải ngáp ngán ngáp dài, mắt nhắm mắt mở, quần áo xộc xệch, lục tục ngồi dậy (mặc dù nhiều lúc đã quá giờ quy định), xung quanh thì bề bộn chăn gối, thức ăn vặt... mới thấy cám cảnh cho môi trường công sở ở Việt Nam. Thế nên cũng rất đồng cảm với thái độ của đối tác của FPT IS khi nhìn thấy cảnh ngủ trưa ở đó. Và bởi thế, chưa cần nói đến những chuyện “đao to búa lớn” như toàn cầu hóa, thói quen (nằm) ngủ trưa đúng là một thói quen cần bỏ hay hạn chế tối đa, ở Việt Nam càng sớm càng tốt.

Sang chuyện dùng yahoo mail hoặc gmail, việc (cho nhân viên) sử dụng những hòm thư công cộng này trong công việc trước hết là thể hiện sự không chuyên nghiệp của tổ chức đó. Với tôi, mỗi khi nhận một tấm danh thiếp của ai đó từ một tổ chức nào đó mà chỉ có mỗi địa chỉ email có đuôi như yahoo hay gmail thì lập tức ấn tượng, sự tín nhiệm và đánh giá của tôi về tổ chức đó, người đó sẽ hao hụt rất nhiều. Ngược lại, khi nhận được những email từ những địa chỉ này gửi đến email của cơ quan tôi, tôi hầu như sẽ xóa ngay mà không đọc, trừ khi biết trước chủ nhân của email đó là ai. Và cơ quan tôi cũng có những quy định rất khắt khe về việc liên lạc với bên ngoài bằng những địa chỉ email công cộng thế này.
Bên cạnh đó, các cơ quan cũng cần cấm nhân viên dùng máy tính của cơ quan để gửi và nhận email công cộng. Đương nhiên là nếu không có máy tính cơ quan thì ngày nay nhân viên vẫn có thể dễ dàng tiếp cận gmail, yahoo thông qua những thiết bị cá nhân như máy tính bảng, điện thoại thông minh...  Nhưng vẫn cần phải cấm vì, ngoài lý do là việc cho phép này lại tạo thêm điều kiện cho nhân viên “tư nhân hóa” thời gian làm việc công, nó còn có mục đích quan trọng là góp phần bảo đảm an ninh mạng, là chuyện đã xảy ra rất nhiều khắp đó đây. Hãy thử hình dung hậu quả khi một nhân viên ngân hàng có thể dùng yahoo mail hay gmail để gửi dữ liệu mật của ngân hàng ra ngoài, hay nhập dữ liệu vào trong hệ thống, như là một cách “lách” khi hệ thống máy tính của nhiều ngân hàng không cho phép kết nối với các thiết bị ngoại vi như USB để upload, download dữ liệu.

Và cuối cùng là chuyện tặng quà sếp. Quả thật là ở ngoài Việt Nam, tôi chưa bao giờ phải chứng kiến cảnh nhân viên tặng quà sếp, hầu như bất cứ dịp gì ngoài dịp sinh nhật sếp. Cho dù thế, trong dịp tổ chức sinh nhật sếp (không phải là thông lệ, thói quen), quà được tặng cũng chỉ là một bữa ăn chung và thêm cái bánh sinh nhật do mọi người cùng góp tiền. Ngược lại, rất thông thường là nhân viên được sếp tặng quà, mừng tuổi và đãi ăn uống nhân dịp tổng kết quý, năm, Noen, năm mới... vì đây được cho là trách nhiệm và việc nên làm của sếp để lấy lòng nhân viên.
Tóm lại, không còn là sớm sủa gì nữa để nhiều thói quen trong môi trường công sở Việt Nam như trong bài này cần phải bị dẹp bỏ hoặc thay đổi ngay, và hoàn toàn có thể thay đổi được, dù chúng đã bén rễ chắc và sâu thế nào.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2014, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam" forthcoming in "Emerging Markets Finance and Trade".

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).