Friday, 23 June 2017

Tỷ giá và những “nghịch lý” (Bài đăng trên CafeF, 23/6/2017)

http://cafef.vn/ty-gia-va-nhung-nghich-ly-20170622164421203.chn
Trái ngược với dự đoán của thị trường, đợt tăng lãi suất của Fed mới gần đây lại diễn ra trong sự êm ả trên các thị trường ngoại hối quốc tế, thậm chí đến mức là nghịch lý khi nhiều đồng tiền lại tăng giá so với USD. Nói là nghịch lý vì, theo lý thuyết, khi lãi suất của một đồng tiền tăng lên, nó làm tăng sức hấp dẫn tương đối của đồng tiền đó so với các đồng tiền khác, dẫn đến tỉ giá quy đổi giữa nó với các đồng tiền khác tăng lên (một đơn vị của đồng tiền này sẽ đổi được nhiều hơn các đồng tiền khác).
Ở trong nước, diễn biến của cặp tỉ giá VND/USD cũng theo hướng ngược lại, khi USD “dậm chân” đứng yên hoặc thậm chí còn giảm đi so với VND trên thị trường tự do. Chỉ đến ngày 20/6 thì tỉ giá mới “nóng” lên, nhưng phần lớn được quy cho là bởi động thái mua vào USD của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ở mức giá cao hơn giá mua của các ngân hàng thương mại.
Trong khi đó, theo một ước tính của Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia công bố gần đây thì nếu tỉ giá VND/USD tăng 1% thì sẽ làm lạm phát tăng thêm 0,17 điểm phần trăm. Như vậy, nếu ước tính của ủy ban này là chính xác thì bên cạnh nghịch lý VND lên giá hoặc đứng vững so với USD, việc NHNN mua vào USD và tung ra VND cũng có vẻ như là một nghịch lý nữa khi việc này làm gia tăng áp lực lên lạm phát.
Song thực ra chẳng có nghịch lý nào ở đây cả!
Về chuyện USD không tăng giá nổi so với nhiều đồng tiền khác, trong đó có VND, có một phần lớn lý do là tại bởi vào thời điểm Fed tăng lãi suất hồi tuần trước thì số liệu mới nhất về thị trường bất động sản và chỉ số lòng tin tiêu dùng của Mỹ lại cho thấy tình hình xấu đi, báo trước tình hình thiếu khả quan của tăng trưởng kinh tế trong quý 2 này. Điều này làm tăng kỳ vọng vào một quá trình nâng lãi suất sẽ chậm lại của Fed trong phần còn lại của năm nay. Bởi vậy, yếu tố nâng đỡ USD từ việc Fed tăng lãi suất đã bị triệt tiêu bởi những diễn biến và kỳ vọng tiêu cực này.
Về việc NHNN tăng tỉ giá VND/USD vốn sẽ làm tăng lạm phát như được chỉ ra bởi báo cáo của Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia, trong khi NHNN đang nỗ lực kiểm soát lạm phát, đây cũng không phải là nghịch lý vì thực ra nhận định về chiều quan hệ nhân quả (tỉ giá tăng gây lạm phát) của ủy ban là không hoàn toàn đúng và cũng không đơn giản như vậy.
Tăng tỉ giá (làm VND yếu đi so với USD) sẽ làm tăng áp lực lạm phát chỉ khi nhập khẩu không đổi và thậm chí còn tăng lên (về lượng), dẫn đến cái gọi là “nhập khẩu lạm phát”. Khi đó, cùng một giá nhập khẩu bằng USD nhưng nhà nhập khẩu phải trả nhiều VND hơn (để mua USD trên thị trường ngoại tệ trong nước) nên sẽ tính giá bán bằng VND cao hơn ở thị trường trong nước, dẫn đến mặt bằng giá cả trong nước tăng lên (lạm phát tăng).
Nhưng VND yếu đi lại mang đến một tác động tích cực lớn khác là làm cho hàng xuất khẩu của Việt Nam tăng sức cạnh tranh về giá, nên khối lượng và giá trị xuất khẩu tăng lên (tức là thu được nhiều USD hơn, và tức là hỗ trợ ngược trở lại cho giá trị của VND). Ngược lại, hàng nhập khẩu vào Việt Nam trở nên kém cạnh tranh về giá so với hàng nội địa khi VND yếu đi, nên người tiêu dùng trong nước chuyển sang hàng nội địa, làm giảm khối lượng nhập khẩu một cách tương đối. Giá hàng nhập khẩu tính bằng VND càng đắt thì mức độ thay thế hàng nhập khẩu bằng hàng Việt càng mạnh. Kết quả là tác động tiêu cực của kênh “nhập khẩu lạm phát” sẽ bị giảm thiểu. Vì lúc này cấu thành của hàng hóa nhập khẩu  (với giá tính bằng VND tăng lên) trong rổ hàng hóa dùng để tính CPI đã giảm đi, song song với sự gia tăng tương ứng của cấu thành của hàng hóa nội địa (với giá tính bằng VND vẫn như trước, không đổi). Nói cách khác, VND yếu đi không tự khắc sẽ dẫn đến lạm phát cao hơn ở Việt Nam như một số lo lắng.
Nhìn rộng ra, trong bối cảnh tỉ giá đang “lùng nhùng” như hiện nay, trong khi nền kinh tế vẫn cần một cú hích để tăng trưởng mạnh hơn trong nửa năm còn lại, còn nhập siêu thì vẫn tiếp diễn, sự can thiệp, mua vào USD của NHNN để làm yếu VND trong vòng kiểm soát (yếu đi có chừng mực) là một bước đi đúng và là một trong số rất ít giải pháp khả thi nhất để mong đạt được cùng lúc nhiều mục tiêu mâu thuẫn.
Hành động trên của NHNN càng có ý nghĩa hơn khi USD có xu hướng bật tăng trở lại từ giữa tuần này so với nhiều đồng tiền khác trên thế giới và có thể duy trì được đà tăng này trong thời gian tới.
Có những ý kiến cho rằng hành động nâng giá mua USD của NHNN là để đón đầu những đợt tăng lãi suất tiếp theo của Fed trong năm nay, để tăng dự trữ ngoại hối nhằm giảm thiểu những cú sốc bất lợi từ việc tăng lãi suất của Fed v.v… Những phân tích này khá là gượng ép. Ít nhất thì cũng vì chính lý do là khả năng Fed sẽ không tăng lãi suất dồn dập (thêm quá 1 lần) trong nửa năm còn lại, và xuất phát từ thực tế là USD đã suy yếu sau khi Fed tăng lãi suất, nên NHNN lẽ ra càng không có lý do gì để mà phải chủ động tỉ giá VND/USD lên quá sớm và đáng kể như vừa qua.
Tóm lại, có lẽ chưa bao giờ phương châm điều hành tỉ giá được lặp đi lặp lại của NHNN “linh hoạt và chủ động” được thể hiện rõ và có ý nghĩa như những lần nâng tỷ giá mua vào USD trong mấy tháng gần đây. 

Giải ngân vốn đầu tư công chậm là vì không có ai chịu trách nhiệm! (Bài đăng trên TBKTSG, 23/6/2017, bản gốc, tiêu đề do báo đặt lại)

http://www.thesaigontimes.vn/161640/Cham-do-tri-tre.html

Trong phiên chất vấn sáng 15/6/2017, nhiều Đại biểu Quốc hội chất vấn Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) Nguyễn Chí Dũng về tình trạng phân bổ vốn đầu tư công dàn trải, giải ngân vốn chậm và đề nghị ông Dũng làm rõ trách nhiệm. Đáp lại, ông Dũng quy lỗi tại Luật Đầu tư công mới có hiệu lực nên triển khai thực hiện còn lúng túng, chất lượng chuẩn bị dự án chưa tốt. Tuy vậy, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã trả lời thay cho Bộ trưởng Dũng rằng nguyên nhân gốc rễ gây chậm chễ trong phân bổ, giải ngân vốn cho các dự án trọng điểm quốc gia là do Bộ KHĐT, các bộ, các ngành đã làm chậm các hồ sơ giải trình ra Quốc hội để được thông qua chủ trương đầu tư.

Cần nhớ lại là Luật đầu tư công đã có hiệu lực từ 1/1/2015, đến thời điểm này đã là hai năm rưỡi trôi qua nên không thể coi là mới mẻ nên gây ra nhiều bỡ ngỡ, trục trặc. Chưa hết, nếu điểm lại tin tức trên báo chí thì thấy tình hình chậm chễ trong giải ngân vốn đầu tư công đã trở thành vấn đề nổi cộm, đã được nhận diện và “quyết liệt” xử lý từ ở Chính phủ trở xuống, nhất là kể từ năm 2016. 


Chẳng hạn, ngày 8/6/2016, Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định thành lập Tổ công tác chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016 (Tổ công tác) do Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ làm Tổ trưởng. Đến ngày ngày 21/6/2016, tổ này đã nhóm họp phiên đầu tiên. Tại đó, ông Huệ nhận định, giải ngân vốn đầu tư công đang thấp và đề nghị các bộ, ngành và địa phương đẩy nhanh tiến độ giao vốn để bảo đảm tạo việc làm và tăng trưởng của nền kinh tế. Ông Huệ cũng đề nghị các bộ rà soát, sửa đổi các văn bản hướng dẫn việc thực hiện đầu tư các dự án, đẩy mạnh việc giao vốn và kiểm soát chất lượng các dự án đầu tư công, bảo đảm phát huy giá trị của dự án đối với phát triển kinh tế-xã hội.


Tiếp đó, Chính phủ có Nghị quyết số 60/2016/NQ-CP ban hành hồi tháng 7/2016 và Công điện số 2144/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công của Thủ tướng hồi tháng 10/2016. Nhờ đó, theo đánh giá của Tổ công tác trên trong phiên họp ngày 23/12/2016, tiến độ giải ngân của 5 tháng cuối năm đã mạnh hơn nhiều so với trước đó. Tuy nhiên, tại phiên họp, Bộ KHĐT cho biết một số bộ, ngành địa phương giải ngân còn chậm, đặc biệt là vốn trái phiếu Chính phủ các dự án đã được giao nhiều năm nhưng chỉ đạt 53,3% kế hoạch, trong đó có một Bộ và 6 địa phương mới giải ngân dưới 30% kế hoạch, 12 địa phương giải ngân 30-50% kế hoạch. Ông Huệ kết luận nguyên nhân của sự chậm trễ trong giải ngân vốn đầu tư công là do vướng mắc trong hệ thống pháp luật, văn bản hướng dẫn, trong áp dụng và thực thi pháp luật, sự trì trệ của bộ máy, sự thiếu chuyên nghiệp, sự phối hợp chưa chặt chẽ của các bộ, ngành với nhau. Kết thúc phiên họp, tất nhiên là lại có một loạt các giải pháp “đồng bộ” quen thuộc được đưa ra như đề nghị, đôn đốc, rà soát, tăng cường, tích cực, kiểm điểm nghiêm khắc (trước Thủ tướng), xử lý trách nhiệm cá nhân các cán bộ làm chậm việc giải ngân…

Nhưng rồi tình hình xem ra vẫn không tiến triển khả quan hơn là mấy sang năm 2017 nên vấn đề giải ngân vốn đầu tư công đã trở thành chủ đề “nóng” tại kỳ họp Quốc hội hiện nay. Nhìn lại những nhận định và kết luận của những cơ quan chức năng như Bộ KHĐT, Bộ Tài chính, và Tổ công tác nêu trên trong suốt thời gian qua, điều có thể thấy rõ là nguyên nhân gây ra chậm chễ không phải là do Luật đầu tư công mà là do nhiều lý do… đồng bộ như đã được chỉ ra, tất cả các bên liên đới, từ trên Chính phủ xuống đến địa phương, đều đóng góp một phần lỗi vào trong đó.


