Thursday, 16 January 2020

"Quy tắc vàng” của E.S. Phelps chỉ đúng trong thế giới không tưởng (Bài đăng trên TBKTSG, 16/1/2020)

https://www.thesaigontimes.vn/299425/quy-tac-vang-cua-es-phelps-chi-dung-trong-the-gioi-khong-tuong.html

Sau khi tôi góp ý trong bài “So sánh lãi suất giữa các nước là vô nghĩa” cho bài viết “Khi nền kinh tế làm ra 1 năm chưa đủ trả lãi nợ vay” của nhóm gồm 4 tác giả là chuyên gia độc lập trong và ngoài nước (“các tác giả”), các tác giả tiếp tục có bài phản hồi các góp ý này của tôi trong bài “Vì sao cần phân tích và so sánh về lãi suất khi nói về tăng trưởng kinh tế?” đăng trên TBKTSG Online ngày 12/1/2020.

Nhận thấy vẫn có một số bất cập trong lập luận của các tác giả trong bài đăng ngày 12/1 nên trong bài này tôi xin tiếp tục được tranh luận cùng các tác giả để cùng đi đến một cái nhìn thống nhất về các vấn đề liên quan còn đang được tranh luận.
Luận điểm thứ nhất của các tác giả là “lãi suất cao không phải là đặc trưng của các nước đang phát triển”. Các tác giả lấy ví dụ về lãi suất ở Trung Quốc và Lào để chứng minh rằng lãi suất Việt Nam là cao hơn các nước đang phát triển khác (?).
Nhưng do chỉ lấy lãi suất của 2 nước này để so sánh với Việt Nam nên sự so sánh này của các tác giả là không thuyết phục. Để có cái nhìn tổng quát hơn, tôi sử dụng dữ liệu lãi suất của World Bank cho năm 2017 là năm gần đây nhất có chứa tối đa số liệu tương ứng của các nước trên thế giới. Hơn thế, ngoài chỉ số về lãi suất thực (real interest rate), tôi còn so sánh cả lãi suất cho vay (lending interest rate) và lãi suất huy động (deposit interest rate). Kết quả được tổng kết ở bảng dưới đây:
So sánh lãi suất của Việt Nam với các nước trên thế giới, 2017
Chỉ số
Tổng số nước có số liệu
Thứ hạng của Việt Nam (theo thứ tự từ thấp đến cao)
Lãi suất của Việt Nam
Lãi suất thực
129
48
2,9%
Lãi suất tiền gửi
134
87
4,8%
Lãi suất cho vay
130
47
7,1%
Nguồn: https://data.worldbank.org/indicator/FR.INR.RINR

