Wednesday, 26 November 2014

Giáo sư, tiến sĩ không nhất thiết hiểu được những logic thông thường

Trong bài "Xin đừng nói tại suy thoái!" đăng trên TBKTSG của tớ, tớ có nêu ra ví dụ về Ebola và cơn sốt (vốn là ví dụ đã được một đồng chí dùng để phang tớ trong blog này cách đây vài tháng nhân chuyện tớ viết về tổng cầu yếu) để minh họa cho cái quan hệ nhân quả giữa tổng cầu yếu và lạm phát thấp.
 
Nhưng tiếc là  do không đọc đến nó hoặc không thèm hiểu cái logic thông thường trong đó nên có nhẽ đến 90% giáo sư với tiến sĩ ở Việt Nam xuất hiện trên báo chí đều bị nhầm lẫn, giống nhau đến kinh ngạc khi có cùng một tư duy rằng lạm phát âm do tổng cầu yếu.
 
Cũng may là cũng còn một số người khác, không nhất thiết là giáo sư hay tiến sĩ, như tác giả của bài báo trong link dưới đây (đương nhiên là kể cả ban biên tập TBKTSG) vẫn hiểu được và hiểu đúng vấn đề. Và tớ thấy mừng là người của Tổng cục thống kê (đồng chí Đỗ Thị Ngọc) đã lý giải rõ ràng lại một lần nữa tại sao nói tại tổng cầu yếu là vớ vẩn.
 
(Xin tiết lộ rằng bài viết này cũng đã bị một tờ báo từ chối thẳng thừng, đại loại là không thể bàn về một vấn đề lớn như vậy trong một bài viết ngắn tũn như vậy, làm tớ tủi thân và xấu hổ mất 2 tiếng đồng hồ cho đến khi được TBKTSG nhận đăng).
 
Nhưng nói gì thì nói, chắc chắn chúng ta sẽ còn được nghe dài dài điệp khúc lạm phát thấp vì tổng cầu yếu (nền kinh tế suy thoái, kiệt quệ) này trong những tháng tới đây nếu lạm phát cứng đầu không theo hướng tăng lên như hàng năm. Tớ đã vốn sợ giới giáo sư tiến sĩ ở Việt Nam nay thì lại sợ thêm một bậc nữa.
 

Ảnh hưởng của thông tư 36 lên tiến trình cổ phần hóa (Bài đăng trên CafeF, 26/11)

http://cafef.vn/thi-truong-chung-khoan/anh-huong-cua-thong-tu-36-len-tien-trinh-co-phan-hoa-2014112608060552310ca31.chn

Thông tư 36/2014/TT-NHNN đã được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành và có hiệu lực từ 1/2/2015 với các giới hạn và tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
 
Do thông tư này có những điều khoản liên quan đến việc mua và nắm giữ cổ phiếu của doanh nghiệp nên nhiều người lo ngại nó có thể siết dòng vốn vào thị trường chứng khoán, làm giảm giá cổ phiếu và làm chậm quá trình cổ phần hóa.
 
Để trấn an, NHNN giải thích rằng giới hạn 5% vốn điều lệ, vốn được cấp là tổng mức dư nợ cấp tín dụng của các ngân hàng đối với tất cả các khách hàng để đầu tư kinh doanh cổ phiếu, chứ không phải là giới hạn cho đầu tư chứng khoán nói chung như trong các quy định trước đây, vốn có phạm vi rộng hơn. Thêm nữa, NHNN cũng cho biết cho đến nay tỷ lệ đầu tư cho cổ phiếu chỉ xoay quanh 4% (của vốn điều lệ/vốn tự có). Như thế, theo NHNN, Thông tư 36 không hoàn toàn siết vốn vào thị trường chứng khoán vì lâu nay thị trường chưa bao giờ dùng hết hạn mức cấp tín dụng cho cổ phiếu. Thậm chí NHNN còn cho rằng thông tư 36 còn thúc đẩy thị trường chứng khoán cả về nguồn lực và chất lượng vì nhiều ngân hàng có vốn điều lệ lớn chưa bao giờ dùng hết (hạn mức) 5% cho vay đầu tư cổ phiếu.
 
Về quan điểm trên của NHNN có mấy ý cần được làm rõ hơn như sau:
 
Thứ nhất, theo số liệu thống kê của NHNN, vốn tín dụng của ngân hàng đổ vào thị trường chứng khoán đã trên dưới 4%, nên so với hạn mức 5% thì “room” còn lại trong tín dụng cấp cho khách hàng để đầu tư kinh doanh cổ phiếu chỉ là trên dưới 1% tổng vốn điều lệ/vốn tự có của hệ thống ngân hàng.
 
Cũng theo số liệu thống kê trên Website của NHNN thì tổng vốn tự có của các ngân hàng thương mại (bao gồm ngân hàng Thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần và ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài) là 478.883 tỷ đồng, và vốn điều lệ là 411.940 tỷ đồng, tính đến tháng 9/2014.
 
Do đó 1% trên tổng vốn tự có hoặc vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại như nói trên sẽ tương ứng là 4.789 và 4.110 tỷ đồng. “Room” còn lại này sẽ là quá nhỏ để giúp cho thị trường chứng khoán hấp thụ thêm những đợt IPO lớn hàng nghìn tỷ đồng trong tương lai như những đợt IPO của Vietnam Airlines (1.093 tỷ) hoặc Vinatex (1.216 tỷ), chưa kể hàng loạt vụ IPO của các doanh nghiệp nhỏ hơn.
 
Nói cách khác, mặc dù hệ thống ngân hàng thương mại hiện tại vẫn chưa dùng hết hạn mức cấp tín dụng tương đương 5% vốn điều lệ/vốn tự có của mình, nhưng nếu như trong thời gian sắp tới việc cổ phần hóa và thoái vốn tại nhiều doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trong đó có nhiều doanh nghiệp quy mô lớn, sẽ được diễn ra đồng loạt theo đúng kế hoạch thì hoàn toàn có thể kỳ vọng có một phần (đáng kể) nhu cầu tín dụng để đầu tư kinh doanh những cổ phiếu mới phát hành và/hoặc do thoái vốn này sẽ không được đáp ứng bởi các ngân hàng thương mại do chúng đã hết “room”. Hậu quả sẽ là những cổ phiếu này sẽ bị ế và/hoặc buộc phải bán với giá rẻ (giả thiết là những điều kiện khác, ví dụ như sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài và luồng vốn của họ đổ vào, không thay đổi). Đây là một trong những trở ngại có thể sẽ cản trở tiến độ cổ phần hóa và thoái vốn của DNNN hoặc sẽ làm ảnh hưởng đến doanh thu của quá trình này.
 
Thứ hai, ngay cả việc NHNN cho rằng nhiều ngân hàng lớn vẫn chưa dùng hết hạn mức đầu tư cổ phiếu của mình cũng không làm thay đổi đáng kể được tình hình. Như đã tính toán ở trên, room cho vay đầu tư cổ phiếu còn lại tính cho cả hệ thống ngân hàng thương mại chỉ là dưới 5.000 tỷ đồng nên cho dù có một số ngân hàng (lớn) nào đó chưa dùng hết hạn mức thì tổng khối lượng tín dụng chúng có thể cho vay thêm vào thị trường chứng khoán cũng chỉ dưới con số 5.000 tỷ đồng này mà thôi.
 
Thứ ba, không phải ngân hàng thương mại nào cũng có khẩu vị mạnh trong việc cấp tín dụng cho khách hàng mua, đầu tư cổ phiếu, nên giới hạn 5% trên của NHNN sẽ làm hạn chế hơn nữa nguồn vốn đổ vào cổ phiếu nói chung và cổ phiếu mới từ thoái vốn/ cổ phần hóa DNNN nói riêng. Những ngân hàng nào có thể và muốn mở rộng tín dụng trong lĩnh vực này thì đã mở rộng hết mức được phép (5% tổng vốn điều lệ/vốn tự có của nó). Còn những ngân hàng khác chưa dùng hết hạn mức hoặc không quan tâm lắm đến thị trường cho vay cổ phiếu này thì trong hoàn cảnh bình thường Thông tư 36 này không có liên quan gì đến chúng cả.
 
Nhưng nếu xét trong trạng thái động thì khi nhu cầu tín dụng cho cổ phiếu không được thỏa mãn đầy đủ, nó sẽ góp phần đẩy lãi suất cho vay đầu tư cổ phiếu để hấp dẫn những ngân hàng nào vẫn còn room cho vay nhưng lại không mặn mà lắm đến lĩnh vực này tăng cường cho vay lĩnh vực này hơn. Kết cục là với chi phí tín dụng tăng làm giảm lợi nhuận đầu tư và kinh doanh cổ phiếu nói chung và cổ phiếu từ cổ phần hóa nói riêng, sự hấp dẫn của cổ phần hóa với nhà đầu tư cũng bị mai một (vẫn với giả định các điều kiện khác không thay đổi).
 
Nói cách khác, xét trên khía cạnh toàn bộ hệ thống cũng như từng ngân hàng thương mại thì Thông tư 36 rõ ràng sẽ làm hạn chế luồng vốn đổ vào thị trường cổ phiếu và/hoặc lãi suất của luồng vốn này cũng như giá của cổ phiếu. Do đó trên ý nghĩa này cũng có thể nói rằng Thông tư 36 sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình cổ phần hóa.
 
-------------------------------
Bổ sung: Tớ quên không đề cập thêm một yếu tố hạn chế vốn ngân hàng vào cổ phiếu nữa là chuyện ngân hàng chỉ được cho vay khi có tỷ lệ nợ xấu nhỏ hơn 3%. Như vậy, với thêm hạn chế này nữa thì vốn tín dụng ngân hàng cho đầu tư cổ phiếu càng hạn hẹp hơn.
 
