Friday, 10 October 2014

Tắc thông quan điện tử - Tại hệ thống hay tại người?


Như TBKTSG đã đưa tin, hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS (được xây dựng trong 2 năm bằng vốn ODA của Nhật Bản) bắt đầu được áp dụng từ ngày 1-4-2014, nhưng đã thường bị lỗi, gây ách tắc cho việc thông quan và làm hại nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Tuy chưa có một giải thích chính thức từ phía Tổng cục Hải quan về tình trạng hoạt động “tậm tịt” này nhưng TBKTSG đã trích lời của một quan chức hải quan khi vị này có lỗi là do sự không phù hợp của hệ thống này ở Việt Nam bởi Việt Nam khác với Nhật Bản! Ngay cả Bộ tài chính cũng cho rằng hệ thống thông quan tự động đang áp dụng tại Nhật bản khi triển khai tại Việt Nam trên nền tảng pháp lý của Việt Nam thì không tránh khỏi những khó khăn.

Vậy VNACCS/VCIS là cái gì và tại sao nó lại không hoạt động tốt ở Việt Nam?
VNACCS/VCIS là hệ thống thông quan tự động phiên bản Việt Nam được xây dựng trên mô hình hệ thống thông quan điện tử của Nhật (Nippon Automated Cargo and Port Consolidated System, NACCS), và hệ thống thông tin tình báo hải quan Nhật (Customs Intelligence Database System, CIS). Tập đoàn NTT Data là đơn vị chủ thầu, phối hợp với các chuyên gia của JICA, lắp đặt, đào tạo và chuyển giao hệ thống, công nghệ, và phần mềm cho Việt Nam.

Theo thông tin phía Nhật, ngoài những chức năng tương tự như hệ thống đang hoạt động tại Nhật, hệ thống thông quan tự động này của Việt Nam còn được “Việt hóa” khi có thêm những chức năng riêng cho Việt Nam, sau khi các chuyên gia Nhật nghiên cứu và đánh giá kỹ lưỡng khuôn khổ pháp luật, thông lệ và điều kiện ở Việt Nam. Chẳng hạn, hệ thống này thực hiện được việc thông quan điện tử (tự động) trên bộ (khác với của Nhật, chỉ có thông quan đường biển và đường hàng không, vì Nhật không có biên giới trên bộ với các quốc gia khác). Hệ thống này cũng cho phép dùng chữ ký điện tử theo quy định trong Luật giao dịch thương mại điện tử. Ngoài ra, hệ thống này cũng được kết nối với hệ thống hải quan hiện tại của Việt Nam được dùng trong việc thu thuế và xác định thuế hải quan.
Ngoài chuyện “Việt hóa”, phía Nhật cũng nhấn mạnh đến việc đào tạo cán bộ hải quan Việt Nam trong các đợt tập huấn trong và ngoài nước dưới sự hướng dẫn và giám sát của các chuyên gia nước ngoài. Bên cạnh đó, Tổng cục Hải quan đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm qua các cuộc thí điểm ứng dụng thông quan điện tử ở một số địa phương và trong một số ngành, với một số doanh nghiệp trong suốt 2 năm qua.

Tóm lại, với quá trình chuẩn bị và triển khai kỹ lưỡng thật khó có thể nói một cách đơn giản rằng do sự khác biệt giữa 2 nước, 2 nền tảng pháp lý nên hệ thống hoạt động không ổn định. Bản thân hệ thống này không đơn thuần là một phần cứng máy móc bất biến mà được điều khiển bởi những quy trình và phần mềm có thể thay đổi và điều chỉnh phù hợp, tùy theo yêu cầu sở tại.
Quay trở lại với bài báo trên TBKTSG trích dẫn lý giải của vị quan chức hải quan cho một số trường hợp trục trặc trong việc thông quan tự động. Lý do đầu tiên là sự khác biệt trong các hệ thống vệ tinh đi kèm như như hệ thống kế toán thuế, hệ thống quản lý rủi ro, giá, xử lý vi phạm. Đương nhiên là các hệ thống này ở Việt Nam sẽ khác (xa) với hệ thống tương tự của Nhật, và chuyện này chắc chắn sẽ được hình dung trước khi bắt tay ký kết thực thi dự án. Nhưng vì thế mới cần đến cả mấy năm trời để chuẩn bị, xử lý và giải quyết làm sao cho hệ thống vận hành xuyên suốt. Vẫn hợp tác, vẫn nghiệm thu và tất toán dự án kể cả khi các khác biệt này không được xử lý rốt ráo chứng tỏ có vấn đề ở những người tham gia dự án này (kể cả phía Nhật).

Lý do tiếp theo mà vị quan chức hải quan nêu ra là do hệ thống kế toán, theo dõi thu nợ thuế của Việt Nam chưa tích hợp với hệ thống VNACCS/VCIS. Đây rõ ràng cũng là một lỗi chủ quan của con người, mà cụ thể là những người thực thi dự án, chứ chẳng có liên hệ gì đến sự khác biệt giữa 2 quốc gia, 2 nền tảng pháp lý cả.
Ngay cả lý do Bộ tài chính đưa ra, cụ thể do phía Nhật chưa chuyển giao hết các chức năng, một số chức năng đã chuyển giao không phù hợp với pháp luật Việt Nam, và Việt Nam không được phép hiệu chỉnh các nội dung do Nhật thiết kế... cũng đều là những lỗi chủ quan, của những người thực hiện của cả 2 phía trong quá trình đàm phán, thiết kế và thực thi dự án.

Như vậy, có thể kết luận lại rằng nguyên nhân của tình trạng hoạt động “tậm tịt” của hệ thống VNACCS/VCIS chủ yếu là do những lỗi chủ quan, và là trách nhiệm của người trong cuộc, có thể vì một lý do sâu xa nào đó, chứ không thể đổ tại cho những lý do khách quan, chung chung như sự khác biệt giữa 2 quốc gia, 2 chế độ. Điều đáng nói là nạn nhân của tình trạng này – những doanh nghiệp xuất nhập khẩu – xem ra tiếp tục sẽ phải chịu trận dài dài nếu như  nếu những “sự khác biệt” này sẽ còn tiếp tục được viện dẫn để lẩn tránh trách nhiệm, hoặc, tệ hơn, để trục lợi.

Wednesday, 8 October 2014

Xử lý nợ xấu nên như thế nào? (Bài đăng trên CafeF, 8/10)

 
Mới đây chính phủ đã chính thức đề nghị Quốc hội cho phép sử dụng ngân sách để xử lý nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Trước đó nữa, ông Phan Trung Lý, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật gợi mở vấn đề dân góp tiền xử ký nợ xấu theo kinh nghiệm của Hàn Quốc. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng nói gần nói xa đến việc các quốc gia khác sử dụng ngân sách lớn đến mức độ nào để xử lý nợ xấu qua những con số "khủng", trong khi Việt Nam thì không có 1% nào.
 
Những đề xuất kiểu như trên đã vấp phải phản ứng mạnh từ công luận. Thứ nhất, chúng vi phạm nguyên tắc đã được thống nhất rộng rãi trong xã hội rằng không sử dụng ngân sách để xử lý nợ xấu. Thứ hai, người dân thường rõ ràng chẳng liên quan gì đến, chẳng là nguyên nhân gây ra nợ xấu, mà nay kêu gọi dân chúng quyên góp để giúp các ông chủ ngân hàng, một trong những nguồn cơn gây nên cái họa nợ xấu, là điều không thể chấp nhận được.
 
Cũng cần lưu ý rằng người dân Hàn Quốc quyên góp tiền là để giúp Chính phủ trả món nợ đã vay của IMF để thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1998 chứ chẳng phải để giải quyết nợ xấu.
 
Thứ ba, nợ xấu có thực sự lớn đến mức đáng quan ngại, đến mức nếu không có sự "vào cuộc" của các nguồn lực của chính phủ (ngân sách) và của dân chúng (tiền quyên góp) thì nền kinh tế sẽ sụp đổ hay không là điều vẫn chưa rõ ràng. Cứ theo giải trình có tính làm yên lòng người nghe của Thống đốc NHNN trước Ủy ban kinh tế Quốc hội vừa qua thì tình hình nợ xấu xem ra không đến nỗi... xấu khi tỷ lệ nợ xấu chỉ khoảng vài phần trăm và tình hình xử lý nợ xấu đang khả quan với triển vọng giảm đáng kể nợ xấu vào cuối năm nay.
 