Từ bảng trên, nếu so sánh một cách đơn giản về thứ hạng, có thể thấy rõ: (1) lãi suất tiền gửi của Việt Nam chỉ ở mức trung bình cao (chứ không phải là cao) của thế giới; và, ngược lại, (2) lãi suất thực và kể cả lãi suất cho vay của Việt Nam lại ở mức trung bình thấp của thế giới.   
Do các lập luận trong các bài viết của các tác giả đều dựa trên tiền đề là lãi suất của Việt Nam cao, gây khó khăn và rủi ro cho nền kinh tế, nên kết quả so sánh ở bảng trên làm cho các lập luận của các tác giả dựa trên tiền đề trên trở nên không còn thích hợp nữa. Tuy vậy, tôi vẫn sẽ tiếp tục góp ý cho từng luận điểm của các tác giả như phần dưới đây.
Luận điểm thứ hai của các tác giả về cách tính lãi của các ngân hàng, theo đó các tác giả cho rằng “Tỷ lệ lãi hay lợi nhuận này cũng phải lớn hơn lạm phát thì ngân hàng mới bảo đảm được giá trị đồng tiền của nguồn vốn và như thế mới có thể tồn tại dài lâu”.
Xin lưu ý rằng nguồn vốn cho vay của ngân hàng gồm 2 cấu thành: vốn tự có/vốn chủ sở hữu và vốn huy động. Về nguồn vốn huy động, như tôi đã nói ở bài trước rằng ngân hàng kinh doanh theo kiểu “tay không bắt giặc” nên chênh lệch cho vay và huy động được coi là “lãi thuần” (tất nhiên nếu tính đúng, tính đủ thì còn phải trừ đi chi phí kinh doanh liên quan như nhân lực, trụ sở...), do đó không cần phải lấy lãi thuần này trừ đi lạm phát làm gì nữa.
Đối với phần nguồn vốn tự có/vốn chủ sở hữu, nếu muốn tính xem vốn tự có của ngân hàng khi được sử dụng cho vay/kinh doanh có đem lại một mức lãi ròng lớn hơn lạm phát hay không thì các tác giả nhất thiết phải sử dụng các chỉ tiêu đo lường thích hợp tương ứng, ví dụ như tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE, hay return on equity), chứ không phải tính toán một cách đơn giản và bất tương thích như các tác giả trong bài viết “Khi nền kinh tế làm ra 1 năm chưa đủ trả lãi nợ vay” (cụ thể: “lãi cho vay ưu đãi là 10% trừ đi lãi suất tiền gửi 1 tháng là 4,3% thì ngân hàng lãi 5,7%.  Với lạm phát là 2,8%, ngân hàng thực lãi 2,9%. Tuy nhiên khi chạy đua lãi suất, lãi tiền gửi lên 9% thì ngân hàng chỉ còn lãi 1% và sau khi trừ lạm phát (dù là 3%) thì ngân hàng thực sự lỗ nặng”).
Về ROE, xin được trích dẫn mấy số liệu tìm từ Google. Chẳng hạn, theo Ngân hàng Nhà nước (SBV), ROE của toàn bộ hệ thống ngân hàng nội địa đã tăng 1,42 điểm phần trăm lên 9% vào tháng 11/2018 so với một năm trước đó (nguồn: https://vietnamnews.vn/economy/505844/vietnamese-banks-see-improved-profitability.html ). Nhìn về tương lai, ROE của Việt Nam còn được dự đoán lạc quan hơn nữa, chẳng hạn J.P. Morgan ước tính vào tháng 12/2019 rằng ROE của các ngân hàng trong phạm vi theo dõi của họ có khả năng đạt tới 15-21% trong 2 năm tới (nguồn: https://www.cnbc.com/2019/12/09/vietnam-banks-have-a-rare-mix-high-growth-and-returns-jp-morgan.html ).
Như vậy, các mức ROE hiện tại và tương lai này đều cao hơn nhiều so với lạm phát của Việt Nam hiện nay (quanh quẩn 3-4%), chứng tỏ nỗi lo ngại của các tác giả rằng lạm phát cao làm ngân hàng thua lỗ là hoàn toàn không có cơ sở. Trên hết, như đã biết, (trong mấy năm) hiện nay hàng loạt ngân hàng thương mại Việt Nam đã và đang báo lãi “khủng”, hầu như chẳng có ngân hàng nào báo lỗ cả.
Thứ ba, về ý kiến của các tác giả khi cho rằng tôi “... có vẻ khác lạ khi cho rằng doanh nghiệp có tỷ lệ nợ trên vốn tự có và tương tự, nền kinh tế Việt Nam có tỷ lệ nợ trên GDP cao và đang tăng lên không nhất thiết tạo ra rủi ro cao và tăng lên cho nền kinh tế, cũng như cho chính bản thân các ngân hàng.”
Tôi nói ý này là bởi các tác giả áp dụng lý thuyết của Modigliani-Miller, mà nếu theo lý thuyết này thì thậm chí có thể kết luận như đoạn trên (xin xem lại phần phản biện của tôi trong bài trước để tránh suy diễn sai). Như thế càng chứng tỏ rằng lý thuyết này hoàn toàn không phù hợp, không thể áp dụng vào trong việc giải thích tại sao lãi suất của một nước (chẳng hạn của Việt Nam) lại cao. Hay nói cách khác, sự áp dụng lý thuyết này của các tác giả là vô nghĩa, bất hợp lý.
Và để tránh hiểu nhầm, xin nói luôn là tôi cũng không ủng việc hộ doanh nghiệp hay nền kinh tế có tỷ lệ đòn bẩy cao (vay nợ nhiều), dù việc này không liên quan gì đến cuộc trao đổi này.
Thứ tư, về “quy tắc vàng” của E.S. Phelps mà các tác giả trích dẫn rằng: “Trong nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo thì lãi suất (lãi suất thực, đã trừ lạm phát) bằng với tốc độ phát triển”. Xin hãy chú ý vào giả định/điều kiện tiên quyết mà Phelps đặt ra, đó là “cạnh tranh hoàn hảo”. Bởi điều này chỉ có được trong thế giới không tưởng nên cũng có nghĩa là “quy tắc vàng” này cũng chỉ đúng trong thế giới không tưởng. Đồng nghĩa với điều này là quy tắc này thường không đúng, không có giá trị ứng dụng trên thực tế.
Để minh họa rõ nét hơn về điều trên, tôi cũng dùng số liệu tăng trưởng GDP của các nước có trong nguồn dữ liệu World Bank đã trích dẫn trên để so sánh với lãi suất thực của cùng các nước đó. Kết quả tính toán sự chênh lệch giữa lãi suất thực với tăng trưởng GDP từ công thức: (Lãi suất thực – Tăng trưởng GDP) / Tăng trưởng GDP * 100% cho 128 nước có đồng thời cả số liệu tăng trưởng GDP và lãi suất thực vào năm 2017 cho thấy chỉ có 7 nước (gồm Bờ biển Ngà, Israel, Sri Lanka, Myanmar, Mỹ, Togo, và Panama) là có mức chênh lệch tạm gọi là nhỏ (trong phạm vi +/-10%). 
Với thực tế chỉ có 7/128 nước là có lãi suất thực theo gần sát với tăng trưởng GDP, có thể suy ra rằng: (1) tăng trưởng GDP không phải là mức chuẩn để xây dựng/hướng đến của, hay là cơ sở cho lãi suất thực trên thực tế, trong thế giới thực hiện nay; (2) “quy tắc vàng” của Phelps hầu như không xảy ra trong thế giới thực hiện nay.
Thứ năm, các tác giả nhầm lẫn cơ bản giữa lãi/lợi nhuận của doanh nghiệp với chi phí vay (mà đôi khi còn được các tác giả gọi là “lãi suất cho vay”) của doanh nghiệp. Sự nhầm lẫn này chính là nguyên nhân dẫn đến kết luận sai lầm rằng doanh nghiệp làm ra một năm không đủ để trả lãi nợ vay.
Cụ thể hơn, cần biết rằng, theo nguyên tắc kế toán, lãi/lợi nhuận (thuần) của doanh nghiệp là phần thặng dư còn lại sau khi doanh nghiệp đã chi trả lãi vay và nợ gốc đến kỳ thanh toán cho các chủ nợ. Bởi vậy, dù lãi vay và nợ gốc có lớn đến đâu chăng nữa, nhưng nếu trên báo cáo thu nhập và chi phí cuối kỳ của doanh nghiệp mà hạng mục lợi nhuận ròng (sau thuế) là dương thì có nghĩa là doanh nghiệp đã không những làm ra đủ để trả nợ mà còn có lãi ròng nữa trong kỳ đó. Do đó, như tôi đã nói trong bài trước, so sánh lợi nhuận (ròng) với chi phí vay (tiền lãi vay + nợ gốc) để xem doanh nghiệp làm ra có trả được nợ hay không là vô nghĩa.
Nếu vẫn còn “lăn tăn” với vấn đề trên, hãy đặt câu hỏi ngược lại, nếu doanh nghiệp không trả được lãi vay và nợ gốc thì chủ nợ nào để yên cho doanh nghiệp tiếp tục tồn tại và hoạt động như đại bộ phận doanh nghiệp hiện nay? Dựa vào số liệu nào để các tác giả cho rằng hàng loạt doanh nghiệp đã và đang đóng cửa ở Việt Nam chỉ vì lãi suất/lạm phát cao?
Tương tự như vậy cho cả nền kinh tế, một khi GDP được thống kê và báo cáo là đã tăng trưởng dương x%, y% thì có nghĩa là nền kinh tế đã tạo ra giá trị thặng dư thừa đủ trả nợ lãi vay và nợ gốc đến kỳ thanh toán và đồng thời vẫn tiếp tục tăng trưởng thêm x%, y%. Và cũng giống như đã nói ở trên, thử hỏi nếu Việt Nam không trả được lãi vay và nợ gốc hàng năm, liệu chúng ta có yên ổn được như bây giờ, hay động một chút là chủ nợ kiện cáo, còn các hãng xếp hạng tín nhiệm như Moody’s lại “lăm le” hạ hạng tín nhiệm?
Thứ sáu, lại nói về trường hợp Cocobay, các tác giả đã suy diễn quá xa, từ việc nó không thực hiện được cam kết (do “trót” cam kết tỷ suất lợi nhuận cao, 12%) thành ra nguy cơ mất thanh khoản cho ngân hàng rồi lan ra cả hệ thống. Chỉ khi nào các tác giả chứng minh được bằng số liệu xác tín rằng có hàng loạt trường hợp như Cocobay, không chỉ không thực hiện được cam kết phân chia lợi nhuận cao mà còn đang đứng trước nguy cơ không trả được nợ cho ngân hàng, với quy mô cộng dồn lên đến, chẳng hạn, 5-10% tổng tài sản của một số ngân hàng lớn trong hệ thống... thì lúc đó các tác giả hãy gióng lên hồi chuông cảnh báo về một cuộc khủng hoảng nợ đang/sẽ diễn ra.
Cuối cùng, về cảnh báo của các tác giả rằng tiếp tục tăng lãi suất khi nền kinh tế vay nợ nhiều sẽ có thể gây sụp đổ hệ thống,. Xin lưu ý trước hết rằng Chính phủ/Thủ tướng không phải là không nhận ra tác hại của việc để lãi suất cao, nên luôn yêu cầu SBV giảm lãi suất từ nhiều năm nay. Vì vậy, trừ khi có dấu hiệu rõ ràng Chính phủ đang làm ngược lại thì việc các tác giả cảnh báo Chính phủ chuyện tăng lãi suất chỉ là nói... vớt!
Quan trọng hơn, việc giảm lãi suất nhiều khi không hoàn toàn đơn giản, nói xong là làm được ngay, bởi việc hạ hay tăng lãi suất luôn phải đi kèm với những đánh đổi khác mà các tác giả chắc đã biết rõ. Bởi vậy, cho dù hiện nay Chính phủ và SBV đều rất nôn nóng hạ lãi suất nhưng lãi suất chưa hoặc chỉ mới giảm một chút là có nguyên nhân của nó. Nên thiết nghĩ hãy tập trung vào phân tích nguyên nhân này và đưa ra các giải pháp để hạ được lãi suất bằng các biện pháp mang tính kinh tế (chứ không phải hành chính) với cái giá phải trả/đánh đổi tối thiểu thì có lẽ sẽ có ý nghĩa thiết thực hơn là chỉ nói chung chung rằng lãi suất cao (quá) đang gây hại cho nền kinh tế vốn vay nợ nhiều nên hãy hạ nó xuống đi!

Saturday, 11 January 2020

Hiện thực hóa những “giải pháp của giải pháp” để phát triển bền vững (Bài đăng trên TBKTSG, 11/1/2020)

https://www.thesaigontimes.vn/299159/hien-thuc-hoa-nhung-giai-phap-cua-giai-phap-de-phat-trien-ben-vung-.html

Việt Nam đã trải qua năm 2019 với những kết quả khả quan, vượt dự tính được công bố trên nhiều mặt về phát triển kinh tế, dù rằng trước đó đã có nhiều bất an được gieo rắc chủ yếu bởi những yếu tố bất ổn trên thế giới, từ thương chiến Mỹ-Trung đến Brexit rồi căng thẳng địa chính trị giữa một số quốc gia, khu vực...

Ngoảnh lại nhìn những nguyên nhân giúp Việt Nam an toàn vượt qua những biến cố thì ngoài những nỗ lực nội tại của các chủ thể kinh tế, của Chính phủ, nếu có, như nói thêm ở dưới đây, còn có thể thấy sự đóng góp đáng kể của yếu tố “địa lợi”. Nhờ là một láng giềng cạnh Trung Quốc và nằm trong khu vực năng động của thế giới nhưng chủ yếu là có những yếu tố thỏa mãn được nhà đầu tư nước ngoài, một phần đáng kể trong đó đến từ các nước có bất đồng/xung đột thương mại với Mỹ như Trung Quốc hoặc với nhau như Nhật, Hàn Quốc nên Việt Nam đã và đang đóng vai trò hoặc như địa điểm sản xuất, chế tạo thay thế cho những nước này, hoặc đơn giản chỉ là trạm trung chuyển để xóa nguồn gốc xuất xứ nhằm lách thuế nhập khẩu khi xuất đi Mỹ và các nước khác có bất đồng thương mại với các nước bản quốc.

Cần lưu ý rằng không chỉ vai trò của Việt Nam là địa điểm sản xuất thay thế nói trên đã đóng góp cho tăng trưởng kinh tế quốc dân mà ngay cả việc là trạm trung chuyển cũng ít nhiều có đóng góp về mặt này dưới dạng như thuế các loại liên quan gồm thuế nhập khẩu (thuế là một cấu thành của GDP) cũng như thu nhập tăng thêm cho những ngành dịch vụ liên đới như logistics.