 

Tuesday, 25 November 2014

Vai trò của FDI trong phát triển kỹ thuật và công nghệ (bài đăng trên TBKTSG Online, 25/11)

http://www.thesaigontimes.vn/123065/Vai-tro-cua-FDI-trong-phat-trien-ky-thuat-va-cong-nghe.html

Khu vực kinh tế FDI đang ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ví như một trong 4 động lực tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam (bên cạnh nông nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân). Tuy vậy, trong bối cảnh nền kinh tế đang trải qua thời kỳ tăng trưởng chậm lại sau giai đoạn mở cửa và cất cánh với sự đóng góp tích cực và rõ ràng của FDI, đồng thời khu vực FDI bộc lộ một số tiêu cực như chuyển giá, ô nhiễm môi trường, trả lương thấp và môi trường làm việc khắc nghiệt v.v... ngày càng có nhiều người hoài nghi về vai trò và đóng góp thật sự của FDI đối với nền kinh tế Việt Nam.
Ngay cả một đóng góp hiển nhiên và hết sức quan trọng của FDI cho nền kinh tế Việt Nam là chuyển giao, lan tỏa công nghệ và kỹ thuật – yếu tố thiết yếu cho sự phát triển và thịnh vượng của mỗi quốc gia – cũng bị nhiều người xem nhẹ khi cho rằng các doanh nghiệp FDI không hoặc không tích cực, miễn cưỡng chuyển giao công nghệ, hoặc chuyển giao công nghệ từ FDI là không đáng kể, thể hiện qua số lượng hợp đồng kinh tế với doanh nghiệp FDI có điều khoản chuyển giao công nghệ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số (có thống kê cho biết con số đâu như 10%).

Trong bài này ta sẽ làm rõ hơn về vai trò của khu vực FDI trong phát triển kỹ thuật và công nghệ đối với nước tiếp nhận, cũng như các điều kiện để tối ưu hóa vai trò tích cực này của FDI.
Với phần lớn các nước đang phát triển, tiến bộ công nghệ thường chỉ là quá trình du nhập và áp dụng công nghệ sẵn có từ nước ngoài, chứ không phải là quá trình sáng tạo ra công nghệ (mới). Bởi vậy, chuyển giao và làm lan tỏa công nghệ là một trong những tiền đề để xây dựng được năng lực công nghệ nội địa. Trên giác độ này, FDI đóng vai trò rất quan trọng trong các hoạt động công nghệ cao và cung cấp trọn gói kiến thức, trong khi đó hoạt động R&D của nó không chỉ còn được gói gọn ở quê hương của mình mà đang lan rộng ra các nước đang phát triển, góp phần nâng cao trình độ công nghệ của các nước này.

FDI có thể chuyển giao và làm lan tỏa công nghệ ở nhiều dạng, cả phần cứng và phần mềm, chính thức hay ngầm định, và thường thông qua sự tương tác với các doanh nghiệp địa phương, bên cạnh kênh R&D mà doanh nghiệp FDI tiến hành ngay tại nước bản địa.
Về phần cứng, công nghệ nằm sẵn trong các hàng hóa tư bản như máy móc và thiết bị. Khi nền kinh tế sở tại mua/tiếp nhận máy móc thiết bị thì hoặc mặc nhiên (ngầm định), hoặc theo thỏa thuận (chính thức) trong hợp đồng kinh tế, nó sẽ được hưởng các công nghệ và kỹ thuật hiện tại hoặc mới của thế giới cũng như kỹ năng và kiến thức cần thiết để sử dụng và làm chủ công nghệ và thiết bị đó.

Về phần mềm – yếu tố (ngày càng) quan trọng hơn – nó có thể bao  gồm các kỹ năng quản lý, tổ chức và điều hành sản xuất. Trong ngắn hạn, nền kinh tế sở tại sẽ được hưởng lợi do cải thiện năng suất, có thêm sản phẩm mới và hạ giá thành sản xuất nhờ tiếp nhận công nghệ và kỹ năng mới. Trong dài hạn hơn, sự hưởng lợi này sẽ phụ thuộc vào chính khả năng của nền kinh tế sở tại trong việc phát triển năng lực riêng của mình dựa trên những công nghệ và kỹ năng mới tiếp thu, cũng như khả năng nhân rộng những công nghệ và kỹ năng này ra toàn nền kinh tế, chứ không chỉ gói gọn trong doanh nghiệp và ngành kinh tế tiếp nhận công nghệ và kỹ năng đó.
Sự tương tác giữa doanh nghiệp FDI và bản địa sẽ giúp tăng cường mức độ lan tỏa công nghệ và kiến thức nhờ một số kênh như bắt trước, học và làm theo, tăng sự cạnh tranh, các liên kết chuỗi hạ nguồn và cả thượng nguồn, đào tạo và tăng tính lưu động của thị trường lao động có kỹ năng. Ví dụ, khi một doanh nghiệp FDI thâm nhập vào ngành nào đó, nó sẽ áp dụng cách thức sản xuất mới, công nghệ mới, hệ thống mua hàng và phân phối sản phẩm mới, hình thức marketing mới, tuyển dụng và đạo tạo mới... Những điều này có thể là mới mẻ với doanh nghiệp địa phương, tạo nên nhu cầu bắt trước và học hỏi từ phía chúng, từ đó tạo ra một loạt tập quán, thông lệ mới cũng như một trình độ sản xuất mới cao hơn.

Sự xuất hiện của doanh nghiệp FDI còn mang đến sự cạnh tranh mới, buộc những doanh nghiệp địa phương trong cùng ngành phải ra sức tự nâng cấp trình độ công nghệ và năng lực sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của mình nếu không muốn bị đào thải khỏi cuộc chơi. Quá trình này tất yếu sẽ buộc các doanh nghiệp địa phương phải du nhập công nghệ mới và kỹ năng tổ chức và quản trị mới mà chẳng cần phải một cơ quan chính quyền nào can thiệp, thúc giục.
Hoặc sự tương tác với doanh nghiệp địa phương còn ở dạng doanh nghiệp FDI sẽ đặt hàng cung ứng sản phẩm đầu vào và dịch vụ (liên kết chuỗi hạ nguồn và thượng nguồn) từ doanh nghiệp địa phương. Ví dụ, một doanh nghiệp FDI trong ngành chế tạo máy sẽ đặt hàng doanh nghiệp địa phương cung ứng bao bì đóng gói sản phẩm. Việc này không những giúp phát triển ngành bao bì in ấn và các dịch vụ, sản phẩm ăn theo, mà còn phát triển ngành thượng nguồn từ sản xuất giấy nguyên liệu đến làm bìa carton, cùng với đó là việc du nhập và áp dụng các công nghệ mới phù hợp với các ngành này. Cũng cần lưu ý một thực tế rằng khi cung ứng sản phẩm và dịch vụ cho các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp bản địa phải khá vất vả đáp ứng một loạt các điều kiện và tiêu chuẩn do doanh nghiệp FDI đặt ra để đảm bảo chất lượng và giá thành tối ưu của sản phẩm và dịch vụ mà họ đặt hàng. Quá trình điều chỉnh để đáp ứng được những điều kiện và quy định này tự thân nó đã là một quá trình nâng cấp công nghệ nói chung, từ phần cứng đến phần mềm, của doanh nghiệp bản địa nói riêng, cũng như của nền kinh tế bản địa nói chung. Đó là chưa kể trong nhiều trường hợp, các doanh nghiệp FDI khi đặt hàng thường cũng sẽ cung cấp các trợ giúp công nghệ, kỹ thuật, kiến thức, kỹ năng, và cả phần cứng (vật tư, phương tiện, thiết bị...) đã gói ghém trong đó nhiều công nghệ và bí quyết mới.

Liên quan đến lợi ích lan tỏa này, một số người lại cho rằng ở Việt Nam phần lớn lợi ích này rơi vào tay các doanh nghiệp FDI khác liên đới. Cho dù có thể là vậy, nhưng ngoài sự phiến diện khi có sự phân biệt doanh nghiệp đang hoạt động ngay trên lãnh thổ Việt Nam theo thành phần chủ sở hữu (vì dù là FDI hay trong nước thì chúng đều đóng góp vào nền kinh tế Việt Nam), ý kiến này bỏ qua thực tế là các doanh nghiệp FDI liên đới này đến lượt mình lại tạo ra những tác động tích cực và lan tỏa như đối với các doanh nghiệp FDI khác đến phần còn lại của nền kinh tế, theo kiểu “lọt sàng xuống nia”.

Trong chuyển giao công nghệ từ FDI, còn có một tác động tích cực do FDI mang đến mà ít được để ý và đánh giá cao. Đó là sự lan tỏa các kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm quản lý, quản trị, ngoại ngữ, bí quyết, am hiểu thị trường trong và ngoài nước, tay nghề... của người lao động. Lực lượng lao động này được đào tạo khá bài bản từ nhiều doanh nghiệp FDI, học và thực hành được nhiều kiến thức và kỹ năng mới để rồi sau đó họ mang đến áp dụng và phát huy ở những doanh nghiệp nội địa khác khi họ rời bỏ doanh nghiệp FDI. Chính bởi hiện thực này mà không khó thấy khi các cán bộ và nhân viên có trình độ ở các doanh nghiệp FDI lại được đón nhận một cách ưu đãi bởi các doanh nghiệp trong nước.

