Monday, 1 September 2014

Không nên chạy theo tăng trưởng tín dụng! (Bài đăng trên Cafef, 1/9)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/khong-nen-chay-theo-tang-truong-tin-dung-201408312155131707ca34.chn

Đến gần hết 8 tháng mà tốc độ tăng trưởng tín dụng mới đạt được 4,33% so với tháng 12 năm ngoái. Tốc độ này thấp xa mức mục tiêu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đặt ra cho năm nay là 12-14% để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP là 5,8% cho năm nay. Vì cho rằng tăng trưởng tín dụng là yếu tố chủ chốt thúc đẩy tăng trưởng GDP nên nhiều người đã rất sốt ruột, hối thúc có các giải pháp quyết liệt hơn nữa để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng tín dụng như mục tiêu đã đề ra.

Có điều, nhìn lại tốc độ tăng trưởng tín dụng và GDP trong thập kỷ qua và những năm gần đây, như thể hiện ở đồ thị bên dưới, có thể thấy quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và GDP tuy là quan hệ tỷ lệ thuận nhưng khá lỏng lẻo. Có những giai đoạn như 2001-03, để GDP tăng trưởng trên 6%/năm thì tín dụng cần tăng trưởng trong mức 20-30%/năm. Nhưng để đẩy tốc độ tăng trưởng GDP thêm 1 điểm phần trăm nữa, tức trên 7% thì tín dụng thậm chí phải tăng trưởng đến trên 40-50%/năm như trong giai đoạn 2004-07. Trong khi đó, nếu GDP tăng trưởng ở mức vừa phải 5,3%-6,2% như trong giai đoạn 2011-14 thì chỉ cần tăng trưởng tín dụng ở mức khoảng 14%/năm đổ lại.

Không nên chạy theo tăng trưởng tín dụng
Nói cách khác, cái giá để đổi lấy thêm 1 điểm phần trăm tăng trưởng GDP là khá đắt nếu tính bằng tốc độ tăng trưởng tín dụng, và đằng sau nó là tốc độ tăng trưởng cung tiền phải cao. Mà tốc độ tăng cung tiền càng cao thì thường đi kèm với hậu quả là lạm phát cao, như thực tế ở Việt Nam đã cho thấy trong những năm trước.

Từ quan sát trực quan đơn giản trên, có thể suy ra rằng hầu như chẳng có một cơ sở, hay đúng hơn là một quan hệ tuyến tính nào kiểu như tín dụng phải tăng X% để GDP tăng Y%. Điều này cũng có nghĩa là không nhất thiết phải “thúc” tăng trưởng tín dụng năm nay đạt con số 12-14% như kế hoạch mục tiêu đề ra đầu năm thì mới đạt được tăng trưởng GDP là 5,8% như nhiều người đang quan niệm và thúc giục NHNN có hành động mạnh hơn nữa.

Hàm ý của kết luận trên là thay vì chú trọng vào con số tăng trưởng, và tìm mọi cách để đạt được con số đó bằng những biện pháp cực đoan như dồn tín dụng vào cuối năm, cho một số doanh nghiệp nhà nước, thực hiện bởi một số ngân hàng thương mại nhà nước, hoặc đốc thúc ngân hàng thương mại cho vay tín chấp với nhiều rủi ro hơn, hoặc tệ hơn là cho vay chỉ định, bù lãi suất v.v... để cốt sao chạm được đến đích tăng trưởng tín dụng đặt ra, thì nỗ lực và sự tập trung của ngành ngân hàng vẫn phảivà chỉ nên dồn vào chất lượng tín dụng để sao cho vốn tín dụng đi đúng nơi cần đến và không tạo ra thêm nợ xấu, là cái sẽ tiếp tục chặn dòng vốn tín dụng hiệu quả ra nền kinh tế.

Trong bối cảnh cần coi trọng chất hơn là lượng như thế này, NHNN thay vì sốt ruột phải “bắt tay chỉ việc”, chỉ định, yêu cầu các ngân hàng thương mại nên cho vay thế này thế kia thì nên quay trở lại với vai trò quản lý và giám sát truyền thống của mình để đảm bảo cho cả hệ thống hoạt động tuân theo những luật lệ và quy định, đồng thời đảm bảo thanh khoản luôn đáp ứng được nhu cầu của hệ thống.

Saturday, 30 August 2014

Nên cổ phần hóa cả bệnh viện công! (Bài đăng trên Cafef, 31/8)

http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/nen-co-phan-hoa-ca-benh-vien-cong-2014083110050198313ca33.chn

Hiện nay Chính phủ mới có chủ trương cổ phần hóa các bệnh viện ngành chứ chưa có chủ trương cổ phần hóa kể các bệnh viện công. Lý do chủ yếu là vấp phải phản ứng dữ dội của dư luận vì lo ngại quyền lợi của người dân, nhất là người có thu nhập thấp, trong việc khám chữa bệnh sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Người ta cho rằng bệnh viện công vẫn cần được giữ nguyên là bệnh viện công để nhà nước thể hiện được vai trò của mình trong việc điều tiết các lợi ích xã hội mà toàn dân được hưởng.

Lo ngại trên là có cơ sở, vì cổ phần hóa bệnh viện công về bản chất chính là tư nhân hóa các bệnh viện này, cho dù Nhà nước vẫn có thể là cổ đông lớn nhất và chi phối. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là sau khi đã cổ phần hóa, liệu các bệnh viện này có bị “thúc”, hoặc có nên chạy theo xu hướng thương mại hóa các hoạt động khám chữa bệnh của mình hay không?
 
Câu trả lời rõ ràng là “có”, và cần phải như vậy. Nói cách khác, xã hội hóa (ngành y tế) thông qua cổ phần hóa là điều rất nên làm. Đây chắc chắn là một khuyến cáo gây sốc cho rất nhiều người vì xu hướng chung là phản đối cổ phần hóa.
 
Có lẽ, xã hội hóa ngành y tế, đồng thời vẫn đảm bảo công bằng trong khám chữa bệnh cho mọi người, dù là giàu hay nghèo, cho đến nay vẫn thường chỉ được hiểu và thực hiện theo cách thức: Nhà nước giảm chi tiêu cho ngành này, thay vào đó là áp dụng chế độ thu viện phí với người có thu nhập cao, hoặc áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc (và tự nguyện), trong đó người có thu nhập cao thì phải đóng bảo hiểm nhiều hơn là người có thu nhập thấp, để lấy kinh phí đó bổ sung cho các bệnh viện hoạt động (theo kiểu “lấy người khỏe nuôi người yếu, lấy bệnh nhân nuôi bệnh nhân”). Tất nhiên, phương hướng này về bản chất là rất tốt, và luôn cần phải thực hiện trên diện rộng toàn xã hội.