Nay đã có những đề xuất như trên có nghĩa là tình hình nợ xấu hoàn toàn không thể lạc quan như đã được cho biết. Trong bối cảnh của một đám cháy nhà hàng xóm có khả năng lan ra cả xóm thì mỗi nhà cũng phải ra tay cứu giúp, dù không trực tiếp gây ra đám cháy, việc kêu gọi dùng ngân sách hay "phản cảm" hơn, kêu gọi dân đóng góp, là điều có thể thông cảm được, và thậm chí cũng nên xem xét thực hiện. Nhưng để thực hiện thì phải vạch ra những nguyên tắc và quy trình rõ ràng, hợp lý.
 
Việc đầu tiên cần làm là phải công khai, minh bạch hóa toàn bộ các khoản nợ xấu và sẽ thành nợ xấu (do phân loại lại nghiêm túc hơn, do không che giấu, "treo" nữa), để biết chính xác mức độ nợ xấu có thực trong hệ thống ngân hàng, từ đó mới có căn cứ để bốc thuốc. Về chuyện này, xem ra có nhiều việc cần phải làm khi NHNN thỉnh thoảng lại cho ra một con số nợ xấu khác nhau, đôi khi gây giật mình như con số 500 ngàn tỷ mới tiết lộ gần đây; và chính phủ vẫn cho phép treo, khoanh các khoản nợ xấu của DNNN như Vinashin và Vinalines.
 
Việc cần làm thứ hai là thực hiện nguyên tắc ai làm thì người đó phải chịu trách nhiệm trước hết. Nếu là các khoản nợ xấu do ngân hàng cho vay theo chỉ đạo thì chính phủ phải chịu trách nhiệm. Trong trường hợp này, nếu cần thiết và có thể thì chính phủ phải dùng ngân sách để xóa nợ cho ngân hàng.
 
Nhưng để không tái diễn sau này sự vô trách nhiệm và yếu kém trong quản lý, điều hành thì những cá nhân và cơ quan chính phủ nào liên quan trực tiếp đến chỉ đạo cho vay gây hậu quả nợ xấu cần bị xử lý, quy trách nhiệm cá nhân và tập thể, chứ không thể đổ do lỗi khách quan, ví dụ như khủng hoảng kinh tế. Tương tự, lãnh đạo của những DNNN nào gây ra nợ xấu cũng cần bị quy trách nhiệm và xử lý nghiêm túc, chứ không thể đổ tại khủng hoảng kinh tế là xong. Với những doanh nghiệp "vô phương cứu chữa" thì phải cho phá sản để giải quyết dứt điểm tình trạng nợ nần, chứ không để mãi cái thây ma đó nhằm trốn trách nhiệm.
 
Nếu nợ xấu là do bản thân các ngân hàng và trong hệ thống ngân hàng tạo ra thì các ngân hàng phải là người gánh chịu hậu quả duy nhất. Thực tế, rõ ràng một phần lớn nợ xấu là do bản thân lãnh đạo và nhân viên ngân hàng tạo ra. Nên đương nhiên các ngân hàng phải trích lập dự phòng, cắt giảm lợi nhuận, và nếu vẫn không đủ thì dùng cả vốn chủ sở hữu mà xử lý. Trường hợp nếu vẫn không đủ (vốn chủ sở hữu là âm) thì cần cho ngân hàng này phá sản hoặc bị mua, sát nhập, hoặc NHNN tái cấp vốn và thay thế cơ cấu cổ đông.
 
Về nguồn lực và cách thức xử lý, cần đảm bảo nguyên tắc phát huy tối đa mọi công cụ hiện có, giảm thiểu việc dùng ngân sách và tiền rót ra từ NHNN. Phần lớn các ngân hàng hiện đều có các công ty chuyên xử lý nợ xấu (AMC) và Bộ tài chính cũng có AMC của mình là DATC. Các công ty này nên và phải phát hành trái phiếu để xử lý nợ xấu và mua bán nợ theo nguyên tắc mua đứt bán đoạn và tự chủ về tài chính. Việc đã trót tạo ra VAMC rồi thì hãy để nó hoạt động như một AMC khác, của NHNN, chứ không nên vì mục đích để nó tồn tại một cách có ý nghĩa hơn nhằm biện minh cho chủ trương thành lập ra nó nên trao cho nó những quyền lực đặc biệt mà các AMC khác không có.
 
Một trong những nguyên nhân làm cho các AMC và VAMC hoạt động không hiệu quả là các ràng buộc về pháp lý liên quan đến định giá, phát mại và mua bán lại tài sản thế chấp. Về điểm này, cần có một số động thái về pháp lý từ chính phủ và Quốc hội để khai thông thị trường mua bán tài sản thế chấp nói riêng và nợ xấu nói chung, để cho tất cả AMC, chứ không trở thành đặc quyền riêng có của VAMC như nhiều người đang đề xuất có thể tự thân chúng giải quyết hữu hiệu nợ xấu của các ngân hàng.
 
Cũng thật ngạc nhiên với đề xuất của nhiều người về vay nước ngoài, và thậm chí sử dụng các quỹ dự trữ quốc gia để xử lý nợ xấu. Tại sao phải vay nước ngoài khi thị trường mua bán nợ chưa thông, khi các nguồn lực trong nước chưa được huy động? Tại sao phải vay nước ngoài để rồi đương nhiên trút tất cả trách nhiệm giải quyết nợ xấu cũng như trách nhiệm trả nợ vay này lên chính phủ, lên ngân sách?
 
Còn về việc sử dụng các quỹ dự trữ quốc gia, cứ cho là chúng đang nhàn rỗi, nhưng bản thân cái tên quỹ dự trữ cũng cho thấy chúng được lập ra và duy trì để sử dụng trong những hoàn cảnh đặc biệt đột xuất mà không ai có thể lường trước được khi nào những bất trắc này sẽ xảy ra. Bởi thế thật nực cười khi đề xuất sử dụng chúng bây giờ chỉ vì chúng đang tạm thời nhàn rỗi, chưa kể đến chuyện sử dụng chúng lại thành "công cộng hóa" nợ xấu, tương tự như vay nước ngoài để giải quyết nợ xấu.
 
Chỉ khi nào biết rõ nợ xấu thực sự quá lớn, các nguồn lực trong nước không thể giải quyết được hữu hiệu, nền kinh tế thực sự có khả năng rơi vào khủng hoảng và đổ vỡ nếu nợ xấu không được xử lý rốt ráo, thì lúc đó có thể mới phải cân nhắc đến những nguồn lực này, kể cả kêu gọi dân chúng đóng góp (và nếu vậy thì phải đổi lấy cho người dân một công cụ nhận nợ nào đó, chẳng hạn tạm gọi là công trái xử lý nợ xấu v.v..., chứ không nên kêu gọi dân quyên góp kiểu cho không!).

Monday, 6 October 2014

Lạm phát bao nhiêu là đủ? (Bài đăng trên CafeF, 6/10)

 
Lạm phát ở Việt Nam đã xuống khá thấp trong suốt 9 tháng đầu năm nay, ở mức 3,62% vào tháng 9 so với cùng kỳ năm trước. Do đó, lạm phát dự tính cho cả năm nay chỉ vào khoảng dưới 5% (thậm chí chỉ 3-4%) so với năm trước.
 
Trong khi đó, tăng trưởng GDP trong 9 tháng ước đã đạt 5,62% so với cùng kỳ năm trước, và dự tính vượt mục tiêu 5,8% trong cả năm nay. Kể cả theo dự đoán chặt chẽ hơn, trong điều kiện không có kích thích “tổng cầu” thì, như trong một báo cáo của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia (UBGSTCQG) trước đây, tăng trưởng GDP vẫn có khả năng đạt 5,6% năm nay (tức chỉ kém 0,2 điểm phần trăm so với mục tiêu).
 
Tuy vậy, vẫn có nhiều cá nhân và tổ chức, ví dụ như UBGSTCQG, cho rằng “tổng cầu” đang yếu do lạm phát (lõi) thấp. Do đó, họ lên tiếng khuyến nghị chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nới lỏng chính sách tiền tệ hơn nữa để hạ lãi suất, kích thích “tổng cầu”, và sẵn sàng đánh đổi lấy một mức lạm phát cao hơn (dự đoán) hiện tại.
 
Chưa nói đến sự vô nghĩa của việc cứ phải chạy theo tăng trưởng và đánh đổi lấy lạm phát cao hơn để sao cho tăng được tăng trưởng GDP lên thêm 0,2 điểm phần trăm nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng 5,8%, chủ trương tăng trưởng bằng lạm phát hình như chỉ nhìn thấy duy nhất một con đường dẫn đến tăng trưởng là thông qua nới lỏng chính sách tiền tệ hơn nữa. Có lẽ tư duy tăng trưởng kiểu này đã được thể hiện bằng diễn biến thực tế về tăng trưởng và lạm phát trong quá khứ.
 