Nhưng nếu phải chỉ là nguyên nhân “gốc rễ” của vấn đề thì không khó khăn gì để chỉ đích danh rằng đó là sự vô trách nhiệm có hệ thống. Điều quan trọng không kém là sự vô trách nhiệm nay đã không hề bị xử lý, dù là bằng hình thức kỷ luật nhẹ nhất, dù là đã được nhận diện và răn đe trước đó, như trong phiên họp của Tổ công tác ngày 23/12/2016 như nói trên, và dù là Chính phủ cũng đã tạo ra đầy đủ công cụ pháp lý cũng như tổ chức và nhân sự để thi hành việc đôn đốc, thúc đẩy tiến độ giải ngân.


Từ đây đặt ra thêm hai vấn đề liên quan đến việc giải ngân vốn đầu tư công. Thứ nhất, Quốc hội từ nay về sau có lẽ không nên chất vấn nguyên nhân gây ra giải ngân vốn đầu tư công chậm nữa. Vì chắc chắn câu trả lời sẽ vẫn như đã được nghe đi nghe lại nhiều năm qua, tại cái A, B, C… mà không truy ra được bất kể một cá nhân hay cơ quan X, Y, Z nào đó phải chịu trách nhiệm và bị xử lý kỷ luật, thậm chí là truy tố. Thay vào đó, điều có ý nghĩa hơn mà Quốc hội có thể làm là bỏ phiếu tín nhiệm Chính phủ và Thủ tướng về chất lượng điều hành, xử lý các vấn đề lớn trong nền kinh tế.


Thứ hai, Quốc hội cũng cần (tiếp tục) kiên quyết hơn với Chính phủ, không vì áp lực phải giải ngân mà bỏ qua, châm chước, hay dễ dãi với những dự án lớn và những đề xuất liên quan của Chính phủ mà rất có thể đã bị lồng ghép vào đó lợi ích nhóm và những yếu tố gây bất lợi cho ngân sách và hiệu quả kinh tế, xã hội sau này. Một ví dụ loại này là việc chỉ định thầu trong các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng với lý do là thời gian gấp rút, tính chất phức tạp của dự án nên phải chỉ định thầu cho... kịp thời và hiệu quả!

Wednesday, 21 June 2017

Những "phép màu" mà nghị quyết xử lý nợ xấu mang lại (Bài đăng trên CafeF, 21/6/2017, tiêu đề do báo đặt lại)


http://cafef.vn/nhung-phep-mau-ma-nghi-quyet-xu-ly-no-xau-mang-lai-20170621222803609.chn

Ngày 21/6 Quốc hội đã thông qua Nghị quyết xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. So với các dự thảo (luật và nghị quyết) và những đề xuất có liên quan trước đây, nghị quyết này có một số nội dung rất tích cực mà chắc chắn sẽ giúp đẩy nhanh tiến trình xử lý nợ xấu ở Việt Nam.

Thứ nhất, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu được bán nợ xấu theo giá thị trường, có thể cao hơn hoặc thấp hơn dư nợ gốc của khoản nợ. Quy định này sẽ giải phóng các khoản nợ xấu vẫn bị “treo” từ trước đến nay do những người chịu trách nhiệm xử lý nợ xấu không dám bán nợ xấu với giá thị trường nhưng lại thấp hơn giá sổ sách, vì họ có khả năng bị kết tội làm thất thoát tài sản của tổ chức và cá nhân khác.
Thứ hai, nghị quyết đề cập đến tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu nhưng không nêu rõ đích danh Tổ chức quản lý tài sản Việt Nam (VAMC) như trong các dự thảo và đề xuất nên có thể hiểu tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu này cũng hoàn toàn có thể là các tổ chức quản lý tài sản của các ngân hàng thương mại (AMC) hoặc các tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu độc lập, đã hoặc sẽ được thành lập sau này. Với sự mở rộng tư cách thành viên được phép tham gia thị trường mua bán, xử lý nợ xấu như vậy thì rõ ràng là khối lượng và giá trị giao dịch nợ xấu sẽ tăng mạnh hơn nhiều so với trường hợp chỉ có VAMC “độc diễn” trên thị trường mua bán nợ xấu với một số đối tác được cấp phép hạn hẹp nhất định. Và như vậy cũng có nghĩa là tốc độ xử lý nợ xấu sẽ được đẩy nhanh hơn nhiều.
Thứ ba, nghị quyết quy định rằng tổ chức mua bán nợ xấu được chuyển khoản nợ xấu đã mua bằng trái phiếu đặc biệt thành khoản nợ xấu mua theo giá thị trường. Như vậy, có thể hiểu rằng đối với những khoản nợ xấu mà, ví dụ, VAMC đã mua bằng trái phiếu đặc biệt với giá bằng giá trị sổ sách trừ đi dự phòng rủi ro thì VAMC sẽ được toàn quyền quyết định tương tự như trong trường hợp họ mua chúng theo giá thị trường (bằng tiền tươi thóc thật). Lúc đó, VAMC có thể bán lại khoản nợ xấu này cũng theo giá hiện hành trên thị trường mà hoàn toàn có thể là thấp hơn giá khi họ mua vào bằng trái phiếu đặc biệt. Tuy gây ra “tổn thất” cho tổ chức tín dụng bán nợ xấu, nhưng việc làm này của VAMC giúp giải phóng nhanh nợ xấu và tài sản thế chấp đi kèm mà không phải chờ đợi vô vọng đến thời điểm những khoản nợ xấu và tài sản thế chấp này sẽ bán được với giá bằng hoặc cao hơn giá bán cho VAMC lúc đầu.
Thứ tư, khác với dự thảo và đề xuất, nghị quyết cho phép tổ chức mua bán nợ xấu được bán nợ xấu cho pháp nhân và cá nhân không có chức năng kinh doanh mua, bán nợ xấu. Điều này có nghĩa là ai và tổ chức nào trong nước cũng có quyền mua nợ xấu – một sự rất mở để việc mua bán nợ xấu diễn ra nhanh chóng, dễ dàng mà không bị trói buộc bởi những loại giấy phép kinh doanh (nợ xấu), cũng như để tài sản nợ xấu không bị trói buộc trong phạm vi sở hữu chỉ của những cá nhân và tổ chức có chức năng kinh doanh nợ xấu.
Thứ năm, cũng khác với dự thảo và đề xuất theo đó VAMC có quyền lựa chọn tổ chức định giá độc lập, nghị quyết quy định tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu (kể cả VAMC) phải thống nhất với tổ chức tín dụng trong việc lựa chọn tổ chức định giá độc lập. Điều này sẽ tránh được rủi ro là VAMC vì muốn được việc cho mình nên lựa chọn một tổ chức định giá độc lập nào đó mà có thể gây thiệt hại cho tổ chức tín dụng.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng bên cạnh những nội dung tích cực, nghị quyết vẫn còn một số hạn chế. Điển hình là quy định bên bảo đảm, bên giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm kèm theo các giấy tờ liên quan đến cho tổ chức tín dụng và tổ chức mua bán nợ xấu. Trường hợp không bàn giao thì tổ chức tín dụng, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu được thu giữ tài sản bảo đảm.
Nhưng trên thực tế, dù tổ chức tín dụng và tổ chức mua bán nợ xấu có nắm giữ được tài sản thế chấp cùng với tất cả các giấy tờ liên quan đến tài sản này, thì việc bán lại các tài sản này cho một bên thứ ba cũng không chắc đã diễn ra thành công và suôn sẻ nếu, ví dụ, người chủ cũ nhất quyết không chịu làm thủ tục sang tên chủ sở hữu cho chủ sở hữu mới, kể cả đó chính là tổ chức tín dụng hay tổ chức mua bán nợ xấu.

Do vậy, chừng nào còn thiếu vắng những quy định có liên quan, ví dụ, bắt buộc chủ sở hữu cũ phải tiến hành việc sang tên chủ sở hữu (và nếu không làm thì sẽ bị truy tố), hoặc (trong trường hợp chủ sở hữu cũ vắng mặt) cho phép các cơ quan chức năng công nhận chủ sở hữu mới các tài sản bảo đảm nợ xấu mà không cần người chủ mới này phải làm thêm thủ tục sang nhượng quyền sở hữu từ chủ cũ. v.v.. thì chừng đó nghị quyết xử lý nợ xấu này cũng chỉ phát huy tác dụng trong một số trường hợp hãn hữu nhất định.

Đối xử thế nào với quỹ tài chính ngoài ngân sách? ̣(Bài đăng trên TBKTSG, 21/6/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/161397/Doi-xu-the-nao-voi-quy-tai-chinh-ngoai-ngan-sach.html



Theo báo cáo thì hiện Việt Nam đang có trên 70 quỹ tài chính ngoài ngân sách. Con số này có lẽ sẽ còn tiếp tục gia tăng vì các cơ quan quản lý trung ương và địa phương tiếp tục đề xuất thành lập thêm các quỹ tương tự khác.

Nhiều bất cập

Điều nổi cộm trong số những bất cập của các quỹ này là chúng vẫn có thể đang được hưởng nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) nhưng lại nằm ngoài cơ chế quản lý NSNN. Tư cách pháp nhân của các quỹ này cũng không rõ ràng, không phải là cơ quan nhà nước thụ hưởng ngân sách thuần túy, cũng không phải là đơn vị sự nghiệp công lập, và càng không phải là một doanh nghiệp.

Tư cách “đầu Ngô mình Sở” như thế này làm cho các quỹ rơi vào vùng xám giao thoa giữa các chế tài pháp luật có liên quan, đồng nghĩa với việc chúng không thực sự chịu sự giám sát, quản lý của một cơ quan hữu trách nào, và các hoạt động của chúng trở nên “u u minh minh” trong con mắt của bất cứ ai, kể cả thành viên đóng góp, trừ những người quản lý trực tiếp quỹ.

