Wednesday, 18 April 2018

Tình hình xử lý nợ xấu qua báo cáo tài chính của VAMC (Bài đăng trên TBKTSG, 18/4/2018, bản gốc)


http://www.thesaigontimes.vn/271243/Tinh-hinh-xu-ly-no-xau-qua-bao-cao-tai-chinh-cua-VAMC.html

Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã đăng tải Báo cáo tài chính năm 2016 trên website của mình ngày 19/3/2018. Từ việc đăng thông tin như thế này và nội dung các báo cáo tài chính của VAMC có thể thấy được một số điểm đáng chú ý.
Lại vẫn là chuyện công bố thông tin chậm và không đầy đủ
Điều trước tiên có thể nói về VAMC là việc công bố chậm chễ và không đầy đủ của bản thân VAMC lẫn cơ quan chủ quản, tức Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và cả Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) về báo cáo tài chính định kỳ của VAMC theo quy định của pháp luật hiện hành.
Như trên đã nêu, đến tận ngày 19/3/2018 VAMC mới đăng tải Báo cáo tài chính năm 2016. Ngày này cũng là ngày mà VAMC đăng Báo cáo tài chính năm 2015 (nhưng không có Báo cáo tài chính năm 2014). Trong khi đó, ở trang đầu của Báo cáo tài chính 2016 có hình con dấu với nội dung “Cục thuế Hà Nội tiếp nhận hồ sơ hành chính thuế năm 2017 ngày 17-03 loại kê khai thuế”. Lưu ý thêm rằng trong Báo cáo tài chính năm 2015 và 2016 không có dấu hay thông tin xác nhận của công ty kiểm toán độc lập, nên có thể hiểu rằng các báo cáo (đăng tải) này chưa được kiểm toán.
Những chi tiết trên cho thấy đã có sự vi phạm Điều 18 của Nghị định 81/2015/NĐ-CP về công bố báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Theo đó, VAMC đã: (i) không công bố báo cáo tài chính sáu tháng; (ii) không công bố báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán; (iii) không công bố báo cáo tài chính đúng thời hạn (không muộn hơn ngày 15/8 của năm báo cáo đối với báo cáo tài chính sáu tháng và không muộn hơn ngày 31/5 của năm liền sau năm báo cáo đối với báo cáo tài chính năm).
Đồng thời, NHNN – cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước của VAMC – và Bộ KHĐT cũng đã không thực hiện đúng Điều 18 của Nghị định 81/2015 khi không công bố báo cáo tài chính sáu tháng và báo cáo tài chính năm (đã được kiểm toán) của VAMC trong vòng năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo tài chính của VAMC (theo Nghị định 81 thì VAMC phải gửi các báo cáo này cho hai cơ quan này không muộn hơn ngày 15/8 của năm báo cáo đối với báo cáo tài chính sáu tháng và không muộn hơn ngày 31/5 của năm liền sau năm báo cáo đối với báo cáo tài chính năm). 
Cũng có thể VAMC đã không gửi hoặc gửi không đúng hạn các báo cáo tài chính của mình cho NHNN và Bộ KHĐT như quy định, nhưng hai cơ quan này phải có trách nhiệm cũng như chế tài thích ứng để buộc VAMC cung cấp các báo cáo tài chính đúng hạn, theo quy định của Nghị định 81/2015.
Chuyện công bố thông tin muộn không những chỉ là một sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật hiện hành mà còn không cung cấp cho công luận kịp thời và đầy đủ thông tin về nợ xấu và tình hình xử lý nợ xấu, ảnh hưởng tiêu cực đến việc đưa ra những giải pháp xử lý nợ xấu phù hợp và hữu hiệu.
Tỷ lệ nợ xấu thực tế lớn hơn nhiều con số công bố
NHNN cho biết tổng mức nợ xấu (gồm nợ tiềm ẩn, nợ VAMC đã mua, và nợ xấu nội bảng tại ngân hàng) đến cuối năm 2016 là 600 nghìn tỷ đồng, tương đương với tỷ lệ 10,08% (1).
Tuy nhiên, theo Báo cáo tài chính năm 2016, VAMC đã mua 207,6 nghìn tỷ đồng nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt (TPĐB) tính đến ngày 31/12/2016, và con số này được hạch toán nội bảng bởi VAMC (trang 17). Trong khi đó, VAMC lại có đến 399 nghìn tỷ đồng nợ mua bằng TPĐB được hạch toán ngoại bảng tính đến ngày 31/12/2016 (trang 4). Như vậy, nếu cộng hai khoản này thì chỉ riêng nợ xấu mà VAMC đã mua về bằng TPĐB đã lên tới 607 nghìn tỷ đồng.
Với tổng dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng tính đến cuối tháng 12/2016 là hơn 5,5 triệu tỷ đồng (2), chỉ riêng số nợ xấu nằm tại hoặc quản lý bởi VAMC đã tương đương với tỷ lệ khoảng 10,9%.
Nếu cộng thêm với tỷ lệ nợ xấu nội bảng tại ngân hàng đến cuối năm 2016 là 2,46%, theo công bố của NHNN (1) thì tỷ lệ nợ xấu đã lên đến trên 13%, lớn hơn nhiều con số đã được công bố. Lưu ý thêm rằng con số tỷ lệ nợ xấu tạm tính này chưa bao gồm nợ xấu tiềm ẩn.
Xử lý và thu hồi nợ xấu vẫn rất chậm
Năm 2015, theo Bảng cân đối kế toán, VAMC phát hành 195,4 nghìn tỷ đồng TPĐB theo mệnh giá để mua nợ xấu, nhưng chỉ thu hồi được 8,6 nghìn tỷ đồng (trang 3), tức chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn là 4,4%. Năm 2016, tỷ lệ này đạt 4,3%, cho thấy không có cải thiện chút nào trong việc thu hồi nợ xấu đã mua bằng TPĐB.
Nói cách khác, VAMC về thực chất vẫn chỉ là một nơi thu gom nợ xấu. Việc thu hồi nợ xấu là rất hạn chế, và có được chủ yếu là bởi những khoản nợ xấu mua về là những khoản nợ xấu có chất lượng do đã được VAMC lựa chọn khi mua. Đó là chưa kể vì một số lý do nào đó mà đến 2/3 nợ xấu mà VAMC mua về lại được cơ quan này hạch toán ngoại bảng, và điều này càng chứng tỏ sự giới hạn trong khả năng xử lý nợ xấu của VAMC.
Có cấp thêm vốn cũng không khác biệt nhiều
Trong Báo cáo tài chính năm 2016 VAMC có “phàn nàn” rằng mặc dù vốn điều lệ của VAMC đã được phê duyệt tăng từ 500 tỷ đồng lên 2.000 tỷ đồng có hiệu lực từ 5/4/2015 (trang 10), nhưng đến 31/12/2016 VAMC vẫn chưa nhận được số vốn bổ sung.
Trong khi đó, VAMC mua nợ xấu hoàn toàn bằng TPĐB, không dùng một đồng vốn điều lệ nào để mua nợ xấu. Hơn nữa, Báo cáo tài chính năm 2016 cho thấy VAMC có tới hơn 14 nghìn tỷ đồng tiền mặt và tiền gửi tại các tổ chức tín dụng. VAMC, về nguyên tắc, hoàn toàn có thể dùng một phần trong số này, ít nhất là phần tiền gửi có kỳ hạn (dài) tại các ngân hàng, để mua (kinh doanh) nợ xấu, nếu muốn. 
Như vậy, có lẽ VAMC không cần phải được cấp thêm vốn để họ mua nợ xấu bằng “tiền tươi thóc thật” nhằm làm tăng tốc độ và hiệu quả xử lý nợ xấu như là một giải pháp đề xuất bởi nhiều chuyên gia, quan chức. 
Khả năng bù đắp bằng tài sản thế chấp ngày càng suy giảm
Đối với 345 nghìn tỷ đồng nợ xấu đã mua bằng TPĐB và được VAMC hạch toán ngoại bảng năm 2015, giá trị tài sản thế chấp, cầm cố là 368,5 nghìn tỷ, tức tương đương với 107% (lưu ý rằng VAMC không công bố giá trị tài sản thế chấp, cầm cố cho phần nợ xấu hạch toán nội bảng). Con số tương ứng năm 2016 đã giảm xuống còn 103%. Điều này có thể một phần là do nợ lãi ngày càng tăng khi nợ gốc không được xử lý, phải tiếp tục mang sang các năm sau, trong khi giá trị tài sản thế chấp, cầm cố thì vẫn vậy, không sinh ra đồng lãi nào. Lưu ý rằng năm 2016 thì giá trị bất động sản – loại tài sản thế chấp phổ biến – cũng đã phục hồi và tăng mạnh so với những năm trước đó nên niềm hy vọng giá trị bất động sản còn tăng mạnh hơn trong những năm sau này để đảm bảo việc thu hồi các khoản nợ xấu ngày càng trở nên mong manh hơn.
Thực tế trên chứng tỏ mức độ bất an và khả năng thu hồi nợ xấu ngày càng suy giảm khi giá trị tài sản thế chấp, cầm cố ngày càng giảm sút và tiệm cận đến mức ngang bằng hoặc thậm chí thấp hơn giá trị nợ gốc và nợ lãi vay, tước đi động cơ trả nợ đầy đủ và kịp thời của con nợ.
Tóm lại, qua việc công bố báo cáo tài chính của VAMC có thể thấy sự “nhờn” một cách nghiêm trọng với pháp luật hiện hành về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước và các cơ quan liên đới. Thông tin từ VAMC cũng cho thấy tình hình xử lý nợ xấu rất phức tạp vì ngay đến con số tổng nợ xấu trong nền kinh tế là bao nhiêu cũng không được NHNN thống kê và công bố chính xác, đầy đủ.
Nếu thông tin về VAMC được công bố sớm hơn, cập nhật hơn (và lẽ ra đã phải công bố Báo cáo tài chính năm 2017 vào thời điểm này), giải pháp xử lý nợ xấu dựa vào VAMC có lẽ cũng đã phải được xem xét lại từ cách đây cả năm khi khả năng xử lý và thu hồi nợ xấu có hạn của tổ chức này được bộc lộ rõ ràng.