Thế nhưng, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, phương hướng này không đem lại kết quả như ý muốn, khi mà các bệnh viện thì tiếp tục xuống cấp và luôn luôn quá tải, tinh thần và thái độ phục vụ cũng như y đức của các bác sĩ và y tá xấu đi, Nhà nước vẫn buộc phải rót thêm kinh phí để hỗ trợ cho hệ thống y tế công cộng v.v... Tình trạng bất bình đẳng không được giải quyết, khi mà quy định về tuyến khám bệnh vẫn được áp dụng cho những bệnh nhân có thẻ bảo hiểm (nên bệnh nhân dù có muốn vào một bệnh viện công tốt nào đó, như Bình Dân, sẽ không vào được nếu họ là bệnh nhân “trái tuyến”). Thậm chí nhiều bệnh nhân không dám chìa bảo hiểm ra để được khám chữa với giá rẻ, đành phải chi tiền để “chạy thầy”, vì bảo hiểm y tế bị xem thường trong nhiều bệnh viện công v.v...

Bổ khuyết cho phương hướng xã hội hóa kiểu này là hình thức cổ phần hóa. Một bệnh viện được cổ phần hóa theo đúng thực chất của nó sẽ có một ban giám đốc điều hành bệnh viện nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trên số vốn đóng góp của cổ đông, bất kể đó là Nhà nước hay tư nhân. Với nguyên tắc hoạt động như vậy, chắc chắn người không có hoặc ít tiền sẽ không thể tự mình vào đây chữa chạy. Đổi lại, bệnh viện sẽ hoạt động theo hướng hết sức nâng cao chất lượng phục vụ bệnh nhân theo đúng nghĩa để làm họ hài lòng, từ đó tăng mức lợi nhuận cho bệnh viện. Điều này là hết sức bình thường và đúng đắn. Điều bức xúc duy nhất chỉ là: Hóa ra người nghèo đang từ chỗ được, nay không được bước chân vào những bệnh viện này nữa!

Bức xúc này tuy chính đáng nhưng đặt không đúng chỗ! Thứ nhất, cho dù không cổ phần hóa thì không phải ai cũng được vào đây chạy chữa (nếu như không có tiền, hoặc không có bảo hiểm, hoặc trái tuyến).

Thứ hai, chính sách xã hội áp dụng cho bệnh nhân nghèo (ví dụ miễn giảm viện phí) không phải là trách nhiệm của bệnh viện, kể cả trước khi cổ phần hóa. Đấy là trách nhiệm của Nhà nước và các tổ chức xã hội phi Chính phủ, còn bệnh viện chỉ là nơi thực hiện chính sách đó. Nếu muốn cho người nghèo được vào khám chữa ở các bệnh viện này thì nguồn tài chính cần phải đến từ bên ngoài bệnh viện, như từ quỹ bảo hiểm y tế, từ các chương trình hỗ trợ người nghèo, hay từ các quỹ từ thiện v.v... Nếu không cổ phần hóa thì Nhà nước sẽ vẫn phải tiếp tục phải bù lỗ cho hoạt động xã hội này của bệnh viện, và tức là chẳng có gì thay đổi.

Thứ ba, với nguyên tắc thị trường, hoạt động “kinh doanh khám chữa bệnh” của các bệnh viện chắc chắn sẽ rất phát đạt, xét trong bối cảnh nhu cầu khám chữa bệnh (đặc biệt các dịch vụ khám chữa chất lượng cao, mà chỉ có thể có được ở những bệnh viện có đầu tư lớn về nhân lực và cơ sở vật chất) ngày càng tăng, trong khi cơ sở hạ tầng của ngành không theo kịp. Với mức lợi nhuận lớn phải trả cho cổ đông là Nhà nước, Nhà nước sẽ có thêm một nguồn kinh phí không nhỏ để điều tiết cho các nơi khác, mục đích xã hội khác, trong khi không phải lo lắng đến việc bỏ vốn để nâng cấp các bệnh viện (nhằm thu hút bệnh nhân khá giả).

Ở nước ngoài, như Nhật, có lẽ không còn khái niệm bệnh viện công hay tư nữa, mà chỉ còn khái niệm bệnh viện nào tốt hay tồi, phù hợp hay không. Mọi bệnh nhân, nếu có thẻ bảo hiểm y tế, đều có thể đến chữa chạy mọi cơ sở y tế họ thấy thích hợp. Phần lớn kinh phí chữa chạy cho bệnh nhân (khoảng 70-75%) được thanh toán với hệ thống bảo hiểm y tế bắt buộc (theo biểu quy định thống nhất). Tất nhiên, có riêng những chính sách xã hội được áp dụng để hầu như ai cũng có thể có thẻ bảo hiểm, và những ai không đủ khả năng chi trả phần chi phí còn lại có thể xin trợ cấp.

Như vậy, thay vì chỉ trích cổ phần hóa bệnh viện, cần phải chỉ trích tại sao hệ thống bảo hiểm y tế đã có mà không phát huy tác dụng trong việc nâng cấp chất lượng khám chữa bệnh, hay giảm những tiêu cực, bức xúc trong ngành y tế, làm cho xã hội hóa theo phương hướng này còn quá nhiều bất cập. Trong bối cảnh này, việc có thêm một hệ thống bệnh viện cổ phần hóa sẽ góp phần làm tốt hơn chất lượng khám chữa bệnh, cho dù chỉ là đối với những người có tiền, và là một điều tốt hơn là không có!

Friday, 29 August 2014

Không hiểu cái khái niệm "yếu" của các đồng chí này là cái gì

Đồng chí Nguyễn Văn Nên (tương tự như nhiều đồng chí khác, như kiểu Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia) một mặt thì cho biết thế này:
“Dựa trên tình hình kinh tế 8 tháng và dự báo thực hiện cả năm, trong 14 chỉ tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra cho năm 2014, dự kiến có 12 chỉ tiêu đạt và vượt, trong đó tăng trưởng GDP đạt 5,8%, chỉ số giá tiêu dùng khoảng 5%...”.
 
