Friday, 17 April 2015

Cải cách hành chính - cắt giảm thôi chưa đủ (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, 18/4/2015)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=346930

Chính phủ đang chủ trương đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thông qua rà soát, cắt giảm, bãi bỏ, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian nộp thuế, thông quan... Đây là một chủ trương hết sức cần thiết vì thủ tục hành chính đã và đang là một trong những trở ngại và phiền hà lớn nhất cho các doanh nghiệp ở Việt Nam.
Đứng đầu bảng trong danh sách các thủ tục hành chính bị doanh nghiệp phàn nàn nhiều nhất là thủ tục thuế, tiếp theo là đất đai, tài nguyên môi trường, cấp giấy chứng nhận kinh doanh, chứng nhận đầu tư, bảo hiểm xã hội, xây dựng, giao thông vận tải, hải quan... Chỉ riêng với thời gian cần thiết để hoàn thành thủ tục nộp thuế đã ngốn mất của doanh nghiệp tới 872 giờ/năm, đứng vào hàng cao nhất thế giới với thứ hạng 171/189 quốc gia. Bên cạnh thời gian tiêu phí, doanh nghiệp còn phải tốn chi phí nhiều hơn so với các nước trong khu vực trong những việc cụ thể như đấu nối điện, làm thủ tục phá sản...

Nhận thức rõ được những rào cản lớn cho phát triển kinh tế này, Chính phủ đã đề ra mục tiêu cụ thể là trong năm 2015, môi trường kinh doanh của Việt Nam phải ngang bằng mức trung bình của các nước ASEAN - 6.

Cần phải nói ngay đây là mục tiêu rất tham vọng, vì để có được môi trường kinh doanh ngang bằng với ASEAN - 6 thì chỉ riêng trong lĩnh vực thuế, Việt Nam phải cắt giảm số giờ nộp thuế từ 872 giờ xuống chỉ còn 171 giờ/năm, và quá trình cắt giảm này chỉ được phép diễn ra trong năm nay.

Tạm không bàn đến tính thực tiễn của tham vọng cải cách thủ tục hành chính như trên của Chính phủ, việc đưa ra và phấn đấu hoàn thành những mục tiêu định lượng như trên không thôi dường như là chưa đủ. Sự gây phiền hà, nhũng nhiễu, thói làm ăn tắc trách, vô trách nhiệm, trình độ yếu kém, bất cập của đội ngũ cán bộ liên đới nhiều khi mới là những rào cản lớn và nguồn gốc gây tổn thất cho doanh nghiệp. Tất cả đều xuất phát từ tình trạng không minh bạch, rõ ràng của luật lệ và sự giám sát chất lượng hoạt động còn yếu kém trong hệ thống cơ quan công quyền.

Xin được minh họa vấn đề trên bằng những ví dụ cụ thể: một doanh nhân, có ý định mua một căn nhà ở Hà Nội để làm trụ sở kinh doanh cho công ty mới của mình. Vì bận rộn và không muốn vướng vào phiền hà khi làm thủ tục mua bán bất động sản, anh có ý định để vợ đứng tên một mình trong giao dịch mua bán này. Do đang đi công tác ở Huế, anh ra UBND của một phường ở Huế để làm giấy cam đoan rằng việc mua bán này hoàn toàn là của vợ anh, từ tài sản riêng có của vợ anh, vợ anh chịu hoàn toàn trách nhiệm và anh sẽ không có can thiệp hay tranh chấp gì với vợ anh sau này về căn nhà đó. Nội dung giấy cam đoan này thực ra là do UBND phường hướng dẫn làm và họ đã chứng nhận vào đó. Nhưng tiếc là việc mua bán căn nhà trên không thành nên Giấy cam đoan trên mất hiệu lực.

Một tuần sau, anh tìm được một căn nhà khác ưng ý và tiếp tục muốn để vợ anh đứng tên một mình. Do lại đang ở Sài Gòn, anh lần lượt ra hết phòng công chứng này đến UBND phường kia (theo chỉ dẫn của họ) để đề nghị chứng thực vào Giấy cam đoan tương tự như trên của anh. Nhưng không nơi nào chấp nhận chứng thực cho anh với lý do nào là họ không có chức năng chứng thực chữ ký, nào là bất động sản này là tài sản hình thành trong tương lai nên họ không thể chứng thực được... Anh “vặn” là tại sao cùng một nội dung đó mà nơi làm được, nơi không thì nhận được câu trả lời rằng thế thì về nơi đã chứng thực lần trước mà làm! Sau này, anh phải bay ra và đến một phòng công chứng ở Hà Nội để nhờ người hướng dẫn cụ thể lời cam đoan theo mẫu họ soạn giúp và mang sang Đại sứ quán Việt Nam tại một nước mà anh đi công tác qua để lấy chứng thực chữ ký rồi vợ anh mang đến phòng công chứng nọ để hoàn thành thủ tục mua bán sang tên tài sản.