(1)    http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/tien-te-bao-hiem/2017-11-17/thong-doc-le-minh-hung-ty-le-no-xau-giam-con-861-50489.aspx


(2)    http://thoibaonganhang.vn/den-cuoi-nam-2016-du-no-tin-dung-dat-hon-55-trieu-ty-dong-61893.html

Friday, 6 April 2018

Số liệu tăng trưởng GDP: Ước tính và chính thức hoàn toàn khớp nhau có hợp lý? (Bài đăng trên TBKTSG, 7/4/2018, tiêu đề do báo đặt lại)

http://www.thesaigontimes.vn/270945/So-lieu-tang-truong-GDP-Uoc-tinh-va-chinh-thuc-hoan-toan-khop-nhau-co-hop-ly.html

Từ lâu nay dư luận vẫn đặt dấu hỏi về chất lượng của các con số thống kê do Tổng cục Thống kê (TCTK) công bố. Tuy nhiên, TCTK luôn khẳng định độ tin cậy của những con số này và cho biết việc tính toán được thực hiện theo đúng quy trình và thông lệ quốc tế.
Làm sáng tỏ chất lượng thống kê quả thật là một bài toán khó, bởi người ngoài không có mấy căn cứ để kiểm chứng độ chính xác các số liệu do TCTK công bố, mặc dù cảm nhận thực tế cho thấy có sự “vênh” nhất định giữa con số trên giấy và thực tiễn.
Tuy nhiên, có những dấu hiệu để dễ nhận thấy sự không chính xác về số liệu công bố của TCTK. Ví dụ, về các con số thống kê cả năm như tăng trưởng GDP cả năm, TCTK thường công bố vào cuối tháng 12 của năm đó. Đây là một “thông lệ” khác người, bởi các nước trên thế giới thường công bố tăng trưởng GDP năm trước vào tháng 2, tháng 3, thậm chí là tháng 4 năm sau đó.
Cứ tạm chấp nhận rằng đây chỉ là con số ước tính, sơ bộ do TCTK đưa ra. Điều này không có gì lạ vì nhiều nước cũng đưa ra những dự báo cho cả năm sau đó, hoặc trước thời điểm công bố chính thức cả một vài tháng.
Nhưng đến đây, điều “lạ” với trường hợp của TCTK là những con số ước tính, sơ bộ về tăng trưởng GDP lại thường hoàn toàn trùng khớp với con số chính thức mà họ công bố sau này (sau chỉnh lý, điều chỉnh, nếu có).
Bảng dưới đây minh họa rõ vấn đề này. Con số tăng trưởng GDP, xuất khẩu và nhập khẩu sơ bộ được tác giả lấy từ các báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội do TCTK công bố trên trang web của TCTK vào tháng 12 hàng năm. Còn con số tăng trưởng GDP, xuất khẩu và nhập khẩu chính thức tác giả lấy từ mục “Số liệu thống kê”, là mục chứa số liệu có thể coi là chính thức, đã được chỉnh lý, điều chỉnh. Lưu ý thêm rằng tác giả chỉ lấy số liệu tăng trưởng GDP kể từ năm 2013 vì TCTK đã thay đổi giá cơ sở từ năm 1994 sang năm 2010 cho những năm từ 2013 trở đi (và có công bố trên trang web).


Trong bảng này, tuy số liệu tăng trưởng GDP sơ bộ trùng hợp hoàn toàn với số liệu chính thức, nhưng số liệu về xuất khẩu, nhập khẩu sơ bộ và chính thức lại khác nhau ở mức đáng kể. Vì xuất khẩu, nhập khẩu là những cấu phần của GDP nên, theo logic, khi số liệu xuất khẩu, nhập khẩu thay đổi (so với con số sơ bộ) thì GDP cũng phải thay đổi theo tương ứng.
Nhưng đáng tiếc là sự thay đổi về xuất khẩu, nhập khẩu và, do đó, xuất khẩu ròng, lại không làm thay đổi con số thống kê về tăng trưởng GDP ở Việt Nam do TCTK công bố trong những năm qua.
Cũng có thể có ai đó sẽ lập luận rằng mức chênh lệch xuất khẩu ròng giữa sơ bộ và chính thức là quá nhỏ (vài trăm triệu đô la Mỹ) để có thể làm ảnh hưởng đến con số GDP chính thức. Nhưng cần lưu ý rằng vài trăm triệu đô la Mỹ cũng là đáng kể nếu so với GDP ở mức quanh quẩn 200 tỉ đô la Mỹ hoặc nhỏ hơn của Việt Nam.
Ví dụ, mức chênh lệch xuất khẩu ròng 600 triệu đô la Mỹ năm 2015 tương đương với trên 0,3 điểm phần trăm GDP của Việt Nam trong năm đó. Do đó, theo nguyên tắc, tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2015 cần phải điều chỉnh giảm đi ít nhất 0,3 điểm phần trăm, chỉ còn khoảng 6,3-6,4% chứ không phải 6,68% như TCTK đã báo cáo chính thức, nếu các điều kiện khác không thay đổi (ví dụ, đầu tư, tiêu dùng và tỷ giá).

Sunday, 1 April 2018

Thu thuế hay tịch thu - chỉ là xử lý hậu quả (Bài đăng trên TBKTSG, 2/4/2018, tiêu đề do báo đặt lại)

http://www.thesaigontimes.vn/270682/Thu-thue-hay-tich-thu---chi-la-xu-ly-hau-qua.html