Về kênh chuyển giao công nghệ qua các hoạt động R&D tại bản địa, hiện các doanh nghiệp FDI ngày càng quốc tế hóa các hoạt động R&D của mình, chuyển các hoạt động này ra nước ngoài nơi chúng có chi nhánh, nhằm củng cố khả năng phát triển sản phẩm và năng lực sáng tạo của mình nhờ tận dụng chất xám của nhân viên bản địa với chi phí rẻ. Ngay ở Việt Nam, dù còn rất hữu hạn nhưng cũng đã có một số doanh nghiệp đa quốc gia lớn như Samsung, HP, Bosch, hay Panasonic thành lập các cơ sở R&D tại đây. Các hoạt động R&D bản địa này đến lượt chúng lại khuyến khích sự phát triển nhân lực, tạo hiệu ứng lan tỏa kiến thức (thông qua sự dịch chuyển lao động, bắt trước, và học hỏi), nâng cao tính cạnh tranh công nghiệp bản địa, vốn là những yếu tố thiết yếu cho khả năng học hỏi và tiếp thu công nghệ của nền kinh tế bản địa. Có không ít ví dụ thực tiễn về việc các nhân viên và kỹ sư R&D rời bỏ các trung tâm R&D của doanh nghiệp nước ngoài về làm việc cho các doanh nghiệp nội địa hoặc tự thành lập các doanh nghiệp của riêng mình để áp dụng những kiến thức và kỹ năng đã học được.

Đương nhiên, tiếp nhận chuyển giao và lan tỏa công nghệ, kỹ thuật từ doanh nghiệp FDI không phải là tự nhiên mà có, và đương nhiên sẽ diễn ra. Mức độ công nghệ và kỹ thuật được chuyển giao hay lan tỏa phụ thuộc vào một loạt các điều kiện phức hợp như ngành kinh tế nội địa mà doanh nghiệp FDI thâm nhập vào, cách thức và mức độ thâm nhập của chúng, khả năng tiếp nhận và hấp thụ của doanh nghiệp và nền kinh tế bản địa, và môi trường chính sách liên quan đến công nghệ và bảo vệ sở hữu trí tuệ của nước sở tại có tác dụng khuyến khích chuyển giao và lan tỏa công nghẹ thế nào.

Thông thường, những nước đang phát triển có mức thu nhập cao hơn sẽ có khả năng tiếp nhận nhiều hơn. Những nước đang phát triển ở mức thấp hoặc chậm phát triển vẫn chưa tham gia một cách tích cực được vào mạng lưới R&D toàn cầu của doanh nghiệp FDI để tạo ra những công nghệ mới. Trên giác độ này, rõ ràng không thể so sánh trường hợp của Việt Nam với những nước thành công hơn trong việc thu hút chuyển giao công nghệ như Trung Quốc và Malaysia, để rồi đổ lỗi cho FDI ở Việt Nam rằng họ không đóng góp đáng kể đến chuyển giao công nghệ ở đây.
Mức độ phát triển của nền kinh tế bản địa còn quyết định mức độ năng lực và khả năng học hỏi kỹ thuật và công nghệ của các chủ thể trong nền kinh tế bản địa. Những hạn chế liên quan này ở Việt Nam rõ ràng sẽ hạn chế sự năng động của thị trường thúc đẩy chuyển giao và nâng cấp công nghệ thông qua kênh liên kết chuỗi và tác động lan tỏa.

Cơ cấu theo ngành của các hoạt động FDI cũng quyết định một phần mức độ đóng góp vào tiến bộ công nghệ và kỹ thuật cho nước sở tại. Với một tỷ trọng khá lớn FDI ở Việt Nam chảy vào những ngành ít tạo ra giá trị gia tăng và các chuỗi liên kết với doanh nghiệp nội địa như khai khoáng thì tất yếu mặt bằng chuyển giao công nghệ nói chung ở Việt Nam sẽ thấp hơn ở những nước so sánh nơi mà FDI tập trung vào các ngành chế tạo và dịch vụ.

Sự trợ giúp chính sách tích cực từ phía nhà nước cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển giao và lan tỏa công nghệ từ FDI. Nhà nước cần thiết lập một khuôn khổ pháp lý cân bằng về quyền sở hữu trí tuệ tạo cơ sở cho sự phát triển năng lực công nghệ và tri thức. Sự nhất quán giữa chính sách FDI và các chính sách liên quan khác (đặc biệt là chính sách khoa học kỹ thuật và sáng chế) là điều quan trọng. Những điểm này hiện khá mờ nhạt ở Việt Nam.
Để thu hút và tận dụng hơn nữa những hiệu ứng tích cực từ các trung tâm R&D của doanh nghiệp nước ngoài, cần phải đáp ứng ngày càng nhiều hơn nhu cầu nhân lực lành nghề trong lĩnh vực công nghệ và khoa học với chi phí thấp, một cơ sở sản xuất lớn để áp dụng được thành quả của R&D. Theo đó, với những nước ở trình độ phát triển thấp như Việt Nam thì không có gì đáng ngạc nhiên khi địa phương hóa hoạt động R&D mới chỉ diễn ra ở một số hữu hạn doanh nghiệp FDI. Do đó, Việt Nam cũng cần củng cố khuôn khổ thể chế cho phát triển nguồn nhân lực có trình độ và cho sáng tạo.

Tóm lại, chuyển giao và làm lan tỏa công nghệ của doanh nghiệp FDI ở Việt Nam đã có thể diễn ra trên diện rộng, ở mức độ và quy mô lớn hơn những gì mà người ta thường nhìn thấy và cảm nhận. Tuy nhiên, thực tế là so với các nước thành công hơn, vai trò này của FDI bị hạn chế hơn, nhưng không phải hoàn toàn là do ý muốn chủ quan của doanh nghiệp FDI, mà còn bởi những hạn chế về năng lực hấp thu, về nguồn lực, thể chế và chính sách nội tại liên quan đến hoạt động FDI nói chung và chuyển giao công nghệ nói riêng.

Sunday, 23 November 2014

Xin đừng nói tại suy thoái! (Bài đăng trên TBKTSG Online, 23/11)

 
(TBKTSG Online) Lạm phát tháng 11 có khả năng rơi xuống âm (tại thời điểm viết bài này, mới chỉ có Hà Nội và TPHCM công bố CPI ở mức âm), nhấn mạnh thêm chiều hướng đi xuống của lạm phát tháng 10.
 
Theo như thông lệ lặp đi lặp lại ít nhất trong cả năm nay, chắc chắn sẽ có nhiều người, nhiều tổ chức sẽ lặp lại luận điểm của mình khi cho rằng lạm phát (và/hoặc lạm phát lõi) thấp thế này là thể hiện sức khỏe của nền kinh tế yếu, hay nói đúng hơn, theo cách dùng từ của họ là “tổng cầu yếu”, để rồi từ đó kêu gọi chính phủ có những hành động “quyết liệt” hơn, cực đoan hơn, từ nới lỏng thêm chính sách tiền tệ để hạ thêm lãi suất, đến phát hành thêm trái phiếu chính phủ để đẩy mạnh chi tiêu và đầu tư công, nhằm khôi phục và đẩy mạnh “tổng cầu”.
 
Như đã phản biện lại luồng quan điểm này đôi lần, tác giả chỉ ra rằng tổng cầu yếu có thể sẽ biểu hiện ra ở mức lạm phát thấp, nhưng ngược lại, lạm phát thấp có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, chứ không chỉ có mỗi nguyên nhân là do “tổng cầu yếu” như những người và tổ chức trên lý luận.  Nói cách khác, tổng cầu thấp có thể biểu hiện ra ở lạm phát thấp nhưng điều ngược lại thì không nhất thiết đúng.
 
Để cho dễ hiểu về mối quan hệ nhân quả này, có thể ví tổng cầu yếu như bệnh nhiễm virus Ebola và lạm phát như cơn sốt nóng. Khi bệnh nhân mắc Ebola thì thường sẽ bị sốt. Nhưng không thể vì thế mà cứ hễ có bệnh nhân nào bị sốt thì đều cho rằng bệnh nhân đó đã nhiễm Ebola để rồi chữa chạy bệnh, ví dụ, viêm phổi theo phác đồ điều trị Ebola!
 
Trở lại chuyện lạm phát thấp và âm như gần đây. Một trong những yếu tố hiển nhiên và then chốt đằng sau lạm phát giảm nhiệt chính là 10 lần giảm giá xăng dầu liên tục và cấp tập trong những tháng qua. Ví dụ, CPI của Hà Nội tháng 11 giảm 0,3% so với tháng 10 là do chỉ số giá cả của nhóm giao thông giảm tới 2,93% so với tháng trước, và là nhóm hàng có mức giá giảm mạnh nhất. Các nhóm hàng hóa khác như ăn uống, chất đốt, điện nước ... có liên quan đến giá xăng dầu thì cũng đều giảm đáng kể. 
 
Trong bối cảnh như vậy, rõ ràng sẽ rất khiên cưỡng khi cứ cố gắng quy cho chuyện lạm phát thấp (âm) này là do “tổng cầu yếu”. Và có thể hình dung được sẽ là nguy hiểm và rủi ro thế nào nếu trong bối cảnh lạm phát thấp chủ yếu vì giá xăng dầu hạ chứ không phải vì “tổng cầu yếu” thế này mà chính phủ lại nghe theo lời khuyến nghị của những người và tổ chức trên để rồi tiến hành những biện pháp nào đó (chủ yếu là thông qua biện pháp chính sách tiền tệ, tài khóa) chỉ cốt để cho lạm phát tăng cao hơn trong những tháng sau.
 
Tóm lại, việc giá xăng dầu hạ thấp như gần đây không chỉ là một điều tốt lành cho toàn bộ nền kinh tế  mà còn giúp thấy rõ bản chất của một hiện tượng mà bấy lâu nay vẫn cứ được/bị hiểu sai để rồi có những hành động sai.
 