Do những xung đột, bất đồng thương mại sớm muộn gì cũng sẽ được giải quyết bằng những phương pháp “cứng” hay “mềm” từ các bên liên quan nên có thể nhận định rằng những lợi thế “địa lợi”, vai trò của Việt Nam hiện nay chắc chắn sẽ sớm mai một đi, đưa Việt Nam trở về đúng vị trí của mình trong chuỗi sản xuất toàn cầu được xác lập như trước đây dựa trên những lợi thế hữu hạn (và đang suy giảm như lao động dồi dào, giá rẻ). Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam do đó cũng sẽ suy giảm đi nếu không có những chuyển biến gì khác trong nội tại nền kinh tế, xã hội. Thách thức nhãn tiền này đặt ra vấn đề tăng trưởng bền vững cho Việt Nam trong những năm tới khi các yếu tố thuận lợi đến từ bên ngoài mất đi, còn các yếu tố nội lực thì chưa cho thấy những cải thiện đáng kể và được duy trì trong tương lai.

Phân tích sâu hơn những yếu tố nội tại, điều đáng lo là dường như chúng ta mới chỉ dừng lại ở việc xác định được nguyên nhân cản trở, hạn chế sự tăng trưởng và phát triển bền vững, còn những giải pháp tháo gỡ, khắc phục thì vẫn chủ yếu chỉ dừng lại ở giải pháp mà chưa được hiện thực hóa một cách thực chất và đáng kể. Đáng lo nữa là tình trạng tồn tại khoảng cách lớn giữa nói và làm đã tồn tại từ nhiều năm nay với chẳng nhiều bằng chứng cho thấy đã được cải thiện.

Minh họa điển hình cho chuyện này là “vấn nạn” trì trệ cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp; chậm chễ trong giải ngân vốn đầu tư công; thất thoát và lãng phí đầu tư công; hay sự “lề mề”, không thực chất trong cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm biên chế, xóa giấy phép con..., là những vấn nạn đã được nói quá nhiều, bàn quá nhiều, quyết tâm với quyết liệt cũng quá nhiều mà rốt cuộc vẫn còn nguyên đó tình trạng “rùa bò”. Đây là một thực tế mà Chính phủ cũng đã phải nhiều lần thẳng thắn thừa nhận.

Như vậy, muốn đạt được sự phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới, điều cần làm là phải tìm ra và hiện thực hóa những “giải pháp của giải pháp”, tức giải pháp khai thông sự bế tắc của những giải pháp tháo gỡ nút thắt tăng trưởng đã đề ra. Do mọi vấn đề đều bắt nguồn từ con người nên giải pháp gì thì cũng phải bắt nguồn từ những cái đầu nghĩ ra và triển khai thực hiện mọi giải pháp.   

Đến đây thì lại nảy sinh ít nhất hai vấn đề khác. Thứ nhất, trong cơ chế hiện tại ở Việt Nam, nơi thai nghén ra các giải pháp thường không phải, không nhất thiết là nơi hiện thực hóa các giải pháp đó. Ngược lại, nơi hiện thực hóa các giải pháp đề ra lại thường không mấy khi thấy quyền lợi của mình trong việc thực thi các giải pháp này. Rốt cuộc thì giải pháp thì cứ được đề ra nhưng thực hiện thì theo kiểu... được chăng hay chớ, may rủi tùy tâm người thực hiện!

Vấn đề tồn tại thứ hai trong cơ chế hiện nay là sự thiếu vắng tập trung quyền lực đồng thời đi kèm với sự tập trung trách nhiệm của người đứng đầu. Trong cơ chế hiện, người có quyền ra quyết định nhưng không phải chịu trách nhiệm với những quyết định của mình bởi đã có lá bài “trách nhiệm tập thể” gánh đỡ hoặc có sự liên quan, can thiệp của nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau nên không thể hoặc khó quy cho một cá nhân nào đó và do đó cũng khó làm triệt tiêu động lực vụ lợi, làm liều hoặc, ở thái cực ngược lại, khó buộc người đứng đầu tận tụy với chức trách của mình. Hơn nữa, cơ chế hiện tại với sự “lãnh đạo tập thể” (trong việc ra quyết định, làm/thực hiện chính sách...) đã che mờ những yếu kém, khiếm khuyết về năng lực, phẩm chất của người lãnh đạo, người đứng đầu nên càng góp phần làm trì trệ tiến trình thực hiện mọi giải pháp phát triển kinh tế, xã hội thích hợp, đúng đắn.
Nếu sự phân tích hai vấn đề như ở trên là xác đáng thì sẽ rõ hướng đi để đến đích phát triển bền vững, tuy chắc chắn sẽ cần nhiều thời gian, nỗ lực và cả sự dũng cảm của nhiều người.

Sunday, 5 January 2020

So sánh lãi suất giữa các nước là vô nghĩa (Bài đăng trên TBKTSG Online, 6/1/2020, tiêu đề do báo đặt lại)

https://www.thesaigontimes.vn/299073/so-sanh-lai-suat-giua-cac-nuoc-la-vo-nghia.html

Bài viết "Khi nền kinh tế làm ra trong 1 năm chưa đủ trả lãi nợ vay" của nhóm chuyên gia độc lập (“các tác giả”) trong và ngoài nước đăng trên TBKTSG số đầu năm 2020 đã vạch ra nguy cơ về cuộc đua tăng lãi suất sẽ dẫn đến khủng hoảng nợ tại Việt Nam trong tương lai. Tuy nhiên, do bài viết có một số điểm chưa chính xác nên khó có thể dựa vào đó để đi đến kết luận như trong bài. Xin được góp ý với các tác giả về những điểm chưa chính xác này.

Trước tiên, cần nói ngay rằng việc so sánh lãi suất giữa các nước như của các tác giả là không có nhiều ý nghĩa, nhất là khi so sánh lãi suất của Việt Nam với lãi suất của một nước đã phát triển như Mỹ. Để minh họa rõ hơn, với sự khác biệt đáng kể về lãi suất của ngay cả các nền kinh tế đã phát triển như Nhật, Singapore, Mỹ, châu Âu..., là những nơi có lãi suất biến thiên trong phạm vi rộng từ mức âm, cận 0, cho đến dương đáng kể, liệu chúng ta có thể kết luận được rằng các nền kinh tế có lãi suất cao là có vấn đề với chuyện nợ nần (của doanh nghiệp)? Ngược lại, lãi suất cao ở Việt Nam không phải là ngoại lệ nếu so sánh với lãi suất của những nước đang phát triển như Ấn Độ, Indonesia.

Thứ hai, về mức lãi của ngân hàng ở Việt Nam, các tác giả lấy lãi suất cho vay cơ bản trừ đi lãi suất tiền gửi không kỳ hạn để tính ra ngân hàng có thể lãi 4,5%. Đồng thời, các tác giả cho rằng trong khi lạm phát là 1,65% thì ngân hàng lãi thật 2,8%.

Tính toán trên chưa chính xác ở chỗ khi tính mức lãi từ hoạt động cho vay của ngân hàng, người ta thường dùng hệ số NIM (Net Interest Margin), là tỷ lệ phần trăm của chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi phải trả chia cho tài sản sinh lãi của ngân hàng (= (Thu nhập lãi – Chi phí lãi)/Tài sản sinh lãi = Thu nhập lãi thuần/Tài sản sinh lãi). Bởi vậy, mức lãi của ngân hàng không được tính đơn giản như các tác giả đã nêu và không nhất thiết là 4,5%.

Ngoài ra, mức lãi của ngân hàng 4,5% (nếu có như trên) không bao giờ được trừ đi mức lạm phát để tính ra “lãi thật”. Bản thân NIM đã là “lãi thật” hiểu theo nghĩa hẹp là chênh lệch giữa thu nhập từ hoạt động cho vay và chi phí nguồn vốn huy động để cho vay (tính trên tài sản sinh lãi). Hoạt động của ngân hàng thương mại thông thường phần lớn là dùng uy tín, tín nhiệm của mình để huy động vốn rồi đem cho vay ngay theo kiểu “tay không bắt giặc” để kiếm chênh lệch thì đâu cần phải xét đến lạm phát như khi tính toán các chỉ số khác, ví dụ, GDP?

Cùng trên ý nghĩa này thì dù lạm phát có lên đến bao nhiêu phần trăm chăng nữa, ngân hàng khó mà lỗ nặng trong hoạt động cho vay (với giả định là ngân hàng vẫn phải xét duyệt cho vay cẩn thận, không làm tăng thêm nợ xấu), trái với kết luận của các tác giả rằng do chạy đua lãi suất, đẩy lãi suất huy động lên 9% trong khi cho vay ưu đãi là 10% và lạm phát dù chỉ là 3% thì ngân hàng lỗ nặng.