Nhưng mặt khác, đồng chí Nên cho rằng, "tín hiệu đáng mừng là đến nay nền kinh tế trên đà phục hồi khá rõ nét, khi cả 3 khu vực là công nghiệp chế biến, nông nghiệp và dịch vụ đang tăng trưởng đều. Tuy nhiên, tổng cầu của nền kinh tế vẫn yếu, tăng trưởng tín dụng vẫn chậm, tuy đã triển khai nhiều biện pháp chỉ đạo quyết liệt…"
 
Tớ nói đi nói lại rồi, rằng tớ chịu các đồng chí. GDP luôn tăng quý sau cao hơn quý trước, năm sau cao hơn năm trước, và nay dự tính đạt đến 5,8% (các đồng chí thử kể ra xem được mấy nước hiện nay đạt tốc độ tăng trưởng thế này?) mà còn vẫn than vãn rằng "tổng cầu vẫn yếu". Hay các đồng chí coi tổng cầu chẳng liên quan gì đến GDP, nên tuy GDP có tăng khá nhưng tổng cầu thì không tăng?
 
Rồi nữa, "tăng trưởng tín dụng vẫn chậm" mà GDP dự kiến tăng trưởng đến 5,8% thì tự khắc sẽ phải hỏi lại ngay bản thân mình trước khi phát biểu, rằng thế thì việc gì phải "thúc" tăng trưởng tín dụng mạnh thềm làm gì nữa, vì hóa ra tăng trưởng tín dụng chẳng có tác dụng gì mấy đến tăng trưởng GDP! (nhớ lại xem mấy năm trước tăng trưởng tín dụng leo lên đến bao điểm phần trăm để đổi lại lấy tăng trưởng GDP khá lắm thì cũng 7-8%?).
 
Thật bó tay với các đồng chí.
 
 

Có nên phát hành trái phiếu quốc tế? (Bài đăng trên Cafef, 29/8)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/co-nen-phat-hanh-trai-phieu-quoc-te-201408291444141234ca34.chn

Trong phiên họp thường kỳ mới đây (ngày 27-28/8), Chính phủ cho biết ý định phát hành trái phiếu quốc tế khoảng 1 tỷ USD như là một khoản vay để đảo nợ cho một khoản tương tự trước đây với lãi suất cao hơn.

Dường như Chính phủ đã chọn đúng thời điểm để xem xét việc đảo nợ như thế này, trong bối cảnh lãi suất vay nợ trên thế giới có xu hướng giảm đi do ngân hàng trung ương các nước đã và đang nới lỏng tiền tệ để kích thích phục hồi và tăng trưởng kinh tế, và đặc biệt là mức tín nhiệm quốc gia của Việt Nam mới được Moody's nâng lên một bậc từ B1 lên B2, là một yếu tố tích cực cho lợi suất trái phiếu của Việt Nam.

Tuy nhiên, cũng đợt phát hành 1 tỷ USD trái phiếu trước đây, đã có nhiều ý kiến phản đối, không chỉ liên quan đến mục đích phát hành trái phiếu là để dành riêng cho các dự án nhà máy lọc dầu, thủy điện, và mua tàu thủy v.v... mà còn liên quan đến việc tại sao lại phải phát hành trái phiếu ra quốc tế trong khi dự trữ ngoại hối dồi dào, hoặc tại sao lại không phát hành trái phiếu ngoại tệ trong nước vì có nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước có sẵn ngoại tệ để mua trái phiếu này...?

Trong bối cảnh của đợt phát hành dự định mới này, rất có thể những luồng ý kiến phản đối sẽ lại xuất hiện. Vì vậy, cần phải chỉ ra những điểm bất ổn trong những luồng ý kiến như vậy.

Thứ nhất, quả thật mục đích phát hành trái phiếu trước đây là điều cần phải xem xét lại vì lượng trái phiếu này dành riêng cho các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong bối cảnh Việt Nam mới gia nhập WTO, cần phải xóa bỏ những đặc quyền, những phân biệt đối xử với các thành phần kinh tế khác, trong khi tính minh bạch, cơ chế giám sát sử dụng vốn và thành tích kinh doanh của các DNNN nhận vốn trái phiếu này có rất nhiều điểm đáng nói. Nhưng đợt phát hành trái phiếu lần này, nếu đúng như Chính phủ dự định, chỉ là để đảo nợ (với lợi suất thấp hơn) thì xem ra mục đích phát hành đợt này hợp lý hơn nhiều.

Thứ hai, mặc dù người ta cho rằng hiện tại ngoại tệ trong nước đâu có thiếu mà phải đi vay nước ngoài. Nhưng ngoại tệ trong nền kinh tế dồi dào đến mức nào, có "chịu" được một đợt phát hành lớn 1 tỷ USD mà không gây ra những tác động tiêu cực lan tỏa hay không là điều không ai biết rõ. Bởi thế, trong trường hợp chưa biết, chưa đánh giá được khả năng đáp ứng của nền kinh tế nội địa thì tốt nhất là phát hành ra nước ngoài để không gây ra những hậu quả tiêu cực, ví dụ như sự tăng vọt của lãi suất USD (và kéo theo VND) trong nước. Ngoài ra, nếu phát hành ra nước ngoài với lợi suất thấp hơn trong nước thì chẳng có lý do gì để phát hành trong nước cả, cho dù có thể lượng USD trong nước vẫn có thể đáp ứng được khối lượng phát hành này.

Thứ ba, với lập luận rằng hiện tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang nắm giữ một lượng dự trữ ngoại hối lớn kỷ lục (trên 30 tỷ USD) do đã tích cực mua vào USD để bảo vệ cho VND khỏi lên giá thực quá mạnh so với USD trong thời gian qua, thì câu hỏi đặt ra là tại sao vẫn phải đi vay nước ngoài làm gì? Về luồng ý kiến này, có thể đáp lại rằng dự trữ ngoại hối này là để phục vụ cho các sứ mệnh quan trọng hơn nhiều, trong đó có việc can thiệp và bình ổn tỷ giá, hoặc những cơn sốc vĩ mô, chứ không phải là để dành cho một chủ thể kinh tế nào đó vay thương mại, kể cả đó là Chính phủ. Bản thân phần lớn khoản dự trữ ngoại hối này cũng không phải là để nằm nhàn rỗi trong két sắt của NHNN hoặc trong tài khoản của các ngân hàng đại lý của NHNN, mà thường đã được đem đầu tư vào một tài sản tài chính nào đó của nước ngoài có hưởng lãi. 