-------------------------------------
Bổ sung ngày 24/11: Tớ nói cấm có sai. Hôm nay đã có ít nhất 4 bài lặp lại luận điệu "tổng cầu yếu" như các bài này:
 
 
 
 
 
Và có thêm một cái ngớ ngẩn chung giống nhau là coi chỉ tiêu lạm phát của Quốc hội (5-6% gì đó) là một con số thần kỳ, phải bằng mức đó mới là tốt, tối ưu, còn thấp hơn mức đó thì là nguy hiểm.
 
Hết ý!

Friday, 21 November 2014

Trả lời phỏng vấn Đại biểu Nhân dân về ngân sách nhà nước (22/11)

 
Hụt thu ngân sách khoảng 1 tỷ USD vì giá dầu giảm
- Dự toán thu NSNN năm 2015 là 911.100 nghìn tỷ đồng, với thu từ dầu thô được xây dựng ở mức giá 100 USD/thùng. Hiện nay, giá dầu thô giảm mạnh, nhiều tổ chức quốc tế dự đoán giá dầu thô năm tới chỉ khoảng 85 - 90 USD/thùng. Điều này ảnh hưởng như thế nào tới việc thực hiện nhiệm vụ ngân sách khi mà thu từ dầu thô vẫn đang chiếm tỷ trọng lớn trong thu NSNN, thưa TS?
- Thực ra hiện tại dự báo về giá dầu thô còn thấp hơn nhiều, dưới 80 USD/thùng. Tuy nhiên, theo tính toán sơ bộ của tôi thì ảnh hưởng suy giảm giá dầu thô, với giá dầu thô giảm xuống mức 75 – 80 USD/thùng, lên thu ngân sách không phải là nhiều lắm, dự kiến hụt thu khoảng 1 tỷ USD. Tất nhiên là giá dầu thô giảm thì cũng kéo theo giá xăng dầu nhập khẩu giảm, làm giảm nguồn thuế và phí thu được từ các hoạt động liên quan đến xăng dầu trong nước, và do đó làm giảm thêm nguồn thu ngân sách. Nhưng ngược lại, giá xăng dầu giảm là điểm tích cực cho phục hồi và tăng trưởng kinh tế, từ đó lại cải thiện nguồn thu thuế của Nhà nước. Cho nên, cân bằng lại thì ảnh hưởng của giá dầu thô lên ngân sách nếu có và đáng kể thì chỉ trong ngắn hạn.
 
- Trong Nghị quyết về dự toán NSNN năm 2015, Quốc hội yêu cầu Chính phủ từ năm 2015, phát hành trái phiếu Chính phủ kỳ hạn từ 5 năm trở lên, không thực hiện các khoản vay có kỳ hạn ngắn cho bù đắp bội chi NSNN, giảm mức vay đảo nợ. TS bình luận gì về điều này?
- Nếu yêu cầu này được diễn giải thành: không được phát hành trái phiếu kỳ hạn ngắn để lấy tiền bù đắp cho bội chi NSNN, giảm mức vay đảo nợ, thì có nghĩa là Chính phủ vẫn có thể và được phép phát hành trái phiếu 5 năm để lấy tiền bù đắp cho bội chi NSNN và đảo nợ phải không? Nếu vậy thì ý nghĩa của yêu cầu này là gì? Nó làm tôi liên tưởng đến câu chuyện cười của anh gàn nhất định dùng đồng tiền này mua mắm, đồng tiền kia để mua muối.
 
Và nếu đúng là Chính phủ vẫn được phép phát hành trái phiếu kỳ hạn 5 năm trở lên để bù đắp bội chi và đảo nợ thì cũng là điều bình thường, vì đó là cách thông thường để nuôi nợ công. Nếu không đúng thế thì thâm hụt kéo dài sẽ đến một thời điểm mà Chính phủ buộc phải tuyên bố vỡ nợ, và chắc đây không phải là điều mong muốn.
 
- Nhưng nếu yêu cầu này được hiểu là: Chính phủ không được phát hành trái phiếu ngắn hạn nữa thì sao thưa TS? Bởi hiện nay, kỳ hạn trái phiếu của Chính phủ phần lớn là ngắn hạn khiến cho áp lực về vay mới để trả các khoản vay cũ trong nước là tương đối lớn.
- Như vậy thì đây là một bất lợi khi tự tước bỏ một khả năng linh hoạt trong hoạt động ngân sách, trong khi việc phát hành trái phiếu để đảo nợ, bù đắp là không thể tránh khỏi, dù là chỉ giới hạn ở trái phiếu dài hạn như yêu cầu. Câu chuyện quay trở lại tiền mua mắm, tiền mua muối, vì đằng nào thì vẫn cần, vẫn nên phát hành trái phiếu ngắn hạn cho những mục đích khác.
 
Hạn chế tối đa dự án được Chính phủ bảo lãnh
- Quốc hội cũng yêu cầu Chính phủ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, quản lý chặt chẽ quỹ tích lũy trả nợ. Báo cáo của Chính phủ cho biết, số dự án được bảo lãnh của Chính phủ có khó khăn trả nợ phải vay (Quỹ tích lũy trả nợ) để trả nợ thay tương đối lớn, có nguy cơ biến thành nghĩa vụ trực tiếp của ngân sách. Tính đến hết tháng 9.2014, Quỹ tích lũy trả nợ đã phải ứng ra cho 12 dự án được bảo lãnh Chính phủ với số dư nợ là 6.685 tỷ đồng, gồm 7 dự án xi măng, 2 dự án giấy, 1 dự án mía đường; 1 dự án thủy điện và đường cao tốc. TS bình luận gì về điều này?
 
- Tôi muốn nói trước hết về yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay này đã. Tôi nghĩ yêu cầu này chỉ là nói cho có, cho đúng hoàn cảnh mà thôi. Muốn được như vậy thì phải đặt ra những chuẩn đo lường, ví dụ, thế nào là hiệu quả, đi kèm với kỷ luật, thưởng phạt rõ ràng, minh bạch và có hiệu lực... khi Chính phủ sử dụng vốn vay hiệu quả hay không. Mà những điều này xem ra chưa tồn tại.
 
Trở lại với Quỹ tích lũy trả nợ, việc sử dụng nó thật ra không thành vấn đề gì vì nó chỉ là một trong những nguồn để Chính phủ trông vào đó mà thực hiện các nghĩa vụ trả nợ của mình mà thôi.
 
Điều thành vấn đề chính là chuyện Chính phủ đứng ra bảo lãnh các dự án đó và những dự án khác. Sẽ có người lại biện hộ rằng, việc bảo lãnh này chẳng có vấn đề gì vì các dự án này nằm trong quy hoạch, vì chúng có ý nghĩa kinh tế - xã hội, vì… và vì… Nhưng họ cần phải thấy rằng, các quy hoạch cũng do chính con người làm ra, không thể tránh được sai sót, duy ý chí, thiếu tầm nhìn, vì lợi ích nhóm… Mà ta cũng đã thấy nhiều quy hoạch đã và đang phải sửa lại rồi đó, như quy hoạch thủy điện, mía đường, xi măng. Tương tự như vậy là chuyện các dự án mang ý nghĩa và quan trọng đối với xã hội, khi muốn thì người ta có thể vẽ ra nhiều điều hay ho mà chỉ thực tế mới cho câu trả lời chính xác. Bởi vậy, điều cần làm, đứng từ góc độ ngân sách, là phải hạn chế tối đa các loại bảo lãnh của Chính phủ đối với các dự án kinh tế thương mại thuần túy như các dự án mà được nêu ra trong câu hỏi này.
 
- Nghị quyết về dự toán NSNN 2015 đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 8. Trong đó, bội chi được quyết nghị ở mức 5% GDP. TS thấy gì về mục tiêu này, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế nhiều khó khăn, nợ công sát trần Quốc hội cho phép?
- Trước tiên phải nói ngay rằng, con số bội chi cho năm sau nhỏ hơn con số kế hoạch cho năm 2014 này (5,3% - PV) dù gì cũng là một điểm tích cực, thể hiện phần nào sự cẩn trọng và nỗ lực cần thiết trong việc kiềm chế thâm hụt ngân sách và nợ công. Còn bản thân mức này có lớn hay không, có hại hay không thì cũng khó bình luận sâu được vì nếu muốn thì những người trong cuộc bao giờ cũng có những lý do để cho thấy con số dự tính này là tối thiểu, dựa trên những tính toán rất cẩn trọng, chặt chẽ, và cần thiết để bảo đảm nguồn chi cho những khoản không thể dừng, không thể có, và nếu không có thì có hại hơn là có lợi.  
 
- TS dự báo như thế nào về sức bền của NSNN trong năm 2015 và một vài năm sắp tới?
- Tôi cho rằng khả năng vượt ngưỡng bội chi là nhiều hơn khả năng giữ được bội chi trong phạm vi cho phép vì đó là đặc tính của chi tiêu ngân sách ở Việt Nam, khi mà luôn có nhiều lý do để người ta chi tiêu nhiều hơn trong khi có quá ít lý do và động cơ để người ta tự giác hoặc bắt buộc giới hạn chi tiêu. Tình hình này sẽ tồn tại cho đến khi có một cơ chế xây dựng, duyệt và giám sát NSNN có hiệu quả hơn.
 