Hậu quả của tình trạng này là sự yếu kém về hiệu quả hoạt động, khả năng bị lạm dụng, tham nhũng cao, và sự bất bình của những thành viên nhiều khi phải tham gia bắt buộc mà không thấy rõ lợi ích mang lại...

Cần tách bạch công - tư


Hãy lấy trường hợp Quỹ Hỗ trợ phát triển du lịch đang được đề xuất hiện nay để phân tích sâu hơn. Theo đề xuất, Quỹ Hỗ trợ phát triển du lịch sẽ được hình thành từ vốn điều lệ do Nhà nước cấp, vốn tài trợ, đóng góp tự nguyện, hợp pháp của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cùng các nguồn thu hợp pháp khác.

Mục đích của quỹ là để xúc tiến du lịch; hỗ trợ nghiên cứu thị trường và phát triển sản phẩm; hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực du lịch; hỗ trợ hoạt động truyền thông trong cộng đồng.

Về vốn, có ý kiến đề xuất rằng doanh nghiệp kinh doanh du lịch phải có trách nhiệm đóng góp quỹ vì trên thực tế để khuyến khích doanh nghiệp tự nguyện đóng góp là khó khả thi nếu không gắn với những quyền lợi nhất định. Ngoài ra, cũng có đề nghị cần bổ sung nguồn thu cho quỹ từ đóng góp (bắt buộc?) của khách du lịch và các đơn vị lữ hành, vận chuyển sẽ thu hộ. Để tránh tình trạng sử dụng tiền bất minh, không hiệu quả thì người ta cũng đề xuất đại diện doanh nghiệp đóng góp vào quỹ phải (được) tham gia vào quỹ.

Xét về chức năng và mục đích hoạt động như nêu trên, rõ ràng hoàn toàn có thể phân định rạch ròi đâu là trách nhiệm (và tiền) của Nhà nước, đâu là của tư nhân (các doanh nghiệp thành viên). Nếu Nhà nước muốn xúc tiến, hỗ trợ ngành du lịch thì có thể xuất NSNN, và hoạt động chi ngân sách này phải được lập kế hoạch, phê duyệt, và giám sát bởi các cơ quan chức năng như với mọi hoạt động chi sử dụng NSNN khác. Tất nhiên là nguồn kinh phí này có thể là không đủ cho mục đích này, nhưng đây là điều đương nhiên, vì việc tiêu tiền mà không cần phải đổi lấy hiệu quả (và cũng là một thứ khó đo lường tách bạch) thì sẽ không bao giờ có điểm dừng.

Muốn có thêm tiền để tiến hành các hoạt động có cùng mục đích thì hãy để cho khu vực tư nhân (doanh nghiệp) gánh vác trách nhiệm này. Hiện ngành du lịch đã có Hiệp hội Du lịch Việt Nam. Nếu đúng tính chất là một hiệp hội với sự tham gia tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, với tôn chỉ và mục đích thúc đẩy sự phát triển ngành du lịch Việt Nam, thì các thành viên của hiệp hội có thể bỏ phiếu quyết định có nên thành lập quỹ hỗ trợ doanh nghiệp này hay không, đóng góp bao nhiêu, huy động nguồn thu khác từ đâu, quản lý như thế nào, cho mục đích gì...

Nói cách khác, việc thành lập và tham gia đóng góp quỹ hỗ trợ doanh nghiệp không nên, không cần phải được luật hóa, lồng ghép với Luật Du lịch (sửa đổi) - dự kiến sẽ được Quốc hội xem xét thông qua tại kỳ họp đang diễn ra và mang tính bắt buộc (phải thành lập). Nếu các hội viên nhất trí thành lập và đóng góp thì lúc này hoạt động của quỹ hỗ trợ du lịch sẽ được coi như các hoạt động nghiệp vụ có thu - chi thông thường khác của Hiệp hội Du lịch Việt Nam và sẽ chịu sự quản lý thống nhất của những quy định pháp luật hiện tại liên quan đến các hiệp hội nghề nghiệp nói chung và của Hiệp hội Du lịch Việt Nam nói riêng.

Nếu thấy các quy định pháp luật liên quan đến các quỹ được tạo ra bởi các hiệp hội ngành nghề, tổ chức phi chính phủ nói chung còn bất cập thì cần phải sửa đổi, bổ sung những quy định này, thay vì “may đo” riêng cho mỗi loại quỹ một cơ chế quản lý riêng, dù là gắn với một luật cụ thể nào đó như Luật Du lịch chăng nữa.

Về lâu dài, Nhà nước cần chấm dứt bảo trợ, cấp kinh phí cho các tổ chức hiệp hội, để sự hình thành và hoạt động của chúng thuần túy là xuất phát từ động cơ tự nguyện liên kết với nhau để cùng đạt mục đích chung nào đó, trên cơ sở kinh phí tự đóng góp hoặc từ các hoạt động gây quỹ khác nhưng không được trực tiếp và gián tiếp có nguồn gốc từ ngân sách (chẳng hạn như với quỹ hỗ trợ du lịch, có đề xuất dùng nguồn thu từ lệ phí, thị thực nhập cảnh... Đây chính là nguồn thu có tính chất ngân sách).

Trên cơ sở tự nguyện

Từ sự phân tích trên sẽ thấy đề xuất doanh nghiệp kinh doanh du lịch phải có trách nhiệm đóng góp quỹ chỉ nên được thực hiện với một số điều kiện, ví dụ như doanh nghiệp tự nguyện tham gia Hiệp hội Du lịch Việt Nam, và các thành viên khác của hiệp hội nhất trí thành lập quỹ hỗ trợ du lịch. Ngược lại, doanh nghiệp đang là thành viên, có quyền từ chối đóng góp quỹ (bằng cách rút khỏi hiệp hội), nếu họ không thấy quỹ này phù hợp và cần thiết. Như thế, các doanh nghiệp du lịch không tham gia hiệp hội thì sẽ không phải đóng góp bắt buộc cho quỹ này.

Với cùng logic, đề xuất bổ sung nguồn thu cho quỹ từ đóng góp (bắt buộc?) của khách du lịch và các đơn vị lữ hành, vận chuyển sẽ thu hộ cũng trở nên bất hợp lý và... khôi hài! Điều này chẳng khác gì bắt người tiêu dùng (tức là hầu hết mọi người có mặt trên lãnh thổ Việt Nam) phải đóng góp bắt buộc cho Quỹ Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (nếu có), thông qua một vài đầu mối trung gian nào đó như doanh nghiệp bán lẻ.

Còn với đề xuất đại diện doanh nghiệp đóng góp vào quỹ phải (được) tham gia vào quỹ cũng trở nên thừa và bất khả thi. Thừa vì trên danh nghĩa, khi đã đóng góp vào quỹ thì cũng có nghĩa là doanh nghiệp đã tham gia vào quỹ. Nếu muốn nói rằng doanh nghiệp phải được tham gia vào công tác quản lý (thu - chi) của quỹ thì điều này trở thành bất khả thi vì bộ phận quản lý (chi tiêu) của quỹ chỉ cần là một phần nhỏ trong danh sách thành viên gồm hàng trăm, hàng ngàn và thậm chí là hơn thế các doanh nghiệp du lịch. Các thành viên hiệp hội còn có thể bày tỏ sự phản đối của mình qua lá phiếu bầu nhân sự, phương hướng và chất lượng hoạt động của hiệp hội, và cuối cùng là khả năng tự bản thân chấm dứt tham gia hiệp hội nếu thấy nó không mang lại kết quả như mong muốn.
Mô hình công ty đại chúng với hội đồng quản trị đại diện các cổ đông giám sát ban giám đốc công ty là một minh họa cho thấy các mọi doanh nghiệp du lịch thành viên không cần, không thể tham gia cùng lúc vào công tác quản lý quỹ.

Tuesday, 20 June 2017

Để giải quyết dứt điểm nợ xấu (Bài đăng trên TBKTSG, 20/6/2017)


http://www.thesaigontimes.vn/161395/De-giai-quyet-dut-diem-no-xau.html

Vấn đề nợ xấu đã trở thành tâm điểm của kỳ họp Quốc hội hiện đang diễn ra, tập trung vào nội dung của một nghị quyết liên quan đến giải quyết nợ xấu. Tuy đã có rất nhiều ý kiến góp ý và kiến nghị cho nghị quyết này nhưng có một số điểm mấu chốt chưa được đề cập đến (một cách thấu đáo).
Chủ trương không dùng ngân sách xử lý nợ xấu cần ngoại lệ

Dường như các đại biểu Quốc hội đã khá thống nhất với chủ trương không dùng ngân sách để xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, nếu xét trên nguyên tắc lỗi do ai tạo ra người đó phải chịu trách nhiệm thì cần phải xem xét thấu đáo và quy trách nhiệm sòng phẳng đối với các cơ quan hữu trách cho nhiều khoản nợ xấu phát sinh và tích tụ bấy lâu nay.

Có lẽ không mấy người nhớ đến Văn bản 5342/NHNN/TTGSNH ban hành ngày 24-7-2014 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) gửi các tổ chức tín dụng (TCTD) yêu cầu đẩy mạnh việc cho vay vốn ra thị trường, đặc biệt đối với khách hàng không có tài sản bảo đảm (vay tín chấp). Đây chỉ là một ví dụ cho thấy việc “hưởng ứng” hoặc tuân thủ chỉ đạo của các cơ quan quản lý hữu quan có thể đã gây ra những thiệt hại lớn cho các ngân hàng thương mại (NHTM). Nếu việc đẩy mạnh cho vay đã diễn ra và một phần trong số dư nợ cho vay theo chỉ đạo này biến thành nợ xấu mà không có tài sản bảo đảm thì các NHTM chỉ còn nước “bắc thang lên hỏi ông trời”.

Với những khoản nợ xấu kiểu này cùng với những khoản nợ xấu tương tự phát sinh bởi sự can thiệp và chỉ định của các cơ quan chức năng và quan chức nhà nước (như cho vay trong các chương trình lẫn chiến lược) thì một vài nghị quyết xử lý nợ xấu của Quốc hội như hiện nay cũng chẳng thể làm gì khác được. Đống nợ này sẽ còn “treo” mãi đó trong sổ sách kế toán của các NHTM hoặc của Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC), trừ khi các cơ quan liên đới đứng ra nhận (hoặc bị quy rõ) trách nhiệm và phải có biện pháp khắc phục kèm theo đó như xóa nợ, hoặc dùng ngân sách hay tài sản cá nhân của người ra quyết định chỉ đạo cho vay để trả nợ thay cho người vay, tương tự như với những vụ việc tòa án kết tội oan cho công dân vừa qua.

Công khai nợ xấu là cần thiết, nhưng những ai phải công khai và đến đâu?