Chính phủ đang trình Quốc hội xem xét đưa vào trong dự án Luật phòng chống tham nhũng (sửa đổi) đề xuất truy thu thuế thu nhập cá nhân với thuế suất 45% với tài sản, thu nhập lớn hơn tài sản, thu nhập đã kê khai, hoặc không giải trình hợp lý. Ngoài ra, Chính phủ cũng thêm rằng việc truy thu thuế này không loại trừ việc xử lý trách nhiệm hình sự và tịch thu tài sản đối với người kê khai, nếu các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự khác chứng minh được tài sản kê khai không trung thực, tài sản tăng thêm không giải trình được một cách hợp lý có được hoặc có nguồn gốc từ hành vi phạm tội. 
Tuy nhiên, cũng có nhiều người cho rằng nếu không chứng minh được nguồn gốc hoặc giải trình không rõ ràng, minh bạch thì phải coi là tài sản bất minh, cần tịch thu , xử lý trách nhiệm hình sự chứ không chỉ đánh thuế cao như đề xuất.
Cả hai luồng ý kiến trên đều hoặc là cực đoan hóa hoặc bỏ sót những trường hợp nằm trong vùng xám.
Với trường hợp đánh thuế thu nhập cá nhân 45%, mức thuế này không là gì cả, không có tác dụng phòng chống tham nhũng. Nếu tài sản do tham nhũng mà có thì dù có bị đánh thuế, người tham nhũng vẫn còn thu về được 55% tài sản tham nhũng, tức là tài sản do phạm pháp (ăn cắp) mà có. Lẽ ra, trong những trường hợp này, nếu chứng minh được đây là tài sản tham nhũng thì tài sản này cần bị tịch thu và người tham nhũng cần bị xử lý hình sự, như luồng ý kiến thứ hai nêu trên đề xuất.
Nhưng nếu tài sản, thu nhập là “bất minh” ở dưới giác độ là chủ sở hữu tài sản này không giải trình được (hợp lý) tại sao mà có, trong khi cơ quan hữu trách cũng không có bằng chứng gì chỉ ra được rằng đây là tài sản, thu nhập có được từ tham nhũng thì rõ ràng trong trường hợp này không thể chỉ duy nhất áp dụng chung thuế suất thuế thu nhập 45% được như đề xuất của Chính phủ, mà cũng chẳng tịch thu được như luồng ý kiến phản đối.
Hướng xử lý trong những trường hợp vùng xám này sẽ khác nhau. Chẳng hạn, nếu đương sự giải trình rằng tài sản, thu nhập có được là do hoạt động sản xuất, kinh doanh (hợp pháp, nhưng không đăng ký, khai báo về thu nhập) thì cần truy thu thuế theo thuế suất phạt như trong các quy định pháp luật hiện hành (không nhất thiết là 45%) và, nếu nghiêm trọng/cần thiết, cần truy cứu trách nhiệm hình sự tội trốn thuế, gian lận thuế.
Như trong trường hợp của một vị quan chức nọ nói là buôn chổi đót mà có được bất động sản triệu đô, chừng nào cơ quan chức năng không chứng minh được điều gì khác thì có lẽ đành phải chấp nhận lời giải trình này. Điều mà cơ quan chức năng có thể và cần phải làm trong trường hợp này là truy thu thuế thu nhập cá nhân theo quy định hiện hành về hành vi trốn thuế, và, nếu cần thiết, phải xử lý hình sự tội kinh doanh trốn thuế (do quy mô lớn của hành vi này). Còn việc tịch thu tài sản trong trường hợp này hoặc các trường hợp tương tự khác thì là vô căn cứ, dù ai cũng cho/biết rằng giải trình nguồn gốc tài sản lớn như vậy từ buôn chổi đót là không hợp lý.
Cũng có nhiều trường hợp hợp lý hóa tài sản là do được thừa kế, biếu tặng. Tuy nhiều trong những trường hợp này xem ra rất đáng ngờ nhưng bởi cũng chẳng có bằng chứng gì khác chống lại đương sự (trừ khi, ví dụ, chứng minh được nguồn gốc phi pháp của tài sản thừa kế, biếu tặng này) nên hãy chấp nhận như vậy, và xử lý theo các điều khoản pháp luật hiện hành tương ứng về thừa kế, biếu tặng…, mà không thể tịch thu được những tài sản này.
Những ví dụ và trường hợp nêu trên cho thấy xử lý bằng việc truy thu thuế (ở một mức ấn định, 45%) với tài sản, thu nhập “bất minh” hoặc tịch thu tài sản, thu nhập này là không thỏa đáng. Quan trọng hơn, đây chỉ là việc xử lý hậu quả (và phần lớn cũng đã được chế tài trong khuôn khổ pháp luật hiện thời), trong khi điều cần làm trước tiên là phải làm tốt, làm nghiêm việc kê khai tài sản, thu nhập của quan chức cũng như việc thẩm tra, theo dõi, giám sát việc kê khai và thay đổi tài sản, thu nhập quan chức từ các cơ quan chức năng liên đới, đồng thời xử lý nghiêm khắc các hành vi vi phạm các quy định liên quan này.
Để việc kê khai và kiểm tra tài sản, thu nhập là bộ lọc hữu hiệu đầu tiên trong công tác phòng chống tham nhũng thì cần thiết phải đưa vào luật sửa đổi một số điều khoản cứng rắn như, ví dụ, nếu phát hiện ra cán bộ nào không trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập thì lập tức sẽ bị cách chức, đình chỉ công tác (bất luận vì lý do gì).
Tiếp đó, các thông tin về tài sản, thu nhập của cán bộ có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập cần được công khai rộng rãi ra công chúng (thông qua, ví dụ, đăng tải trên website của cơ quan), chứ không chỉ bó gọn trong phạm vi cơ quan, đoàn thể nơi người này công tác trong nhiều trường hợp, như trong dự thảo luật hiện nay. Muốn thành tâm phòng chống tham nhũng và có hiệu quả thì càng phải minh bạch tài sản, thu nhập của những công bộc ăn lương từ tiền thuế của dân như kinh nghiệm các nước minh bạch với tham nhũng đã cho thấy. 

Định giá không hợp lý thì mang nhau ra tòa (Bài đăng trên TBKTSG, 1/4/2018)

http://www.thesaigontimes.vn/270670/Dinh-gia-khong-hop-ly-thi-mang-nhau-ra-toa.html