Hơn nữa, điều đáng chú ý là cho dù dự trữ ngoại hối đã đạt mức kỷ lục nhưng nếu quy ra số tuần/tháng nhập khẩu thì cũng chỉ quanh quẩn con số 3 tháng nhập khẩu, là mức tối thiểu để được gọi là an toàn theo tiêu chuẩn quốc tế. Nói cách khác, con số trên 30 tỷ USD dự trữ ngoại hối thực ra không phải là, không thể gọi là lớn đến mức dư thừa để có thể "vung tay quá trán".

Tóm lại, việc phát hành trái phiếu quốc tế chỉ nên được phân tích, xem xét dưới góc độ thương mại, thể hiện ở lợi suất và khối lượng so với nếu phát hành trong nước, và nếu phát hành ra nước ngoài có lợi hơn thì là điều hoàn toàn nên làm.

Thursday, 28 August 2014

Xử lý nợ xấu qua VAMC – vướng ở đâu? (Bài đăng trên CafeF, 29/8, bản gốc)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/xu-ly-no-xau-qua-vamc-thuc-su-dang-vuong-o-dau-2014082908020603317ca34.chn

Mô hình xử lý nợ xấu thông qua việc thành lập VAMC đã từng được ca ngợi là một cách làm sáng tạo của Việt Nam, vì không phải dùng đến một đồng nào của ngân sách trong khi vẫn xử lý được nợ xấu một cách hợp lý vừa đảm bảo được quyền lợi của con nợ, chủ nợ, Chính phủ, và cả nền kinh tế nói chung vì có sự phối hợp chặt chẽ của VAMC với các bên liên quan.

Tuy nhiên, thực tế hoạt động một năm qua của VAMC cho thấy ý đồ thiết kế VAMC ban đâì, “tay không bắt giặc”, mà cụ thể là đổi nợ xấu lấy trái phiếu đặc biệt do VAMC, đã không dễ dàng được thực hiện. Trong khi đó, chức năng mua nợ xấu theo giá thị trường bằng “tiền tươi thóc thật”, một chức năng được xem là thứ yếu của VAMC, lại đang dần dần được hô hào nâng lên thành chức năng chính (như ở các nước khác), kèm với đó là khuyến nghị ngày càng mạnh mẽ chính phủ tạo nguồn lực này cho VAMC (từ ngân sách, từ các quỹ của chính phủ, từ vốn cấp phát của Ngân hàng Nhà nước (NHNN)), bên cạnh đó là trao quyền đặc biệt cho VAMC.

Lý do để cho việc xử lý nợ xấu thông qua hoán đổi nợ xấu tại các tổ chức tín dụng (TCTD) lấy trái phiếu đặc biệt của VAMC không mấy khả quan vì một số lý do như đã biết, ví dụ, các TCTD vẫn phải trích lập dự phòng 20% mệnh giá trái phiếu hàng năm (và đây là một gánh nặng lên lợi nhuận của các TCTD); VAMC hầu như không phải chịu bất kỳ rủi ro gì trong việc tiếp nhận và xử lý nợ xấu nên chất lượng xử lý nợ xấu của họ là một dấu hỏi đối với các TCTD buộc phải hoán đổi nợ xấu cho họ; các TCTD về nguyên tắc có thể mang trái phiếu đặc biệt của VAMC đến chiết khấu tại NHNN nhưng lãi suất và tỷ lệ chiết khấu lại do NHNN quyết định, tạo ra một bất trắc lớn đối với các TCTD. Ngoài ra, trong thời gian 5 năm “gán” nợ xấu cho VAMC, người ta hy vọng nền kinh tế và đặc biệt thị trường bất động sản sẽ khởi sắc để hấp thụ một lượng lớn tài sản thế chấp đa phần là bất động sản để VAMC hoặc bản thân các TCTD có thể xử lý được các tài sản thế chấp này với giá cao hơn. Nhưng thực tế cho thấy đợi chờ kiểu “mua thời gian” như thế này không khác gì sự đánh cược là bao nhiêu.

Nhưng hiện tại, nếu chạy theo đề xuất của một số người theo đó nhà nước cấp “tiền tươi thóc thật” cho VAMC để họ xử lý nợ xấu như ở các quốc gia khác thì cũng không kém phần phiêu lưu. Trở ngại cho mọi AMC nói chung và VAMC nói riêng vẫn là làm gì với các khoản nợ xấu tiếp nhận từ các TCTD? Dù là mua bằng “tiền tươi” hay trái phiếu đặc biệt của mình thì VAMC đến lượt mình vẫn phải đau đầu tìm cách giải quyết số nợ xấu ôm vào này. Mặc dù luật lệ có quy định VAMC có thể làm với đống tài sản đó, nhưng thực tế hầu như chẳng có gì đáng kể xảy ra như thực tế con số nợ bán được nhỏ nhoi của VAMC đã cho thấy. Mà điều đáng nói là những khoản nợ đã bán được thường lại là những khoản nợ tốt nhất, dễ xử lý nhất trong số những khoản nợ xấu có trong tay. Đại bộ phận số nợ xấu phải xử lý vẫn còn đó, trong khi không có mấy khách hàng mới tìm đến. Bởi vậy, dù VAMC có đủ “tiền tươi” để mua nợ xấu nhưng điều này không có nghĩa là vấn đề nợ xấu sẽ được giải quyết xong một sớm một chiều.   

Ngay cả lập luận cho rằng với “tiền tươi”, VAMC sẽ mua được nợ xấu, và theo quy định, có thể chuyển đổi khoản nợ xấu đã mua thành vốn điều lệ, vốn cổ phần của khách hàng vay là doanh nghiệp để giúp doanh nghiệp phục hồi theo hướng tích cực rồi sau đó VAMC sẽ thu hồi được nợ, cũng không có mấy căn cứ. Vì VAMC hoặc chỉ đơn thuần là góp vốn chứ không tham gia quản trị, hoặc đơn thuần không được phép, cũng như không có đủ năng lực và nhân lực để tham gia quản trị doanh nghiệp để hy vọng doanh nghiệp sẽ tiến bộ hơn.