Có một vài người đã kiến nghị rất xác đáng về sự cần thiết phải công khai nợ xấu. Đây là điều cần thiết vì muốn trị bệnh thì trước tiên phải hiểu mức độ trầm trọng của bệnh. Nhưng tiếc là những kiến nghị kiểu này mới chỉ đề cập đến trách nhiệm (và cơ chế khuyến khích) các NHTM không che giấu nợ xấu mà không đề cập đến trách nhiệm của cơ quan quản lý hữu trách, mà cụ thể ở đây là NHNN.

Xin lấy một ví dụ minh họa. Dù vụ việc xảy ra đã lâu và hiện nay đã trở thành đại diện chủ sở hữu của các ngân hàng mua lại bắt buộc nhưng NHNN chưa bao giờ công bố (đầy đủ) tình trạng nợ xấu của các ngân hàng này. Thậm chí, trong các thống kê công bố trên trang web của NHNN về tình hình hoạt động của hệ thống tín dụng (tính đến tháng 12-2016), số liệu tài chính của các ngân hàng này cũng bị loại trừ và không ai biết được lúc nào thì bức tranh thật sự về tình hình sức khỏe của các ngân hàng này mới được công bố.

Trên bề mặt thì là nguyên nhân khách quan, nhưng suy cho cùng phần nhiều do chủ quan.

Ngoại trừ những yếu tố khách quan thực sự, gồm có sự cho vay theo chỉ định, chỉ đạo như nói ở trên, nợ xấu thường được tùy tiện đổ thừa do bất ổn chính trị, khủng hoảng kinh tế, chính sách kinh tế vĩ mô thiếu ổn định... Thoạt nghe thì có lý, nhưng xét cho cùng thì đều có một phần lỗi chủ quan của chính các NHTM cho vay. Tại sao họ lại chọn ngành đó, lĩnh vực đó, doanh nghiệp đó, khách hàng cá nhân đó, vào thời điểm đó, với số dư cho vay đó, bằng tài sản bảo đảm đó (hoặc không có)... trong khi các NHTM khác không bị vướng phải hoặc vướng nhưng mức độ nghiêm trọng không bằng? Vậy thì “tiên trách kỷ”, trước hết các ngân hàng nên chủ động xử lý nợ xấu mà không nên, không thể đổ lỗi cho ai, không thể trông chờ sự giúp đỡ của bất cứ ai mà có thể làm chậm lại quá trình xử lý nợ xấu.

Ngược lại, Nhà nước không nên coi những yếu tố “khách quan” này là lý do để có những nhân nhượng, thỏa hiệp trong việc thúc đẩy các NHTM giải quyết nợ xấu. Mặt khác, cũng chính từ phương diện “bất ổn khách quan” này, với tư cách là một điều kiện cần để nợ xấu không một lần nữa trở thành “đại dịch” thì Nhà nước cần phải luôn duy trì một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, có thể tiên lượng được, chứ không chỉ tập trung vào việc ban hành và hoàn thiện các quy định pháp lý về xử lý nợ xấu như hiện thời.

Thị trường mua bán nợ thôi chưa đủ, cần thêm nhiều thành viên bình đẳng về tư cách

Sự thiếu vắng một thị trường mua bán nợ hiện tại được coi là một trong những nút thắt chính trong công cuộc xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, điều nghịch lý là những dự thảo, đề xuất hiện thời liên quan đến phát triển thị trường mua bán nợ dường như lại không muốn mở rộng cửa thị trường này ra để đón tiếp các thành viên đầy tiềm năng khác (với đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ) gồm các tổ chức quản lý tài sản (AMC) của các NHTM và nhà đầu tư nước ngoài, ngoài một số thành viên hạn chế như VAMC, các NHTM và một số công ty kinh doanh liên đới.

Ngoài ra, dù có nguồn lực tài chính (tiền tươi thóc thật) rất hạn chế nhưng VAMC đang được (đề xuất) trao quá nhiều quyền hạn, thậm chí là đặc quyền “một mình một chợ”, mặc dù thực sự thì các khoản nợ xấu mà họ nắm giữ không phải thuộc về họ mà chỉ là “giữ hộ” cho các NHTM.

Không cho phép nhập nhằng nợ xấu là cần thiết, nhưng có dám làm đến nơi đến chốn?

Có đại biểu Quốc hội đề nghị ngân hàng phải sớm có báo cáo cụ thể tên của các tổ chức, cá nhân nào đang gây ra nợ xấu, để trên cơ sở đó Quốc hội sẽ xem xét, với chủ trương “truy tận gốc, trốc tận ngọn”, không cho phép nhập nhằng nợ хấu. Điều này là cần thiết để tránh tình trạng người/tổ chức gây ra nợ xấu lại không bị xử lý, dẫn đến kỷ cương phép nước bị coi thường, tạo ra “vết xe đổ” cho những lần vi phạm khác (của người/tổ chức khác).

Tuy nhiên, trên thực tế, sẽ có hay không tình thế “dao sắc không gọt được chuôi”? Bản thân các cơ quan quản lý và nhiều quan chức cấp cao là tác nhân (gián tiếp và trực tiếp) của không ít khoản nợ xấu như đã nêu ví dụ ở trên và đã chứng kiến trên thực tế. Nếu không xử lý vấn đề này rốt ráo thì khó tránh khỏi nợ xấu sẽ tiếp tục phát sinh mạnh sau này, kể cả khi đã có nghị quyết và luật xử lý nợ xấu.

Vẫn cần khu biệt nợ xấu theo thời gian

Một số ý kiến cho rằng nợ xấu phát sinh là vấn đề tất yếu, nợ xấu nào cũng là nợ xấu, vì thế không nên giới hạn phạm vi xử lý nợ xấu (ví dụ từ ngày 31-12-2016 trở về trước).

Tuy nhiên, lập luận này không hoàn toàn đúng. Trước hết, nhận thức và hành động liên quan đến nợ xấu hiện nay khác xa với trước đây, đặc biệt xét trong bối cảnh “u u minh minh” trong những năm trước. Nhưng hiện nay và sau này, nếu các bên liên đới vẫn không rút được bài học từ quá khứ, tiếp tục (cố tình) lập lại những sai lầm làm phát sinh nợ xấu trong thời gian tới dù đã được vạch trần, cảnh báo, xử lý rộng rãi như hiện nay thì chí ít những giải pháp xử lý mang tính “chữa cháy” áp dụng cho những khoản nợ xấu trước đây sẽ không được phép tiếp tục áp dụng cho những khoản nợ xấu tương tự phát sinh sau này. Nói cách khác, nợ xấu cũ vẫn có thể khác nợ xấu mới!

Hãy lấy ví dụ về chuyện cán bộ được NHNN phân công tham gia tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém trước đây, họ được ngầm định (và thực tế là vậy) miễn trách nhiệm nếu gây ra hậu quả (gồm nợ xấu) trong quá trình tham gia tái cơ cấu ngân hàng yếu kém. Nhưng dường như hiện nay đang có sự đồng thuận mới rằng sự miễn trách nhiệm này chỉ xảy ra với một số điều kiện. Nếu điều này được luật hóa và cán bộ biệt phái bởi NHNN vi phạm quy định này và gây ra nợ xấu thì (việc xử lý) khoản nợ xấu đó phải được gắn liền với trách nhiệm của cá nhân và cơ quan quản lý cá nhân đó, chứ không thể đổ lỗi chung chung hoặc cho NHTM yếu kém đang tái cơ cấu được.

Friday, 9 June 2017

Dự thảo điều kiện kinh doanh ngành ô tô: Nhiều điểm không rõ ràng và bất hợp lý (Bài đăng trên TBKTSG, ngày 10/6/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/161124/Du-thao-dieu-kien-kinh-doanh-nganh-o-to-Nhieu-diem-khong-ro-rang-va-bat-hop-ly.html

Mới đây, Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) đã đưa ra dự thảo nghị định quy định điều kiện kinh doanh, sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô để lấy ý kiến. Dự thảo này có nhiều điểm không rõ ràng và bất hợp lý.
Vì khuôn khổ có hạn của bài báo nên ở đây người viết chỉ xem xét và góp ý cho các điều từ 1 đến 9 của dự thảo.

Điều 1 về phạm vi điều chỉnh của nghị định, mục 2, điểm a quy định rằng nghị định này không áp dụng với “ô tô được sản xuất, lắp ráp từ ô tô sát xi có buồng lái đã được chứng nhận hoặc từ ô tô hoàn chỉnh đã được Bộ GTVT chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường”, việc quản lý chúng được “thực hiện theo quy định riêng của Bộ GTVT”.

Quy định trên rất không rõ ràng. Chẳng hạn, hiểu thế nào là “ô tô sát xi có buồng lái đã được chứng nhận”? Nếu muốn nói là được chứng nhận bởi Bộ GTVT (và được chứng nhận về cái gì?) thì phải viết lại hoàn toàn quy định này. Và nữa, nếu đã là “từ ô tô hoàn chỉnh” thì cần gì phải sản xuất, lắp ráp nữa? Chưa hết, nếu diễn giải đúng theo quy định này thì các doanh nghiệp muốn kinh doanh ngành nghề sản xuất, lắp ráp ô tô từ ô tô sát xi có buồng lái hoặc ô tô hoàn chỉnh thì chỉ cần làm việc với Bộ GTVT để xin được chứng nhận liên quan là sẽ không bị điều chỉnh bởi nghị định này nữa. Nếu đúng như vậy thì có nghĩa là cùng một việc (cấp phép sản xuất, lắp ráp) nhưng lại có tới hai đầu mối quản lý, thực thi là Bộ Công Thương và Bộ GTVT, biết (nghe) theo ai bây giờ?

Tương tự, với ô tô nhập khẩu, một số loại ô tô không thuộc phạm vi điều chỉnh của nghị định, như ô tô là quà biếu, tặng và tài sản di chuyển thì thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính. Tuy nhiên, các quy định của Bộ Tài chính dường như chỉ đơn thuần đề cập đến các vấn đề liên quan đến... tiền, như thuế, điều kiện chuyển nhượng, cho, tặng... chứ không có quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn, môi trường. Trong khi đó, mục đích của việc ban hành dự thảo nghị định này, theo tinh thần giải trình của Bộ Công Thương, là để mọi ô tô lưu thông ở Việt Nam, kể cả ô tô nhập khẩu, phải đảm bảo những tiêu chuẩn này. Nếu được đặt ra ngoài phạm vi điều chỉnh của nghị định này thì chẳng phải là sẽ có một số loại ô tô có khả năng gây nguy hiểm, ô nhiễm môi trường trong quá trình sử dụng (sau khi được nhập khẩu) vẫn được phép lưu thông ở Việt Nam hay sao?