Cho đến nay tại Việt Nam có không ít vụ việc lùm xùm liên quan đến việc định giá tài sản để phục vụ cho việc đầu tư, đặc biệt là khi liên quan đến các doanh nghiệp nhà nước hoặc có vốn nhà nước. Điển hình gần đây nhất là vụ việc Mobifone mua AVG và Sabeco thoái vốn tại dự án đất vàng tại thành phố Hồ Chí Minh. Trong cả hai vụ việc này các cơ quan chức năng đã vạch ra những sai lầm, thiếu sót trong việc định giá tài sản, cổ phần, dẫn đến khả năng gây thiệt hại lớn cho ngân sách nhà nước.
Vì thiệt hại cho ngân sách nhà nước là điều khó có thể tránh khỏi nên các công ty cung cấp dịch vụ định giá liên đới trong những vụ việc này không thể phủi tay, rũ trách nhiệm. Ngoài ra, việc truy trách nhiệm những công ty này còn tạo ra những tiền lệ mang tính răn đe những công ty cung cấp dịch vụ định giá khác, buộc chúng phải hoạt động chuyên nghiệp hơn với chất lượng cao hơn trên tinh thần trung lập và có trách nhiệm cao với dịch vụ của mình. Xử lý nghiêm những vụ việc sai phạm có nguồn gốc từ (cố tình) định giá sai giá trị tài sản cũng là một kênh hữu hiệu góp phần thúc đẩy cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước, cũng như phòng chống tham nhũng, thất thoát từ việc cổ phần hóa, thoái vốn, hoặc đầu tư có yếu tố nhà nước.
Nhưng vấn đề đặt ra là cần truy trách nhiệm và xử lý những công ty định giá trong các vụ việc này như thế nào. Tuy đây là một vấn đề gần như không có tiền lệ ở Việt Nam nhưng điều này không có nghĩa là cơ quan chức năng nhà nước sẽ mặc nhiên tiến hành các biện pháp hành chính như phạt tiền, tước giấy phép hoạt động của các công ty liên đới hoặc hình sự hóa các vụ việc này.
Ở nước ngoài, cách thức xử lý các vụ việc nảy sinh từ vấn đề định giá tài sản, kể cả khi liên quan đến nhà nước, thường là mang tính kinh tế, thông qua kênh tố tụng dân sự để buộc các công ty định giá phải bồi thường khi chứng tỏ được là chúng đã (cố tình) làm sai.
Vụ Chính phủ Mỹ kiện S&P là một ví dụ phù hợp và có tính chất tương thích trong trường hợp này, mặc dù S&P không phải là một công ty định giá tài sản, mà là một hãng xếp hạng tín nhiệm. Hồi đầu năm 2013, Bộ Tư pháp Mỹ cáo buộc S&P có trách nhiệm trong việc gây thiệt hại hàng nhiều tỷ đô la Mỹ cho nhà đầu tư trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, do hãng này đã thổi phồng xếp hạng tín nhiệm các loại chứng khoán thế chấp bằng bất động sản nhằm có thêm nhiều thương vụ kinh doanh mới, từ đó làm lợi cho các nhà phát hành. Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp Mỹ đòi S&P phải bồi thường 5 tỷ đô la Mỹ.
Phản ứng lại, S&P tuyên bố kết quả xếp hạng của mình được bảo vệ bởi quyền được tự do phát biểu, và cáo buộc ngược lại rằng cáo buộc của Bộ Tư pháp Mỹ là một hành động trả đũa do hãng này đã hạ xếp hạng tín nhiệm của Chính phủ Mỹ.
Tuy nhiên, sau hàng loạt thương lượng, đến đầu năm 2015 S&P đồng ý chi trả 1,5 tỷ đô la để khép lại các vụ kiện bởi Bộ Tư pháp và chính quyền ở nhiều bang. S&P cũng đồng ý chi trả 125 triệu đô la cho Quỹ hưu trí California với cùng lý do.
Trong những thương vụ giữa các công ty tư nhân hoặc cá nhân khác, nếu có bên nào đó cho là mình bị hại bởi kết quả định giá tài sản không chính xác thì nơi và người giải quyết cũng vẫn là tòa án.
Năm trước, cũng tại Mỹ, một chủ bất động sản đã kiện công ty bất động sản online Zilow vì cho rằng công cụ “Zestimate” gây lùm xùm của công ty này đã luôn định giá thấp hơn giá trị thật bất động sản của mình, làm cản trở lớn đến việc bán nhà của người này. Người chủ muốn bán bất động sản của mình ở vị trí đẹp với  giá 626 ngàn đô la, gần bằng giá bà mua năm 2009. Nhà đối diện ở bên kia đường lớn hơn một chút nhưng được bán với giá cao hơn nhà bà 100 ngàn đô la. Tuy nhiên, hệ thống định giá tự động của Zilow lại sử dụng giá nhà mới hoàn thiện ở những vị trí kém hơn trong cùng địa hạt để làm giá so sánh, và đưa ra cái giá chỉ là 562 ngàn cho nhà bà này. Bà kiện Zilow để buộc công ty này hoặc phải bỏ công cụ Zestimate hoặc phải sửa đổi nó.
Zilow đã bác bỏ cáo buộc “vô lý” này, cho rằng công cụ này được xây dựng bằng “công thức đặc quyền”, là công cụ kiếm ăn chủ yếu của công ty vì đã được sử dụng rộng rãi để định giá cho hàng trăm triệu bất động sản khắp nước Mỹ và qua đó thu tiền bán quảng cáo.
Nhưng nhiều công ty bất động sản và định giá khác cũng lên tiếng phê phán Zilow bởi nhiều trường hợp giá của Zilow đưa ra quá chênh lệch với giá họ đưa ra và giá mua bán thực tế, làm rối người tiêu dùng. Bản thân Zilow cũng thừa nhận có sai sót. Và tuy không thừa nhận là “nhà định giá” nhưng Zestimate lại ước tính giá bất động sản, tức là đã kinh doanh không phép. Bởi vậy, Zilow rơi vào thế bất lợi và nếu bị xử thua thì rất có thể có nhiều người tiêu dùng ở các nơi khác tiếp tục lôi công ty này ra tòa.
Quay trở lại với các trường hợp liên quan, có yếu tổ nhà nước ở Việt Nam. Với Mobifone, giả sử “không may” mà thương vụ mua AVG suôn sẻ và chỉ sau này thì vấn đề định giá thổi phồng AVG mới được đặt ra. Lúc này, ngoài chuyện xử lý trách nhiệm hình sự cho những sai phạm, cố ý làm trái của Mobifone và các bộ liên đới, điều có thể và cần làm là cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước của Mobifone (tức Bộ Thông tin và Truyền thông) đứng ra kiện các công ty định giá AVG vì đã thổi phồng giá trị của AVG, gây thiệt hại cho nhà nước.
Tương tự, đại diện phần vốn nhà nước của Sabeco (tức Bộ Công thương) có thể đứng ra kiện công ty định giá với cáo buộc đã dùng các phương pháp và cách thức định giá không thích hợp (gồm có việc điều chỉnh các yếu tố khác biệt không trên cơ sở chứng cứ thị trường, theo ý kiến trong báo cáo của Kiểm toán Nhà nước), làm giảm đáng kể giá trị doanh nghiệp làm cơ sở xác định giá khởi điểm.

Tuesday, 27 March 2018

Tỉ giá biến động mạnh vì sao? (Bài đăn trên CafeF, 28/3/2018)

http://cafef.vn/ti-gia-bien-dong-manh-vi-sao-20180328080513968.chn

Tỉ giá VND/USD đã bật tăng mạnh từ tuần trước nối tiếp sang tuần này, hiện đã lên trên mức 22.800, gần bằng mức đỉnh đạt được một năm trước và là mức cao nhất trong lịch sử.

Diễn biến tỉ giá này là một điều khá ngạc nhiên với nhiều người, xét trong bối cảnh dự trữ ngoại hối đã tăng liên tục, đã đạt gần 60 tỷ USD (theo các thông tin gần đây) – mức cao nhất trong lịch sử dự trữ ngoại hối ở Việt Nam. Trong khi đó, cán cân thương mại vẫn đang ở mức thặng dư mấy tháng đầu năm, với mức xuất siêu hàng tỷ USD. Xét về mặt tâm lý, hai yếu tố này là đủ để nâng đỡ và giúp cho sự ổn định của tỉ giá, bởi nhà đầu tư thường có thái độ "trông giỏ bỏ thóc", và họ sẽ tự tin hơn khi thấy nguồn cung USD ở Việt Nam sẽ không gặp trở ngại gì lớn.

Tuy nhiên, nếu nhìn nhận kỹ thì sẽ thấy tỉ giá tăng đáng kể trong thời gian gần đây là một xu hướng tất yếu, bởi sự kết hợp của nhiều yếu tố cơ bản quyết định chiều hướng tỉ giá.
Thứ nhất, về dự trữ ngoại hối, có thể đúng là nó đã tăng nhanh và đạt được mức cao lịch sử. Nhưng, như đã đề cập đến nhiều lần, dự trữ ngoại hối của Việt Nam ở mức cao lịch sử mới chỉ là tính trên mức độ tuyệt đối. Còn trên mức độ tương đối, dự trữ ngoại hối của Việt Nam mới chỉ ở mức "sạch nước cản", chỉ tương đương khoảng đúng 3 tháng nhập khẩu của Việt Nam, là mức tối thiểu được quốc tế khuyến nghị để đảm bảo an toàn vĩ mô.

Quan trọng hơn, xét cho cùng, dự trữ ngoại hối cũng chỉ phản ánh (và là kết quả của) chênh lệch cung cầu USD – là yếu tố quyết định diễn biến tỉ giá VND/USD. Nên sự ổn định của tỉ giá trong hai năm qua cho đến những tháng đầu năm nay có được không phải là do dự trữ ngoại hối tăng liên tục, mà thực chất là trực tiếp bởi nguồn cung USD dồi dào so với cầu USD tại Việt Nam.

Khi cung USD tăng nhanh hơn cầu USD, tỉ giá sẽ có xu hướng giảm đi (VND mạnh lên so với USD). Do điều này là không có lợi cho xuất khẩu nên Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải mua vào USD để giảm áp lực tăng giá VND. Việc này đã góp phần làm tăng dự trữ ngoại hối. Nói cách khác, dự trữ ngoại hối không phải là chỉ báo hay yếu tố hỗ trợ cho sự ổn định tỉ giá – điều hay được đề cập đến khi phân tích và dự đoán xu hướng tỉ giá ở Việt Nam.

Thứ hai, xét về nguồn cung USD. Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, tính chung trong quý 1/2018, tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài là 5,8 tỷ USD, giảm tới 24,8% so với cùng kỳ 2017. Trong khi đó, tuy không có số liệu chính thức về vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trong quý này, nhưng căn cứ vào hành động bán ròng của khối nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán trong hai tuần qua thì cũng có thể suy đoán rằng dòng vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Như vậy, giả sử các yếu tố khác không thay đổi, sự tụt giảm nguồn cung USD từ nhà đầu tư nước ngoài (cả gián tiếp lẫn trực tiếp) đã và sẽ tiếp tục tạo áp lực làm suy yếu VND, tức làm tăng tỉ giá VND/USD.