Một số người thì lại khuyến nghị trao quyền đặc biệt cho VAMC như trao cho họ quyền được bán tài sản thế chấp mà không cần phải có sự chấp thuận của bên đi vay, có cơ chế phù hợp trong định giá tài sản mang ra đấu giá v.v... Nhưng nếu vậy thì không chỉ VAMC mà bất kỳ công ty quản lý tài sản (AMC) hiện có nào (của các TCTD, hoặc của Bộ Tài chính) khi đã có những đặc quyền, những cơ chế này rồi thì đều hoàn toàn có thể xử lý nợ xấu một cách “ngon lành”. Vậy thì, về nguyên tắc, tại sao phải nhọc công tạo ra thêm một AMC “đầu Ngô mình Sở” để làm gì mà không, thay vào đó, tập trung vào khắc phục những trở ngại trong việc xử lý tài sản thế chấp như thế này và dọn đường cho các tổ chức xử lý nợ xấu hiện có phát huy tác dụng?

Tóm lại, có thể thấy rằng VAMC đã chót được thiết kế, lập ra và tung hô rồi thì cũng chỉ nên để nó phát huy tác dụng ở góc độ là góp phần làm sạch bảng cân đối tài sản của các TCTD trước mắt, trong ngắn hạn để giúp chúng trông trở nên lành mạnh hơn nhằm khai thông tín dụng cho nền kinh tế và giúp hệ thống ngân hàng hấp dẫn các nhà đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài hơn.

Nếu cứ muốn hà hơi, tiếp sức để hy vọng VAMC giải quyết triệt để vấn đề nợ xấu thì tốt nhất là hãy tạo ra một sân chơi chung, rộng hơn về quy mô và thông thoáng hơn về luật lệ với sự tham gia của các tổ chức AMC hiện thời hay sẽ thành lập từ nhiều nguồn lực khác mà không nhất thiết phải làm tổn hại đến ngân sách nhà nước. Trên hết, cần phải nhận thức được rằng Việt Nam cần phải tìm một giải pháp toàn diện, triệt để, và hữu hiệu hơn cho vấn đề nợ xấu, chứ không nên đơn thuần quan niệm rằng thành lập VAMC là điều kiện cần và đủ để giải quyết vấn đề này, hoặc đặt quá nhiều hy vọng vào VAMC trong việc giải quyết nợ xấu.

Wednesday, 27 August 2014

Đằng sau đợt hạ lãi suất tiền gửi gần đây (Bài đăng trên CafeF 28/8, bản gốc)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/dang-sau-dot-ha-lai-suat-tien-gui-gan-day-la-gi-2014082808133734015ca34.chn

Một số ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV, ACB mới đây đã giảm lãi suất huy động VND trên thị trường. Theo đó, lãi suất huy động tiền đồng của các ngân hàng thương mại, đặc biệt ngân hàng lớn, đã giảm thêm từ 0,1 - 0,5 điểm %/năm ở nhiều kỳ hạn.
Một trong những lý do được một số người trong cuộc đưa ra là lạm phát thấp, là cơ sở để các ngân hàng tính toán lại chi phí và giảm lãi suất. Thanh khoản trong hệ thống dồi dào ở mức dư thừa cũng là một lý do được kể đến.
Tuy nhiên, lý do thực sự nằm ở chênh lệch đang tăng lên ở mức lớn giữa cung và cầu tiền.

Theo bảng dưới đây tổng hợp số liệu từ các thông cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hàng tháng, tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán (M2, tức cung tiền) đã tăng khá mạnh trong 7 tháng đầu năm, tăng 7,36% so với tháng 12/2013. Đáng chú ý là nếu như ở quý 1, trung bình mỗi tháng cung tiền chỉ tăng 1 điểm % (so với tháng 12/2013) thì nó đã tăng thêm trung bình hơn 1,4 điểm % mỗi tháng trong quý 2. Điều này trùng hợp với diễn biến lạm phát thấp và tăng trưởng tín dụng âm của những tháng đầu năm, và có thể đã thể hiện nỗi sốt ruột của các nhà làm chính sách muốn thúc đẩy tăng trưởng tín dụng bằng cách bơm mạnh thêm tiền vào nền kinh tế nhằm giảm lãi suất (ngoài lý do là NHNN đã tung một lượng lớn VND ra để mua vào ngoại tệ).
Khá tương ứng với tốc độ tăng cung tiền nhanh hơn trong quý 2, tốc độ tăng huy động vốn cũng có xu hướng nhanh hơn rõ rệt trong quý 2, tuy vẫn chậm hơn tốc độ tăng cung tiền một chút.

Ngược lại, bên cầu, đến hết tháng 7, tốc độ tăng tín dụng cho nền kinh tế mặc dù đã bứt phá mạnh trong quý 2 nhưng mới chỉ đạt 3,68% so với tháng 12/2013, chỉ bằng phân nửa tốc độ tăng cung tiền và tốc độ tăng huy động vốn.
Cầu tiền nhìn từ một khía cạnh khác là khối lượng trái phiếu chính phủ phát hành. Dường như có xu hướng ngược lại với tốc độ tăng trưởng tín dụng. Trong quý 1, khối lượng trái phiếu chính phủ phát hành lên tới 82 nghìn tỷ, lớn hơn nhiều so với con số 49 nghìn tỷ đã phát hành trong quý 2. Cũng có thể cho rằng đây là một sự phối hợp chính sách của các nhà hoạch định chính sách khi dùng chính sách tài khóa để hỗ trợ, kích thích tổng cầu khi sự nới lỏng chính sách tiền tệ không mang lại hiệu quả như mong muốn.

Điều đáng chú ý về trái phiếu chính phủ là mới đây Kho bạc Nhà nước đã điều chỉnh lại kế hoạch phát hành trái phiếu chính phủ năm 2014, với tổng khối lượng phát hành được chỉnh lại thành 232 nghìn tỷ đồng. Nếu so với con số đã phát hành trong 7 tháng qua là 154 nghìn tỷ thì dư địa hút tiền về theo kênh trái phiếu này đã thu hẹp đáng kể khi khối lượng trái phiếu sẽ phát hành trong 5 tháng còn lại của năm chỉ là 78 nghìn tỷ.
Như vậy, có thể thấy một bức tranh tiền tệ trong mấy tháng gần đây là cung tiền đã tăng mạnh nhưng mức tăng tín dụng vẫn ở mức thấp hơn nhiều trong khi kênh trái phiếu chính phủ cũng đã và sẽ thu hẹp lại đáng kể. Thực tế này dẫn đến dư thừa thanh khoản trong hệ thống, buộc các ngân hàng lớn có lợi thế huy động vốn hoặc có khả năng khai thác được các nguồn vốn có lãi suất thấp (chủ yếu liên quan đến (các nguồn vốn) của chính phủ hoặc các doanh nghiệp nhà nước) phải giảm lãi suất huy động.