Thứ ba, lý giải tại sao lãi suất ở Việt Nam cao, các tác giả viện dẫn lý thuyết của Modigliani-Miller, cho rằng lãi suất tùy thuộc chính vào mức độ rủi ro (của ngân hàng/nền kinh tế?). Tuy nhiên, đây là một diễn giải và áp dụng quá mức/không thích hợp. Bởi lý thuyết Modigliani-Miller chỉ nói rằng giá trị của một doanh nghiệp không phụ thuộc vào cấu trúc vốn của doanh nghiệp đó, bất kể doanh nghiệp này vay nợ nhiều hay ít hay có tỷ trọng nợ trong tổng nguồn vốn cao hay thấp. Nói cách khác, giá trị của một doanh nghiệp có vay nợ là bằng với giá trị của doanh nghiệp không có vay nợ, nếu lợi nhuận hoạt động và triển vọng của doanh nghiệp là như nhau. (1) Như vậy, thậm chí nếu áp dụng lý thuyết này vào chuyện nợ nần của nền kinh tế Việt Nam thì có thể nói ngược lại với kết luận của các tác giả rằng dù nền kinh tế Việt Nam đang có tỷ lệ nợ/GDP cao (và/hoặc đang tăng lên) nhưng “giá trị” của nền kinh tế Việt Nam không nhất thiết vì thế mà bị ảnh hưởng tiêu cực, hay rủi ro của nền kinh tế Việt Nam không nhất thiết vì thế mà (đang tăng) cao.

Thứ tư, việc Moody’s hạ triển vọng xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam gần đây (chứ không phải là hạ xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam như các tác giả nói) không liên quan gì đến những rủi ro/bất cập mà các tác giả nêu gồm khả năng cho vay bị hạn chế (nhất là cho vay bất động sản) kèm với việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tăng tỷ lệ trích lập phòng ngừa rủi ro cho vay bất động sản làm tái hiện cơn sụt giá bất động sản như các năm 2009-2012. Ngoài ra, các tác giả đã không chính xác vì thị trường bất động sản hiện nay đang không hề có “cơn sụt giá” nào cả, nếu không muốn nói là ngược lại.

Thứ năm, không rõ các tác giả lấy nguồn ở đâu, nhưng cứ cho là nợ của khu vực phi tài chính là 13,8 triệu tỷ đồng, và bằng 276% GDP. Dù có tỷ lệ đòn bảy cao như vậy nhưng không thể vì thế mà kết luận rằng GDP tăng 7% trong khi trả lãi 9% (bằng lãi suất danh nghĩa 12% trừ lạm phát 3%) có nghĩa là GDP làm ra một năm không đủ để trả lãi nợ.

Lập luận trên sai vì GDP có thể hiểu là thu nhập thuần cuối cùng của nền kinh tế, sau khi đã trừ đi những chi phí đầu vào, gồm tiền trả nợ lãi và gốc. Bởi vậy, GDP tăng lên 7% thì có nghĩa là quy mô nền kinh tế đã tăng ròng thêm 7% bất kể trả nợ và lãi vay tăng lên bao nhiêu phần trăm. Thêm một điểm bất hợp lý nữa là không thể so sánh mức trả lãi thuần (chênh lệch giữa lãi suất danh nghĩa và lạm phát, như cách tính của các tác giả) với GDP, tương tự như không thể so sánh chi phí vay với lợi nhuận của doanh nghiệp.   

Các tác giả còn có một số điểm chưa chính xác khác như cho rằng NHNN chịu trách nhiệm (quản lý) nợ doanh nghiệp nói chung, bao gồm doanh nghiệp nhà nước, theo Luật quản lý nợ công; hay chuyện Cocobay không trả được lãi theo cam kết là 12% là cảnh báo ban đầu cho sự phá sản của doanh nghiệp. (Thực ra việc không trả được lãi này nên hiểu chủ yếu là hiện tượng riêng lẻ, là kết quả/hậu quả marketing của doanh nghiệp mà thôi).

(1) https://efinancemanagement.com/financial-leverage/capital-structure-theory-modigliani-and-miller-mm-approach

Kinh tế thế giới năm 2020: Tăng trưởng khá hơn nhưng rủi ro hơn (Bài đăng trên TBKTSG, 1/6/2020)

https://www.thesaigontimes.vn/298889/kinh-te-the-gioi-nam-2020-tang-truong-kha-hon-nhung-rui-ro-hon-.html

Thời điểm cuối năm cũng là thời điểm các tổ chức kinh tế trên thế giới đưa ra những nhận định, đánh giá, dự báo hoặc cập nhật mới nhất về nền kinh tế thế giới năm sau. Điểm chung trong nhận định của các tổ chức này là tăng trưởng kinh tế năm sau sẽ khả quan hơn năm 2019 nhưng song hành với đó là sự leo thang của các rủi ro mà nền kinh tế thế giới đang phải đối mặt, nếu không xử lý ổn thỏa thì không có gì đảm bảo cho sự khả quan hơn này.

Chính sách tiền tệ là vị cứu tinh

Trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ-Trung leo thang kích hoạt các rào cản thương mại, gia tăng căng thẳng địa chính trị, các yếu tố tiêu cực cục bộ ở một số nước đang phát triển, và những yếu tố mang tính cơ cấu ở các nước phát triển như tăng trưởng năng suất yếu, dân số già hóa..., tăng trưởng kinh tế thế giới sẽ tụt giảm xuống quanh quẩn 3% trong năm 2019, là mức tăng trưởng thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tăng trưởng yếu này chủ yếu là kết quả của sự tụt giảm mạnh trong tăng trưởng của ngành chế tạo và thương mại toàn cầu khi thuế suất nhập khẩu tăng cao và những bất trắc thương mại kéo dài đã tác động mạnh đến đầu tư và nhu cầu hàng hóa tư bản (thiết bị, máy móc).

Chính sách tiền tệ đã đóng vai trò quan trọng hỗ trợ tăng trưởng trong năm 2019. Với áp lực lạm phát thấp trong khi các hoạt động kinh tế suy yếu, các ngân hàng trung ương chủ chốt trên thế giới đã nới lỏng chính sách tiền tệ một cách thích hợp để vực lại tăng trưởng và ngăn chặn sự hình thành tâm lý rằng lạm phát sẽ tiếp tục ở mức thấp trong tương lai tác động tiêu cực đến tăng trưởng chi tiêu. IMF ước tính rằng nếu không có chính sách tiền tệ nới lỏng hậu thuẫn thì tăng trưởng toàn cầu sẽ giảm đi 0,5 điểm phần trăm trong năm 2019 và 2020.

Phục hồi tăng trưởng chủ yếu ở các nước đang phát triển, mới nổi

Tăng trưởng trong năm 2020 được dự đoán khả quan hơn năm 2019 (theo IMF thì khoảng 3,4% cho năm 2020 so với 3% năm 2019; các tổ chức khác thì có xu hướng dự báo thấp hơn cho cả 2019 và 2020). Sự cải thiện tăng trưởng này chủ yếu đến từ khu vực các nền kinh tế mới nổi và đang tăng trưởng, là khu vực được IMF dự báo đạt tốc độ tăng trưởng 4,6% trong năm 2020 (so với mức thực tế 4,5% năm 2018 và mức dự báo 3,9% năm 2019).

Khoảng một nửa trong mức tăng trưởng 4,6% này sẽ được đóng góp từ sự phục hồi hay bị suy thoái nhẹ hơn so với năm 2019 tại các nền kinh tế chịu nhiều áp lực, bất ổn như Argentina, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ. Phần còn lại là kết quả sự hồi phục tại các nước có tăng trưởng tụt giảm mạnh trong năm 2019 so với 2018 như Brazil, Ấn Độ, Mexico, Nga, và Saudi Arabia. Tuy vậy, cần lưu ý rằng sự phục hồi này còn nhiều bất trắc bởi sự phụ thuộc của chúng vào tăng trưởng kinh tế ở các nước lớn như Mỹ, Nhật và Trung Quốc là những nước được dự đoán sẽ tăng trưởng chậm hơn trong năm 2020 so với 2019.

Trong khi đó, tăng trưởng ở khu vực các nước phát triển được dự đoán sẽ “dậm chân tại chỗ”, với mức tăng đạt 1,7% năm 2020, không đổi so với 2019 (2,3% năm 2018). Điều kiện thuận lợi trên thị trường lao động kết hợp với các gói kích thích kinh tế đã và sẽ giúp bù trừ tác động tiêu cực đến từ nhu cầu yếu hơn từ bên ngoài cho hàng hóa và dịch vụ của những nước này.