- Xin cảm ơn TS!
Hồng Loan thực hiện

Tỷ giá tăng không chỉ do tâm lý (Bài đăng trên CafeF, 21/11)

 
Tỷ giá VND/USD đã liên tục tăng mạnh suốt từ đầu tháng 11 này và có thời điểm đã gần chạm tỷ giá trần của NHNN (21.458 VND/USD). Đợt tăng tỷ giá lần gần đây nhất mới cách xảy ra hồi đầu tháng 10. Điểm trùng lặp ở 2 đợt tăng tỷ giá lần này (và cả một vài lần trước đó nữa) là tuyên bố của NHNN không điều chỉnh tỷ giá vì không có lý do gì để điều chỉnh tỷ giá, và rằng tỷ giá tăng là do tâm lý trước tin đồn NHNN tăng tỷ giá v.v…
 
NHNN tiếp tục viện dẫn ra những bằng chứng để cho thấy thị trường ngoại tệ vẫn ổn định, không có gì bất thường như: trong 10 tháng đầu năm cả nước đã xuất siêu, cán cân thanh toán tổng thể ở mức thặng dư cao, giải ngân FDI và kiều hối đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trên thị trường ngoại tệ doanh số giao dịch, hoạt động mua bán ngoại tệ diễn ra bình thường không có gì đột biến...


Mặt khác, một số chuyên gia và tổ chức đã đưa ra thêm một số lý do khác như nhu cầu thanh toán nhập khẩu tăng do Việt Nam nhập siêu 2 tháng gần đây, nhu cầu trả nợ tín dụng ngoại tệ đáo hạn vào cuối năm, nhu cầu nhập vàng lậu do chênh lệch giá vàng thế giới và trong nước đã tăng mạnh trong tháng 11, USD đã lên giá mạnh so với các đồng tiền chủ chốt gần đây...

Tỷ giá tăng không chỉ do tâm lý (1)
Diễn biến tỷ giá của ngân hàng thương mại từ đầu tháng 11 tới nay
 
Công bằng mà nói, lý giải của các chuyên gia và tổ chức như nói ở trên có tính thuyết phục hơn vì phản ánh đúng tình hình thực tế hơn.
Về lý do xuất siêu của NHNN nhưng lưu ý là NHNN lại tính gộp cả 10 tháng đầu năm để ra được con số xuất siêu 2,36 tỷ USD, có thể nói con số xuất siêu này không mấy liên quan đến chuyện tỷ giá tăng đột biến, mang tính thời điểm. Bởi thế, dễ thấy giải thích của các chuyên gia và tổ chức có tính thuyết phục hơn khi gắn kết hiện tượng nhập siêu quay trở lại, đặc biệt trong 2 tháng liên tiếp gần đây, với nhu cầu USD tăng mạnh hơn.
Cũng trên giác độ tính thời điểm này, ta có thể loại ra lý do của NHNN về giải ngân FDI và kiều hối tăng trong 10 tháng năm nay so với cùng kỳ năm trước, vì chúng cũng chỉ là những số liệu tính gộp, không phản ánh thời điểm tháng 11 là tháng xảy ra biến động tỷ giá.
Mặt khác, về lý do về nhu cầu trả nợ tín dụng ngoại tệ đáo hạn vào cuối năm và nhu cầu USD để nhập vàng lậu mà các chuyên gia và tổ chức đưa ra, tuy có lý nhưng do không có mấy số liệu chính thức để kiểm chứng nên ta không xét đến ở đây.
 
Đối với lý do USD đã lên giá mạnh gần đây so với các đồng tiền chủ chốt, đây là một lý do khá hợp lý và cần kể đến vì nó chắc chắn đã làm tăng áp lực tỷ giá VND/USD khi nhu cầu USD trên thế giới tăng cao, hút bớt luồng USD chảy vào Việt Nam hoặc nếu tiếp tục có chảy vào như cũ thì giá (tức tỷ giá VND/USD) phải cao hơn để hấp dẫn và giữ chân nhà đầu tư nắm giữ USD.
 
Ngoài ra, chắc chắn có thêm những yếu tố khác mang tính thời điểm có thể đã dẫn đến tình trạng mất cân bằng tạm thời giữa cung và cầu ngoại tệ mà chính vì thế làm tỷ giá tăng như vừa qua.
 
Một trong những yếu tố cơ sở quyết định hướng đi của tỷ giá và mang tính thời điểm có thể chỉ ra là tổng phương tiện thanh toán, còn được biết là cung tiền, đã tăng mạnh trong tháng 10 so với các tháng trước đó (mặc dù tháng 9 cũng đã tăng mạnh và vì thế có thể là một trong những nguyên nhân gây ra đợt tăng tỷ giá đầu tháng 10). Cụ thể, theo số liệu công bố của NHNN thì tính đến ngày 24/10 cung tiền đã tăng tới 11,88% so với cuối tháng 12/2013, trong khi đó con số này trong tháng 9, tháng 8 và tháng 7 lần lượt là 9,93%, 8,66% và 7,36% (bình quân tăng khoảng 1,05 điểm %/tháng trong suốt 7 tháng đầu năm). Có nghĩa là sau khi đã tăng mạnh 1,27 điểm % trong tháng 9 so với tháng 8 (là tháng cũng đã tăng mạnh hơn mức trung bình 7 tháng trước đó), cung tiền tiếp tục tăng đột biến thêm 1,95 điểm phần trăm nữa trong tháng 10, tức gần gấp đôi mức tăng trung bình trong 7 tháng đầu năm.
 
Cung tiền tăng vọt cũng là nguyên nhân đằng sau đợt giảm lãi suất VND (mạnh hơn sự giảm lãi suất USD) mới đây của các ngân hàng thương mại do thanh khoản tiếp tục dư thừa. Và cũng một phần chính vì lãi suất VND giảm mạnh hơn lãi suất USD nên tính hấp dẫn của VND không thể không thừa nhận rằng đã bị giảm thêm một bước nữa.
 
Kết hợp với việc Việt Nam quay trở lại nhập siêu trong 2 tháng liên tiếp qua cũng như việc USD lên giá so với các ngoại tệ khác như nói ở trên thì bức tranh về biến động tỷ giá đã hầu như bộc lộ hoàn toàn một cách rõ ràng và dễ hiểu. Nếu có thể gọi cái gì đó ở đây là yếu tố tâm lý như NHNN tuyên bố thì đó chỉ có thể là tâm lý kỳ vọng tỷ giá sẽ phải tăng trước những biến động gần đây nếu như NHNN không can thiệp bằng cách bán ra USD.

Ngân hàng Việt Nam trước thềm AEC (Bài đăng trên CafeF, 21/11)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/ngan-hang-viet-nam-truoc-them-aec-201411210712587503ca34.chn

Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) đã hướng tới mục tiêu hội nhập ngành ngân hàng nội khối vào năm 2020, xóa bỏ mọi rào cản và khác biệt trong ngành giữa các quốc gia trong khối để tạo ra một hệ thống ngân hàng mở cho phép các ngân hàng ASEAN được hoạt động một cách bình đẳng với ngân hàng sở tại của bất kỳ quốc gia thành viên nào trong khối.
 
Tham gia AEC và thực thi hệ thống ngân hàng mở có nghĩa là các quốc gia thành viên sẽ phải bỏ mọi giới hạn về sở hữu nước ngoài với các ngân hàng nội địa của mình. Ví dụ Việt Nam hiện đang áp đặt giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa là 30%. Những hạn chế quyền sở hữu như vậy đã không khuyến khích các ngân hàng nước ngoài nắm giữ cổ phần các ngân hàng trong nước vì họ sẽ chỉ là cổ đông thiểu số, và cổ phần của họ sẽ làm giảm vốn cấp 1 (Tier 1 capital) của mình theo tiêu chuẩn của Basel III.
 
Trong khuôn khổ AEC, các nước thành viên cũng phải tạo ra một sân chơi bình đẳng cho ngân hàng các nước thành viên khác hoạt động trên lãnh thổ của mình bằng cách xóa bỏ những khác biệt pháp lý mang tính phân biệt đối xử giữa các ngân hàng có quốc tịch khác nhau. Ví dụ, tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu hiện tại là khác nhau giữa các nước thành viên và giữa các ngân hàng trong bản thân mỗi quốc gia (áp đặt mức khác nhau cho ngân hàng nội địa và ngân hàng nước ngoài).
 
Những biện pháp nói trên được kỳ vọng sẽ thúc đẩy sự hợp nhất và tạo ra những ngân hàng khu vực lớn về quy mô, phạm vi và hiệu quả để cạnh tranh trên tầm quốc tế. Chúng cũng sẽ giúp tăng cường phạm vi che phủ và mức độ phục vụ ngành ngân hàng ở những vùng, những ngành mà mức độ thâm nhập và phục vụ của các dịch vụ ngân hàng vẫn còn thấp.
 
Tuy vậy, sự hội nhập và hợp nhất ngân hàng trong khối sẽ không đơn giản vì những khác biệt lớn khó lấp đầy về khuôn khổi pháp lý cũng như về mức độ tự do hóa thị trường tài chính giữa các quốc gia liên quan. Trong khi Philippines xóa bỏ hạn chế về sở hữu nước ngoài trong ngành ngân hàng thì Việt Nam lại cố gắng duy trì trần sở hữu này, còn Indonesia thì lại “cài số lùi” với việc giảm mức sở hữu nước ngoài tối đa xuống còn 40% từ mức 99% hồi năm 2012.
 
Yêu cầu về tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu cũng có sự khác biệt lớn với Singapore và Philippines đã áp dụng tỷ lệ này theo Basel III trong khi các nước như Việt Nam và Campuchia đang xúc tiến áp dụng Basel II. Do vậy, các ngân hàng hoạt động xuyên khu vực sẽ phải chật vật trong việc tuân thủ các yêu cầu pháp lý quá khác nhau này.
 