Nếu lập luận rằng cung USD cũng được hậu thuẫn bởi cán cân thương mại thặng dư trong quý 1 này, thì đây là điều chưa chắc chắn. Nên nhớ rằng các hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa thường phải được thanh toán trước khi diễn ra hoạt động thông quan tại cơ quan hải quan, nơi đưa ra thống kê thương mại hàng tháng. Do đó, cho dù thương mại trong quý có đạt được thặng dư nhưng rất có thể dòng tiền đã chảy vào nền kinh tế từ trước đó cả một thời gian chứ không đợi đến khi hàng hóa nhập vào hoặc xuất đi một cách vật lý qua biên giới. Nói cách khác, dù có thặng dư thương mại trong tháng này, quý này, nhưng điều này không có nghĩa là Việt Nam đã thu được từng đó ngoại tệ trong cùng tháng, cùng quý.

Thứ ba, xét về cầu USD. Thống kê cho thấy trong vòng 5 tuần vừa qua, NHNN đã hút ròng lượng tiền khổng lồ, lên đến 147.800 tỷ đồng (riêng tuần qua là 20.200 tỷ đồng, so với 58.100 tỷ đồng tuần trước đó). Điều này chứng tỏ đã có sự dư thừa lớn về thanh khoản tiền đồng trong thời gian dài, gây áp lực lên không chỉ lạm phát (đã tăng lên trong 2 tháng đầu năm) mà còn tỉ giá, vì nhà đầu tư có nhiều hơn một lượng tiền đồng sẵn sàng đổi lấy cùng một lượng USD có sẵn trong nền kinh tế.

Bên cạnh đó, việc Fed tăng lãi suất tại Mỹ gần đây (và sắp tới trong năm nay) cũng làm tăng cầu USD ở nước ngoài, trong đó có Việt Nam, để đầu tư vào Mỹ và/hoặc các tài sản tài chính niêm yết bằng USD.

Tóm lại, xét tổng quát về cung cầu USD trong thời gian qua tại Việt Nam, có thể nhìn thấy rõ áp lực làm tỉ giá tăng hơn là ổn định.

Tỉ giá VND/USD trong 5 năm qua (Nguồn: xe.com)
Tỉ giá biến động mạnh vì sao? - Ảnh 1.

Friday, 23 March 2018

Lỗ hổng phòng chống tham nhũng nhìn từ vụ AVG (Bài đăng trên TBKTSG, 24/3/2018, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/270367/Lo-hong-phong-chong-tham-nhung-nhin-tu-vu-AVG.html

Vụ việc Mobifone mua 95% cổ phần của AVG với giá gần 9000 tỷ đồng từ đầu năm 2016 đã bị Thanh tra Chính phủ phát hiện có nhiều sai phạm đặc biệt nghiêm trọng và bị đề nghị chuyển cơ quan công an khởi tố điều tra.

Đọc Thông báo của Thanh tra Chính phủ về kết quả điều tra, chắc chắn nhiều người sẽ không tránh khỏi cảm giác bàng hoàng và phẫn nộ với một màn kịch “hoành tráng” được đạo diễn hết sức khéo léo, kín kẽ, nhiều lớp lang (thậm chí tính đến cả đường thoát hiểm), và hoàn toàn… đúng quy trình của một số cá nhân liên đới, đến độ thiếu chút nữa thì đúng là “bàn tay che nổi mặt trời”.

Trong vụ này có những sai phạm gì, như thế nào và của ai thì hầu như đã được làm rõ trong Thông báo của Thanh tra Chính phủ và sẽ còn tiếp tục được làm rõ hơn khi cơ quan công an bắt tay điều tra nghiêm túc. Điều quan trọng không kém là bài học về công tác phòng chống tham nhũng rút ra từ vụ việc này.

Khi chất lượng “đúng quy trình” bị bỏ quên!

Một trong những lời biện minh các cá nhân và tập thể liên đới để chạy tội phổ biến nhất trong các vụ việc có hơi hướng tham nhũng là họ đã làm đúng quy trình. Câu thần chú này không hiếm khi có hiệu nghiệm. Bởi quả thật là các quy định hiện hành của pháp luật thường chỉ tập trung vào việc quy định (chi tiết) quy trình thực hiện một cái gì đó, trong khi chất lượng việc thực hiện quy trình này của các cán bộ liên quan ra sao thì lại thường bị bỏ ngỏ, ngoài những câu chữ định tính hết sức chung chung như “thực hiện nghiêm”, “thực hiện đúng”.

Trở lại vụ việc AVG. Ví dụ về vai trò và trách nhiệm của Bộ Thông tin Truyền thông (TTTT) trong việc phê duyệt dự án mua AVG. Theo đúng quy trình, bộ này cũng thành lập Tổ thẩm định dự án với Tổ trưởng là một Vụ trưởng. Tổ thẩm định cũng so sánh các mức giá đưa ra bởi các nguồn khác nhau, trong đó có tổ chức định giá độc lập (và lấy mức giá thấp nhất). Tổ này cũng tổ chức lấy ý kiến phản biện. Dự án chỉ được lãnh đạo bộ phê duyệt sau khi Tổ trưởng thẩm định đã có tờ trình quyết định phê duyệt dự án đầu tư…

Tuy nhiên, trên thực tế, như Thông báo của Thanh tra Chính phủ đã chỉ rõ, Bộ TTTT đã cố ý làm trái nhiều vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm và thẩm quyền của mình. Ví dụ Tổ thẩm định không xem xét, phân tích các thông tin, sử dụng thông tin về giá mà AVG “định bán” cho đối tác nước ngoài, không tổng hợp đầy đủ các ý kiến phản biện…

Như vậy, mặc dù là đã thực hiện đúng quy trình nhưng rõ ràng là chất lượng thực hiện quy trình này là rất có vấn đề, và đã không được kịp thời phát hiện.


Khi minh bạch bị “yểm bùa”
Câu hỏi được đặt ra ở đây là, tại sao những sai phạm, cố ý làm trái rành rành, nghiêm trọng như vậy lại không được phát hiện kịp thời bởi những cấp, những cơ quan có thẩm quyền?
Giả sử nếu công luận ngay từ đầu biết được tình trạng thực của AVG, giá trị giao dịch, cách thức thực hiện giao dịch… thì chắc chắn giao dịch mua bán này sẽ gặp ngay áp lực phản đối lớn và rốt cuộc sẽ bị hủy bỏ (tại mức giá đề xuất). Nói cách khác, nếu mọi việc đều được minh bạch, ít nhất ở một mức nào đó, ví dụ như giá trị giao dịch, thì chắc chắn sẽ không có giao dịch (với mức giá gần 9000 tỷ đồng) này.
Nhưng giao dịch vẫn diễn ra thành công. Và lý do là bởi sự minh bạch đã bị trấn yểm bằng lá bùa mang tên “Mật”!
Lá bùa này được vẽ nên bởi sự bắt tay tinh vi và rất đúng bài bản giữa những cá nhân liên đới trong Bộ TTTT và Bộ Công an. Phía Bộ TTTT thì gửi văn bản “đề nghị” Bộ Công an cho ý kiến đưa giao dịch mua AVG này vào danh mục Mật. Được tham vấn thì trả lời, Bộ Công an đã “thống nhất” với yêu cầu này của Bộ TTTT. 
Được khoác danh “Mật” với thời hạn không xác định do Bộ Công an xác nhận thì dự án đầu tư này đương nhiên thoát được khỏi nghĩa vụ minh bạch hóa, dù Mobifone là doanh nghiệp nhà nước, dù Bộ TTTT là cơ quan đại diện chủ sở hữu và đồng thời là cơ quan quản lý nhà nước về thông tin, truyền thông nên phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật hiện hành về công bố thông tin.
Bài học
Như vậy, cái thiếu vắng hiện nay trong phòng chống tham nhũng không phải là sự thiếu vắng, không hoàn chỉnh của hệ thống pháp luật hiện hành. Bởi vậy, nỗ lực phòng chống tham nhũng không nên, không chỉ tập trung vào “tiếp tục hoàn thiện” khuôn khổ pháp luật, tiếp tục đề ra và hoàn thiện các quy trình đầu tư, xét duyệt... như là một giải pháp hữu hiệu.
Thay vào đó, sự minh bạch hóa của doanh nghiệp nhà nước, của các cơ quan quản lý  là điểm rất yếu, yếu nhất trong công tác phòng chống tham nhũng hiện nay. Dù đã được chế tài khá đầy đủ bằng hàng loạt quy định pháp luật liên quan nhưng các đối tượng có nghĩa vụ minh bạch thông tin vẫn “nhởn nhơ” không công bố hoặc công bố không đầy đủ thông tin theo yêu cầu. Quan trọng hơn, sự vi phạm pháp luật trắng trợn này diễn ra đều đều, thường xuyên, nhưng hầu như chưa bao giờ bị xử lý (nghiêm túc, có tính răn đe mạnh), bất chấp những lời từ kiến nghị đến “quyết liệt” cảnh báo, răn đe, kể cả từ cấp cao trong Chính phủ.
Nguy hại hơn, vụ việc AVG có lẽ là lần đầu tiên còn cho thấy đã có sự bắt tay và lũng đoạn có hệ thống không chỉ trong nội bộ của một cơ quan, doanh nghiệp, mà còn ở cấp độ “liên bộ” hoặc cao hơn, dễ dàng vô hiệu hóa hiệu lực của hệ thống phòng chống tham nhũng. Nếu không có sự kiên quyết chỉ đạo của Ban Bí thư, có lẽ rồi vụ việc sẽ chìm vào im lặng bởi những lá bùa trấn yểm quá độc và những thế lực đằng sau đó quá lớn.
Bởi vậy, song song với thực hiện nghiêm minh việc minh bạch hóa thông tin, cơ quan phòng chống tham nhũng cần có người đứng đầu liêm chính, có bàn tay sắt và tinh thần chống tham nhũng tới cùng.