Khả năng trên cho thấy, để đảm bảo an toàn và bảo vệ môi trường với ô tô lưu hành ở Việt Nam, thì điều quan trọng và cần thiết là phải kiểm định, khám xe (định kỳ) một cách nghiêm túc rồi mới cấp phép lưu hành cho ô tô (sau sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu), chứ không phải là bản thân cái giấy phép và điều kiện nào để cấp cái giấy phép đó cho doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu ô tô. Nói cách khác, bản thân cái giấy phép sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu ô tô không đảm bảo rằng ô tô lưu hành ở Việt Nam sẽ an toàn và bảo vệ môi trường. Suy rộng thêm ra nữa, việc ban hành nghị định này là không cần thiết! Chiếc áo không làm nên thầy tu!

Điều 4 về trách nhiệm bảo hành, bảo dưỡng ô tô quy định rằng doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu ô tô phải cung cấp cho người tiêu dùng giấy (sổ) bảo hành ô tô có thời hạn tối thiểu ba năm hoặc 100.000 ki lô mét. Quy định này vừa thừa vừa thiếu. Thừa vì các hãng ô tô có chế độ bảo hành không nhất thiết phải giống nhau (ở mọi quốc gia, mọi địa phương). Thậm chí, chế độ bảo hành của một hãng có thể còn thay đổi tùy thuộc vào những yếu tố, như có khuyến mãi hay không. Áp đặt thời hạn tối thiểu ba năm là sự trói buộc không cần thiết, phi thị trường (hãy cứ để hãng ô tô tự đề ra thời hạn bảo hành ở mức hợp lý, phù hợp với khả năng cạnh tranh và chiến lược phát triển của họ). Thiếu vì nếu đã quy định đến mức cụ thể như vậy thì vẫn cần phải quy định thêm các chi tiết khác trong giấy bảo hành này cho đồng bộ, như loại phụ tùng, vật liệu, dịch vụ nào được bảo hành miễn phí, điều kiện được miễn phí...

Điều 5 quy định doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu ô tô phải chịu trách nhiệm triệu hồi ô tô bị lỗi kỹ thuật. Quy định này cần nêu rõ hơn những trường hợp nào phải triệu hồi, như lỗi kỹ thuật nghiêm trọng, gây mất an toàn khi sử dụng (và chỉ có thể khắc phục được tại cơ sở của nhà sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu). Còn không, doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu có thể đưa ra những lựa chọn khác nhau cho khách hàng, ví dụ bồi thường bằng tiền có chế độ ưu đãi khác để khách tự xử lý.

Điều 6 về trách nhiệm bảo đảm chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của doanh nghiệp quy định rằng doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định về sở hữu trí tuệ. Cần quy định cụ thể điều này hơn vì quy định sở hữu trí tuệ mỗi nước một khác. Với ô tô nhập khẩu hoặc có phụ tùng nhập khẩu thì doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu tại Việt Nam có lẽ phải tuân thủ cả sở hữu trí tuệ của các nước xuất khẩu ô tô và phụ tùng sang Việt Nam. Trường hợp có xung đột, không rõ ràng thì cần mang vấn đề ra đâu để được phân xử, xử lý.

Điều 9 quy định điều kiện về tổ chức bộ máy và nhân lực, gồm phải có bộ phận quản lý hoạt động sản xuất, lắp ráp ô tô. Quy định này là thừa vì đương nhiên là để sản xuất, lắp ráp ô tô thì, như một điều sơ đẳng, doanh nghiệp phải tổ chức và có những người quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, lắp ráp ô tô, chứ không lẽ để ai muốn làm gì thì làm trong nhà máy hay sao? Ngoài ra, nếu đã sa đà vào tiểu tiết như vậy thì nghị định cũng phải đưa thêm ra cả những tiểu tiết khác cho đồng bộ, như định nghĩa thế nào là hoạt động sản xuất, lắp ráp ô tô, và thế nào là bộ phận quản lý hoạt động sản xuất, lắp ráp ô tô. Liệu (tổng) giám đốc có phải là nhà quản lý, thuộc bộ phận quản lý hoạt động sản xuất, lắp ráp ô tô hay không? Nếu phải thì doanh nghiệp nào chẳng có (tổng) giám đốc và những người giúp việc? Nếu không phải thì người này hóa ra là không liên quan, không có trách nhiệm gì đến hoạt động sản xuất, lắp ráp ô tô hay sao?

Điều 9 còn quy định người phụ trách bộ phận quản lý hoạt động sản xuất, lắp ráp ô tô phải tốt nghiệp đại học trở lên, thuộc một trong các chuyên ngành cơ khí, ô tô và có kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp ô tô năm năm trở lên. Quy định này trói buộc và khắt khe một cách không cần thiết. Cái cần nhất ở người quản lý, kể cả ở trong cái gọi là “bộ phận quản lý hoạt động sản xuất, lắp ráp ô tô” là khả năng tổ chức, điều hành công việc chứ không phải là khả năng biết rành rẽ về kỹ thuật, ví dụ, con ốc vít này chịu được lực kéo bao nhiêu thì đứt, gãy như một kỹ sư cơ khí. Trên hết, tự doanh nghiệp biết cần phải bố trí người quản lý là ai, thế nào cho phù hợp để đem lại hiệu quả cao nhất mà không cần phải có sự “vẽ đường” của nghị định này.

Tóm lại, đề nghị Bộ Công Thương trước tiên xem lại tính cần thiết của một nghị định như thế này. Nếu vẫn cứ thấy rằng không có không được thì cần rà soát lại từng quy định để loại bỏ những điểm không rõ ràng, bất hợp lý, đưa ra để cho có, thậm chí là trói buộc và áp đặt mang tính chủ quan và... ngây ngô, bất chấp nhu cầu của thị trường và đòi hỏi của thực tiễn, gây thiệt hại, khó khăn cho doanh nghiệp một cách không đáng có như đã chỉ ra ở trên.

Phát triển đường cao tốc bằng vốn xã hội hóa: cần hóa giải mặt trái (Bài đăng trên TBKTSG, ngày 9/6/2017, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/161102/Phat-trien-duong-cao-toc-bang-von-xa-hoi-hoa-can-hoa-giai-mat-trai.html

Hàng loạt dự án đường cao tốc lớn đã được quy hoạch hoặc bắt đầu được triển khai ở Việt Nam trong những năm gần đây, đặc biệt trong số đó là dự án đường cao tốc Bắc Nam có tổng vốn đầu tư lên tới trên 300.000 tỉ đồng.
Xã hội hóa cũng không ổn


Trong cảnh ngân sách nhà nước “ăn đong” như hiện nay, thật khó có thể trông chờ Chính phủ rót vốn từ ngân sách cho các dự án này. Kể cả tính chuyện Chính phủ đi vay bằng phát hành trái phiếu Chính phủ (hay vay ưu đãi, vay vốn ODA) thì cũng không mấy khả thi bởi mức nợ công đã gần kịch trần, còn nợ Chính phủ thì đã vượt ngưỡng cho phép. Quả thật, trong dự án đường cao tốc Bắc Nam, Chính phủ mới đây đã chốt phương án hỗ trợ 55.000 tỉ đồng từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2016-2020 cho dự án này, gồm cả chi phí giải phóng mặt bằng – một con số rất khiêm tốn so với tổng vốn đầu tư dự toán và càng khiêm tốn so với con số thực tế có thể sẽ phải bỏ ra.
Như vậy, phần lớn số vốn cần thiết để đáp ứng cho những “cuộc chơi” tốn kém này chỉ có thể đến từ khu vực tư nhân trong và ngoài nước (thường được được gọi là vốn xã hội hóa, hoặc đối tác công-tư, kiểu như BOT – Xây dựng, Vận hành và Chuyển giao). Nhưng nỗi lo và cũng là vấn đề bức xúc trong dư luận hiện nay là các dự án BOT này chẳng hiểu vì lý do gì mà lại thường được chỉ định thầu chứ không qua đấu thầu. Hậu quả của việc chỉ định thầu này là mức phí và lệ phí sử dụng cơ sở hạ tầng trở nên quá cao. Bởi tuy đã có đầy đủ cơ chế xác định phí và lệ phí sử dụng cơ sở hạ tầng cho các dự án BOT nhưng những mức phí và lệ phí này lại được tính toán dựa trên suất đầu tư, vốn đã bị đội lên bởi không qua đấu thầu. Kết cục là người dân sử dụng những dự án đường cao tốc kiểu này sẽ lĩnh đủ.


Chuyện tưởng hiển nhiên nhưng xem ra vẫn khó làm được
Giải pháp cho tình trạng trên xem ra rất đơn giản và thẳng tuột, theo kiểu mắc đâu gỡ đấy. Cụ thể, để tránh chỉ định thầu, cần kiên quyết cho đấu thầu các dự án cơ sở hạ tầng có thu phí để chỉ có nhà thầu, chủ đầu tư nào có giá thành cạnh tranh nhất mới thắng thầu, từ đó có cơ sở để kiểm soát các mức phí và lệ phí sử dụng sau này không ở mức “trên trời” và thường xuyên điều chỉnh tăng.


Tuy nhiên, giải pháp đấu thầu này trên thực tế xem ra rất khó khả thi, một cách “đúng quy trình”. Rõ ràng là các bên liên đới, từ Chính phủ đến chủ đầu tư và chủ thầu đều có nhiều thời gian cho việc quy hoạch, thiết kế, gọi thầu xây dựng và triển khai các dự án. Hiếm có dự án nào mà phải thực hiện trong cảnh nước sôi lửa bỏng, phải gấp rút hoàn thành ngay đáp ứng nhu cầu quốc kế dân sinh khẩn cấp. Thế mà ngay đến việc tư vấn lập dự án và tư vấn thiết kế, ví dụ như trong dự án cao tốc Bắc Nam, Chính phủ cũng phải đồng ý với chuyện chỉ định thầu được Bộ Giao thông Vận tải đề xuất, mà không qua đấu thầu công khai.
Việc chỉ định nhà tư vấn lập dự án và thiết kế này dẫu sao cũng sẽ đỡ bức xúc hơn nếu nhà tư vấn đó làm tốt công việc được giao. Nhưng thực tế thì không mấy khi được như vậy, và điều này được thể hiện ở nhiều dự án đường cao tốc mà mới đưa vào sử dụng đã hư hỏng, xuống cấp, bởi những lý do mà một số trong đó đã trở nên quá quen thuộc kiểu như “nhà tư vấn chưa có kinh nghiệm, năng lực hạn chế, chưa thực hiện các dự án lớn bao giờ…” để biện minh cho các yếu kém trong các dự án đầu tư công đủ loại từ trước đến nay.