Ngoài ra, trừ Singapore, các nước thành viên khác nhìn chung là có một hệ thống ngân hàng phân tán, với một số lượng lớn các ngân hàng quy mô nhỏ. Bên cạnh đó, giá chào bán cổ phần của các ngân hàng thường không hề hấp dẫn với nhà đầu tư. Chẳng hạn như ở Việt Nam, giá chào bán thường vào khoảng 2,3 lần giá sổ sách.
 
Xét về riêng triển vọng của hệ thống ngân hàng Việt Nam, cũng giống như với các thành viên khác, giới phân tích cho rằng hội nhập trong AEC với các thương vụ sáp nhập và hợp nhất (M&A) trong tương lai, về tổng thể, sẽ đem lại nhiều lợi ích hơn cho Việt Nam khi nó mang đến một lượng vốn mới rất cần thiết và những hiệu ứng cộng hưởng tích cực mới. Ngược lại, các ngân hàng Việt Nam cũng hứa hẹn là cơ hội tốt trong các thương vụ M&A với ngân hàng nước khác trong khối.
 
Hiện các ngân hàng Việt Nam đang hoạt động trong môi trường vĩ mô khá thuận lợi với các chính sách ưu tiên ổn định vĩ mô của Chính phủ, lạm phát ở mức thấp, tăng trưởng kinh tế được duy tri ổn định ở mức khá 5%-6%/năm, tăng trưởng tín dụng khoảng 12%/năm, mặt bằng lãi suất ổn định trong chiều hướng hạ dần theo đà giảm lạm phát.
 
Sức khỏe của hệ thống ngân hàng nhìn chung cũng đang trên đà được cải thiện, với những nỗ lực của Ngân hàng Nhà nước thúc đẩy việc (tự) tái cơ cấu mỗi ngân hàng yếu kém và trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, cũng như trong việc cải thiện thanh khoản, và nâng cao chất lượng tài sản chủ yếu nhờ giảm tỷ lệ nợ xấu (chủ yếu thông qua VAMC, dù không hiệu quả). Tính ổn định của hệ thống còn được cải thiện nhờ chính sách tiền tệ và tín dụng thận trọng hơn, buộc các ngân hàng chuyển hướng sang các lĩnh vực có thu nhập khác mà không cần phải dựa quá mức vào đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng để tìm kiếm lợi nhuận như trước đây.
 
Tuy vậy, ở góc độ từng ngân hàng thương mại Việt Nam, một tỷ trọng đáng kể trong chúng đang được định giá cao bất chấp chúng phải đối mặt với vấn đề về chất lượng tài sản và rủi ro rơi vào tầm ngắm tái cơ cấu của NHNN. Cầu nội địa tăng chậm và thị trường bất động sản chưa hồi phục sau một thời gian dài suy sụp đã làm tăng nợ xấu, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng tài sản, và do đó, đến vốn chủ sở hữu và lợi nhuận của nhiều ngân hàng.
Bên cạnh đó, như đã phân tích ở trên, giới hạn trầ về sở hữu nước ngoài sẽ làm nhiều ngân hàng nước ngoài ngần ngại trong việc tìm kiếm cơ hội M&A ở Việt Nam. Chính sự ngần ngại của các ngân hàng nước ngoài lại làm cho thị trường M&A ở Việt Nam càng kém phát triển, khan hiếm thông tin làm cản trở đến việc xác định được đúng giá trị thực của các mục tiêu M&A trong nước, gây khó khăn thêm (trong việc định giá) cho các ngân hàng nước ngoài tìm kiếm cơ hội M&A ở Việt Nam.
 
Do đó, để chuẩn bị và thúc đẩy quá trình hội nhập ngành ngân hàng trong khuôn khổ AEC, Việt Nam cần chủ động (có lộ trình) sửa đổi theo hướng nâng cao, tiến tới xóa bỏ giới hạn sở hữu nước ngoài, đồng thời có những ưu đãi về thuế đối với hoạt động M&A để khuyến khích quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng với sự tha gia tích cực của các ngân hang nước khác trong khối.

Thursday, 20 November 2014

Cuộc chơi mới của ông Abe (Bài đăng trên CafeF, 20/11)

http://cafef.vn/tai-chinh-quoc-te/cuoc-choi-moi-cua-ong-abe-2014112009014137719ca32.chn

(Cám ơn một đồng chí Anonymous đã gợi ý đề tài này cho tớ nhé).

--------------------------------------
Hôm 18/11, Thủ tướng Nhật Shinzo Abe cho biết ông muốn có một cuộc bầu cử sớm bằng cách giải tán Hạ viện vào ngày 21/11 để bầu ra Hạ viện mới dự định vào ngày 14/12 (theo luật thì bầu cử phải diễn ra trong vòng 40 ngày kể từ khi bị giải tán). Mục đích là để tìm kiếm lại sự chấp thuận cho các chính sách kinh tế của mình trong bối cảnh niềm hoài nghi về sự thành công của chúng đang ngày càng lên cao. 

Trong dịp này ông Abe cũng tuyên bố trì hoãn đợt tăng tiếp thuế tiêu dùng (từ 8% lên 10%) chỉ một ngày sau khi các số liệu kinh tế cho thấy nền kinh tế Nhật lại rơi vào suy thoái kỹ thuật khi tăng trưởng GDP ở mức âm liên tiếp trong 2 quý vừa qua, mà nguyên nhân được cho là do ảnh hưởng tiêu cực của đợt tăng thuế tiêu dùng lần đầu từ 5% lên 8% hồi tháng 4 năm nay đã kéo dài hơn dự tính.

Trước sự chỉ trích mạnh mẽ của dư luận và phe đối lập rằng chính sách kinh tế của ông, có tên lóng là Abenomics – một gói tổng hợp gồm chính sách tiền tệ siêu nới lỏng, tăng chi tiêu chính phủ và cải cách – đã thất bại và không có hiệu quả, ông Abe đã bật ngược lại rằng thực tế là không một ai phân tích được chính sách kinh tế hiện tại đúng hay sai và đưa ra được một ý tưởng cụ thể phải làm gì thay vào đó. Ông nhấn mạnh chính sách kinh tế hiện tại của mình là giải pháp duy nhất chấm dứt thiểu phát và phục hồi tăng trưởng kinh tế của Nhật.

Với chỉ trích cho rằng chính sách Abenomics chỉ làm lợi cho các công ty lớn và tầng lớp giàu có nhờ một đồng yen yếu và sự bùng nổ thị trường chứng khoán, nhưng lại làm hại người dân thường vì lạm phát đã tăng nhanh hơn tốc độ tăng lương của họ, dẫn đến tiêu dùng đã không tăng như kỳ vọng, ông Abe nói ông sẽ đưa ra các gói kích thích, đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhỏ và địa phương nhỏ (gồm cả phiếu mua hàng), tuy giới truyền thông Nhật tin rằng các gói này sẽ có quy mô hạn chế, khoảng 2-3 nghìn tỷ yen. 

Nhưng trên hết, bất chấp sự phản đối, ông Abe khẳng định ông sẽ không từ bỏ chương trình cải tổ ngân sách để có tiền chi trả phúc lợi xã hội đang tăng nhanh chóng đồng thời giảm nợ công nay đã vượt quá gấp đôi GDP. Theo đó, thuế tiêu dùng sẽ được tăng thêm lần nữa vào tháng 4/2017, và sẽ không có lần trì hoãn thứ hai. 

Như vậy có thể thấy quyết tâm đi tới với công cuộc cải tổ ngân sách, với nòng cốt là tăng thuế tiêu dùng, thông qua tìm kiếm, một cách mạo hiểm, sự ủng hộ của giới chính trị gia là trọng tâm trong cuộc chơi mới này của ông Abe nhằm chống lại phe phản đối. Cũng cần lưu ý rằng tăng thuế là một vấn đề nhạy cảm ở Nhật vì nó mà một số lãnh đạo đã phải ra đi. Đa phần cử tri Nhật bỏ phiếu chống lại việc tăng thuế.

Vấn đề là tại sao thuế tiêu dùng dù có tăng thêm 3 điểm % nhưng mới chỉ là 8% ở Nhật lại gây ra tác động lớn đến vậy cho nền kinh tế Nhật, trong khi mức này ở châu Âu là 20% mà vẫn được chấp nhận? Thực tế là cho dù sau này có tăng lên 10% thì mức này ở Nhật cũng chỉ bằng phân nửa ở nhiều nước châu Âu. 

Câu trả lời có lẽ nằm ở việc tăng thuế quá nhanh, quá sớm ở Nhật, nơi mà người dân vốn quen với mức thuế tiêu dùng thấp. Mức tăng 3 điểm % hồi tháng 4 năm nay tương đương với 60% mức trước khi tăng (5%). Về mặt tâm lý, sự tăng như vậy là rất đáng kể nếu quy ra số tiền thực trả tăng lên. 

Ngược lại, trong lần tăng thuế tiêu dùng thêm 2,5 điểm % ở Anh năm 2011  mức tăng này chỉ tương đương với 14% mức hiện thời, và do đó không gây ra suy thoái. Việc tăng thuế tiêu dùng lên mức 20% tuy có làm cho tiêu dùng sụt giảm ở Anh trong quý đầu tiên sau khi tăng thuế (quý 1 năm 2011) và đi ngang trong quý kế tiếp, nhưng sau đó đã hồi phục hoàn toàn kể từ đó.

Tây Ban Nha cũng tăng thuế tiêu dùng từ 16% lên 21% từ 2010 nhưng họ thực hiện thành 2 đợt cách nhau 3 năm. Tương tự, Ý cũng tăng thuế từ 20% năm 2011 lên mức hiện tại là 22% qua 2 đợt tăng. Các đợt tăng thuế này đều không dẫn đến sụt giảm tiêu dùng ở nước sở tại.
 