Rủi ro đang tăng lên

Độ chính xác của những dự đoán tăng trưởng cho năm 2020 như trên phụ thuộc vào diễn biến sẽ xảy ra trên thực tế của những yếu tố như căng thẳng thương mại và địa chính trị leo thang, gồm những rủi ro liên quan đến Brexit. Những yếu tố này sẽ có khả năng gây ra một sự đổ vỡ niềm tin, gián đoạn luồng chảy tài chính và đảo chiều dòng vốn ở các nền kinh tế đang phát triển. Ở các nước phát triển, lạm phát thấp có thể trở nên khó trị, thu hẹp hơn nữa dư địa của chính sách tiền tệ nới lỏng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Các nước cần làm gì?

Để vực lại tăng trưởng, điều kiện tiên quyết là các nước phải cùng nhau rỡ bỏ các rào cản thương mại dựng lên trong thời gian qua trong những thỏa thuận mang tính bền vững hơn, đồng thời kiềm chế các căng thẳng địa chính trị. Ở trong nước, các chính phủ phải giảm thiểu các bất trắc chính sách. Những hành động riêng và chung này sẽ kích thích khôi phục lòng tin, phục hồi tiêu dùng, đầu tư, thương mại và sản xuất. Trên cái nghĩa này, có thể nói không quá lời rằng kết cục của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung đóng vai trò quyết định đến triển vọng hồi phục tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2020 và cả những năm sau đó.

Về phía mình, chính phủ các nước cần có các chính sách mang tính thăng bằng hơn mà không quá dựa vào chính sách tiền tệ. Chẳng hạn, ở những nước mà chính sách tài khóa vẫn còn dự địa và chưa rơi vào trạng thái nới lỏng quá mức như Đức và Hà Lan thì chi tiêu và đầu tư của chính phủ cho hạ tầng và xã hội cần được đẩy mạnh. Ở những nước khác và nói chung, cần thi hành các cải cách cơ cấu để cải thiện năng suất, tăng cường sức đề kháng và thu hẹp khoảng cách thu nhập. Riêng với các nước đang phát triển thì (cải thiện) sự vận hành hữu hiệu của chính phủ cũng sẽ giúp ích nhiều cho các cuộc cải cách này.

Monday, 30 December 2019

Moody’s hạ triển vọng tín nhiệm của Việt Nam: Hệ quả mới, bài học cũ (Bài đăng trên TBKTSG, 27/12/2019)

https://www.thesaigontimes.vn/298636/moody’s-ha-trien-vong-tin-nhiem-cua-viet-nam-he-qua-moi-bai-hoc-cu-.html

Ngày 18/12/2019, hãng  xếp hạng tín nhiệm Moody’s thông báo xác nhận giữ nguyên xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam ở mức Ba3, nhưng đồng thời hạ triển vọng tín nhiệm của Việt Nam từ mức “Ổn định” xuống mức “Tiêu cực”, kết thúc quá trình xem xét hạ hạng tín nhiệm của Việt Nam trong vòng ba tháng, được Moody’s công bố vào ngày 9/10/2019. (1)               

Như đã biết, động thái xem xét của Moody’s vào ngày 9/10/2019 được kích hoạt bởi những khiếm khuyết về thể chế, liên quan đến những khoản chi trả chậm trễ đối với một nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ Việt Nam. Với việc xác nhận của Moody’s vào ngày 18/12 như nói trên thì Việt Nam có thể tạm thời thở phào rằng việc chậm chễ trong nghĩa vụ trả nợ, dù chỉ là nợ dự phòng, đã may mắn không dẫn đến việc Việt Nam bị hạ hạng tín nhiệm như cảnh báo của Moody’s. Lý do giúp tránh được việc bị tụt hạng tín nhiệm, theo Moody’s, là do chính quyền đã chú tâm hơn đến việc thanh toán sắp tới cho mọi nghĩa vụ nợ của Chính phủ, dù là trực tiếp hay gián tiếp, làm giảm rủi ro tái phát sinh sự chi trả chậm chễ.

Nhìn lại mình trước

Về phía nội bộ Việt Nam, điều đáng lưu tâm là mặc dù lỗi của các bộ, cơ quan chức năng đã bộc lộ rành rành như vậy, như đã bị Thủ tướng phê bình, yêu cầu rút kinh nghiệm, kiểm điểm (2), nhưng Bộ Tài chính vẫn đưa ra những ý kiến bao biện và vô lý như Moody’s hạ triển vọng tín nhiệm chỉ dựa trên sự việc riêng lẻ với nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ mà bỏ qua thành tựu toàn diện trong phát triển kinh tế - xã hội, là "không xác đáng". Bộ này cũng cho rằng việc Moody’s cho biết tiếp tục theo dõi hồ sơ tín dụng của Việt Nam (với triển vọng “Tiêu cực”) "không tương xứng" với nỗ lực của Chính phủ nhằm cải thiện công tác phối hợp hành chính trong việc thanh toán nghĩa vụ nợ dự phòng, đảm bảo không gây tổn thất cho bên cho vay. (3) 

Với phản ứng nói trên, xem ra Bộ Tài chính muốn lái dư luận theo hướng Moody’s đã “thiên lệch” khi chỉ dựa trên “sự việc riêng lẻ” với nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ, trong khi như đã được phân tích ở một bài viết trên TBKTSG trước đây, (4) dù chỉ là “sự việc riêng lẻ”, dù chỉ là “nợ dự phòng” thì với các hãng xếp hạng tín nhiệm độc lập, có uy tín trên thế giới, việc không chi trả đúng hạn vẫn bị coi là vỡ nợ, mất khả năng thanh toán và con nợ sẽ bị đánh tụt hạng tín nhiệm. Nói cách khác, mục đích chính của Bộ Tài chính xem ra chỉ là muốn làm giảm nhẹ trách nhiệm của mình với tư cách là một cơ quan đầu mối trong việc quản lý nợ quốc gia vì đã để xảy ra sự việc đáng tiếc này.

Về chuyện Bộ Tài chính cho rằng việc Moody’s tiếp tục theo dõi hồ sơ tín dụng của Việt Nam với triển vọng “Tiêu cực” là “không tương xứng” với nỗ lực của Chính phủ cải thiện công tác phối hợp hành chính trong việc thanh toán nợ dự phòng, cần nói ngay rằng bộ này phải thấy là vẫn còn may  mắn khi Moody’s chính vì đã thấy có sự cải thiện này mà “nương tay” không hạ hạng tín nhiệm của Việt Nam như dự định ban đầu, mà chỉ hạ triển vọng xếp hạng tín nhiệm. Nên việc nói vớt vát thế này, nếu thật sự Bộ Tài chính thấy oan ức, “không xác đáng”, chỉ cho thấy thái độ “điếc không sợ súng” của bộ này mà thôi.

Bài học

Việt Nam đã chút nữa thì học thêm được một bài học đắt giá về sự trì trệ, quan liêu, kém hiệu quả của bộ máy hành chính từ trên trung ương xuống địa phương có thể gây ra những hậu quả tai hại như thế nào.

Việc Thủ tướng yêu cầu các bộ kiểm điểm, rút kinh nghiệm tuy có giúp xác định rõ nguyên nhân và trách nhiệm nằm ở đâu (mà không phải là do sự “không xác đáng” của Moody’s), nhưng không thể khỏa lấp thực tế rằng sự vô trách nhiệm, kém cỏi của các bộ từ lâu nay đã và đang được thể hiện hàng ngày, hàng giờ trên nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, với một vài ví dụ minh họa điển hình như chậm chễ trong giải ngân đầu tư công, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp... bất chấp đủ loại yêu cầu, thúc giục, chỉ đạo, đe dọa của các cấp đảng, chính quyền từ cấp cao nhất. 

Tuy vẫn biết rằng những sự vô trách nhiệm, kém cỏi của bộ máy hành chính, quản trị nhà nước như hiện nay sẽ còn tiếp tục mang đến cho Việt Nam nhiều bài học đắt giá khác nhưng cứ căn cứ vào những gì đang xảy ra thì xem ra cái mà người ta nhìn thấy nhiều hơn là sự bế tắc, bất lực chứ không có mấy sự khai thông, cải thiện.

Nếu trả lời câu hỏi để tránh phải “gặt hái” những bài học đắt giá thế này thì phải làm gì bằng việc nêu những giải pháp đại loại như cải cách bộ máy hành chính, tuyển dụng “nhân tài”... thì e rằng những giải pháp chung chung như vậy sẽ chẳng dẫn đến đâu như đã được xác nhận bởi thực tiễn; mọi lý do cho sự bất lực sẽ được quy về một mối là “tại cơ chế”.

Nên chi bằng hãy bắt đầu bằng việc tạo “thói quen” cho “cơ chế” biết chấp nhận và “quyết liệt” với việc cách chức, phế truất người đứng đầu mọi cấp liên đới đến vụ việc để có ai đó biết sợ mà tự biết mình phải làm gì và như thế nào, cần phối hợp với ai... để không bị mất chức.

Tiếc là việc tạo “thói quen” này cho ”cơ chế” dường như chưa bao giờ là một dự định nghiêm túc!    