Tiếp đến, cho dù Chính phủ đã khẳng định chủ trương sẽ lựa chọn nhà đầu tư sẽ thông qua đấu thầu cạnh tranh, không chỉ định thầu, nhưng cũng không khó để tưởng tượng kết cục là, bằng một phép mầu nào đó, chỉ có một nhà đầu tư, nhà thầu nhất định nào đó sẽ được chỉ định hoặc lựa chọn, vì lý do này hay lý do khác, và tất nhiên là hoàn toàn “đúng quy trình”. Những chuyện “đi đêm”, thông thầu thế này không phải là mới và giải pháp cho vấn đề này cũng không phải là không có, ít nhất là trên giấy tờ, vậy mà chúng vẫn và sẽ tiếp tục xảy ra.
Như vậy, trong cơ chế quản lý hiện tại, thực sự khó có thể có giải pháp triệt để và toàn diện để vừa thu xếp được đầy đủ và nhanh vốn cho các dự án đường cao tốc nói riêng và cơ sở hạ tầng nói chung, vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế của các dự án này, lại đồng thời không làm nảy sinh các xung đột lợi ích lớn giữa tất cả các bên liên quan, từ nhà nước, nhà đầu tư đến người sử dụng. Như trên đã nói qua, hầu như Việt Nam không còn thiếu khuôn khổ và chế tài pháp lý gì nữa liên quan đến phát triển cơ sở hạ tầng bằng vốn xã hội hóa. Nên giải pháp hiển nhiên sẽ không phải là tiếp tục “đẻ” ra thêm luật định, quy chế, quy trình gì nữa.


Thay vào đó, có những điều, những nguyên tắc có thể thực hiện được ngay để giảm thiểu những vấn đề tiêu cực hiện nay.
Chuẩn bị tốt rồi hãy làm!


Với những dự án mang tính trọng đại như cao tốc Bắc Nam, nếu không đảm bảo được rằng sẽ không lặp lại những bài học cũ từ chuyện chỉ định thầu, kể cả thầu tư vấn lập dự án và thiết kế, thì tốt nhất là nên dừng triển khai để có thêm thời gian chuẩn bị cho đến khi đảm bảo được rằng mọi giai đoạn của dự án, từ khâu đầu tiên là tư vấn lập dự án và thiết kế đến thi công, vận hành, sẽ có nhiều nhà thầu có chất lượng cao tham gia bỏ thầu. Tuyệt đối không được lấy những lý do như do quy mô lớn và mức độ phức tạp của công trình và thời gian triển khai gấp gáp nên buộc phải chỉ định nhà thầu để “kịp tiến độ và bảo đảm chất lượng”.
Để hạn chế khả năng “đi đêm”, thông thầu, cần minh bạch tối đa mọi thông tin liên quan đến dự án với thời gian đủ dài để mọi nhà thầu có quan tâm đều có cơ hội bình đẳng nghiên cứu, đánh giá dự án và tham dự đấu thầu công khai. Quan trọng hơn, cần thiết lập đầu mối tiếp nhận và xử lý nghiêm túc các phản biện, phản hồi và cả tố cáo liên quan đến (việc triển khai) dự án.


Và luôn phải đảm bảo người sử dụng có hơn một lựa chọn!
Tuy vậy, cũng như trên đã đề cập, không thể khẳng định sẽ loại bỏ được hoàn toàn việc một nhà thầu nhất định nào đó trúng thầu nhờ có phép mầu nào đó, đảm bảo “đúng quy trình”. Nên cần phải có một yếu tố hóa giải cho rủi ro này.


Đó là, phải tạo điều kiện để cho người sử dụng có các lựa chọn khác nhau, tùy vào bài toán kinh tế của riêng mình. Chẳng hạn, với dự án đường cao tốc Bắc Nam, nếu nhà đầu tư bỏ vốn xây dựng và vận hành đưa ra mức phí và lệ phí quá cao, nhiều người sử dụng tiềm năng sẽ phải tính toán liệu có nên đi đường cao tốc hay đi đường quốc lộ thường. Nhà đầu tư và vận hành đường cao tốc Bắc Nam lúc đó sẽ phải rất thận trọng khi tính toán mức phí và lệ phí để sao cho không “đuổi” bớt một lượng lớn người sử dụng tiềm năng. Nhưng sự lựa chọn này chỉ có thể xảy ra nếu Nhà nước không định đóng cửa đường cũ, vẫn tiếp tục duy tu nó sau khi có đường cao tốc mới, hoặc không xóa bỏ nó bằng cách nâng cấp nó lên thành đường cao tốc để buộc người sử dụng đường bộ không còn lựa chọn nào khác ngoài đường cao tốc.
Một vài lựa chọn khác nữa như nâng cấp giao thông đường sắt, đường thủy và đường không cũng sẽ làm gia tăng áp lực cạnh tranh với đường cao tốc Bắc Nam, làm cho nhà đầu tư và vận hành phải cân nhắc hai lần trước khi đưa ra mức giá, phí sử dụng.

Friday, 2 June 2017

IPO Nhà máy Lọc dầu Dung Quất không dễ dàng (Bài đăng trên TBKTSG, ngày 2/6/3027, bản gốc, tiêu đề do báo đặt)


http://www.thesaigontimes.vn/160817/IPO-Nha-may-Loc-dau-Dung-Quat-khong-de-dang.html


Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) – công ty vận hành nhà máy lọc dầu Dung Quất – mới đây đã công bố việc chào bán lần đầu ra công chúng (IPO) vào cuối năm nay. Có khá nhiều chuyện đáng nói liên quan đến kế hoạch IPO này.
Năm lần bẩy lượt


Đây không phải là lần đầu tiên BSR “rậm rịch” IPO. Việc này đã diễn ra từ năm 2010 khi, theo ngôn từ trên mặt báo chí, “Chính phủ đã có chủ trương kêu gọi các nhà đầu tư, đối tác nước ngoài mua cổ phần của BSR”. Tuy nhiên, việc bán cổ phần này không hiểu vì lý do gì mà im ắng suốt cho đến tận năm 2015 (tuy nhiên, mới đây, theo Chủ tịch Hội đồng thành viên BSR thì BSR đã trình kế hoạch cổ phần hóa năm 2013 nhưng không được thông qua bởi cấp có thẩm quyền).
Việc IPO được xới lại trong năm 2015 xem ra có phần “quyết liệt” hơn, mang tính giục giã, bắt buộc hơn. Cụ thể, “Thủ tướng yêu cầu PVN (Tập đoàn Dầu khí Việt Nam) thực hiện cổ phần hóa và chỉ giữ tối thiểu 65% vốn điều lệ”, theo tường thuật của báo chí. Tiếp đó, PVN đã ra quyết định về việc cổ phần hóa BSR vào ngày 6/11/2015. Nhưng rồi vụ IPO này cũng không đi đến đâu cả.


Đến tháng 11/2015, lãnh đạo BSR đăng đàn trả lời báo chí về kế hoạch IPO của mình vào cuối năm 2016. Tưởng đâu đã xong, nhưng rồi GazProm Neft, một công ty năng lượng của Nga được xem là đối tác chiến lược tham gia cổ phần hóa BSR với dự định mua 49% cổ phần của nhà máy lọc dầu Dung Quất, vào đầu năm 2016 (có báo thì nói là đến tháng 6/2016) đã thông tin không tiếp tục tham gia nữa. Sau đó, việc IPO của BSR tiếp tục được thúc đẩy theo Quyết định 58/2016 ngày 28/12/2016 của Thủ tướng, dự kiến tiến hành vào năm nay (lúc đầu được công bố là vào quý 3, sau lại sửa thành quý 4).
Xem ra có một lực cản lớn đằng sau việc cổ phần hóa BSR. Ai phải chịu trách nhiệm việc để lỡ chuyến tầu cổ phần hóa BSR vào những lúc thuận lợi nhất? Xin đừng đổ tội cho “cơ chế hành chính” như lời của lãnh đạo BSR.

Đến lúc rẻ cũng phải bán, phải thoái vốn


Trong con mắt của nhà đầu tư, tính hấp dẫn của thương vụ IPO này xem ra ngày càng… suy giảm. Điều kiện để cổ phần hóa và IPO xem ra cũng càng ngày càng dễ dãi hơn. Nếu trong những năm trước, thời vẫn còn hoàng kim của giá dầu cũng như của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam thì điều kiện để trở thành nhà đầu tư chiến lược của BSR là nhà đầu tư không những có tiềm lực tài chính mạnh, có kinh nghiệm trong lĩnh vực hóa-lọc dầu, mà còn phải cam kết đồng hành lâu dài để hỗ trợ hỗ trợ BSR nâng cấp, mở rộng nhà máy, mở rộng thị trường… Nhưng rồi, GazProm Neft, một trong số rất ít ỏi nhà đầu tư lớn có sự quan tâm nghiêm túc đến BSR, cũng đành phải “chào thua”, với lý do, theo báo chí trong nước, là không cảm thấy thỏa mãn với điều kiện mà phía Việt Nam đề xuất.
Và hiện tại thì tuy BSR vẫn khẳng định quan điểm về nhà đầu tư chiến lược như nói ở trên nhưng dường như chuyện tìm và bắt tay được với đối tác chiến lược tiềm năng có thể thế chỗ cho GazProm Neft vẫn chẳng đâu ra đâu, đơn gản vì BSR vẫn đang “tìm đối tác chiến lược phát triển hóa dầu mua trên 36%”, theo BSR. Ngược lại, BSR hiện sẵn sàng “tuyển” cả các quỹ đầu tư trong và ngoài nước mua cổ phần của mình, điều phần nào cho thấy với BSR bây giờ thì “méo mó có hơn không”, không có kinh nghiệm (phát triển hóa dầu), không cam kết đồng hành lâu dài thì có tiền cũng được!


Bên cạnh đó, dường như cũng đã đồng hành và nếm trải đủ với BSR nên Chính phủ cũng đã cố gắng thúc đẩy việc IPO của BSR bằng việc hạ tỷ lệ dự kiến nắm giữ cổ phần sau cổ phần hóa và IPO từ tối thiểu 65% như trước đây xuống còn dưới 50% (tức là bán sạch đi cũng được). Chính phủ thoái vốn khỏi BSR không những là một động thái mở rộng cửa mời chào nhà đầu tư mà có thể còn đan xen cả mục đích “quẳng gánh lo” vì không còn phải lao tâm khổ tứ chăm sóc “đứa con tâm huyết” BSR bằng cả tài chính lẫn chính sách hỗ trợ vốn luôn gây phản ứng trái chiều trong dư luận như suốt mấy năm qua. Và cũng rất có thể là Chính phủ đã nhận ra vai trò thật sự của lọc dầu Dung Quất về cả mặt kinh tế và xã hội đã không như dự tính nên mới không ngần ngại buông bỏ hoàn toàn nhà máy này.
Vì nước đã đến… cổ!