Wednesday, 14 March 2018

Bảo hộ - cần tỉnh táo, rạch ròi (Bài đăng trên TBKTSG, 14/3/2018)

http://www.thesaigontimes.vn/269748/Bao-ho---can-tinh-tao-rach-roi.html


Tự do hóa thương mại là có lợi cho nền kinh tế toàn cầu nói chung và các quốc gia nói riêng. Điều này không chỉ được chứng minh trên lý thuyết mà còn đúng trên thực tế khi các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương liên tục được hình thành và phát triển.

Trong dòng chảy toàn cầu như vậy, chủ nghĩa bảo hộ nhân danh quyền lợi quốc gia chưa bao giờ chết hay mất đi sức mạnh và tầm ảnh hưởng. Sự “trường tồn” của chủ nghĩa bảo hộ được nuôi dưỡng có thể bởi động cơ chính trị của các chính trị gia khi vận động tranh cử hoặc khi đang tại quyền muốn lợi dụng bảo hộ để thu phục sự ủng hộ của những nhóm lợi ích bị thiệt hại bởi tự do hóa thương mại. Bên cạnh đó, chủ nghĩa bảo hộ cũng có thể được nuôi dưỡng bởi sự vận động hành lang của các nhóm lợi ích như một công cụ bảo vệ đặc quyền của họ.

Trong một số trường hợp, bảo hộ thực sự có ý nghĩa và cần thiết khi nó được dùng như một công cụ trong một gói chính sách để trợ giúp phát triển các ngành công nghiệp địa phương non trẻ nhưng có tiềm năng. Đặc biệt, bảo hộ cũng là cần thiết và xác đáng khi các nhà sản xuất nội địa bị cạnh tranh một cách không công bằng với các nhà sản xuất nước ngoài do các nhà sản xuất nước ngoài được, ví dụ, trợ giá bởi chính phủ của họ, hoặc họ bán phá giá để giành thị phần tại nước ngoài. Đây là trường hợp điển hình khiến Mỹ gần đây đã xem xét đánh thuế cao hơn đối với một số mặt hàng nhập khẩu vào Mỹ như máy giặt, pin mặt trời, thép và nhôm... - là hành động mà trong con mắt của nhiều người, đã làm trỗi dậy chủ nghĩa bảo hộ, vốn có khả năng châm ngòi cho chiến tranh thương mại với các đối tác của mình.

Ở Việt Nam, chính sách bảo hộ đã in đậm dấu ấn trong một số ngành mà điển hình là ô tô và mía đường. Danh sách ngành được bảo hộ thỉnh thoảng còn được bổ sung thêm những ngành mà các doanh nghiệp của ngành (nhiều khi là các doanh nghiệp nhà nước) làm ăn thua lỗ, bị cạnh tranh khốc liệt bởi hàng nhập khẩu, như phân bón, polyester lớn tiếng “kể khổ” để rồi được Chính phủ ra tay cứu vớt bằng các hàng rào thuế quan và phi thuế quan.

Điểm chung của các ngành được bảo hộ ở Việt Nam là chúng không phải là những ngành công nghiệp non trẻ nữa, và cũng không phải là công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp xanh, có tính sáng tạo, có tiềm năng thành công và cần khuyến khích phát triển bằng mọi giá. Và khác với Mỹ, sản phẩm của nhiều trong số những ngành này ở Việt Nam không cạnh tranh được với sản phẩm nhập khẩu đơn giản vì các doanh nghiệp sản xuất bằng những công nghệ lạc hậu, quy mô nhỏ, chi phí cao, phụ thuộc nặng nề vào nguyên phụ liệu và bán thành phẩm nhập khẩu.
Trong nhiều trường hợp, các dự án sản xuất được “vẽ” ra và thực thi một cách duy ý chí và/hoặc để có điều kiện tham nhũng, từ khâu thiết kế, xây dựng đến vận hành và tiêu thụ sản phẩm mà bất chấp hiệu quả của dự án, với tâm lý lỗ đâu thì “kêu” Nhà nước đến đó.

Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp trong các ngành được bảo hộ được cho ra đời hoặc bắt tay vào sản xuất sản phẩm nhiều khi chỉ đơn giản bởi chạy theo lối tư duy kinh tế thời bao cấp rằng cái gì phải nhập khẩu (nhiều) thì hãy sản xuất ở trong nước mà bất chấp các tính toán thiệt hơn về lợi thế so sánh với các nước xuất khẩu.

Các phong trào như phát triển xi măng lò đứng và chương trình mía đường quốc gia theo các đề án quy hoạch mang nặng dấu ấn kinh tế kế hoạch hóa cũng là những tác nhân chủ yếu dẫn đến hậu quả các địa phương đua nhau xây nhà máy xi măng, trồng mía và chế biến đường, để rồi sản phẩm làm ra chất đống trong kho do chất lượng kém, giá thành cao, bán trong nước không được, xuất đi cũng không xong, tạo liên tưởng đến chương trình “Đại nhảy vọt” của Trung Quốc năm nào. Từ đây lại xảy ra tâm lý “đâm lao phải theo lao”, Chính phủ buộc phải “tháo gỡ khó khăn” bằng các biện pháp bảo hộ và trợ cấp cho các doanh nghiệp.

Để biện minh và làm tăng thêm sức nặng cho lời kêu gọi bảo hộ từ Nhà nước, các doanh nghiệp và hiệp hội thường nhấn mạnh đến hậu quả hàng ngàn công nhân trong ngành mất việc, hàng triệu nông dân sản xuất, nuôi trồng nguyên liệu sẽ bị ảnh hưởng nặng nề khi các nhà máy đóng cửa. Đương nhiên là khi vận động như vậy, lợi ích tổng thể của một nền kinh tế với gần 100 triệu người tiêu dùng không bao giờ được đề cập đến.

Trong bối cảnh này, Chính phủ cần tỉnh táo, rạch ròi trước khi đưa ra những chính sách bảo hộ (mới). Chính sách bảo hộ cần phải tránh là hậu quả của sự vận động hành lang của nhóm lợi ích liên quan hay bản thân người làm chính sách chỉ để bảo vệ đặc lợi của họ mà không công tâm xét đến tính cần thiết của bảo hộ. Lắng nghe công luận thì sẽ biết được chính sách bảo hộ phục vụ ai và có xứng đáng không.

Và cũng như trên đã nói, nếu lỗi của sự cạnh tranh yếu không nằm ở phía nước ngoài, mà là hậu quả có yếu tố nội tại như sự phát triển tràn lan theo quy hoạch bất hợp lý, công nghệ và thiết bị lạc hậu, quy mô nhỏ, tham nhũng nặng nề, trong khi bản thân chúng không phải là những ngành, những sản phẩm non trẻ, có tiềm năng, cần khuyến khích và hỗ trợ của Chính phủ... thì Chính phủ cần (dũng cảm) bỏ tư duy “đâm lao phải theo lao”, nói không với bảo hộ, kể cả những ngành có sự hiện diện của các doanh nghiệp nhà nước.