Trước động thái hạ lãi suất của các ngân hàng lớn như nói trên, thị trường đã đồn đoán NHNN có thể sắp công bố hạ trần lãi suất huy động tiền gửi ngắn hạn. Nhưng theo báo chí cho biết thì NHNN có chủ trương chưa hạ trần lãi suất. Thực ra, điều này không có gì là ngạc nhiên vì trần lãi suất chỉ có tác dụng trong bối cảnh thanh khoản căng thẳng, chứ không phải khi thanh khoản đang dư thừa như hiện này. Khi thanh khoản căng thẳng, các ngân hàng phải cạnh tranh quyết liệt với nhau thông qua nâng lãi suất để hút tiền gửi về phía mình. Với trần lãi suất huy động, NHNN hy vọng sẽ kìm chế được mức tăng lãi suất huy động và (hy vọng là) lãi suất cho vay. Nay thanh khoản đã và đang dư thừa mạnh, buộc các ngân hàng phải chủ động hạ lãi suất huy động, mà không cần phải đợi NHNN áp đặt hạ trần lãi suất huy động xuống thêm nữa



Monday, 25 August 2014

Cổ phần hóa Vietnam Airlines - Cần hiểu cho đúng! (Bài đăng trên Cafef, 26/8, bản gốc)

http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/co-phan-hoa-vietnam-airlines-can-hieu-cho-dung-2014082523173904014ca33.chn

Vietnam Airlines (VNA) đã được lên kế hoạch cổ phần hóa và IPO trong thời gian tới đây. Xung quanh việc này, có 3 điểm chính thu hút sự quan tâm của dư luận, đó là việc nhà nước tiếp tục nắm giữ cổ phần chi phối sau cổ phần hóa (75% thời gian ban đầu, sau đó có thể giảm dần xuống nhưng không dưới 65%); việc VNA kiến nghị được giữ lại thặng dư vốn phát hành thêm cổ phần tương ứng với phần vốn của nhà nước; và việc VNA đề nghị được nhà nước tiếp tục duy trì bảo lãnh cho doanh nghiệp sau cổ phần hóa.
Với điểm thứ nhất, lý giải nguyên nhân nhà nước tiếp tục nắm giữ cổ phần chi phối trong VNA sau cổ phần hóa, Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) cho biết VNA có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động bay cũng như đảm bảo phục vụ quốc phòng, an ninh. Làm thế nào chăng nữa, sau cổ phần hóa phải đảm bảo được VNA là một thương hiệu mạnh. Đây là một tổng công ty lớn, mang hình ảnh, mang thương hiệu quốc giá tới bạn bè quốc tế. VÌ thế, việc nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối không có gì lạ, để đảm bảo quyền được phủ quyết.

Lý do này xem ra không thuyết phục. Bộ GTVT nói như vậy có nghĩa đánh đồng việc sở hữu nhà nước (chiếm tỷ lệ chi phối) trong VNA với thương hiệu mạnh, và tức là tính hiệu quả và chất lượng cũng như số lượng dịch vụ mà VNA có thể cung cấp cho khách hàng. Nếu chỉ đơn giản như vậy thì, về logic, tốt nhất nhà nước không nên cổ phần hóa VNA, mà hãy giữ rịt lấy doanh nghiệp này (sở hữu 100%) để đỡ phải chia sẻ quyền phủ quyết với bất cứ ai, để đảm bảo có được một "thương hiệu quốc gia mạnh"! Nhưng tự thân việc phải đưa VNA ra để cổ phần hóa cho thấy doanh nghiệp này đang hoạt động không  hiệu quả, chưa xứng đáng là một thương hiệu quốc gia mạnh, và/hoặc chưa có số lượng và chất lượng dịch vụ cần thiết với tư cách là một hãng hàng không quốc gia.
Nói cách khác, khi đã đặt vấn đề cổ phần hóa VNA tức là người ta đã nghĩ rằng chỉ có sự tham gia của các cổ đông phi nhà nước mới có thể giúp VNA hoạt động khởi sắc, và sự tham gia của cổ đông nhà nước trong các quyết định liên quan đến hoạt động kinh doanh của VNA càng giảm thiểu càng tốt, vì sự có mặt của chủ sở hữu nhà nước từ trước đến nay trong hoạt động của VNA có thể nói là thất bại, hoặc nói một cách nhẹ nhàng hơn, không hiệu quả. Khi đã nghĩ được như vậy rồi thì cần giảm thiểu cổ phần của nhà nước trong VNA, chứ không nên khăng khăng đòi giữ ít nhất 65% cổ phần để được quyền bắt cổ đông khác phải nghe mình.

Điểm không thuyết phục tiếp theo trong lý do trên của Bộ GTVT là quan niệm đã là hãng hàng không mang thương hiệu quốc gia (hãng hàng không quốc gia) thì nhất thiết nó phải thuộc sở hữu nhà nước hoặc chí ít thì nhà nước phải nắm sở hữu chi phối. Trên thế giới có nhiều nước có các hãng hàng không quốc gia thuộc sở hữu tư nhân. Chẳng hạn, theo Wikipedia, các hãng hàng không  lớn trên thế giới như Pan Am, TWA, Cathay Pacific, Union de Transports Áeriens, Canadian Pacific Airlines, và Olympic Airlines v.v... đều là các hãng thuộc sở hữu tư nhân, mặc dù phần lớn chúng được coi là hãng hàng không quốc gia, với cái nghĩa là "hãng hàng không chính của quốc gia" và là biểu trưng cho sự hiện diện của quốc gia đó ở nước ngoài. Trong danh sách các hãng hàng không quốc gia trên thế giới mà Wikipedia liệt kê, có nhiều hãng hàng không quốc gia hoặc không có sở hữu nhà nước, hoặc sở hữu nhà nước chỉ chiếm tỷ lệ không chi phối.
Cũng chính từ thực tế này (nhiều hãng hàng không quốc gia thuộc sở hữu tư nhân) cho thấy việc gắn sở hữu nhà nước với những vấn đề như thương hiệu/hình ảnh quốc gia, và to chuyện hơn, các vấn đề liên quan đến quốc phòng, anh ninh chỉ là một sự khiên cưỡng, quan trọng hóa vấn đề. Cụ thể hơn, vấn đề đảm bảo quốc phòng, an ninh (quốc gia) chắc chắn không phải là quả bóng nằm dưới chân các hãng hàng không dân dụng, mà là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc đề ra các quy định, luật lệ và chế tài để buộc các hãng hàng không, bất kể là hãng hàng không quốc gia hay phi quốc gia, phải tuân thủ nghiêm ngặt.