Nếu nhìn vào bảng so sánh với các nước trong khu vực dưới đây (dựa trên số liệu của ADB), có thể thấy Việt Nam đã quá lạm dụng lạm phát, và tức là nới lỏng chính sách tiền tệ quá mức, để tăng trưởng. Theo bảng này thì Việt Nam đứng thứ hạng cao nhất (hạng 10 trong tổng số 10 nước Đông Nam Á) về lạm phát, trong khi đứng thứ 7 (xếp từ thấp lên cao) về thứ hạng tăng trưởng GDP (Cột “T.bình” ở đây chỉ tính trung bình cộng đơn giản của giá trị trong các năm.)
 
Nói cách khác, mặc dù có và duy trì một mức lạm phát cao nhất trong khu vực nhưng tăng trưởng của GDP ở Việt Nam vẫn không bứt phá để lên được vị trí hàng đầu trong khu vực được, thậm chí còn thua cả những nước ở trình độ phát triển kém hơn Việt Nam như Lào, Campuchia và Myanmar (đều có tốc độ tăng trưởng GDP trung bình cao hơn Việt Nam trong cùng thời kỳ).
 
Đáng chú ý hơn, nếu tính theo tỷ lệ lạm phát trên tăng trưởng GDP thì tỷ lệ này của Việt Nam là cao nhất (thứ 10) và đạt mức 1,7, bỏ xa những nước láng giềng khác. Điều này chứng tỏ Việt Nam đã trở thành “con nghiện” lạm phát quá nặng, đến mức nếu không có liều doping lạm phát này thì tăng trưởng sẽ trở nên hụt hơi.
 
Trở lại với tình hình hiện tại ở Việt Nam. Với mức lạm phát được khống chế ở mức thấp sau nhiều năm chao đảo với bất ổn vĩ mô, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP năm nay, ước tính ở mức kém lạc quan nhất là 5,6%, vẫn cao hơn tốc độ 2 năm trước (tương ứng là 5,2% và 5,4% trong năm 2012 và 2013). Điều này chứng tỏ còn có hơn một con đường để dẫn đến cải thiện tốc độ tăng trưởng GDP và điều này bước đầu và phần nào đã được thể hiện trong 9 tháng qua.
 
Bởi vậy, điều cần làm hiện nay không phải là loay hoay với hết “kích cầu” rồi thậm chí là “kích cung” (hay “trọng cung”) bằng nới lỏng chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, và can thiệp hành chính, để hy vọng thúc tăng trưởng thêm một chút nữa, mà thay vào đó là tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp cải cách, tái cơ cấu nền kinh tế như đã đặt ra để nâng cao hiệu suất sử dụng của các nguồn lực trong xã hội.
 
 Lạm phát tương đối thấp và ổn định là một trong những điều kiện cần để các tín hiệu thị trường được phản ánh một cách chính xác và có thể tiên liệu được, tạo điều kiện cho các nguồn lực được phân bổ một cách hiệu quả nhất theo đúng địa chỉ cần đến.
 
Nói cách khác, lạm phát ở mức thấp tương đối như hiện nay tỏ ra là phù hợp với Việt Nam, và cần duy trì triển vọng ổn định lạm phát trong các tháng còn lại của năm cũng như sang những năm sau để tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng một cách lành mạnh, dựa trên một cơ cấu kinh tế hiệu quả hơn và cách thức tăng trưởng có tính bền vững hơn. Trên hết, cần nhớ rằng lạm phát không phải là con đường (duy nhất) dẫn đến cải thiện tăng trưởng kinh tế, kể cả trong ngắn hạn!

Friday, 3 October 2014

Đằng sau đợt tăng tỷ giá lần này thực sự là gì? (Bài đăng trên CafeF, 4/10)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/dang-sau-dot-tang-ty-gia-lan-nay-thuc-su-la-gi-201410040829363837ca34.chn

Mấy ngày gần đây tỷ giá USD liên tục tăng sau một thời gian khá dài tương đối ổn định. Đã có nhiều giải thích cho đợt tăng tỷ giá mới này. Còn cơ quan chủ quản, như thường lệ, quy cho sự tăng tỷ giá chủ yếu là do tâm lý. Nhưng rõ ràng đang nhiên đang lành thì làm sao mà tự dưng có cái “tâm lý” này được. Không có lửa sao có khói? Vậy lửa ở đây là gì?
 
Một số người thì, theo thói quen, vẫn tiếp tục đưa ra những lý do cũ mòn, như cán cân thương mại đạt thặng dư trong 9 tháng đầu năm. Lý do này rõ ràng không thích hợp khi không xét đến trạng thái cán cân thanh toán. Hơn nữa, việc cộng gộp 9 tháng thế này đã bỏ qua tính thời điểm, mà vì đó có thể gây nên áp lực tăng tỷ giá (ví dụ, nếu cán cân thanh toán trong mấy tháng vừa qua trở nên âm).
 
Bởi vậy, có thể nói nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp làm tăng tỷ giá là phát ngôn của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình trong phiên trả lời chất vấn tại UBTVQH. Ông Bình khẳng định, năm nay sẽ điều chỉnh tỷ giá tối đa từ 1-1,43%.
Do trước đó, ngày 19/6, NHNN đã nâng tỷ giá thêm 1 điểm phần trăm, nên dễ hiểu là thị trường lập tức đồ đoán rằng NHNN sẽ có khả năng điều chỉnh thêm 43 điểm cơ bản nữa từ nay đến cuối năm. Mức này càng có cơ sở, theo dư luận, vì thay vì một con số tròn trịa nào đó, lần này ông Bình đưa ra một con số rất… lẻ (1,43%) như để minh họa cho sự tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng mức độ phá giá (điều chỉnh) phù hợp nhất có thể có của NHNN.
 
Nhưng điều gì làm cho ông Bình phải chọn thời điểm này để tuyên bố khả năng điều chỉnh tỷ giá? Những lý do cho việc này cũng là những lý do để ta có thể kết luận phát ngôn của ông Bình là nguyên nhân chính và trực tiếp làm tỷ giá tăng, chứ không phải vì những lý do khác.
 
Có thể kể ra đây mấy lý do. Lý do thứ nhất, cần lưu ý quy mô dự trữ ngoại hối đã ngừng tăng hoặc tăng không đáng kể. Mặc dù ông Bình cho biết trong phiên chất vấn vừa rồi, dự trữ ngoại hối đã đạt kỷ lục 35 tỷ đôla, cao nhất từ trước đến nay, nhưng cần lưu ý rằng hồi tháng 6, ông Bình cũng tuyên bố dự trữ ngoại hối đã đạt kỷ lục, khoảng 35 tỷ đôla. Như vậy, trong 3 tháng qua, dự trữ ngoại hối nếu có tăng thì chỉ là con số lẻ, không đáng kể. Điều này có nghĩa là cái “gối đỡ” cho tỷ giá – dự trữ ngoại hối – đã không được bổ sung tích cực thêm độ dầy, làm cho sự tự tin về ổn định tỷ giá của NHNN suy giảm phần nào.
 
Lý do thứ hai, vốn đã từng thừa nhận tác dụng tích cực của phá giá (“điều chỉnh” tỷ giá) lên xuất khẩu, nhưng trước bối cảnh sau khi phá giá 1% vào tháng 6, tỷ giá thực tế có thời điểm dài lại giảm xuống thấp hơn cả trước lúc phá giá, nên NHNN có lẽ cũng tỏ ra sốt ruột, hoặc bị một áp lực nào đó phải làm giảm giá VND, cộng thêm với thời điểm cuối năm đã đến gần nên đây cũng là thời điểm tỏ ra khá thích hợp để NHNN tuyên bố lập trường tỷ giá của mình.
 
Lý do thứ ba, cung tiền M2 đã có bước tăng mạnh đáng kể trong 2 tháng qua. Cụ thể, M2 trong tháng 9 tăng 9,93% so với cuối năm 2013, tháng 8 tăng 8,66%, trong khi đó tháng 7 mới chỉ tăng 7,36% so với cuối năm 2013. Dư thừa thanh khoản trong hệ thống đã trầm trọng hơn với sự gia tăng các đợt phát hành tín phiếu NHNN để hút bớt tiền về. Dư thừa thanh khoản đồng nghĩa với áp lực giảm giá VND. Nhưng cũng cần phải lưu ý rằng việc đẩy mạnh tăng cung tiền để tăng thanh khoản cũng có thể nằm trong ý đồ của NHNN muốn phá giá VND như nói ở điểm thứ hai bên trên.
 