Một điểm khác, và cũng có liên quan đến điểm nêu trên, một mặt BSR đang cảm nhận rất rõ tình hình ảm đạm mà họ đang phải đối mặt nhưng mặt khác họ lại quyết tâm (hoặc bị thúc) cổ phần hóa và IPO ngay trong năm nay, với tâm thế gần như không còn gì để mất, được thể hiện qua lời của lãnh đạo BRS: “Thời điểm này giống như người lữ hành trễ chuyến tàu, nhưng muộn còn hơn không làm. Phải làm bất chấp điều kiện hiện giờ khó khăn gấp nhiều lần 4-5 năm trước”.
Điều gì đã đẩy họ vào tình cảnh này?


Rõ ràng, với BSR và cả Chính phủ, việc cổ phần hóa và IPO không phải nhằm “thay máu” nền quản trị doanh nghiệp để cải thiện hiệu quả sản xuất kinh doanh như với nhiều trường hợp cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước khác. Đơn giản là bởi khả năng này không/chưa bao giờ được đề cập đến bởi cả Chính phủ lẫn BSR và công ty mẹ là PVN trong những thông tin công bố hiếm hoi. Thay vào đó, mục đích chính là để có tiền nhằm thực hiện dự án mở rộng nhà máy lọc dầu Dung Quất. Việc mở rộng này mang tính sống còn với nhà máy vì không chỉ đem lại năng lực sản xuất cao hơn mà còn, quan trọng hơn, đảm bảo khả năng sản xuất các sản phẩm xăng dầu đáp ứng tiêu chuẩn Euro 4 được áp dụng tại Việt Nam từ năm nay (hiện tại không đáp ứng được, tức là sẽ không tiêu thụ được sản phẩm khi tiêu chuẩn Euro 4 có hiệu lực).
Số vốn dự kiến cho dự án mở rộng này lên tới 1,82 tỉ đô la (và chắc sẽ phải cộng thêm nhiều phần trăm vào đó nữa để tính trước cho tình trạng “trượt giá”). Trong tình cảnh “giật gấu vá vai” của ngân sách hiện nay, việc trông chờ Nhà nước, chủ sở hữu của BSR, bỏ vốn cho dự án là điều không khả thi. Trông vào nguồn tích lũy của BSR thì chẳng thấm vào đâu vì lợi nhuận ròng hàng năm của BSR chỉ khoảng 100-200 triệu đô la.


Thay vào đó, BSR đã có kế hoạch vay 1,2 tỉ đôla. Vẫn thiếu (chưa kể để vay được 1,2 tỉ thì BSR có thể phải bỏ ra thêm một số vốn đối ứng nào đó). Vậy thì chỉ còn cách gọi vốn của nhà đầu tư, thông qua việc tự bán mình.
Không nên bảo lãnh, ưu đãi thêm cho BSR

Điều đáng nói là BSR vẫn muốn làm một “cú chót” bằng việc xin Chính phủ bảo lãnh cho khoản vay này trước khi IPO. Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu Chính phủ có nên bảo lãnh cho BSR không?


Để trả lời câu hỏi này, cần phân tích BSR có rủi ro lớn gì trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Đó là rủi ro lớn về tỷ giá liên quan đến mất cân đối đồng tiền (nhập khẩu dầu thô bằng ngoại tệ, doanh thu bằng nội tệ). Cũng có rủi ro về thị trường và sản phẩm, khi hiện tại sản phẩm của lọc dầu Dung Quất không đáp ứng được tiêu chuẩn Euro 4 để tiêu thụ được ở Việt Nam (chỉ đáp ứng được vào năm 2021 hoặc 2022, khi dự án mở rộng hoàn thành). Không rõ rồi họ sẽ bán sản phẩm đi đâu và cho ai, vì xuất khẩu cũng khó vì không cạnh tranh được với các nhà cung cấp khác trên thế giới về giá cả.
Bên cạnh đó, hiệu quả hoạt động của nhà máy là một dấu hỏi lớn. Nhà máy báo cáo lãi nhưng chủ yếu từ trước đến nay chỉ nhờ “mặc cả” chính sách ưu đãi với Nhà nước, với hàng loạt ưu đãi từ thuế má đến tiếp cận thị trường, đất đai. Việc chủ động cải thiện hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh xem ra không phải là một ưu tiên với nhà máy. Bằng chứng là, theo lời của Tổng giám đốc BSR, trong năm 2016 đã cắt giảm 20% chi phí sản xuất, trong khi những năm trước đó dư luận chỉ được thấy một BSR kể khổ với Chính phủ mà không thấy một lời nào về sự tự “vượt khó” của mình bằng cách cắt giảm chi phí sản xuất. Nếu những năm trước đây BSR cắt giảm được chừng đó chi phí thì họ thừa sức cạnh tranh ngang ngửa với xăng dầu nhập khẩu dù phải chịu thuế điều tiết đến 20% hoặc hơn. Ngược lại, dù khó khăn nhưng BSR đã không quên xin cơ chế lương thưởng đặc thù cho người quản lý.


Như vậy, việc Chính phủ tiếp tục bảo lãnh cho BSR sẽ là khá mạo hiểm, và BSR cũng không xứng đáng được Chính phủ bảo lãnh, ưu đãi nữa.
Cũng sẽ có người lập luận rằng Chính phủ cần phải bảo lãnh, cũng như cam kết (thêm) các ưu đãi, để dự án trở nên có hiệu quả hơn, dễ bán và bán được giá cao. Nhưng cần đặt câu hỏi ngược lại, liệu phần thu được thêm từ việc thoái vốn với giá cao hơn có bù đắp nổi những thiệt hại, mất mát, thất thu phải bỏ ra hiện nay và nhiều chục năm sau này liên quan đến BSR thuộc sở hữu của những ông chủ tư nhân mới không?


Tóm lại, cổ phần hóa BSR xem ra vẫn chỉ là việc “chữa cháy”, cực chẳng đã, nhưng/và không vì thế mà Chính phủ nên tiếp tục ưu đãi, trợ giúp tài chính và chính sách thêm cho BSR nữa. Xin hãy để thị trường lên tiếng.

Friday, 26 May 2017

Hạn chế rượu, bia là việc phải làm! (Bài đăng trên TBKTSG, 26/5/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/160433/Han-che-ruou-bia-la-viec-phai-lam.html

Bộ Y tế đã đưa ra dự thảo Luật Phòng chống tác hại rượu, bia, dự định ban hành trong năm nay, với nhiều quy định về các biện pháp nhằm giảm nhu cầu sử dụng rượu, bia.
Những tác hại to lớn không cần tranh cãi của việc lạm dụng rượu, bia gây ra cho nhiều cá nhân, gia đình và cả xã hội là bối cảnh của việc xây dựng dự thảo này.

Tuy vậy, vẫn có nhiều ý kiến “băn khoăn”, bàn lùi. Chẳng hạn, với những hãng sản xuất, phân phối rượu, bia thì việc đề xuất cấm, các tổ chức cá nhân kinh doanh rượu, bia thực hiện các hoạt động tài trợ cho sự kiện, hoạt động văn hóa - nghệ thuật, y tế, giáo dục, thể thao, vui chơi giải trí như trong dự thảo, sẽ làm hàng triệu người Việt Nam không được thỏa lòng... đam mê. Bởi lẽ, ví dụ, họ không được xem các trận đấu bóng đá đỉnh cao hay thưởng thức lễ hội âm nhạc mà các hãng sản xuất, phân phối này tài trợ.

Người khác thì lại liệt kê một số trường hợp ở các nước khác như Na Uy và Pháp (mà chẳng biết có đúng không) để cho rằng việc cấm quảng cáo rượu, bia thực tế không có tác dụng, thậm chí có tác dụng ngược!

Mục đích biện minh cho phương tiện

Không phải ngẫu nhiên mà các ý kiến trên phần lớn là từ các doanh nghiệp và cá nhân sản xuất, phân phối rượu, bia, bởi chắc chắn khi luật trên được thông qua thì sẽ ảnh hưởng mạnh đến doanh thu của họ. Nhưng cứ giả sử là họ đúng, không lẽ Nhà nước không định làm gì, cứ để mặc cho việc sử dụng rượu, bia ngày càng được khuyến khích, cổ vũ (bằng, ví dụ, các chương trình tài trợ, khuyến mãi như nêu trên), ngày càng tràn lan?


Câu trả lời tất nhiên là không. Trước tiên, hãy bàn về sự cần thiết của việc cấm, hạn chế. Đương nhiên là việc cấm, hạn chế sử dụng rượu, bia (bất luận là gián tiếp hay trực tiếp) sẽ không thể nào đạt hiệu quả cao ở cái nghĩa là toàn bộ sản lượng rượu, bia tiêu thụ của đất nước có thể sẽ “rơi thẳng đứng” ngay và mạnh, có thể đúng như người nào đó nói rằng là một thực tế xảy ra ở nước nọ, nước kia. Nhưng chỉ cần có một chút hiệu quả (mà chắc chắn là vậy) thì việc cấm, hạn chế rượu, bia vẫn là việc phải làm, thay vì không làm gì cả, thậm chí là làm ngược lại. Điều quan trọng là Nhà nước phải tỏ rõ lập trường và thái độ với rượu, bia và việc sử dụng chúng, nếu nhận thức rõ được tác hại của rượu, bia. Trong trường hợp này, đó chính là hành động thể hiện sự không đồng lõa, kiên quyết cấm và hạn chế sử dụng rượu, bia, được cụ thể hóa qua việc ban hành và thực thi luật trên.

Hãy liên tưởng việc cấm, hạn chế sử dụng rượu, bia với việc cấm, hạn chế sử dụng súng, vũ khí sát thương thì sẽ thấy sự cần thiết của một luật về cấm, hạn chế sử dụng rượu, bia. Hiển nhiên là dự thảo luật trên có thể còn có nhiều điểm bất hợp lý, nhưng điều này không có nghĩa là không cần, không nên ban hành và thực thi luật này.

Việt Nam không phải là ngoại lệ

Chuyển sang cách làm và tính hiệu quả. Cần lưu ý là việc ban hành luật trên không phải chỉ có ở Việt Nam. Nhiều nước trên thế giới bằng hình thức này hay hình thức khác đều có những quy định hạn chế sử dụng rượu, bia, nhiều khi rất hà khắc hoặc... buồn cười. Quan trọng không kém là nhiều trong số chúng mang lại kết quả rõ ràng.

Sydney, một thành phố có tiếng của Úc về những vụ bạo lực liên quan đến rượu bia, đã ban hành luật quy định ngặt nghèo về giờ mở cửa và bán rượu, bia ở các quán bar. Theo báo chí đưa tin thì luật này đã làm giảm mạnh số vụ bạo lực, mặc dù các chủ quán bar và câu lạc bộ chịu thiệt hại nặng về doanh thu (đúng như dự đoán).

Các nước vùng Scandinavia vốn từ lâu có nhiều đệ tử “lưu linh” do có mùa đông băng giá khắc nghiệt kéo dài, thường chỉ cho phép bán rượu, bia trong các cửa hàng do nhà nước độc quyền. Các cửa hàng này cũng có thời gian mở cửa ngắn và đóng cửa vào Chủ nhật. Na Uy còn áp dụng thuế rượu, bia cao nhất thế giới (theo sau là Singapore).