Có lẽ đã học được bài học từ sau đợt tăng thuế mạnh hồi tháng 4 lên 3 điểm %, ông Abe lần này đã quyết định trì hoãn đợt nâng thuế lần thứ 2 thêm 18 tháng nữa, từ thời điểm dự định áp dụng ban đầu vào tháng 10/2015 sang đến tháng 4/2017 để cho nền kinh tế Nhật có thêm thời gian thích nghi và điều chỉnh mà không gây thêm áp lực rơi vào suy thoái.

Dù vậy, vẫn phải thấy cuộc chơi mới này của ông Abe vẫn còn đầy rủi ro. Chính vì biết dù có tăng lên 10% ở Nhật nhưng mức này vẫn còn thấp so với các đối tác trong khối OECD nên sẽ có nhiều người Nhật lo sợ rằng sau đợt tăng lên 10% này sẽ còn những đợt khác xảy ra, làm khốn khó thêm cuộc sống của họ. Bởi vậy, với họ việc để ông Abe tiếp tục thực thi chính sách của mình là một điều khó có thể chấp nhận.

Saturday, 15 November 2014

“Quyết liệt” trên giấy thôi không đủ (Bài đăng trên TBKTSG, 13/11, bản gốc)

 
Bộ Tài chính mới đây cho biết, trong 10 tháng đầu năm 2014, cả nước mới sắp xếp được 96 doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trong đó cổ phần hóa 75 doanh nghiệp trong tổng số 432 doanh nghiệp thuộc diện cổ phần hóa trong 2 năm 2014 – 2015, chưa kể số DNNN tiếp tục thực hiện rà soát theo tiêu chí, danh mục phân loại DNNN mới ban hành kèm theo Quyết định số 37/2014/QĐ-TTg ngày 18/6/2014. Trước thực trạng này, Bộ Tài chính lại thêm một lần nữa phải thừa nhận rằng quá trình sắp xếp, cổ phần hóa diễn ra chậm hơn so với yêu cầu đặt ra.
Lý giải sự chậm chễ này, Bộ Tài chính tiếp tục đưa ra những lý do cũ, cả khách quan và chủ quan, như tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và những khó khăn của kinh tế trong nước, ảnh hưởng đến thị trường tài chính, chứng khoán và kế hoạch bán cổ phần ra công chúng của các doanh nghiệp cổ phần hóa cũng như thoái vốn đầu tư; một số Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước chưa chỉ đạo quyết liệt và tích cực tổ chức triển khai phương án sắp xếp, cổ phần hóa và thoái vốn; Nhận thức của một số bộ phận cán bộ ở các cấp, các ngành và các doanh nghiệp về chủ trương tái cơ cấu doanh nghiệp tuy đã có chuyển biến nhưng chưa hiểu đúng ý nghĩa quan trọng của việc tái cơ cấu doanh nghiệp đối với phát triển kinh tế - xã hội; Đối tượng sắp xếp, cổ phần hóa hiện nay hầu hết là các doanh nghiệp có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng, kinh doanh đa ngành nghề, tài chính phức tạp nên cần có nhiều thời gian chuẩn bị, xử lý v.v...
Bất chấp ý chí quyết tâm và sự thúc giục quyết liệt của những nhà lãnh đạo đảng và chính phủ nhằm thúc đẩy cổ phần hóa qua những chỉ đạo và những nghị quyết, thực tế chậm chễ trong cổ phần hóa hiện nay, với những nguyên nhân cũ mòn, cho thấy dường như ý chí quyết tâm và quyết liệt này thôi là chưa đủ. Điều cần có là những hành động quyết liệt để hiện thực hóa được sự quyết tâm và quyết liệt này.
Xem xét lại những nguyên nhân mà Bộ Tài chính đưa ra bên trên để lý giải cho sự chậm chễ cổ phần hóa, dễ thấy chúng không phải là những nguyên nhân thỏa đáng, như phân tích dưới đây.
Trước tiên, khủng hoảng tài chính thế giới và những khó khăn của kinh tế trong nước đã hiện diện từ dăm năm nay, chứ không phải mới đây, và càng không phải là xảy ra sau thời điểm các cơ quan hữu trách lên kế hoạch cổ phần hóa để mà nói rằng khủng hoảng và khó khăn kinh tế là bất ngờ, đã làm đảo lộn, gây khó dễ cho kế hoạch cổ phần hóa DNNN của chính phủ một cách khách quan, bất khả kháng.
Thêm nữa, kinh tế càng khủng hoảng, càng khó khăn thì mới càng cần phải tích cực, càng phải hành động quyết liệt để cổ phần hóa DNNN nhằm cắt bớt gánh nặng ngân sách, đồng thời có thêm một nguồn thu dùng vào việc khắc phục những khó khăn kinh tế. Nếu cứ mong, cứ đợi khi nào kinh tế phục hồi, hết khó khăn thì mới cổ phần hóa thì đó chỉ là một sự phó thác thụ động, và nếu có phục hồi thì lúc đó nhu cầu cổ phần hóa lại bớt “quyết liệt” đi nhiều vì một số DNNN có thể lại ăn nên làm ra khi đó, làm người ta quên lãng chuyện cổ phần hóa.
Thứ hai, như đã nói, cho đến nay đã có nhiều nghị quyết, với những chỉ đạo quyết liệt từ các cấp lãnh đạo, thế mà vẫn còn tình trạng: “... một số Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước chưa chỉ đạo quyết liệt và tích cực tổ chức triển khai phương án sắp xếp, cổ phần hóa và thoái vốn”, như Bộ Tài chính thừa nhận.
Điều này chứng tỏ những nghị quyết trên, đi kèm với những răn đe, ví dụ như quy trách nhiệm cho người đứng đầu DNNN và các cơ quan nhà nước liên đới nếu không hoàn thành nhiệm vụ cổ phần hóa thì sẽ bị mất chức v.v... đã không được đưa vào thực tiễn bởi các cấp thừa hành. Người ta buộc phải đặt câu hỏi, sao không thấy chính phủ quyết liệt xử lý tình trạng này, chẳng hạn bằng cách tiến hành kỷ luật hoặc công khai một trường hợp điển hình nào đó làm trái những chỉ đạo cổ phần hóa để làm gương răn đe những trường hợp “chưa chỉ đạo quyết liệt và tích cực tổ chức triển khai” khác đang và sẽ còn tiếp tục diễn ra?
Thứ ba, tương tự như vậy là nguyên nhân: “Nhận thức của một số bộ phận cán bộ ở các cấp, các ngành và các doanh nghiệp về chủ trương tái cơ cấu doanh nghiệp tuy đã có chuyển biến nhưng chưa hiểu đúng ý nghĩa quan trọng của việc tái cơ cấu doanh nghiệp đối với phát triển kinh tế - xã hội”.
Những cán bộ có liên quan đến việc cổ phần hóa DNNN có thể nói đều là những người đang ở các vị trí quản lý, có đầy đủ năng lực nhận thức cần thiết để mà “hiểu đúng ý nghĩa quan trọng của việc tái cơ cấu doanh nghiệp”, đặc biệt là khi việc tái cơ cấu đã trở thành chủ trương xuyên suốt trong chính sách của đảng, nhà nước, được tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân. Vậy thì cái sự “chưa hiểu đúng ý nghĩa” này chỉ có thể được hiểu là, hoặc người ta đã cố tình chậm chễ cổ phần hóa để trục lợi, hoặc là họ thiếu trách nhiệm. Những cán bộ rơi vào một trong hai trường hợp này đều cần bị trừng phạt thích đáng. Nhưng tiếc là cho đến nay cũng chưa thấy có trường hợp cán bộ nào như thế này bị nêu tên và/hoặc bị trừng phạt vì hành vi “chưa hiểu đúng”.
Thứ tư, nguyên nhân “cần có nhiều thời gian chuẩn bị, xử lý”, do đối tượng doanh nghiệp được cổ phần hóa quá lớn, phức tạp v.v... cũng có thể được xem như chỉ là một sự biện minh cho hành động trục lợi hoặc thiếu trách nhiệm của một số cán bộ liên đới. Cổ phần hóa đã có cả một thời gian dài hàng chục năm chuẩn bị, và những đối tượng doanh nghiệp này cũng đã nằm trong tầm ngắm, được dự trù làm đối tượng cổ phần hóa từ lâu. Những trở ngại về pháp lý liên quan đến cổ phần hóa như chuyện định giá tài sản, thoái vốn v.v... cũng đã và đang lần lượt được khắc phục. Do đó, cổ phần hóa nếu có bị chậm chễ trong những trường hợp này thì chủ yếu là do sự thiếu quyết liệt của những cá nhân và tổ chức liên đới vì một lý do nào đó, như đã nói ở điểm 2 và 3 ở trên.
Và cuối cùng, cũng cần phải nói thêm rằng sự chậm chễ không chỉ do thiếu hành động quyết liệt, mà nó còn bắt nguồn từ trong nhận thức của nhiều nhà hoạch định chính sách. Chẳng hạn, tâm lý cổ phần hóa nhưng nhà nước vẫn phải giữ cổ phần chi phối trong một số doanh nghiệp sau cổ phần hóa đã làm cho nhiều nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước nản lòng vì phải đối mặt với viễn cảnh sau cổ phần hóa nhưng quản trị doanh nghiệp hầu như về cơ bản sẽ chẳng có gì thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, minh bạch hơn trước cổ phần hóa.
Ngay cả việc cho rằng vì có sự đi xuống của thị trường tài chính, chứng khoán nên cần phải thận trọng với kế hoạch bán cổ phần ra công chúng của nhiều doanh nghiệp (chủ yếu bằng cách thu nhỏ khối lượng cổ phần chào bán vì sợ thị trường “ngập lụt” với nguồn cung cổ phiếu mới, làm cho việc cổ phần hóa bị thất thu) cũng là một nhận thức không xác đáng. Cho dù thị trường có đi xuống, nhưng nếu là “hàng” tốt, có giá chào bán phải chăng thì sẽ được thị trường chào đón bằng những nguồn lực trong và cả ngoài nước, đủ để dẹp nỗi lo “ngập lụt” thị trường. Ngược lại, chính vì chủ trương bán nhỏ giọt cổ phần ra công chúng do nỗi lo sợ này lại càng làm cho nhà đầu tư trong và ngoài nước thêm nản lòng vì tỷ lệ sở hữu ít ỏi của họ không giúp họ có được tiếng nói trong hội đồng quản trị doanh nghiệp sau cổ phần hóa.
Tóm lại, những điểm nêu trên cho thấy sự chậm chễ cổ phần hóa thực ra có nguyên nhân do thiếu vắng những hành động quyết liệt hiện thực hóa các chính sách cổ phần hóa, bên cạnh một số nhận thức bất hợp lý về cổ phần hóa và thị trường.