Lý do thứ tư, và cũng liên quan đến điểm thứ hai và ba nêu trên, là lãi suất tiền gửi VND đã giảm đáng kể gần đây, làm thu hẹp giãn cách lãi suất giữa VND và USD, và do đó làm giảm tính hấp dẫn của VND so với USD, gây thêm áp lực lên tỷ giá.
 
Với ít nhất 4 lý do như nêu trên, rõ ràng có thể thấy áp lực lên tỷ giá là đã dồn nén trong thời gian qua, dẫn đến lời tuyên bố của ông Bình như là một sự bật đèn xanh cho việc phá giá nhẹ VND.
 
Đến đây, điều gây ngạc nhiên là tuyên bố của Vụ chính sách tiền tệ NHNN rằng NHNN chưa có chủ trương điều chỉnh tỷ giá. Tuyên bố này có thể hiểu ở dưới 2 góc độ. Thứ nhất, Vụ này chỉ cho biết là chưa, chứ không khẳng định rằng NHNN sẽ không điều chỉnh tỷ giá như khả năng nêu ra trong tuyên bố của ông Bình. Có thể NHNN chưa điều chỉnh tỷ giá vào tháng 10 này, nhưng sự việc có thể sẽ không phải vậy trong các tháng sau.
 
Thứ hai, NHNN có thể đang chơi chò “ú tim” với những tuyên bố không đồng nhất với nhau, nhằm tạo ra một sự mù mờ về chính sách mà mục đích cuối cùng là nhằm dẹp nạn đầu cơ đón đầu xu hướng tỷ giá của giới đầu tư, vốn là nguy cơ dẫn đến đánh mất sự kiểm soát tỷ giá của NHNN. Điều này thể hiện qua giãn cách khá rộng giữa giá mua vào và bán ra USD trong hệ thống ngân hàng và trên thị trường tự do, cho thấy một mức độ bất trắc đáng kể trong giới đầu tư về một khả năng đảo chiều của tỷ giá như đã thấy sau đợt phá giá hồi tháng 6.

Wednesday, 1 October 2014

Giật mình về con số nợ xấu (Bài đăng trên TBKTSG Online, 2/10, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/120726/No-xau-Co-so-tinh-cua-Moody

Trước tiên, phải nói ngay rằng vì đọc thấy con số nợ xấu 500 nghìn tỷ đồng mà Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mới thừa nhận trong cuộc trả lời chất vấn Ủy ban Thường vụ Quốc hội về nợ xấu nên tác giả đã thử ngồi xem lại các số liệu liên quan và giật mình vì phát hiện ra một nhầm lẫn lớn mà không ai, kể cả tác giả, nhận ra cho đến nay.
Đó là con số ước tính tỷ lệ nợ xấu ít nhất là 15% do hãng xếp hạng tín nhiệm Moody’s đưa ra hôm 18/2. Lưu ý rằng đây là tỷ lệ nợ xấu tính trên tổng tài sản, theo thông báo của Moody’s. Và Moody’s thêm rằng: “(tỷ lệ này) cao hơn nhiều tỷ lệ nợ xấu 4.7% được NHNN báo cáo vào tháng 10/2013”.

Thế nhưng, điều đáng nói là từ trước đến nay, NHNN hình như chỉ báo cáo tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay, chứ chưa bao giờ họ báo cáo tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản như Moody’s nói ở bên trên cả. Điều này có nghĩa là Moody’s đã “nhét chữ” vào miệng của người phát ngôn NHNN!
Và cũng đáng nói là NHNN cũng đã không để ý đến chi tiết về tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản của Moody’s, mà lại phản bác luôn Moody’s trong một thông cáo báo chí hôm 21/2 với ý rằng con số tỷ lệ nợ xấu do NHNN công bố mới là con số “đáng tin cậy và có cơ sở pháp lý hơn”.  Nói cách khác, cả Moody’s và NHNN đã lâm vào tình trạng “ông nói gà, bà nói vịt”!

Điều giật mình thứ hai là quy mô nợ xấu theo ước tính của Moody’s. Nếu tính trên tổng tài sản và với tỷ lệ nợ xấu mà họ ước tính là trên 15% thì con số nợ xấu tuyệt đối của hệ thống ngân hàng Việt Nam phải lên tới 860 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2013 (tổng tài sản của hệ thống ngân hàng Việt Nam theo báo cáo là hơn 5,7 triệu tỷ đồng vào thời điểm này).
Nếu đem con số 860 nghìn tỷ trên chia cho tổng dư nợ cho vay của Việt Nam vào cuối năm 2013 là 3.876 nghìn tỷ đồng (theo số liệu của ADB) thì tỷ lệ nợ xấu của Việt Nam sẽ là trên 22% của tổng dư nợ cho vay, tức còn cao hơn rất nhiều những tỷ lệ nợ xấu mà NHNN công bố/thừa nhận từ trước đến nay (trong thông cáo báo chí ngày 21/2, NHNN cho biết tính thận trọng bao gồm cả nợ xấu được cơ cấu lại cao nhất thì cũng chỉ lên đến 9%).

Quay trở lại với con số nợ xấu 500 nghìn tỷ đồng mà ông Bình mới thừa nhận, bản thân con số này cũng đã là một điều gây giật mình vì từ trước đến nay người ta chưa bao giờ được nghe báo cáo về một khối lượng nợ xấu nào hình như quá 200-300 nghìn tỷ đồng. Tuy có bán tín bán nghi nhưng người ta buộc phải tin những con số nợ xấu “đẹp” hơn do NHNN công bố, để rồi đến nay mới hay thực tế phũ phàng hơn thế nhiều!
Sự giật mình còn chưa dừng ở đó. Tuy con số 500 nghìn tỷ này không rõ là tính đến thời điểm nào, nhưng giả sử là tính đến cuối năm. Dựa theo tổng dư nợ cho vay cuối năm trong các năm 2011-2013 mà ADB có số liệu thì tỷ lệ nợ xấu lần lượt là 16,3%, 13,4%, và 12,9% trong các năm 2011, 2012, và 2013 (tỷ lệ nợ xấu giảm dần vì mẫu số là tổng dư nợ tăng dần). Kể cả tính đến thời điểm nửa năm 2014 với tổng dư nợ tăng thêm 4% thì tỷ lệ nợ xấu vẫn phải là 12,4%. Tất cả những mức này vượt khá xa con số tỷ lệ nợ xấu cao nhất mà NHNN từng thừa nhận (9%) và còn cao hơn thế nữa nếu so với những con số NHNN thường báo cáo là dưới 5% cho đến nay.

Thực tế trên còn có nghĩa là từ trước đến nay NHNN vẫn che giấu nợ xấu, và không hiểu vì lý do nào đó mà con số nợ xấu 500 nghìn tỷ gần sự thật hơn bây giờ mới được tiết lộ. Ở đây, NHNN có một khoảng trống để tự bào chữa bằng cách cung cấp thêm thời điểm của khoản nợ xấu 500 nghìn tỷ này để công luận có thể biết chính xác tỷ lệ nợ xấu thực sự là bao nhiêu, có thể thấp hơn đáng kể những con số mà ta ước tính như trên.
Và cũng từ thực tế về con số nợ xấu làm bao người phải giật mình như trên nên NHNN đã làm sứt mẻ đáng kể uy tín và mức độ tin cậy của mình. Do đó, cho dù Thống đốc có cố gắng làm yên lòng công luận về vấn đề nợ xấu thế nào chăng nữa, sẽ không ít người đặt câu hỏi, liệu đến một ngày đẹp trời nào đó, một con số thực và “khủng” hơn về nợ xấu mới được thừa nhận một lần nữa? Hy vọng rằng nếu có một con số nợ xấu mới thì nó cũng không quá lớn, đến 860 nghìn tỷ đồng như Moody’s ước tính!

Và suy cho cùng, hiện nay nợ xấu đang và đã được xử lý bao nhiêu, như thế nào, bằng công cụ gì v.v... như NHNN đang giải trình nghe rất ... khả quan để làm yên lòng dân chúng thì chỉ có NHNN mới biết, và NHNN nói thế nào thì dân chúng đành biết thế, đành tin thế, chứ có cách gì kiểm chứng được, trừ sự “tự giác” của NHNN?