Chuyển sang điểm thứ hai và thứ ba, VNA kiến nghị được giữ lại thặng dư vốn sau phát hành thêm cổ phần và tiếp tục được duy trì bảo lãnh. Tất nhiên là đằng sau những kiến nghị này luôn có những lý do mà người trong cuộc đưa ra để hợp thức yêu cầu của mình, và chúng có thể nghe rất hợp lý, chính đáng. Nhưng đứng từ góc độ pháp lý, những hành động đòi ưu đãi này là những ngoại lệ, hầu như không được phép trong các văn bản luật hiện hành, ngoài sự cho phép phá cách của chính phủ. Điều đáng nói là với VNA là như vậy, còn những doanh nghiệp nhà nước khác, nhất là những doanh nghiệp lớn, khi cổ phần hóa thì sẽ như thế nào? Chắc chắn là họ sẽ "noi gương" VNA để đòi hỏi những quyền lợi, những ưu đãi cho riêng mình mà bất chấp những quy định hiện hành của pháp luật. Và rồi thì chính phủ cũng rất có thể lại phải theo tiếp cuộc chơi, tiếp tục đáp ứng những đòi hỏi này (và với lý do rất xác đáng, tất nhiên).
Chưa nói đến chuyện gây ra bất bình đẳng trong đối xử với các doanh nghiệp khác, việc cho phép và đáp ứng những đòi hỏi ưu đãi như trên sẽ là một tiền lệ nguy hiểm để các doanh nghiệp nhà nước khác, đặc biệt là những doanh nghiệp lớn, có sức ảnh hưởng mạnh đến giới làm chính sách, "mặc cả" với nhà nước trước khi bắt tay vào thực hiện cổ phần hóa. Và sẽ không lấy gì làm lạ nếu có doanh nghiệp nhà nước nào đó lấy lý do là sẽ gặp khó khăn, hoăc bị thiệt hại to lớn sau cổ phần hóa (thực chất là nhà nước không đáp ứng những đòi hỏi không hợp pháp, hơp lý của họ) nên nói không với cổ phần hóa, hoặc lấy đó làm cớ để dây dưa, chậm chễ, trì hoãn cổ phần hóa, một vấn đề vốn đã và đang không hoàn toàn thuận buồm xuôi gió như ý chí chính trị của các nhà lãnh đạo.

Tổng cục thống kê phang (đích đáng) Ủy ban giám sát tài chính quốc gia

Hôm trước, trong bài về tổng cầu với lạm phát và lạm phát lõi, nhiều đồng chí vẫn cứ lăn tăn chuyện tớ phang UBGSTCQG rằng lạm phát thấp không nhất thiết phản ánh tổng cầu yếu. Nay thì có ngay người trong cuộc, tức Tổng cục thống kê (TCTK), phang (như tớ phang) thêm một nhát vào ý kiến nguy hiểm kiểu này của UBGSTCQG (xem tại đây).

Nói ngoài lề, riêng chuyện biết tổng cầu tăng lên hay giảm đi, mạnh như thế nào thì chỉ có TCTK mới là nơi biết rõ nhất, vì là nơi làm ra con số này, chứ không phải là UBGSTCQG hay bất cứ một tổ chức nào khác, là những nơi sử dụng/được cung cấp con số này.

-----------------------
Oooppssss!

Đính chính: Tớ nhìn gà hóa cuốc, không nhìn ngày tháng trên bài đã dẫn của TCTK, cứ tưởng là mới ra hôm nay vì đọc nó trên "báo mới" chiều nay. Nhìn lại, hóa ra là bài từ 29/3!

Nhưng dù sao tinh thần phang như của TCTK vẫn không thay đổi, tức là có nhiều nguyên nhân làm cho lạm phát thấp, chứ không phải tổng cầu yếu, như UBGSTCQG nói ấm ớ.

Sunday, 24 August 2014

Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước – đã “quyết liệt” sao vẫn chậm? (Bài đăng trên Cafef, 25/8, bản gốc)

http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/tai-co-cau-doanh-nghiep-nha-nuoc-da-quyet-liet-sao-van-cham-201408250635105131ca33.chn

Từ đầu năm đến nay đã không ít lần người đứng đầu chính phủ chỉ đạo “quyết liệt” tái cơ cấu, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nhưng tiến trình này xem ra vẫn khá ì ạch. Ngay Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp một mặt đánh giá rằng kết quả cổ phần hóa DNNN trong các tháng đầu năm là khả quan, có thể hoàn thành mục tiêu cổ phần hóa 432 DNNN từ nay đến hết năm 2015, nhưng mặt khác vẫn thừa nhận rằng nhiều Bộ và địa phương vẫn chậm tiến độ trong tái cơ cấu.
Ngoài nhiều lý do như đã được phân tích mổ xẻ, có thể liệt kê ra đây thêm một số nguyên nhân khác góp phần dẫn đến sự chậm chễ này.