----------------

(1) https://www.moodys.com/research/Moodys-confirms-Vietnams-ratings-at-Ba3-changes-outlook-to-negative--PR_414142

(2) https://vnexpress.net/kinh-doanh/thu-tuong-yeu-cau-kiem-diem-cac-bo-de-viet-nam-bi-ha-tin-nhiem-4030599.html

(3) https://vnexpress.net/kinh-doanh/moody-s-ha-trien-vong-tin-nhiem-cua-viet-nam-4029507.html

(4) https://www.thesaigontimes.vn/295480/dong-thai-cua-moody’s-voi-viet-nam-hieu-dung-de-hanh-dong-dung-.html 

Monday, 9 December 2019

Nhiều cấm đoán hơn về hoạt động thẻ tín dụng: có khả thi? (Bài đăng trên TBKTSG, 9/12/2019)

https://www.thesaigontimes.vn/297721/nhieu-cam-doan-hon-ve-hoat-dong-the-tin-dung-co-kha-thi.html

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang lấy ý kiến cho dự thảo thông tư sửa đổi một số điều tại Thông tư 19/2016 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng. Theo đó, dự thảo sẽ có nhiều cấm đoán hơn về hoạt động của thẻ ATM và thẻ tín dụng do cả ngân hàng và công ty tài chính phát hành.


Cấm để cho có?

Một nội dung cấm đáng lưu ý là cấm sử dụng thẻ để thanh toán ra nước ngoài cho các giao dịch kinh doanh, mua bán ngoại tệ, chứng khoán trên sàn thương mại điện tử nước ngoài; sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch cho các mục đích rửa tiền, tài trợ khủng bố, lừa đảo, gian lận và các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Hiển nhiên là những hoạt động thẻ nói trên nên/cần bị cấm vì đều là những hoạt động làm phương hại đến an ninh, an toàn kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, điều đáng nói là ai, và làm thế nào để xác định được các giao dịch thuộc dạng cấm nói trên và xử lý như thế nào? Nếu dự thảo không đưa ra chi tiết các biện pháp xác định và phòng chống hữu hiệu với cơ quan tổ chức thực hiện cụ thể thì có thể nói ngay rằng quy định như vậy trong dự thảo chỉ là để cho có, nói cho hay, cho tròn trách nhiệm mà thôi.

Về phạm vi sử dụng thẻ tín dụng, dự thảo quy định thẻ tín dụng chỉ được sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ; nạp, rút tiền mặt theo thỏa thuận giữa chủ thẻ với tổ chức phát hành thẻ. Thử hỏi, còn có loại hình giao dịch nào liên quan đến thẻ tín dụng ngoài thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ để bị cấm như nêu trong dự thảo? Giả sử chủ thẻ dùng thẻ tín dụng tiến hành một giao dịch phi thanh toán, dưới dạng chuyển tiền cho một người nào đó nhưng dưới vỏ bọc là thanh toán tiền mua dịch vụ của người này thì liệu giao dịch này có bị cấm, và nếu bị cấm thì trước hết ai và làm sao để phát hiện, làm sao để chứng minh đây là giao dịch khống/bị cấm? 


Tự mâu thuẫn, đào thải
Như nêu ở trên, dự thảo cho phép nạp, rút tiền mặt theo thỏa thuận giữa chủ thẻ với tổ chức phát hành thẻ. Nói cách khác, nếu giữa tổ chức phát hành thẻ (ngân hàng) và chủ thẻ có một thỏa thuận (về việc rút tiền, chuyển tiền) thì việc này là hợp pháp, được công nhận bởi dự thảo.

Nhưng mặt khác, dự thảo lại có những quy định cụ thể nhằm ngăn chặn việc rút tiền mặt qua thẻ hoặc ngân hàng chuyển tiền từ thẻ tín dụng vào tài khoản cá nhân (1). Như vậy, cùng một việc rút tiền mặt, dự thảo lúc thì cho phép, lúc thì cấm đoán. Vậy phải hiểu thế nào cho đúng đây?
Ngoài ra, dự thảo quy định các tổ chức cung cấp dịch vụ thẻ triển khai các biện pháp kiểm soát, ngăn chặn (từ chối giao dịch, từ chối thanh toán thẻ, chấm dứt hợp đồng thanh toán), không cho phép lợi dụng thẻ tín dụng để sử dụng vào các mục đích không đúng quy định, nhằm kiểm soát hiện tượng các ngân hàng thương mại chuyển tiền từ thẻ tín dụng vào tài khoản cá nhân, không đúng với quy định hiện hành. Quy định lúng túng, khiên cưỡng kiểu này cho thấy trước sự bất hiệu quả bởi NHNN để cho ngân hàng thương mại tự kiểm soát, ngăn chặn các hành vi chuyển tiền của... chính ngân hàng thương mại đó!

Phải chứng minh sự nguy hại
NHNN đã tỏ ra rất “quan ngại” với việc rút tiền mặt qua thẻ và chuyển tiền từ tài khoản thẻ tín dụng vào tài khoản cá nhân. Sự lo ngại này được chính thức đề cập đến bằng những điều khoản cụ thể trong dự thảo. Báo chí thì tiếp tục hưởng ứng bằng việc nêu (lại) những trường hợp “người thực việc thực” liên quan đến việc rút tiền khống và chuyển tiền này với “tông” giọng cũng rất “quan ngại”, nhưng lại không chỉ ra được rằng hành vi này đã dẫn đến hậu quả gì.

Trên hết, cho đến nay vẫn chưa thấy có bất cứ diễn giải thuyết phục nào cho thấy việc rút tiền mặt qua thẻ và chuyển tiền từ tài khoản thẻ tín dụng vào tài khoản cá nhân lại gây ra một mối nguy hại đáng kể cụ thể nào đó cho trật tự kinh tế, xã hội từ phía nhà làm luật, giới chuyên gia cũng như người trong ngành. Như đã được đề cập đến trong một bài viết trên TBKTSG (2), nếu có chăng thì chỉ là một vài diễn giải, quan điểm khá mơ hồ, thiếu thuyết phục để cần thiết phải cấm đoán nghiêm ngặt các hành vi này.
Vì vậy, trước khi muốn đặt ra ngoài vòng pháp luật các hành vi rút tiền khống và chuyển tiền nêu trên như trong dự thảo thì NHNN cần thiết phải có giải trình chính thức, đầy đủ và xác đáng tại sao những hành vi trên cần phải bị cấm. Rất tiếc, cho đến nay, NHNN dường như vẫn chưa có một giải trình chính thức như vậy trước công luận cũng như trước các cơ quan hữu quan.

Nếu không, sự cấm đoán, luật hóa này chỉ phản ánh ý chí một chiều của nhà làm luật mà thiếu đi sự hiểu biết cần thiết, sự tham khảo thực tiễn các nước trên thế giới, và quan trọng hơn là sẽ bị vô hiệu hóa trên thực tế bởi đi ngược lại nhu cầu xác đáng của nhiều người trong xã hội.
(1) http://cafef.vn/siet-the-tin-dung-thong-diep-manh-tay-tu-ngan-hang-nha-nuoc-20191201075622109.chn
(2) https://www.thesaigontimes.vn/td/292460/chi-khong-cho-vay-qua-the-tin-dung-dang-lo-toi-dau.html

Saturday, 7 December 2019

Tín dụng gì cũng phải mang tính thương mại (Bài đăng trên TBKTSG bản in, số 48-2019)


Ở các nước đang phát triển, một trong các vấn đề nổi cộm là chính sách tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, siêu nhỏ, và hộ gia đình để tạo công ăn việc làm, xóa đói, giảm nghèo. Việt Nam với hình thái xã hội “định hướng xã hội chủ nghĩa” thì càng không chỉ đặc biệt coi trọng vấn đề này mà còn cả vấn đề cho vay “theo định hướng”, theo chỉ đạo để chứng tỏ đó là một ưu việt hơn hẳn các hình thái xã hội khác.

Cho vay theo chỉ đạo qua các ngân hàng thương mại đã để lại nhiều hậu quả

Cho vay theo định hướng, theo chỉ đạo có thể diễn ra với các ngân hàng thương mại nói chung (NHTM). Mô thức chung là nhà nước đưa ra một chương trình, đối tượng cho vay ưu tiên nào đó và “khuyến khích” các NHTM tham gia, hưởng ứng. Thông thường, những đối tượng vay vốn trong các chương trình này thuộc dạng dưới chuẩn nên tất nhiên là nếu nhà nước chỉ hô hào, khuyến khích không thôi thì sẽ không có ngân hàng nào tự nguyện cho vay các đối tượng này, do rủi ro mất vốn là rất cao. Bởi vậy, để việc cho vay được diễn ra hanh thông theo ý chí, nhà nước buộc phải đưa ra những đảm bảo, cam kết và/hoặc đãi ngộ đặc biệt cho các NHTM hưởng ứng lời kêu gọi của mình dưới dạng, ví dụ, bù lãi suất, miễn, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, vay vốn từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) với lãi suất và điều kiện ưu đãi...