Diễn đàn kinh tế mùa thu – Chắp vá một bức tranh

Có lẽ cũng không bất ngờ khi Diễn đàn kinh tế mùa thu năm nay vẫn tiếp tục vẽ ra một bức tranh chắp vá, vụn vặt về nền kinh tế khi mà mỗi diễn giả hay đại biểu tham gia đều có xuất phát điểm chuyên môn trong một mảng nào đó của nền kinh tế nên thường mang đến hội thảo những ý kiến về mảng đó, với nhiều ý kiến trùng lặp, không có gì mới, chỉ như kiểu tổng hợp lại những gì đã biết mà thiếu đi yếu tố “giá trị gia tăng” mà công luận chờ đón. Và chưa kể là nhiều ý kiến mang nặng cảm tính, không rõ ràng, nhất quán, thiếu tính học thuật và chiều sâu kiến thức. Bởi vậy, có lẽ cũng không lạ khi báo chí buộc phải chắt lọc trong những lời phát biểu tại hội nghị để trích ra được một hai từ nào đó mà dường như theo họ là đắt giá nhất để giật “tít” cho các bài tường thuật tại diễn đàn nhằm thu hút người đọc mà đến khi đọc thì chắc không ít người đọc phải thất vọng vì nội dung nghèo nàn của chúng.

Về chủ đề tái cơ cấu
Có đại biểu cho rằng tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế diễn ra rất chậm, kết quả thực tiễn không nhiều và không cơ bản, và câu hỏi được đại biểu đặt ra rằng chậm vì cách làm đúng mà chưa chịu làm hay sai nên làm mãi không được? Tự trả lời câu hỏi này, đại biểu này cho rằng có nguyên nhân khách quan đây là việc quá trọng đại, nhưng ý kiến trái nhau cũng nhiều, thậm chí có ý kiến “chọc ngoáy”. Còn lý do chủ quan là do đánh giá thấp nguy cơ. Bên cạnh đó còn có lý do không “đánh” đúng nguyên nhân, dẫn tới không có đề án khả thi, giải pháp hữu hiệu.

3 nguyên nhân chính, theo đại biểu này, là do (i) duy trì mô hình tăng trưởng bị lệch, dựa vào vốn “dễ” đánh đổi lạm phát nên đã trói doanh nghiệp trong nước, lúc nào cũng phải đương đầu với lãi suất cao, giúp cho doanh nghiệp nước ngoài chả cần nỗ lực cũng vượt xa doanh nghiệp nội; (ii) cơ chế cạnh tranh yếu, gây méo mó giả cả đưa ra tín hiệu sai, hay nói cách khác là chưa thay đổi cơ chế cạnh tranh, chưa xác lập giá thị trường cho các loại giá cơ bản; và (iii) định hướng xã hội chủ nghĩa trong cơ chế thị trường chưa rõ, xin - cho vẫn được duy trì và can thiệp bằng hành chính  vẫn được ưa thích. Đặc biệt là bộ máy vẫn duy trì cơ chế trách nhiệm tập thể, mà kinh tế thị trường là cơ chế trách nhiệm cá nhân. Để xoay chuyển tình hình, cần gắn trách nhiệm cá nhân với từng công việc cụ thể.
Về những phát biểu trên, có thể thấy rằng câu hỏi mà đại biểu này nêu ra đã không được (tự) trả lời thỏa đáng, cụ thể không làm rõ được là tái cơ cấu kinh tế chậm là do cách làm đúng hay sai, đã chịu làm hay chưa chịu làm. Việc có nhiều ý kiến “chọc ngoáy” là chuyện đương nhiên trước bất cứ một chính sách (lớn) nào của quốc gia, nhất là khi chưa có một nhận thức chung rộng rãi trong xã hội. Ý kiến “chọc ngoáy” không thể bị đổ lỗi là nguyên nhân làm chậm tái cơ cấu kinh tế khi nó có thể coi là ý kiến phản biện và không ít khi là đúng, có giá trị tham khảo. Nói cách khác, tái cơ cấu nếu nhanh chỉ vì không có ý kiến “chọc ngoáy” thì chỉ là chuyện hoặc là tưởng tượng, hoặc chỉ có trong xã hội độc tài tuyệt đối, và nhanh trong những trường hợp như thế này không phải là điều đáng mừng.

Chuyện đánh giá thấp nguy cơ cũng không liên quan gì đến tiến trình cải cách kinh tế (chậm chạp), trừ khi những người có trách nhiệm trước đó có đặt ra một mục tiêu tham vọng nào đó chẳng hạn như phải hoàn thành tái cơ cấu kinh tế trong vòng 3 năm, bất chấp thực tế là tái cơ cấu là việc rất khó khăn, phức tạp, tốn thời gian (nhiều hơn 3 năm). Mà hình như là cho đến nay các cơ quan hữu quan chưa hề đưa ra một lộ trình rõ ràng với những mốc thời gian cụ thể để hoàn thành tái cơ cấu. Bởi thế, việc quy cho tái cơ cấu chậm là do đánh giá thấp nguy cơ là không thỏa đáng.
Về 3 nguyên nhân chính nêu trên. Dựa vào mô hình tăng trưởng kinh tế bị “lệch”, dựa vào vốn “dễ”, tức là chính sách tiền tệ nới lỏng, để tăng trưởng đương nhiên sẽ dẫn đến lạm phát cao nếu nới lỏng quá mức và quá lâu, làm doanh nghiệp phải đối mặt với lãi suất cao. Nhưng lãi suất cao chỉ đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt Nam đánh mất tính cạnh tranh so với doanh nghiệp nước ngoài khi mà chính sách tỷ giá cứng nhắc, không chịu nới lỏng tỷ giá một cách tương ứng với mức lạm phát nên làm cho VND lên giá thực, ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Bởi vậy, nếu muốn nói đến cái sự “lệch” ở đây thì chỉ có thể nói rằng chính sách tỷ giá đã “lệch” (pha) với chính sách tiền tệ (nới lỏng), và chỉ thế thôi, chứ không thể khái quát chung thành “mô hình tăng trưởng lệch” được.

Lập luận về cơ chế cạnh tranh yếu, gây méo mó giả cả đưa ra tín hiệu sai, hay nói cách khác là chưa thay đổi cơ chế cạnh tranh, chưa xác lập giá thị trường cho các loại giá cơ bản thì trên cơ bản là đúng với thực trạng ở Việt Nam. Nhưng tự thân điều này lại không cho biết gì mấy về chuyện tiến trình tái cơ cấu kinh tế cả, như đề cập bên trên. Ngược lại, cơ chế cạnh tranh yếu mới chính là đối tượng và mục tiêu của tái cơ cấu kinh tế.
Chuyện về định hướng xã hội chủ nghĩa trong cơ chế thị trường chưa rõ, xin - cho vẫn được duy trì và can thiệp bằng hành chính vẫn được ưa thích cũng không phải là nguyên nhân thỏa đáng giải thích tại sao tái cơ cấu lại chậm. Định hướng xã hội chủ nghĩa thì đương nhiên đi kèm với cơ chế “trình và duyệt”, tức nghĩa đen là xin – cho, (kèm với) can thiệp hành chính, để sao cho việc phân bổ nguồn lực đúng với sách lược và ý đồ của các nhà làm chính sách. Nói cách khác, chừng nào Việt Nam vẫn còn theo đuổi định hướng xã hội chủ nghĩa thì chừng đó cơ chế thị trường vẫn “chưa rõ”, và tái cơ cấu kinh tế đã và sẽ phải được thiết kế theo thực tế này. Do đó, điều chỉ có thể nói được ở đây là tái cơ cấu kinh tế đã không được thiết kế đúng, phù hợp theo định hướng này nên tất nhiên là sẽ chậm chạp, không đúng kỳ vọng của nhà hoạch định chính sách.