Tất nhiên là nếu không bảo hộ thì sẽ có ngay hàng ngàn người có quyền lợi liên đới bị ảnh hưởng. Nhưng kể cả khi phải trợ cấp, giải quyết gánh nặng kinh tế như mất việc, chuyển đổi sản xuất, kinh doanh, trồng trọt, chăn nuôi... thì chi phí mà Nhà nước phải bỏ ra có thể sẽ chỉ bằng một phần phí tổn mà Nhà nước nói riêng và cả nền kinh tế phải gánh chịu khi phải “cưu mang” những doanh nghiệp và những ngành sản xuất không hiệu quả, không ít trong số chúng là các “xác sống”.

CPTPP và triển vọng Mỹ quay lại (Bài đăng trên TBKTSG, 13/3/2018)


http://www.thesaigontimes.vn/270011/CPTPP-va-trien-vong-My-quay-lai.html

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) tưởng như đã chết sau khi Tổng thống Mỹ Trump tuyên bố rút Mỹ ra khỏi hiệp định này hồi đầu năm ngoái. Nhưng rồi 11 nước thành viên còn lại đã nỗ lực cùng nhau vượt qua những trở ngại và bất đồng để cùng đạt được một thỏa thuận thương mại tự do mới, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), mà không có sự hiện diện của Mỹ.
Vẫn cần Mỹ

Với những nước đang phát triển trong TPP như Malaysia, Việt Nam, Peru và Chile, điểm hấp dẫn chính của việc tham gia vào TPP là cánh cửa xuất khẩu rộng mở hơn sang thị trường Mỹ. Nên sự vắng mặt của Mỹ trong CPTPP đã làm mất đi cơ hội này.

Ngược lại, các nước này cũng thường không thấy “thoải mái” lắm với các khía cạnh khác của TPP, nhất là những điều khoản liên quan đến mua sắm Chính phủ, doanh nghiệp Nhà nước và quyền sở hữu trí tuệ, bởi chúng can thiệp vào và hạn chế chủ quyền của họ. Nhưng họ sẵn sàng chấp nhận những thiệt hại này để đổi lấy sự tiếp cận tự do vào thị trường Mỹ.

Nay, sự vắng mặt của Mỹ làm cho cán cân lợi ích-tổn hại thay đổi. Lợi ích tiềm năng đã bị giảm đáng kể trong khi tổn hại vẫn còn nguyên đó. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà trong văn bản CPTPP, có 22 điều khoản chỉ bị đình chỉ (trong số trên 1.000 điều khoản), chứ không phải là bị bãi bỏ. Điều này là bởi niềm hy vọng của 11 thành viên rằng Mỹ sẽ quay trở lại tham gia vào CPTPP một ngày nào đó trong tương lai.

Sự bất trắc của Mỹ

Niềm hy vọng trên dường như sẽ trở thành hiện thực khi ông Trump gần đây tuyên bố ý định quay trở lại tha gia TPP nếu Mỹ đạt được thỏa thuận thương mại “tốt hơn” cho Mỹ. Có thể ông sẽ nhận ra rằng không những TPP không chết như nhiều người từng dự báo khi Mỹ rũ bỏ TPP mà, ngược lại, nó đã hồi sinh (thành CPTPP) và các ngành xuất khẩu của Mỹ sẽ bị ảnh hưởng mạnh trên thị trường châu Á-Thái Bình Dương.

Ông Trump cũng có thể đã nhận ra rằng các thành viên hiện tại của CPTPP không mong muốn đến mức tuyệt vọng sự quay trở lại của Mỹ bởi gần đây có dấu hiệu cho thấy năm nước khác trong khu vực là Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines, Indonesia, và Thái Lan cũng muốn tham gia CPTPP.

Tương tự, dù Mỹ có hứa hẹn thay thế TPP bằng hàng loạt các hiệp định thương mại tự do song phương giữa Mỹ và các nước khác trong khu vực, nhưng thực tế hiện nay cho thấy hầu như chẳng có nước nào muốn “xếp hàng” để thương lượng song phương với Mỹ (vì thương lượng lại theo chủ trương của Mỹ thực chất là để giảm thâm hụt trong thương mại song phương của Mỹ với các thành viên khác).

Ngược lại, ông Trump gần đây đã và đang từng bước hiện thực hóa chủ nghĩa bảo hộ thương mại của mình. Nên thật khó tưởng tượng được Mỹ sẽ quay trở lại TPP khi không có những thay đổi “tốt hơn” cho quyền lợi của Mỹ thông qua các cuộc thương lượng lại.

Ngoài ra, sự bất trắc về chính sách thương mại của Mỹ thể hiện qua sự hay thay đổi đột ngột lập trường về thương mại cũng như sự mập mờ, khó hiểu về ý định, ý muốn và phát ngôn của ông Trump càng làm cho người ta khó tin tưởng việc Mỹ sẽ tiếp tục theo đuổi mối quan tâm mới này – thương lượng lại với các nước thành viên CPTPP.

Việc thương lượng lại khó khả thi

Theo đại diện của Nhật Bản, nước đã thế chân Mỹ tiếp tục sứ mệnh cổ súy thương mại tự do trong khu vực dẫn đến sự thành công của CPTPP, nếu Mỹ quay trở lại tham gia hiệp định, điều này không có nghĩa là 11 thành viên của hiệp định phải thương lượng lại với Mỹ. Bởi TPP là hiệp định trước đó đã được ký kết bởi 12 thành viên, trong đó có Mỹ.
Ngoài ra, bất cứ sự thay đổi nhỏ nào cũng làm ảnh hưởng trầm trọng đến việc thương lượng. 11 nước thành viên TPP đã phải rất nỗ lực cả một năm qua để sửa đổi lại hiệp định. Nên hiện nay, các nước này dường như không còn tâm trạng hay mong muốn thương lượng lại với Mỹ, đặc biệt khi phải phục hồi lại những điều khoản bị đình chỉ, đặc biệt là điều khoản về sở hữu trí tuệ.
Trên hết, sự ký kết thành công CPTPP cho thấy, trái với suy nghĩ chung của nhiều người trước đó, TPP đã không chết kể cả không có sự tham gia của Mỹ. Nói cách khác, sự tham gia của Mỹ không phải là không thể thiếu được cho bất cứ thỏa thuận thương mại tự do nào ở mức độ cao trong khu vực hoặc trên thế giới.
Trong khi các nước thành viên CPTPP đúng là có phấn khởi hơn trước những dấu hiệu về ý định quay trở lại tham gia TPP của Mỹ, những dấu hiệu này, như đã nói, bất trắc, không thuyết phục và đáng tin cậy. Quan trọng không kém, nếu năm nước khác trong khu vực như nêu ở trên, và thậm chí cả những nước ngoài khu vực như Anh, tham gia CPTPP và nâng tổng số thành viên lên 16+ thì quy mô kinh tế và tác động tích cực mang lại của CPTPP-16+ còn lớn hơn cả TPP-12, càng  làm lu mờ vai trò của Mỹ.
Như vậy, có thể thấy sự thương lượng lại với Mỹ sẽ không dễ dàng và cũng không được nhanh chóng khởi động. Do đó, sự tham gia của Mỹ như một thành viên mới của CPTPP sẽ khó trở thành hiện thực, ít nhất là trong tương lai gần. Các nước thành viên CPTPP không đợi chờ Mỹ; họ đã đạt được thỏa thuận cho một hiệp định mà rất khó khăn mới đạt được và sẽ tiếp tục tiến trình phê chuẩn tại các nước thành viên.

Tuesday, 6 March 2018

Một chính phủ rạch ròi, minh bạch (Bài đăng trên TBKTSG, 6/3/2018)

http://www.thesaigontimes.vn/269486/Mot-chinh-phu-rach-roi-minh-bach.html


Chính phủ Singapore mới đây đã công bố dự toán ngân sách cho năm tài khóa 2018 với một loạt điểm mới, “tốt” nhiều hơn “xấu”.

Về điểm “xấu”, nổi bật nhất là kế hoạch tăng thuế tiêu dùng dịch vụ và hàng hóa (GST) từ 7% lên 9% vào “một thời điểm nào đó trong khoảng thời gian” 2021 đến 2025. Chính phủ Singapore ước tính tăng GST sẽ giúp tăng thu thêm cho ngân sách khoảng 0,7% GDP hàng năm, và tiền thu được dùng để lấp khoảng cách thu chi trong tương lai.