Thứ nhất, mục tiêu tái cơ cấu không được xác định rõ ràng. Có thể hiểu rằng tái cơ cấu DNNN có phạm vi rộng hơn cổ phần hóa DNNN, hay nói cách khác, cổ phần hóa DNNN chỉ là một trong những biện pháp tái cơ cấu DNNN.
Nếu để ý thì sẽ thấy nhiều ý kiến vẫn có sự nhầm lẫn khi đánh đồng tái cơ cấu với cổ phần hóa, và bởi vậy mới có sự khác biệt trong đánh giá tiến trình và kết quả tái cơ cấu DNNN. Nếu chỉ nhìn vào con số DNNN đã và sẽ (có khả năng thực hiện) được cổ phần hóa thì nhiều người đã và đang cho rằng tái cơ cấu đang đi đúng hướng, đúng tiến độ và sẽ hoàn thành được mục tiêu (cổ phần hóa 432 DNNN). Sự hiểu lầm này dẫn đến sự tự bằng lòng, thái độ chây ì, không cần nhiệt tình trong việc tái cơ cấu các DNNN nằm ngoài danh sách cổ phần hóa này ở nhiều Bộ, ngành, địa phương. Trên thực tế, sự chú trọng của nhà làm chính sách lẫn công luận dường như dồn cả vào tiến trình cổ phần hóa và thậm chí là IPO của 432 DNNN mà khá xao nhãng những mặt khác của tái cơ cấu DNNN.

Nhưng nếu hiểu đúng rằng tái cơ cấu DNNN không chỉ là cổ phần hóa mà còn bao gồm thoái vốn, thay đổi ban quản trị và lề lối quản trị, giải thể, sáp nhập, thay đổi lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đặt DNNN trong môi trường cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác v.v... thì quả thật tái cơ cấu DNNN vẫn còn cả chặng đường chông gai phía trước, với đủ nguyên nhân và lý do cả chủ quan lẫn khách quan làm trì hoãn tiến trình này.
Thứ hai, bản thân những chỉ đạo “quyết liệt” của chính phủ tuy có thể đã thể hiện ý chí và quyết tâm chính trị mạnh mẽ nhưng lại thiếu một cơ chế “chiếc gậy và củ cà rốt” rõ ràng, đủ sức khuyến khích thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình tái cơ cấu và răn đe, trừng phạt những hành động, những cá nhân và tập thể cản trở tiến trình.

Xét về “củ cà rốt”, khi các Bộ, ngành, cơ quan hữu trách, địa phương và người đứng đầu DNNN thực hiện tốt tái cơ cấu thì sự “tưởng thưởng” cho thành tích của họ có lẽ chỉ dừng lại ở mức độ được đánh giá là “hoàn thành nhiệm vụ”, vốn không mang lại mấy lợi ích (quy ra) vật chất cho họ, so với những lợi ích khác họ có thể thu được nếu “không hoàn thành nhiệm vụ”.
Mặt khác, “chiếc gậy” trong trường hợp bị đánh giá là “không hoàn thành nhiệm vụ” dường như mới chỉ dừng lại ở lời đe dọa sẽ bị mất chức, chính xác hơn là “tự nguyện từ chức”. Nhưng ở Việt Nam cho đến nay thì chuyện bị miễn nhiệm, cắt chức vốn đã khó, không mấy khi xảy ra, nói gì đến chuyện “tự nguyện từ chức”? Nói cách khác, tuy những cá nhân và tổ chức liên quan đến tái cơ cấu DNNN về nguyên tắc có thể chịu hậu quả của việc không đáp ứng được yêu cầu về tái cơ cấu nhưng hậu quả này không đủ sức răn đe vì khá mơ hồ, không có tính khả thi cao.

Thứ ba, những “quyết liệt” liên quan đến tái cơ cấu DNNN cho đến nay chủ yếu được thể hiện trong các Nghị quyết hoặc qua các phát biểu của người đứng đầu chính phủ trong các cuộc họp. Như quan chức của một Bộ bình luận thẳng thừng với người viết gần đây, Nghị quyết có tính áp đặt pháp lý yếu ớt so với các văn bản pháp luật khác của nhà nước. Nên sẽ là không khó hiểu nếu có khoảng cách lớn giữa ý chí và quyết tâm của lãnh đạo cấp trên với sự tuân thủ, thực thi của cấp dưới như đã thấy cho đến nay.
Thứ tư, trong những chỉ đạo thúc đẩy tái cơ cấu của chính phủ, mục tiêu tái cơ cấu (hoặc hẹp hơn, cổ phần hóa) lại được đặt song song với hàng loạt mục tiêu khác không kém tham vọng như phải đẩy mạnh hoạt động kinh doanh; thoái vốn song phải được tiến hành một cách chặt chẽ, không được tùy tiện, không để nảy sinh tiêu cực, thất thoát; giải quyết lao động dôi dư v.v... Đây là những thách thức, đúng hơn, có thể bị lợi dụng để biến thành cái cớ cho trì hoãn tái cơ cấu.

Chẳng hạn, với lý do đẩy mạnh hoạt động kinh doanh thì các DNNN đang kinh doanh tốt sẽ chẳng mặn mà, tự nguyện tái cơ cấu hoặc cổ phần hóa. Ngược lại, với cùng lý do này, các DNNN đang khó khăn sẽ có cớ để trì hoãn tái cơ cấu, viện cớ rằng họ đang tập trung cải thiện kinh doanh, nếu tái cơ cấu thì sẽ làm đảo lộn, phá vỡ kế hoạch của họ. Với những lý do phải chặt chẽ, thận trọng, không để thất thoát, các DNNN sẽ có cớ để đổ lỗi cho sự chậm chễ trong tái cơ cấu của mình (và bản thân các cá nhân và tổ chức liên đới cũng sợ bị quy cho những tội này nên tự mình cũng co vào thế thủ).
Cuối cùng, có một lý do rất thực tế thông qua các cuộc tiếp xúc của người viết với một số DNNN là chuyện các DNNN tuy rất quán triệt tinh thần tái cơ cấu, cổ phần hóa bản thân mình, nhưng họ như những con cá vốn chỉ quen bơi trong ao tù, này được thả ra trước biển lớn hoàn toàn không biết được mình sẽ bơi đi đâu, và làm gì. Nếu có hỏi họ về, ví dụ, nguyện vọng tìm đối tác chiến lược cụ thể như thế nào để cùng làm cái gì thì câu trả lời thường rất chung chung, theo kiểu tôi có như thế và sẵn sàng bán mình, anh thấy tôi có giá trị thì mua tôi rồi thì muốn làm gì cũng được, tùy anh. Thái độ như vậy đương nhiên không thu hút được sự quan tâm cần thiết của các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài, và bởi vậy sự thoái vốn, tìm đối tác để liên doanh, sáp nhập, thay đổi lĩnh vực sản xuất kinh doanh v.v... của những DNNN loại này sẽ thêm phần nan giải.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2014, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam" forthcoming in "Emerging Markets Finance and Trade".

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).