Cũng tương tự vậy là chuyện trách nhiệm tập thể (tức chẳng ai chịu trách nhiệm) với tái cơ cấu. Cần hiểu rằng chuyện trách nhiệm tập thể là thuộc về bản chất của cơ chế (chính trị, kinh tế, xã hội) hiện tại được xây dựng ra và hoạt động trên nguyên tắc này. Bởi vậy, cũng giống như với định hướng xã hội chủ nghĩa, tái cơ cấu phải được thiết kế và hoạt động trên nguyên tắc này (trách nhiệm tập thể), chứ không phải quy cho việc chậm tái cơ cấu là do trách nhiệm tập thể. Nếu muốn khai thông, chỉ còn cách là thay đổi tận gốc rễ của vấn đề và thiết kế lại quy trình và mục tiêu của tái cơ cấu.
Một đại biểu khác thì nêu ý kiến về xây dựng thể chế kinh tế thị trường hiện đại, nhấn mạnh vai trò của xã hội dân sự trong xây dựng kinh tế thị trường. Đi xa hơn, đại biểu này còn nhấn mạnh đến 3 trụ cột của thể chế kinh tế thị trường là thị trường, nhà nước và xã hội dân sự để buộc các ngành và doanh nghiệp tái cấu trúc để tồn tại. Nhưng cũng lại giống như luồng ý kiến nêu bên trên, ý kiến này cũng chỉ động chạm đến phần ngọn của vấn đề. Chừng nào mà thể chế hiện tại vẫn tồn tại và không (muốn) thay đổi thì mọi chiến lược và giải pháp chính sách phải được thiết kế trên cái nền móng quy định đó. Nói cách khác, không thể kỳ vọng mọi sự sẽ hanh thông với quả ngọt nếu cấy ghép tùm lum thân và cành của một giống khác vào gốc rễ của một cái cây nào đó.

Về chủ đề ngân hàng và nợ xấu
Có đại biểu nêu rằng tốc độ xử lý nợ xấu chậm hơn quá trình phát sinh nợ xấu là cực kỳ đáng báo động. Về ý kiến này, cần hiểu rằng một trong những lý do chính để nợ xấu phát sinh nhanh hơn nợ xấu xử lý được là vì cơ chế phân loại và cho phép trì hoãn phân loại nợ xấu trong một thời gian và “thả” ra sau đó, làm cho nợ xấu tăng mạnh kể từ tháng 6. Do đó, nếu so sánh việc xử lý nợ xấu với nợ xấu mới được báo cáo trong thời điểm hiện tại thì đương nhiên nợ xấu phát sinh là lớn hơn nợ đã được xử lý, chứ không phải là nợ xấu đột nhiên tăng lên do một nguyên nhân kinh tế nào đó. Nói cách khác, nợ xấu (cao) đã tồn tại từ trước rồi và gần đây mới lộ ra, nên có đáng báo động thì đã phải báo động từ lâu rồi.
Một đại biểu khác trong diễn đàn cho rằng cho rằng các nước trong khu vực đi vay 40 - 50 tỷ USD về xử nợ xấu, còn ta chả có tỷ nào. Về lãi suất, ông này nói hiện nay lãi suất của Việt Nam vào hàng cao nhất thế giới, lãi suất cơ bản là 9%, còn lãi suất cho vay 10 đến 13% trong khi lãi suất ở châu Âu là âm, ở Nhật và Mỹ đều là 0, rồi kết luận với lãi suất cao như thế thì doanh nghiệp làm gì cũng “chết”, không thể cạnh tranh được. Phản biện lại ý kiến của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) rằng lãi suất đã hợp lý, ông này bình luận rằng trước đây lãi suất 18% hay cao hơn nhưng vẫn là thấp là bởi vì so với lạm phát là âm, còn hiện nay lãi suất 6% nhưng vẫn cao là vì lạm phát có 2%.

Về những ý kiến này có thể nói luôn chúng vừa không chính xác, vừa phiến diện. Sự không chính xác thể hiện ở những con số nêu ra. Không rõ “các nước trong khu vực” là nước nào mà đi vay (vay ai? – người viết) tới 40-50 tỷ USD (trong thời gian nào? – NV). Lãi suất (cho vay) ở châu Âu, Mỹ, Nhật là âm hoặc 0 cũng là không có cơ sở, không chính xác nốt. Trong khi đó, không hiểu con số lạm phát 2% đại biểu này lấy ở đâu ra, tại thời điểm nào? Phiến diện vì tại sao cứ phải nhất thiết đi vay (hàng tỷ USD) để xử lý nợ xấu? Và, như đã nói ở trên, lãi suất ở Việt Nam cao làm doanh nghiệp “chết” chỉ vì chính sách tỷ giá cứng nhắc, chứ không phải vì bản thân lãi suất (danh nghĩa) cao.
Một luồng ý kiến chung khác trong diễn đàn là triển vọng của nền kinh tế sẽ phụ thuộc vào xử lý nợ xấu và nếu không xử lý được nợ xấu thì nền kinh tế khó có thể tăng trưởng được. Về ý này cũng có thể nói luôn là rất cảm tính, và rất... nhàm. Như đã thấy, nền kinh tế vẫn tăng trưởng đến 5,6% trong 9 tháng và còn có khả năng đạt được trên thế cho cả năm nay, trong khi xử lý nợ xấu thì dường như vẫn dẫm chân tại chỗ, với lượng nợ xấu thậm chí còn tăng lên. Nên nếu có muốn cảnh báo về nguy cơ nợ xấu thì phải cảnh báo từ một góc độ khác, chứ không phải là từ góc độ tăng trưởng như thế này.

Trong diễn đàn còn có những bài phát biểu khác có thể xem như khá lạc với chủ đề chính của diễn đàn là tái cơ cấu, ví dụ như những nghiên cứu về áp lực lạm phát của chính sách tài khóa và tiền tệ, và hậu quả của việc can thiệp vào tổng cầu.
Tóm lại, Diễn đàn kinh tế  mùa thu lần này đã không đưa ra được một thông điệp mạnh mẽ, nhất quán, và có giá trị (cả về học thuật và thực tiễn) về tái cơ cấu kinh tế nói riêng và một bức tranh khái quát về nền kinh tế nói chung. Nếu cố gắng tìm một điểm tích cực trong diễn đàn thì đó có thể là ngầm ý (nếu có) về sự thay đổi cơ sở hạ tầng thể chế để hướng tới một xã hội dân sự và một nền kinh tế thị trường (hiện đại).

Sunday, 28 September 2014

Nên chọn kênh đầu tư nào? (Bài đăng trên TBKTSG, 25/9, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/120459/5-nguyen-tac-de-chon-kenh-dau-tu.html

Có lẽ câu hỏi này không bao giờ là cũ với đại bộ phận người có tài sản đầu tư, bởi tài sản của người ta cũng thăng trầm theo thời gian, trong khi thị trường các loại tài sản thì luôn biến động làm cho danh mục đầu tư của một người nào đó thoạt đầu có thể là lý tưởng nhưng rốt cuộc lại trở nên lỗi thời trước diễn biến mới trên thị trường của các loại tài sản.
Vì mục đích đầu tư, mức độ chấp nhận rủi ro, mức độ dấn thân vào các thị trường, khả năng tính toán, khả năng “lỳ đòn” với thị trường, khối lượng tài sản, cơ cấu tài sản, và mục đích chi tiêu tài sản, và cả... vận may v.v... của từng người là khác nhau nên chắc chắn không thể đưa ra một câu trả lời chung nên đầu tư vào đâu cho hiệu quả nhất đối với tất cả mọi người. Bởi vậy, những ai vẫn có thể dõng dạc cho lời khuyên rằng nên đầu tư vào một loại tài sản nào đó, ví dụ, gửi tiết kiệm, là có lợi nhất thì đó là một lời khuyên vô dụng, để đó cho vui mà thôi, thậm chí là nguy hiểm với những người chậm chân, đến muộn.

Nói vậy nhưng không có nghĩa là không có những nguyên tắc đầu tư chung làm cơ sở để từng người cân nhắc và áp dụng xây dựng cho mình một danh mục đầu tư hợp lý nhất trong khả năng của mình.
Nguyên tắc thứ nhất và quan trọng nhất, khoản đầu tư nào mang lại lợi nhuận cao, nhất là trong thời gian ngắn, thì thường là những khoản đầu tư có độ rủi ro cao. Nói cách khác, không có tài sản nào vừa an toàn (tuyệt đối) lại vừa sinh lãi cao cả. Bởi vậy, nếu ai theo đuổi lợi nhuận thì nên đầu tư vào những tài sản có biên độ biến động giá mạnh, như vàng và kim loại quý/kim loại mầu. Tất nhiên là những nhà đầu tư tiềm năng vào những loại tài sản này nên chuẩn bị sẵn tinh thần chịu thua lỗ vài chục phần trăm trong một vài tuần.

Ngược lại, với những người có tinh thần “chắc ăn” thì hầu như chắc chắn đó là khoản gửi tiết kiệm, là khoản đầu tư tuy có mức sinh lời tối thiểu nhưng cũng có tính rủi ro ít hơn (nhưng không phải là không có rủi ro, ví dụ, khi lạm phát có xu hướng tăng nhanh).
Nguyên tắc thứ hai, để tránh tạo thêm rủi ro thì nên đầu tư bằng cùng một loại tài sản giống nguồn thu/huy động. Nên nhớ rằng “tay không” không phải lúc nào cũng “bắt được giặc”. Sẽ là rất rủi ro nếu, chẳng hạn, vay USD bán đi mua tiền đồng rồi gửi tiết kiệm hưởng chênh lệch lãi suất.