Với đầu vào được bảo đảm như vậy, hậu quả tất yếu là các NHTM sẽ mất đi động lực xét duyệt, thẩm định con nợ và khoản vay, theo dõi sử dụng vốn vay và trả nợ. Thậm chí còn xảy ra tình trạng “đục nước béo cò”, với sự trục lợi của cán bộ tín dụng ngân hàng (bắt tay với con nợ).   

Trên thực tế, thật hiếm thấy một chủ trương cho vay theo chỉ đạo, theo sự định hướng, vận động, khuyến khích của Chính phủ và các cơ quan chủ quản như NHNN nào đó lại thành công (mà không để lại “tì vết”, hậu quả lớn cho ngân sách). Điều này được minh họa qua các thảm họa mang tính đại diện như chương trình mía đường, xi măng lò đứng, đánh bắt xa bờ, chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, phát triển sân bay, cảng biển...

Cho vay định hướng qua các ngân hàng chuyên biệt cũng nhiều vấn đề

Việc khuyến khích, động viên của nhà nước trong cho vay theo định hướng không phải lúc nào cũng được hưởng ứng nhiệt liệt và “hết mình” bởi các NHTM vì những rủi ro đi kèm với loại hình cho vay kiểu này không thể dễ dàng mà “đẩy” hết cho NHNN “gánh”, ít nhất thì cũng bởi độ chễ chính sách, hoặc bị rơi vào tình trạng “chờ được mạ thì má đã sưng”.

Do đó, nhà nước đã cho lập ra các ngân hàng chuyên để phục vụ mục đích này. Đó là Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) và Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB). Điểm chung của hai ngân hàng này là đều là ngân hàng phi lợi nhuận, được nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 0%, và không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi.

Hai ngân hàng này có một số khác biệt. Về nguồn vốn, VDB được nhà nước cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý. Về đối tượng phục vụ, VDB tập trung vào các hoạt động tín dụng đầu tư phát triển, tín dụng xuất khẩu của nhà nước được Chính phủ và Thủ tướng quyết định, trong khi NHCSXH có nhiệm vụ thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác (1).

Tuy cùng là ngân hàng phi lợi nhuận, phục vụ ý chí của nhà nước nhưng kết quả hoạt động dưới góc độ bảo toàn vốn nhà nước giữa hai ngân hàng này lại rất khác nhau. Như báo chí đã loan tải, VDB hoạt động thua lỗ nặng, bị âm vốn ở mức độ lớn với tỷ lệ nợ xấu cao (tại thời điểm 12/2018 là 17,2% tổng dư nợ). Trái ngược với VDB, NHCSXH lại có mức nợ xấu rất thấp (thường xuyên dưới 1% tổng dư nợ), trong khi tổng dư nợ lại rất lớn (đạt hơn 200 nghìn tỷ đồng tính đến 30/9/20190.

Việc VDB thua lỗ, gây thiệt hại lớn cho ngân sách nhà nước là điều hoàn toàn không bất ngờ, đã được đoán trước từ mô hình hoạt động mà cả đầu vào và đầu ra được nhà nước “bao” (ở mức độ cao hơn nhiều) như với trường hợp các NHTM tham gia các chương trình cho vay theo định hướng của nhà nước như đã nói ở phần trên. 

Vậy điều bất ngờ đáng nói ở đây là kết quả hoạt động của NHCSXH lại trái ngược với VDB, không đúng như “tiếng xấu” dành cho loại hình ngân hàng hoạt động theo định hướng của nhà nước. Do đó, câu hỏi liên quan được đặt ra ở đây là tại sao cùng là loại  hình tín dụng duy ý chí nhưng loại hình này thì thành công còn loại hình kia lại thua lỗ nặng nề? Điều gì tạo nên sự khác biệt này?

Vẫn phải mang tính thương mại

So sánh đối tượng phục vụ của hai ngân hàng, có thể thấy quy mô tín dụng càng lớn thì tỷ lệ nợ xấu, thua lỗ, thất thoát cũng càng lớn. Điều này là tất yếu bởi quy mô khoản cho vay càng lớn có nghĩa là rủi ro tín dụng tập trung càng lớn, nên khi một con nợ mất khả năng thanh toán sẽ làm tăng vọt tỷ lệ nợ xấu của VDB lên. Trong khi ở NHCSXH, các khoản cho vay thường chỉ vài triệu đến vài chục triệu cho một khoản vay/người vay trong hàng vạn khoản vay/người vay, nên tỷ lệ nợ xấu đương nhiên sẽ ở mức thấp hơn nếu các điều kiện khác không thay đổi. Bởi vậy, điểm thứ nhất có thể rút ra là với các ngân hàng cho vay theo chỉ đạo, để hạn chế nợ xấu và cụt vốn thì cần phải giảm thiểu rủi ro cho vay tập trung vốn, tức bằng cách giảm quy mô cho vay với từng con nợ.

Điểm thứ hai tạo ra sự khác biệt trong kết quả hoạt động của hai ngân hàng là sự bảo trợ, bảo hộ, giám sát, đôn đốc trả nợ. Với NHCSXH, thông qua công tác ủy thác cho vay qua các tổ chức hội, đoàn thể như Hội Phụ nữ, Hội Nông dân..., người vay tiềm năng được được bình xét và giới thiệu vay vốn (như một hình thức bảo lãnh không chính thức). Kết hợp với khoản vay nhỏ, người vay trong một cơ chế “kèm cặp tại gia” chặt chẽ như vậy muốn “xù” nợ cũng khó. Việc cho vay và trả nợ do đó thường diễn ra suôn sẻ, ít phát sinh vấn đề hơn.

Với mô hình cho vay của VDB, quan hệ tín dụng diễn ra hầu như chỉ giữa hai bên, ngân hàng và người vay. Trong khi đó, như đã nói, nhà nước “bao” cả đầu vào và đầu ra cho VDB, với đầu vào là nguồn vốn được nhà nước lo, cứ hụt lại được bơm đầy (nhờ được bù lãi suất và chi phí quản lý), và đầu ra là các đối tượng theo chỉ đạo cho vay mà ngân hàng nhiều khi không thể nói không dù muốn. Trong có chế cho vay đó, thật dễ để để cho cả người cho vay và kẻ đi vay coi tín dụng theo chỉ đạo là con bò sữa tha hồ mà vắt mà không phải gánh chịu trách nhiệm gì, thua lỗ đã có nhà nước gánh chịu. Vì thế, những yếu tố thương mại làm căn cứ để xét duyệt cho vay thông thường cần phải có với mọi khoản tín dụng thương mại đều bị xem nhẹ, bỏ qua. Việc cho vay vốn cứ thế mà triển khai mà chẳng cần phải bận tâm mấy đến lịch sử tín dụng của con nợ, có bảo lãnh/tài sản bảo đảm hay không, sử dụng vốn có đúng mục đích hay không... Thực trạng này càng trầm trọng thêm nếu những người có trách nhiệm ở ngân hàng có động cơ trục lợi, cố tình nhắm mắt bỏ qua – một rủi ro khó có thể loại trừ.

Như vậy, nếu phải so sánh hai mô hình NHCSXH và VDB, tuy cùng là ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước, phi lợi nhuận, và cho vay theo chỉ đạo, định hướng, điều mang lại thành công cho NHCSXH là quy mô khoản vay nhỏ, không được nhà nước “bao” lãi suất và phí quản lý, được lựa chọn khách vay (thông qua ủy thác cho và hợp tác với hội đoàn cơ sở để giới thiệu và đôn đốc con nợ). Nói cách khác, cho dù là cho vay theo chính sách, về cơ chế có thể nói NHCSXH vẫn phải vận hành và quản lý tín dụng và con nợ như một ngân hàng thương mại thông thường khác nếu không muốn bị thua lỗ, cụt vốn (và không được bù đắp bởi ngân sách). Ở đây xin không bàn đến chất lượng và mức độ “trong sạch”, cũng như phương châm hoạt động của đội ngũ quản lý ở hai ngân hàng.

Trên hết, phải tiến tới chấm dứt cho vay theo chỉ đạo

Nếu áp dụng nguyên tắc hoạt động mang tính thương mại hơn (với quy mô cho vay nhỏ) của NHCSXH cho VDB, sẽ dẫn đến hậu quả là nhiều con nợ tiềm năng sẽ không được vay vốn ưu đãi của VDB để rồi các định hướng chính sách sẽ không được thực hiện, làm cho mô hình này tự phủ nhận, và đây sẽ là cơ sở để nhiều người phản đối cải tổ mô hình hoạt động của VDB. Đến đây sự việc tỏ ra bế tắc.