Điểm khác biệt với Việt Nam là Singapore không tìm cách làm an lòng dân chúng về tác động tiêu cực của việc tăng GST bằng những câu nói khơi khơi kiểu như tăng thuế “tác động không đáng kể” đến đời sống dân cư (câu này được vận dụng cho hầu như bất cứ sự tăng lên về thuế, phí nào đó ở Việt Nam).

Thay vào đó, Singapore đưa ra những giải pháp thích hợp để giảm nhẹ tác động của tăng thuế lên bộ phận dân cư dễ tổn thương nhất. Những giải pháp này gồm Chính phủ chi trả thay GST cho dịch vụ giáo dục và y tế công cộng (được trợ giá), tăng mức tài trợ cho Quỹ Phiếu bù đắp GST (tính trung bình, Phiếu bù đắp GST giúp các gia đình có thu nhập thấp và người có tuổi giảm được khoảng một nửa số thuế GST họ đã phải trả hàng năm), thực thi gói bù trừ giúp cho công dân Singapore điều chỉnh được với sự tăng lên về GST này.

Một điểm “xấu” khác là Chính phủ tăng mức phí nộp bởi người chủ thuê giúp việc người nước ngoài từ 265 SGD lên 300 SGD cho người giúp việc thứ nhất và 450 SGD cho người thứ hai. Nhưng Chính phủ chỉ áp dụng mức phí 60 SGD cho gia đình nào có người già, trẻ con hoặc người tàn tật muốn thuê người giúp việc. Đổi lại, gia đình có người có tuổi muốn được mức ưu đãi này thì phải thỏa mãn điều kiện cao hơn là người có tuổi đó phải trên 67 tuổi, thay vì 65 tuổi như trước đây. Qua đây có thể thấy rõ chủ đích của Chính phủ Singapore là những gia đình có hoàn cảnh thì sẽ được giúp đỡ, còn thì Chính phủ không khuyến khích sự ỷ lại, lười biếng.

Trong danh sách những điểm “xấu” còn có thêm việc đánh thuế khí thải ở mức 5 SGD/tấn khí thải nhà kính cho những cơ sở xả thải trên 25.000 tấn/năm trong giai đoạn từ 2019 đến 2023 (mức này sẽ được xét lại vào năm 2023, có thể tăng lên đến 10 hoặc 15 SGD/tấn vào năm 2030). Ngược lại, Chính phủ cũng củng cố Quỹ Sử dụng hiệu quả năng lượng để giúp các công ty cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng, cắt giảm khí thải. Đồng thời, nhằm giảm bớt tác động của việc tăng thuế khí thải lên giá điện và gas (ước tính bình quân chi phí điện gas mỗi hộ gia đình sẽ tăng thêm 1%), Chính phủ tăng mức trợ cấp điện gas cho các hộ dân sống trong HDB thêm 20 SGD/năm từ 2019 đến 2021.

Chính phủ cũng tăng thuế lên người mua nhà (nhưng chỉ áp dụng với nhà trị giá trên 1 triệu SGD) và đồng thời tăng thuế thuốc lá thêm 10% nữa. Nhưng chắc chắn đây là những loại thuế được cổ vũ bởi đa phần người dân sở tại.

Ở chiều hướng ngược lại, về những điểm “tốt”, một điểm nhấn trong dự toán ngân sách của Singapore năm nay là “SG Bonus”, theo đó một phần trong số 9,6 tỷ SGD (khoảng 165 ngàn tỷ đồng) thặng dư ngân sách dự kiến cho năm 2017 sẽ được “chia” cho công dân Singapore từ 21 tuổi trở lên trong năm 2018 (mỗi người sẽ nhận được từ 100 SGD đến 300 SGD, tùy theo thu nhập của họ). Dự kiến việc này sẽ làm Chính phủ Singapore tiêu tốn 700 triệu SGD. Theo đại diện của Chính phủ, đây là một trong những cam kết hành động của Chính phủ nhằm giúp người dân chuẩn bị tốt hơn cho tương lai của mình, chăm sóc những đối tượng cần chăm sóc và làm phổ biến tinh thần cho đi.

Danh sách những điểm “tốt” còn kéo dài với những hành động cụ thể như tăng phần đóng góp của Chính phủ vào Quỹ tiết kiệm cho giáo dục (Edusave) để mỗi học sinh tiểu học nhận được 230 SGD (từ mức 200 SGD) và 290 SGD cho mỗi học sinh trung học (từ mức 240 SGD). Học bổng cho học sinh gia đình có thu nhập thấp cũng được nâng lên mức 900 SGD từ mức 750 SGD. Thêm vào đó, Chương trình bữa ăn học đường cũng cung cấp nhiều bữa ăn hơn học sinh trung học.

Về nơi ăn chốn ở, Chính phủ Singapore cũng tăng cường cải thiện điều kiện nhà ở cho dân chúng năm nay. Ví dụ, chương trình Trợ cấp nhà cửa để gia đình nào đó muốn mua căn hộ Chính phủ xây (HDB – đa phần người dân Singapore sống trong những căn hộ kiểu này) trên thị trường thứ cấp với mục đích để sống chung với bố mẹ hoặc con cái mình thì sẽ nhận được khoản trợ cấp một lần tăng lên tới 30.000 SGD. Chương trình này cũng được áp dụng với các hộ độc thân, mỗi người/hộ được hưởng 15.000 SGD – mà theo Chính phủ thì đây là đối tượng chủ yếu chăm sóc những thành viên còn lại trong gia đình. Chu đáo hơn, nếu cá nhân nào đó mua căn hộ HDB gần nơi bố mẹ mình sống thì sẽ được Chính phủ trợ cấp 10.000 SGD. “Gần” được định nghĩa cụ thể là trong phạm vi 4km.

Về chăm sóc sức khỏe và phát triển cộng đồng, các loại quỹ chăm sóc sức khỏe và phát triển cộng đồng sẽ được tổ chức lại hiệu quả hơn, nhận được thêm nhiều kinh phí cấp phát từ Chính phủ hoặc được ưu đãi về thuế.

Về phát triển kinh tế, Chính phủ tiếp tục gia hạn các chương trình như Đồng trả lương (Chính phủ cùng chi trả với doanh nghiệp để tăng lương cho nhân viên), dự tính sẽ tiêu tốn của Chính phủ thêm 1,8 tỷ SGD. Rồi Chương trình hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ tăng mức hoàn thuế lên tới 40% cho năm 2018 và kéo dài thêm sang năm 2019, dự kiến cũng lấy đi thêm 475 triệu SGD từ ngân sách. Ngoài ra còn hàng loạt các quỹ và chương trình tăng cường trợ giúp cụ thể cho các doanh nghiệp, nhất là các start-up, và người lao động nhằm tạo ra các chuyển biến mới cho nền kinh tế.

Về định hướng ngân sách trong tương lai, Chính phủ Singapore tuyên bố rõ mặc dù hiện tại ngân sách đang ở vị thế vững chắc nhưng nếu họ không có các giải pháp thực hiện ngay từ bây giờ thì ngân sách sẽ bị thâm hụt vào thập kỷ tới. Bởi vậy, Chính phủ sẽ phải nỗ lực quản lý thận trọng mức tăng trưởng chi tiêu và tối đa hóa lợi ích thu được từ mỗi đô la chi ra.

Giải pháp cụ thể cắt giảm chi tiêu là giảm tốc độ tăng chi ngân sách của các bộ từ 40% GDP còn 30% GDP từ năm 2019.
Tóm lại, có thể thấy qua dự toán ngân sách của Singapore một Chính phủ có tầm nhìn dài hạn, hết sức minh bạch, công tâm và có trách nhiệm với từng đồng tiền thuế của dân, thực sự vì dân và luôn quan tâm đến phúc lợi toàn diện của dân bằng những hành động cụ thể và thiết thực, đồng thời cũng rất thân thiện với môi trường, với doanh nghiệp. Một điểm nữa cần được nhìn nhận và học hỏi từ Chính phủ Singapore là song song với những hành động tăng thuế phí luôn là những giải pháp rạch ròi, xác đáng nhằm giảm nhẹ tác động tiêu cực lên những đối tượng cần được bảo vệ và khuyến khích phát triển vì lợi ích chung.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).