Tương tự, để tránh tạo thêm rủi ro thì cũng nên đầu tư vào loại tài sản nào mà rốt cuộc thì người chủ phải dùng loại tài sản đó để chi tiêu hoặc thanh toán, nhất là trong ngắn hạn. Chẳng hạn, nếu có một khoản tài sản đủ để mua một bất động sản nào đó ở Việt Nam (bằng VND) trong nửa năm tới thì có thể cân nhắc đến việc hoán đổi các tài sản của mình ra VND và đem gửi tiết kiệm ngắn hạn. Tất nhiên, về nguyên tắc là vẫn có thể dùng tài sản đó để mua vàng, USD hoặc chứng khoán v.v... rồi bán đi thu về VND trong vòng mấy tháng này, nhưng không ai chắc chắn được lợi nhuận thu được từ những tài sản này lớn hơn lãi gửi tiết kiệm, đó là chưa kể trường hợp “cụt” cả vốn, không mua được nhà nữa do thị trường biến động mạnh.
Nguyên tắc thứ ba, đầu tư vào một loại tài sản nào đó có lời nhiều hay không chỉ mang tính thời điểm, trước khi hành vi đầu tư bầy đàn làm biến mất cơ hội sinh lời đó, chỉ còn lại cơ hội thua lỗ. Ví dụ, cổ phiếu nói chung và cổ phiếu của một doanh nghiệp nào đó có thể mang lại một lợi nhuận trong mơ, nhưng điều này chỉ đúng, chỉ xảy ra trong vòng một giờ, vài giờ, hoặc vài ngày, cho những nhà đầu tư nhanh chân nhất, cả lúc đến và lúc thoát ra. Do đó, đừng nên bắt trước hay hỏi ý kiến người bên cạnh, đặc biệt là các chuyên gia!

Nguyên tắc thứ tư, kỳ hạn có thể đầu tư càng ngắn trong khi nhu cầu phải bảo toàn vốn càng cao (ví dụ, sắp phải trả tiền cho con học ở nước ngoài) thì chỉ nên đầu tư vào những tài sản nào có tính an toàn tương đối nhất (và tất nhiên là mức sinh lời cũng kém nhất). Trong ví dụ về trả tiền học cho con bằng ngoại tệ, nếu từ nay đến lúc phải trả tiền chỉ là một thời gian ngắn, tính bằng tuần, bằng tháng thì có lẽ nên cân nhắc mua ngoại tệ và gửi vào ngân hàng với kỳ hạn ngắn.
Ngược lại, khoản tài sản hiện có có tính nhàn rỗi lâu dài, tính bằng năm, thì kênh đầu tư sẽ đa dạng hơn, và lúc này thì khẩu vị rủi ro và khả năng riêng của từng người sẽ giúp quyết định được nên đầu tư vào đâu cho phù hợp với “tạng” của mình nhất.

Nguyên tắc thứ năm, mức độ, khả năng và thời gian dấn thân, kỹ năng, kinh nghiệm, trình độ phân tích v.v... càng nhiều thì mới nên đa dạng hóa (và luân chuyển thường xuyên) các hạng mục tài sản trong danh mục đầu tư của mình. Nhìn chung, với sự đầu tư kiểu “tay mơ” thì kết quả mang tính may rủi, “được chăng hay chớ” là nhiều hơn. Với những người này, cũng có thể cân nhắc hình thức ủy thác đầu tư cho những quỹ chuyên nghiệp, có uy tín.
Ngoài ra còn một số nguyên tắc khác, nhưng những nguyên tắc trên là những nguyên tắc cơ bản giúp mỗi nhà đầu tư tiềm năng khám phá được mình cần gì, và nên làm gì với khoản tài sản của mình.

Thursday, 25 September 2014

Lại nói thêm về năng suất lao động Việt Nam thấp

Đọc phát biểu của đại diện ILO, ở đây tạm gọi là đồng chí Tây, về lý do năng suất lao động (NSLD) của Việt Nam thấp kém, tớ lại thấy có mấy điều không ổn thế này.

1. Đồng chí Tây nói:
Năng suất lao động thường được định nghĩa là số lượng sản phẩm (GDP) được tạo ra trên một đơn vị người lao động làm việc (hoặc trên mỗi giờ lao động). Theo hướng dẫn về đo lường năng suất của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế), năng suất lao động dựa trên giá trị gia tăng là thông số phổ biến nhất để tính toán năng suất lao động.

Năng suất lao động dựa trên giá trị gia tăng là một chỉ số gián tiếp tốt thể hiện mức độ phát triển của nền kinh tế của một quốc gia. Khi phân tích các thị trường lao động, chỉ số này thường được ưa chuộng hơn chỉ số về GDP trên đầu người (GDP trên đầu người được tính bằng tổng GDP chia cho tổng dân số, bao gồm cả trẻ em và người hưởng lương hưu).


Năng suất lao động là một thông số quan trọng làm cơ sở để xác định mức lương. Báo cáo mới đây của ILO/ADB về Cộng đồng ASEAN 2015 cho thấy những quốc gia có năng suất lao động cao thường có mức lương cao hơn.
Tớ bình luận: Vậy thì ILO dùng chỉ tiêu đo lường nào ở đây? Sao không nói rõ luôn là ILO dùng GDP/người, hay giá trị gia tăng/người, hay tiền lương/người? Báo cáo mình làm ra mà không biết, không nói rõ luôn ra được là mình dùng chỉ tiêu gì là cớ gì vậy?
Nếu là giá trị gia tăng/người hoặc tiền lương/người thì ILO moi ở đâu ra những số liệu này?

2. Đồng chí Tây viết:
Không, không thể đánh giá năng suất lao động thông qua trực quan như vậy. Năng suất lao động của một quốc gia hầu như không thể phản ánh mức độ chuyên cần và khả năng của người lao động của quốc gia đó. Năng suất lao động tổng cũng không cho thấy được sự khác nhau về năng suất lao động giữa các ngành, nghề và đặc biệt là các nhóm doanh nghiệp.

Năng suất lao động của một quốc gia trước hết phụ thuộc vào mức độ hiệu quả sử dụng lao động kết hợp với các yếu tố sản xuất khác, như máy móc và công nghệ, và lượng máy móc và công nghệ mà một người lao động của quốc gia đó được sử dụng. Bởi vậy, nếu từ các thống kê năng suất lao động mà kết luận rằng người lao động ở Malaysia hoặc Singapore có thể tạo ra một sản phẩm cụ thể nào đó nhanh hơn người lao động ở Việt Nam là không đúng.


Tớ bình luận: Như tớ đã comment trong entry trước về NSLD rằng sử dụng thước đo NSLD kiểu này (GDP/người, tiền lương/người, hoặc giá trị gia tăng/người) là chẳng có ý nghĩa gì (tức vô dụng). Nay qua lời thừa nhận của ILO thì cũng thấy rằng chỉ tiêu NSLD của họ tính ra cũng chẳng dùng để so sánh được đúng nghĩa NSLD (sản lượng sản phẩm bình quân/người) giữa các quốc gia, thậm chí là giữa các ngành trong cùng một quốc gia, tức cũng có nghĩa là vô dung. Vậy thì ILO còn đưa ra những cái thứ vớ vẩn thế này để làm gì và Việt Nam sao phải phí công tranh luận chuyện vớ vẩn này làm gì (nói thêm dưới đây) nữa, như chuyện đồng chí GS Ohno Nhật dạo nào tự nhiên quăng ra cái chuyện bẫy thu nhập trung bình dọa Việt Nam vãi cả... ra.

Và cũng từ 2 phần trả lời trên của đồng chí Tây mới thấy lạ là tất cả mọi người, kể cả đồng chí Tây này, không hề (hay cố tình không?) nhận ra rằng NSLD đo bằng những thước đo ất ơ như thế thì đương nhiên sẽ cho những kết quả "khủng" như thế, và nguồn gốc của vấn đề là ở cái thước đo đấy chứ đâu phải ở những chuyện đao to búa lớn như nào là chuyển dịch kinh tế, gia nhập AEC, cải thiện chất lượng giáo dục, đào tạo v.v...