Ngoài chuyện áp thuế rất cao lên rượu, bia, năm 2015, Singapore ban hành luật về cung cấp và tiêu thụ rượu, bia. Theo đó, cấm một phần việc uống rượu, bia ở nơi công cộng và hạn chế thời gian được mua, bán rượu bia (các cửa hàng không được phép bán rượu, bia sau 10 giờ 30 tối, và người dân cũng không được phép uống rượu, bia nơi công cộng sau 10 giờ 30 tối). Dù có thể có ai đó vẫn nói rằng những luật cấm đoán kiểu này không hiệu quả, nhưng có một thực tế phải được công nhận là giá rượu, bia ở Singapore rất đắt. Với giá đắt đỏ như vậy thì dù có muốn nghiện, muốn vui, muốn lách luật, chống luật cũng hơi... khó!

Malaysia, theo báo chí, cũng đang cân nhắc việc nâng độ tuổi hợp pháp uống rượu bia từ 18 lên 21. Chính phủ cũng không quên buộc nhà sản xuất phải dán nhãn cảnh báo lên vỏ chai, lon về tác hại của việc uống rượu, bia đến sức khỏe.

Nhiều bang ở Ấn Độ từ vài năm nay cũng tuyên chiến mạnh mẽ với rượu, bia, hoặc bằng việc cấm, hoặc bằng việc hạn chế mua, bán trong một nỗ lực giảm thiểu bạo lực và tệ nạn bắt nguồn từ rượu, bia. Đặc biệt hơn, Thủ hiến bang Madhya Pradesh, một bang miền trung Ấn Độ, còn đặt hàng 10.000 phiến gỗ ngắn chừng hơn 30 cen ti mét để trang bị cho các cô dâu mới cưới, dùng để “đánh những kẻ say”, và còn nói thêm “cảnh sát sẽ không can thiệp” khi các cô dâu dùng nó để “nói phải quấy” với chồng mình, nếu gã chồng say khướt và không chịu nghe họ nói, thậm chí còn thường xuyên đánh đập họ.

Chuyện này xem ra là thật chứ không phải chuyện cười, với ảnh chụp cô dâu cầm phiến gỗ như vậy, có thể xem tại đây: http://www.channelnewsasia.com/news/asiapacific/indian-brides-get-woolen-paddles-to-beat-drunk-husbands-with-8807738

Tuesday, 23 May 2017

Để vốn ODA không còn là “̣chùm khế ngọt" (Bài đăng trên TBKTSG, 23/5/2017, tiêu đề do báo đặt lại)

http://www.thesaigontimes.vn/160177/De-von-ODA-khong-con-la-chum-khe-ngot.html

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 52 về cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ đối với ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Theo đó, UBND cấp tỉnh được vay lại từ nguồn vốn vay ODA và vay ưu đãi khi đáp ứng các điều kiện có dự án được cấp có thẩm quyền cho phép huy động vốn vay để thực hiện đầu tư phát triển kinh tế - xã hội hoặc dự án có phần vốn góp của ngân sách địa phương theo phương thức hợp tác công tư, thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương, thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn của địa phương do cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại Luật Đầu tư công.

Tốt trên lý thuyết

Có thể nói rằng sự ra đời của nghị định này là một nỗ lực của Chính phủ nhằm khắc phục tình trạng coi vốn ODA, vốn vay ưu đãi Chính phủ là “chùm khế ngọt” với các địa phương, và nhiều cá nhân liên đới. Do vốn ODA và vốn vay ưu đãi Chính phủ từ trước đến nay chủ yếu được phân bổ theo kiểu xin cho, cấp phát nên địa phương nào “giỏi xin” thì sẽ được cho mà không nhất thiết phải gắn với hiệu quả kinh tế xã hội của đồng vốn được sử dụng, và cũng không nhất thiết phải gắn với trách nhiệm trả nợ đầy đủ và đúng hạn. Điều này là nguyên nhân chính dẫn đến thất thoát, lãng phí, sử dụng không hiệu quả các nguồn vốn vay này.

Từ thực tế trên, đã có một số đề xuất Chính phủ cho vay lại các nguồn vốn ưu đãi này thay vì cấp phát.

Việc cho vay lại được cho là sẽ buộc người sử dụng vốn vay - UBND các tỉnh có trách nhiệm hơn với đồng vốn mà họ đi vay về. Vì là vốn vay lại chứ không phải là được “cho không” như trước đây nên họ trở nên có trách nhiệm hơn với “tiền của người khác”, trước khi vay phải cân nhắc nguồn và khả năng trả nợ, đồng thời sẽ phải gánh chịu hậu quả khi không trả được nợ.


Lý thuyết là như vậy. Và rõ ràng là Nghị định 52 đã đi theo hướng này khi có các điều khoản quy định về điều kiện được vay lại, tỷ lệ cho vay lại, trách nhiệm trả nợ, và xử lý rủi ro (khi UBND tỉnh không trả được nợ).

Nhưng thực tế có thể vẫn... còn lỗ hổng

Nghị định 52 về bản chất vẫn là cơ chế xin cho, vẫn còn lỗ hổng, dễ bề bị lợi dụng.
Theo nghị định này, để được vay lại vốn ưu đãi, ngoài việc phải có dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, cho phép huy động vốn, và được bố trí vốn đối ứng, địa phương đó còn không được có dư nợ vượt quá hạn mức dư nợ của ngân sách địa phương, không có nợ vay lại của Chính phủ quá hạn, và nghĩa vụ trả nợ hàng năm đối với vốn vay lại ưu đãi không vượt quá 10% nguồn thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp.

Như vậy, với các địa phương đáp ứng được các điều kiện về dư nợ trong hạn mức, không có nợ quá hạn, và nghĩa vụ trả nợ hàng năm chưa vượt mức, dù hiện tại có thể là họ chưa hoặc không có (nhiều) dự án để được hưởng vốn vay lại ưu đãi thì họ sẽ “vẽ” ra cho đủ số các dự án loại này một cách không khó khăn gì, vì cơ quan “có thẩm quyền” như nêu chung chung trong Nghị định 52 hoàn toàn có thể là “người nhà” cả.

Điều quan trọng ở đây là tâm lý nếu đủ điều kiện được vay vốn ưu đãi thì chẳng tội gì không “vẽ” ra dự án để “xin” được tiền về cái đã, còn thực tế ra sao thì... tính sau, vốn là điều chẳng còn lạ lẫm gì ở Việt Nam qua hàng loạt vụ án kinh tế đình đám liên quan đến vốn Chính phủ vay nước ngoài về giao, cho các doanh nghiệp nhà nước vay lại.

Và cũng vì đã được quy định rõ ràng trong nghị định trên nên việc “xin” tiền càng trở nên đơn giản hơn so với trước đây, vì các bộ hữu trách không còn lý do gì để không phê duyệt khi mọi điều kiện để cho vay lại đều được đáp ứng đầy đủ trên giấy tờ.

Tiếp theo, Nghị định 52 chưa đề cập đến một vấn đề quan trọng là quy định chỉ một số trường hợp hữu hạn nào đó thì Chính phủ mới đứng ra đàm phán với các đối tác nước ngoài để vay vốn và cho các UBND tỉnh vay lại. Với các điều kiện để được vay lại vốn vay nước ngoài chung chung, đại trà như nêu trong nghị định thì rất có khả năng là mọi dự án của UBND tỉnh sẽ là đối tượng được hưởng nguồn vốn vay lại ưu đãi này, miễn là địa phương đó thỏa mãn được các điều kiện chung chung này.

Điều này không chỉ dẫn đến hậu quả nguồn vốn ưu đãi tiếp tục bị dàn trải, Chính phủ phải luôn chạy theo nhu cầu vay lại vốn ngày càng tăng lên của các địa phương cả nước. Trong trường hợp Chính phủ không đáp ứng nổi nhu cầu vay lại này (mà chắc chắn là vậy) thì lại dẫn đến chế độ phân phối vốn như trước đây dựa trên quan hệ xin cho, và/hoặc tỉnh nào, dự án nào “nhanh chân” và khéo “quan hệ” thì sẽ xin được vốn.

Đối với những dự án, địa phương “chậm chân” hoặc không đáp ứng đủ các điều kiện để vay lại vốn ưu đãi thì đây là một thiệt thòi, ngáng trở lớn (và trong dài hạn) nếu họ muốn phát triển, muốn vươn lên thông qua các dự án mà hoàn toàn có thể là tốt, có hiệu quả, nhưng không thực hiện được chỉ vì không tiếp cận được vốn (ưu đãi), một phần do vốn này đã bị hút về các địa phương, dự án khác.

Tiền vay mình hưởng, trả nợ là việc của người khác!

Đến đây, sẽ có nhiều người lập luận rằng chuyện địa phương “thích” vay lại vốn dù không thực sự cần thiết sẽ là khó xảy ra vì địa phương phải tính đến chuyện trả nợ, sẽ phải chịu hậu quả, trách nhiệm khi không trả được nợ (đúng hạn). Điều này như đã nói, chỉ đúng trên lý thuyết.

Khác với vay nợ tư nhân, nơi người đi vay phải thế chấp tài sản hoặc tín chấp, bảo lãnh (bằng uy tín của bản thân hay bằng tài sản và/hoặc uy tín của người khác), UBND các tỉnh vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ không cần bảo lãnh. Cá nhân vay nợ có thể “xù” nợ nhưng gánh nặng trả nợ và hậu quả sẽ còn theo họ suốt nên đôi khi việc không trả nợ chỉ là cực chẳng đã.

Trong khi đó, mang tiếng là UBND tỉnh vay nhưng đằng sau đó là một số cá nhân liên đới điều khiển và họ mới chính là những đối tượng sẽ được hưởng lợi nhiều nhất khi vay được vốn. Quan trọng hơn, các cá nhân này làm việc theo nhiệm kỳ nên với họ, cứ vay (và hưởng lợi) đi đã, còn việc có trả được nợ hay không, bao giờ trả được nợ, ai và giải quyết thế nào với những hậu quả sau này khi không trả được nợ... là việc của tập thể, của cả địa phương, hoặc ít ra thì là của những người kế nhiệm họ. Và cứ như những gì đang diễn ra hiện nay thì quá lắm những người này chỉ bị cách những chức vụ trong quá khứ có liên quan đến việc vay lại vốn ưu đãi.

Hơn nữa, xử lý cá nhân thì còn dễ, nhưng sẽ không dễ nếu xử lý cả một địa phương. Chính phủ liệu có những biện pháp xử lý, trừng phạt nghiêm khắc gì nếu một địa phương nào đó “vỡ nợ” vốn vay lại?

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).