 

Friday, 14 November 2014

Có cần một cơ quan giám sát tài chính tiền tệ độc lập không? (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, 15/11)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=333015

Một thực tế được thừa nhận rộng rãi là các cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới đều thường bắt nguồn từ sự giám sát tài chính yếu kém, bị coi nhẹ, không kịp thời phát hiện ra những rủi ro mang tính hệ thống.
 
Trong bối cảnh hệ thống giám sát tài chính của Việt Nam cũng có nhiều tồn tại, hiện đang có luồng ý kiến cho rằng, bên cạnh việc thắt chặt công tác giám sát tài chính với việc áp dụng nhiều chuẩn mực và thông lệ quốc tế về giám sát, Việt Nam cần phải xây dựng và áp dụng một mô hình giám sát độc lập và hợp nhất, giám sát toàn bộ hệ thống tài chính gồm ngành ngân hàng, chứng khoán, và bảo hiểm, thay cho mô hình giám sát theo chức năng như hiện nay.
 
Để hiểu và chấp thuận đề xuất này, ta hãy xem tại sao giám sát chức năng chưa hoặc không phát huy tác dụng như kỳ vọng để rồi trở thành đối tượng đòi bị thay thế.
Theo một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) thì công tác giám sát tài chính đang có những nhược điểm sau:
 
Thứ nhất, các cơ quan giám sát tài chính, bao gồm Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam vừa thực hiện chức năng cấp phép, ban hành cơ chế chính sách, vừa thực hiện chức năng hướng dẫn, triển khai thực hiện cơ chế chính sách và kiêm luôn vai trò kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của các định chế tài chính. Điều này dẫn đến xung đột lợi ích, khiến hiệu quả và hiệu lực giám sát không cao.
 
Thứ hai, việc thực hiện giám sát trên cơ sở rủi ro, giám sát an toàn vĩ mô vẫn còn yếu kém, chủ yếu thiên về giám sát tuân thủ. Đến nay vẫn chưa có một quy định chung về cách thức giám sát cho cả hệ thống tài chính. Việc giám sát vẫn chưa bao quát được tất cả các lĩnh vực hoạt động của các tập đoàn kinh tế, tài chính trong và ngoài nước. Các công cụ phái sinh tài chính nhằm giảm rủi ro vẫn chậm được áp dụng.
 
Thứ ba, khó giám sát một cách hữu hiệu các rủi ro sở hữu chéo do thiếu minh bạch, công khai, và do thiếu phối hợp liên thông giữa các cơ quan giám sát chức năng. Mặc dù đã có Ủy ban giám sát tài chính quốc gia (UBGSTCQG) nhưng nó được cho là không phải là cơ quan giám sát tài chính vĩ mô có đủ thẩm quyền và năng lực bộ máy để cảnh báo, ngăn ngừa và xử lý hữu hiệu các loại rủi ro của hệ thống tài chính.
 
Thứ tư, vẫn chưa áp dụng các công cụ phục vụ cho giám sát an toàn vĩ mô/vi mô, nhất là giám sát dựa trên rủi ro, như mô hình phân tích định lượng, dự báo, kiểm định v.v...
Thứ năm, kỹ thuật, công nghệ và nhân lực trong các cơ quan giám sát tài chính vẫn yếu kém.
 
Thứ sáu, vẫn còn nhiều khác biệt giữa các tiêu chuẩn an toàn hoạt động, kế toán và kiểm toán của Việt Nam với chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
Và thứ bảy, tình trạng sở hữu chéo và sự chi phối của các nhóm lợi ích làm giảm hiệu quả giám sát.
 
Với nguyên nhân thứ nhất, tuy đúng là các cơ quan giám sát này thực hiện cùng lúc nhiều chức năng, từ làm chính sách đến giám sát thực hiện chính sách, nhưng khó có thể nói có xung đột lợi ích ở đây, vì cơ chế hoạt động kiểu này là phổ biến trên thế giới. Thêm nữa, các cơ quan này không bị tình trạng vừa đá bóng, vừa thổi còi, tức không khoác cả vai đối tượng bị điều chỉnh, chế tài bởi các chính sách của họ. Cơ chế hoạt động kiểu này còn có cái lợi nữa là, ví dụ, mọi quyết định xử lý, xử phạt đều được cơ quan chủ quản trực tiếp đưa ra và áp dụng luôn với đối tượng bị xử phạt mà không cần phải chuyển giao, kiến nghị xử lý cho bất cứ một ai, một cơ quan nào khác, vừa chậm vừa không hiệu quả.
 
Về nguyên nhân thứ hai, có thể nói đây chỉ là yếu kém về mặt kỹ thuật. Tức là điều cần làm ở đây không phải là cho ra đời một cơ quan giám sát với tên gọi là giám sát rủi ro/an toàn vĩ mô, hoặc giám sát hợp nhất, thay cho các cơ quan giám sát chức năng hiện tại thì tự nhiên vấn đề sẽ được giải quyết ổn thỏa. Thay vào đó, cần phân định và giao thêm nhiệm vụ rõ ràng cho từng cơ quan giám sát chức năng hiện hữu giám sát rủi ro/an toàn vĩ mô lĩnh vực và đối tượng thuộc sự quản lý của mình. Các yếu kém về kỹ thuật tuy có thể cần phải có thời gian và kinh phí để khắc phục, nhưng rõ ràng chẳng có liên quan gì đến việc có hay không có một siêu cơ quan giám sát bao trùm lên mọi lĩnh vực kinh tế có liên quan.
 
Nguyên nhân thứ ba – thiếu vắng phối hợp, liên thông – có lẽ đã chỉ ra sự khác biệt lớn nhất giữa hai mô hình giám sát (giám sát chức năng và giám sát hợp nhất). Hãy thử hình dung một cơ quan giám sát vĩ mô có đủ thẩm quyền và năng lực bộ máy để cảnh báo, ngăn ngừa và xử lý hữu hiệu các loại rủi ro của hệ thống tài chính sẽ như thế nào. Nó sẽ là một cơ quan siêu bộ, bao trùm lên Bộ Tài chính và NHNN, nhúng tay vào mọi hoạt động nghiệp vụ của 2 cơ quan này (có thế thì mới kịp thời phát hiện ra những rủi ro để mà cảnh báo), có quyền lực có thể nói là tuyệt đối để can thiệp và yêu cầu Bộ Tài chính và NHNN ngăn ngừa rủi ro, và đặc biệt là có quyền thay mặt hoặc không cần sự đồng ý/tham gia của NHNN và Bộ Tài chính để xử lý các rủi ro này. Dễ thấy việc cho ra đời một cơ quan siêu quyền lực như vậy là không nên và không thể. Chưa nói đến thực tế là Thủ tướng, dưới sự tư vấn của UBGSTCQG có thể thực hiện hoặc chỉ định/giao quyền cho Bộ Tài chính và NHNN thực hiện việc phát hiện, ngăn ngừa và xử lý rủi ro toàn hệ thống, toàn nền kinh tế. Điều cần làm ở đây có lẽ chỉ là tạo ra một khuôn khổ hoạt động để cho UBGSTCQG có thể tiếp cận được sâu rộng hơn các hoạt động của Bộ Tài chính và NHNN (chủ yếu thông qua việc cung cấp số liệu, trao đổi thông tin) nhằm phát hiện và tư vấn xử lý rủi ro một cách khách quan, trung
lập.
 
Với các nguyên nhân thứ tư, năm và sáu thì rõ ràng cũng là những nguyên nhân kỹ thuật, chứ không phải là nguyên nhân để thay thế cơ quan giám sát chức năng bằng cơ quan giám sát hợp nhất. Nói cách khác, cho dù có một cơ quan giám sát hợp nhất chăng nữa mà những vấn đề yếu kém này vẫn tồn tại thì cơ quan giám sát hợp nhất này cũng chẳng làm nên trò trống gì.
 
Cũng tương tự như vậy là nguyên nhân thứ bảy. Chừng nào mà sở hữu chéo và sự chi phối của các nhóm lợi ích vẫn còn quá lớn thì chừng đó công tác thanh tra giám sát, bất kể ở cấp độ nào, phạm vi nào, vẫn dễ dàng bị vô hiệu hóa.
 
Như vậy, công tác thanh tra, giám sát tài chính yếu kém ở Việt Nam đi kèm với những rủi ro đổ vỡ hệ thống có những nguyên nhân không nằm ở chuyện không hoặc chưa có một cơ quan giám sát hợp nhất/vĩ mô.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2014, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam" forthcoming in "Emerging Markets Finance and Trade".

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).