3. Góc nhìn của tớ
Khi tớ đọc những cái tin về những chuyện này, tớ hình dung ngay đâu là gốc rễ của vấn đề, như tớ đã nói ở trên. (Giả sử tớ đã nghĩ đúng nhé) tớ tưởng rằng trừ những người bình thường thì thôi không nói làm gì, những người khác, đặc biệt là các đồng chí giáo sư tiến sĩ ở Việt Nam sẽ nhanh chóng hiểu ra vấn đề như tớ (vì không có gì là khó hiểu, rắc rối, cao siêu cả).

Hóa ra không phải vậy! Đến ngay những giáo sư với tiến sĩ ở Việt Nam cũng sôi sục lên đi tìm lời giải, rồi thậm chí có đồng chí lại còn đi chất vấn Sam Sung để hỏi xem công nhân Việt Nam có năng lực không, có lười không v.v... Tóm lại là cả xã hội đã mất rất nhiều thời gian, công sức để "xử lý" một thông tin mà suy cho cùng là rất vớ vẩn, mang tên NSLD của ILO.

Và từ đây, tớ phải tự khen tớ một phát nữa rằng nhận xét của tớ về chuyện thiếu những cái đầu biết nghĩ ở Việt Nam là không sai một tẹo nào cả! Các đồng chí bạn đọc nào có tức tớ ở chỗ này thì lại phải suy nghĩ 2 lần trước khi phang tớ đấy nhé!

Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia: Lợi kép (Bài đăng trên DNSG Online, 25/9, tiêu đề do báo đặt lại)

http://www.doanhnhansaigon.vn/online/dien-dan-doanh-nhan/thoi-su/2014/09/1083886/cai-thien-xep-hang-tin-nhiem-quoc-gia-loi-kep/

Mức độ xếp hạng tín nhiệm quốc gia do các hãng xếp hạng tín nhiệm quốc tế như Moody’s, Standards and Poors và Fitch đánh giá, cho biết mức độ rủi ro của môi trường đầu tư của các nước và xác suất tương đối một nước “con nợ” nào đó sẽ mất khả năng trả nợ.

Không chỉ với Việt Nam mà còn với hầu hết các nước trên thế giới, mức độ xếp hạng tín nhiệm quốc gia đóng vai trò rất quan trọng. Điều này là do đa phần các nước đang và sẽ phải đi vay mượn trên thị trường trái phiếu quốc tế, và do đó cần phải được đánh giá tín nhiệm để làm cơ sở cho các chủ nợ xác định lợi suất trái phiếu mà các nước này phát hành.

Mức độ xếp hạng tín nhiệm quốc gia - do các hãng xếp hạng tín nhiệm quốc tế như Moody’s, Standards and Poors và Fitch đánh giá - đóng vai trò quan trọng, không chỉ với Việt Nam mà còn với hầu hết các nước trên thế giới


Xếp hạng tín nhiệm quốc gia của một nước nào đó còn quan trọng bởi ngoài chính phủ nước đó ra thì các doanh nghiệp đóng tại nước đó cũng phải đi vay mượn trên thị trường vốn quốc tế, và do đó xếp hạng tín nhiệm quốc gia của nước đó cũng sẽ gây ảnh hưởng lên xếp hạng tín nhiệm của từng doanh nghiệp đi vay này. Cụ thể hơn, các hãng xếp hạng tín dụng hiếm khi đánh giá tín nhiệm một chính quyền địa phương hay một doanh nghiệp nào đó bằng hoặc cao hơn tín nhiệm quốc gia của nước đó.

Bên cạnh lợi suất, xếp hạng tín nhiệm quốc gia, và, xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp còn quyết định mức lãi suất, địa chỉ được vay cho từng loại doanh nghiệp. Chẳng hạn, với ngân hàng thương mại ở EU muốn đi vay Ngân hàng Trung ương EU là ECB một khoản tiền nào đó, thì ECB sẽ dựa trên xếp hạng tín nhiệm của ngân hàng thương mại đó để quyết định lượng trái phiếu chính phủ ngân hàng thương mại này phải thế chấp tại ECB.

Ngược lại, một số doanh nghiệp, định chế ở một quốc gia có thể bị chi phối bởi những chế tài trong nước đó, như chỉ được đầu tư và/hoặc nắm giữ những trái phiếu và giấy tờ có giá có hạng tín nhiệm vượt trên một ngưỡng xác định. Do đó, nếu xếp hạng tín nhiệm quốc gia của một nước, và xếp hạng tín nhiệm của các doanh nghiệp nước đó bị đánh tụt xuống một ngưỡng xác định thì một số tổ chức đầu tư sẽ không (được) mua trái phiếu của quốc gia và doanh nghiệp nước đó.

Quan trọng không kém là xếp hạng tín nhiệm quốc gia còn được dùng để hấp dẫn FDI. Để kêu gọi đầu tư nước ngoài, nhiều quốc gia đã chủ động yêu cầu các hãng xếp hạng tín nhiệm quốc tế đánh giá tín nhiệm cho mình để cho nhà đầu tư tiềm năng thấy mức độ minh bạch hóa tài chính cũng như mức độ đáng tin cậy của môi trường đầu tư của mình.

Để đánh giá tín nhiệm, các hãng xếp hạng tín nhiệm thường dựa trên nhiều chỉ tiêu chính trị, xã hội và kinh tế. Các chỉ tiêu này thường là thu nhập bình quân đầu người, tăng trưởng GDP, lạm phát, cân đối ngân sách, cán cân đối ngoại, nợ nước ngoài, trình độ phát triển của nền kinh tế, lịch sử vỡ nợ, và cả những thông tin không công bố mà các hãng xếp hạng có được.

Nhìn chung, các hãng xếp hạng tín nhiệm có những phương pháp phân tích và lý giải khác nhau, do đó có nhiều trường hợp có chênh lệch trong xếp hạng tín nhiệm của cùng một nước nhưng do các hãng xếp hạng tín nhiệm khác nhau đánh giá.

Trong trường hợp Việt Nam, Moody’s mới đây đã nâng hạng tín nhiệm quốc gia lên một nấc ở mức B1 (tuy vẫn ở dưới mức đầu tư 4 nấc, và là mức có rủi ro cao), còn Fitch thì cho biết ý định nâng hạng tín nhiệm của Việt Nam lên BB- (3 nấc dưới mức đầu tư) trên cơ sở cải thiện về cán cân đối ngoại và nền tảng kinh tế nói chung trong thời gian 12 đến 18 tháng tới. Trong khi đó thì Standards and Poors chưa có động tĩnh gì, tuy xếp hạng của họ dành cho Việt Nam đã ở mức BB-.

Nếu tình hình kinh tế vẫn tiếp tục có những cải thiện về nền tảng kinh tế vĩ mô trong thời gian tới thì rất có thể Fitch và thậm chí là cả Standards and Poors sẽ có những động thái nâng hạng tín nhiệm của Việt Nam.

Như đã nói ở trên, sự cải thiện về xếp hạng tín nhiệm này sẽ đem lại nhiều kết quả tích cực cho Chính phủ Việt Nam nói chung và doanh nghiệp Việt Nam nói riêng, thể hiện ở lợi suất trái phiếu do chính phủ hoặc doanh nghiệp Việt Nam phát hành sẽ giảm đi (tức chi phí đi vay sẽ giảm đi), nhu cầu nắm giữ trái phiếu do chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam phát hành của nhà đầu tư cả trong và ngoài nước sẽ tăng lên.
Mặt khác, Việt Nam sẽ trở nên hấp dẫn hơn nữa với tư cách là điểm đến cho dòng vốn FDI khi môi trường đầu tư đã được cải thiện một bậc qua cái nhìn của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế.
Do đó, điều quan trọng là Việt Nam phải tiếp tục tích cực duy trì và cải thiện những yếu tố mà các hãng xếp hạng tín nhiệm đã lấy làm căn cứ cho các hành động đánh giá của mình với Việt Nam, mà cụ thể là cán cân đối ngoại (ở thế thặng dư nhờ tăng xuất khẩu những mặt hàng có giá trị cao, thâm dụng vốn, thay vì hàng hóa nguyên liệu thô), lạm phát được kiểm soát và ổn định trong thời gian gần 2 năm qua, tăng trưởng GDP tuy có giảm đi so với trước nhưng vẫn ở mức khá nếu so với những quốc gia đối chứng khác, môi trường hoạt động của hệ thống ngân hàng đã ổn định trở lại làm giảm khả năng phải cứu trợ từ ngân sách trên quy mô lớn v.v... để từ đó hy vọng sự cải thiện về xếp hạng tín nhiệm sẽ đến sớm hơn.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2014, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam" forthcoming in "Emerging Markets Finance and Trade".

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).