Nhưng cần suy nghĩ rộng hơn ra bên ngoài cái hộp. Sự thất bại và tai tiếng của VDB như hiện thời có phần nguyên nhân quan trọng là thực tế những chỉ đạo cho vay từ các cơ quan có thẩm quyền phần lớn rất duy ý chí, định thay thế thị trường để điều tiết các nguồn lực nhằm hướng đến một cái đích tưởng tượng nào đó. Để tránh điều này, nhà nước cần giảm thiểu mọi định hướng và chỉ đạo, đặc biệt liên quan đến tín dụng ngân hàng.

Nếu vẫn cứ muốn duy trì VDB để tăng cường tín dụng theo định hướng thì hãy cải tổ nó thành một NHTM nhà nước với đầu vào là nguồn vốn ưu đãi của nhà nước, đầu ra tuy tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích phát triển nhưng phải theo các nguyên tắc hoạt động của NHTM thông thường (trong việc lựa chọn, xét duyệt cho vay và theo dõi, thu hồi nợ). Ban lãnh đạo VDB nếu không điều hành ngân hàng với phương châm bảo toàn vốn thì cần bị xử lý, thay thế ngay khi chưa quá muộn.
(1) https://bizlive.vn/ngan-hang/hai-thai-cuc-no-xau-o-hai-mo-hinh-ngan-hang-viet-nam-3524268.html

Wednesday, 4 December 2019

Liên tục "hành động mạnh", Ngân hàng Nhà nước đang nhắm đến đích gì? (Bài đăng trên CafeF, 3/12/2019)

http://cafef.vn/lien-tuc-hanh-dong-manh-ngan-hang-nha-nuoc-dang-nham-den-dich-gi-20191203080749546.chn

Trong thời gian ngắn gần đây Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã liên tục có những động thái chính sách liên quan đến tiền tệ, ngân hàng. Cụ thể, tiếp nối sau động thái hạ 0,25 điểm phần trăm một số lãi suất điều hành trong tháng 9, NHNN hồi tháng 10 quyết định cắt giảm trần lãi suất cả huy động lẫn cho vay đối với các tổ chức tín dụng. Trung tuần tháng này, NHNN hạ 0,5 điểm phần trăm lãi suất OMO. Và mới hôm qua 02/12 NHNN lại ban hành các quyết định lãi suất đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo hướng giảm đáng kể (giảm 0,4 điểm phần trăm so với mức ban hành hồi tháng 7 là 1,2% đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc VNĐ của TCTD tại NHNN).

Xoay quanh những động thái liên tục của nhà điều hành, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với chuyên gia tài chính TS. Phan Minh Ngọc để hiểu rõ thêm về mục tiêu mà NHNN đang hướng tới.
PV. Thưa ông, có nhiều người cho rằng các động thái về chính sách tiền tệ của NHNN thời gian qua đều nhất quán hướng đến một đích duy nhất là hỗ trợ các ngân hàng và hạ mặt bằng lãi suất trong nền kinh tế theo định hướng của Thủ tướng đưa ra mới đây, ông nghĩ sao về ý kiến này?
TS. Phan Minh Ngọc: Thực tế không hoàn toàn (đơn giản) như vậy. Bởi các động thái vừa đưa ra của NHNN thực ra không có cùng mục đích, và, do đó, việc hiểu được và hiểu đúng động thái của NHNN không phải là điều dễ dàng (và có lẽ ngay cả NHNN cũng khó có thể cắt nghĩa rõ ràng các động thái của mình).
Ông có thể phân tích cụ thể hơn từng động thái vừa qua của NHNN?
Trước hết là với việc hạ lãi suất điều hành 0,25 điểm phần trăm. Về nguyên tắc, đây chính là một động thái nới lỏng tiền tệ. Nhưng mức cắt giảm lãi suất điều hành như vậy là quá nhỏ (trên mặt bằng lãi suất điều hành các loại 5-7%), đặc biệt là so với mức cắt giảm tương đối ở các nước khu vực (tuy cũng là 0,25% nhưng trên một mặt bằng lãi suất khá thấp 2-3%). Đó là chưa kể NHNN có sẵn lòng cung ứng vốn với lãi suất hạ đi như vậy cho các TCTD hay không là điều chưa được thể hiện rõ ràng.
Như vậy, như đã được phân tích trước đây, việc hạ lãi suất điều hành này của NHNN chỉ mang tính biểu trưng là chính, khó có thể nói rằng chính sách tiền tệ tại Việt Nam đã được nới lỏng. Và theo đó thì cũng khó có thể nói NHNN đã hỗ trợ tích cực hệ thống ngân hàng thương mại qua việc hạ lãi suất này, trừ khi trong tháng này và những tháng tới NHNN lại tiếp tục có những động thái tương tự.
Chuyển sang việc NHNN hạ lãi suất trên thị trường OMO. Mức hạ 0,5 điểm phần trăm tuy là mức hạ đáng kể (thực tế đây là bước giảm lớn nhất trong 5 năm trở lại đây và là lần giảm thứ hai trong năm nay) nhưng lưu ý kênh này đã không hoạt động trong gần 3 tháng trước đó. Như vậy, có thể nói việc hạ lãi suất OMO có chăng chỉ mang tính thời vụ, nhất thời, nhằm "chữa cháy" thanh khoản của hệ thống trong từng thời điểm là chính, chứ không nhất thiết là một phần trong một chuỗi các hành động nhất quán hướng đến mục tiêu là giảm lãi suất và hỗ trợ hệ thống ngân hàng thương mại.
Đến hành động hạ trần lãi suất huy động và cho vay với các TCTD thì bản chất sự việc đã hoàn toàn khác so với các hành động nêu trên. Cụ thể hơn, cần lưu ý rằng việc hạ trần lãi suất thực chất là một biện pháp hành chính mà NHNN áp dụng đối với hệ thống ngân hàng thương mại qua đó (hy vọng) làm giảm được mặt bằng lãi suất trong nền kinh tế, trong khi NHNN không phải nới lỏng tiền tệ để hạ lãi suất như là một chức năng chính của họ. Nói cách khác, các ngân hàng thương mại phải tự xoay sở, cân đối để  sao cho vẫn giữ chân được khách hàng gửi tiền với lãi suất huy động thấp hơn trong khi phải cắt giảm lãi suất cho vay với một số đối tượng, loại hình. Như thế, thậm chí phải nói ngược lại rằng việc cắt giảm trần lãi suất huy động và cho vay đã và sẽ làm khó (nhiều) TCTD.
Đối với hành động hạ lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc, điều này cũng có tác dụng tương tự như việc hạ trần lãi suất huy động và cho vay ở cái nghĩa là nó sẽ làm khó, chứ không phải làm dễ, cho các TCTD. 
Nhân đây, cần lưu ý rằng hành động này của NHNN là hoàn toàn khác với hành động nới lỏng tiền tệ thông qua việc cắt giảm tỷ lệ tiền gửi dự trữ bắt buộc. Dường như đang có sự nhầm lẫn lớn hiện nay, đánh đồng việc hạ lãi suất trả trên tiền gửi dự trữ bắt buộc của các TCTD tại NHNN với việc NHNN hạ tỷ lệ tiền gửi dự trữ bắt buộc áp dụng với các TCTD.
Khi NHNN hạ lãi suất áp dụng cho các khoản tiền gửi dự trữ và vượt dự trữ bắt buộc của các TCTD thì có nghĩa là TCTD sẽ nhận được ít hơn tiền lãi cho cùng một khoản tiền gửi dự trữ bắt buộc của mình tại NHNN. Nói cách khác, điều này tương tự như việc NHNN thắt chặt chính sách tiền tệ, làm số tiền cung ra nền kinh tế giảm đi. Với sự cắt giảm tới 0,4 điểm phần trăm trên mức lãi suất 1,2%, có thể nói sự thắt chặt tiền tệ này của NHNN là rất đáng kể.
Vậy theo ông các chuỗi hành động chính sách mạnh và liên tiếp của NHNN là nhắm tới điều gì?
Xâu chuỗi các hành động chính sách gần đây của NHNN, điều có thể kết luận được ở đây chỉ là NHNN vẫn đang điều hành chính sách tiền tệ trung thành với phương châm từ trước đến này của mình là "thận trọng" (theo hướng thắt chặt nhiều hơn là nới lỏng, để không kích hoạt lạm phát, tỷ giá yếu đi v.v...), "linh hoạt" (sẽ nới ra đôi chút và nhất thời khi việc thắt chặt chính sách tiền tệ gây ra sự căng thẳng quá mức trong thanh khoản), và "đồng bộ" (sử dụng nhiều công cụ lãi suất, và cả tỷ giá).


Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).