Một sự việc khá đơn giản như trên nhưng tưởng chừng đã bị ách tắc bởi sự thiếu hiểu biết hoặc không nhất quán ngay trong phạm vi công việc chuyên môn của những cán bộ công quyền hay trong hệ thống hành chính, và chỉ được giải quyết nhờ mối quan hệ quen biết kèm theo bao nhiêu phiền toái và tốn kém. Bởi vậy, song song với việc cắt giảm, đơn giản hóa các thủ tục thì điều không kém quan trọng là phải minh bạch hóa, chuẩn mực hóa các thủ tục và giấy tờ cần thiết để giảm thiểu phiền hà và tốn kém cho dân chúng và doanh nghiệp, cũng là để giảm thiểu cơ hội nhũng nhiễu, hối lộ của các nhân viên công lực liên đới.

Cũng liên quan đến chuyện minh bạch và chuẩn mực hóa thủ tục và giấy tờ là một ví dụ thực tế khác về việc thành lập doanh nghiệp ở Singapore. Để thành lập một doanh nghiệp ở Singapore, các điều kiện, thủ tục giấy tờ và lệ phí được quy định rõ ràng trên website của chính quyền. Điều đáng nói là hầu như mọi bước đi và thủ tục đều có thể thực hiện trực tuyến (online) mà không cần người chủ doanh nghiệp phải đến tận cửa cơ quan công quyền để xin xỏ. Mọi việc sẽ hoàn tất trong một vài cái nhấp chuột, và người xin hay cho (cơ quan phê duyệt) đều không cần/ không có cơ hội gặp nhau mặt đối mặt nên cũng sẽ chẳng có chuyện hiểu nhầm, phiền hà, hay nhũng nhiễu.

Tất nhiên, để làm được như nước người ta là không dễ, vì phải thay đổi và nâng cấp toàn bộ hệ thống cứngmềm, đào tạo lại nhân sự, giám sát chặt chẽ chất lượng hoạt động... Nhưng đây cũng chính là việc Việt Nam phải làm, phải phấn đấu làm, chứ không phải chỉ đơn thuần chăm chăm xem thủ tục nào cần cắt bỏ và đếm xem cắt bỏ được bao nhiêu giờ tương ứng với việc bãi bỏ thủ tục đó.

Wednesday, 15 April 2015

'Ngày phán xét' cho công nghiệp ôtô Việt Nam (Bài đăng trên VnExpress, 15/4/2015, bản gốc, tiêu đề do báo đặt lại)

http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/ngay-phan-xet-cho-cong-nghiep-oto-viet-nam-3187760.html

Tương lai ô tô Việt Nam đi về đâu?

3-4 năm tới đây là thời điểm mà Việt Nam phải thực hiện đầy đủ hầu hết các cam kết cắt giảm tối đa thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc và linh kiện, phụ tùng ô tô từ khu vực và thế giới. Những cam kết này không chỉ nằm trong khuôn khổ WTO mà Việt Nam gia nhập từ năm 2007, mà còn nằm trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), ASEAN-Trung Quốc, và ASEAN-Hàn Quốc, cũng như các cam kết đa phương mới sau này (ví dụ, TPP).
Các cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu ô tô và linh kiện của Việt Nam trong khuôn khổ WTO có phần khá “nhẹ nhàng” và có lộ trình giảm dần, xuống 70%, 50% và 47% trong khoảng thời gian từ 7 đến 12 năm kể từ năm gia nhập 2007. Trong khi đó, các cam kết trong khuôn khổ ASEAN và ASEAN-Hàn Quốc hay ASEAN-Trung Quốc lại diễn ra nhanh và mạnh hơn (ví dụ, với ô tô chở người nguyên chiếc, thuế suất giảm còn 60% năm 2013, nhưng xuống 0% năm 2018).

Với mức thuế cắt giảm lớn như vậy, có thể nói giai đoạn 2018-19 là giai đoạn quyết định số phận của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, bởi đến lúc đó các doanh nghiệp ô tô nội địa, kể cả các doanh nghiệp FDI và liên doanh, không còn tấm bùa hộ mạng là hàng rào bảo hộ thuế quan cao ngất ngưởng như trước đây được nữa. Chưa kể, những biện pháp bảo hộ phi thuế quan như quy định tỷ trọng nội địa hóa bắt buộc, lĩnh vực hạn chế đầu tư nước ngoài (ví dụ, dịch vụ bán hàng hậu mãi, tài trợ, bảo hiểm ô tô), hay sự phân biệt đối xử giữa ô tô và phụ tùng nhập khẩu với hàng sản xuất trong nước... đã bị bãi bỏ, mất hiệu lực trên nguyên tắc từ nhiều năm nay.
Trong bối cảnh “ngày phán xét” không còn xa, tương lai ngành ô tô Việt Nam xem ra không mấy khả quan khi đã đánh mất cơ hội tận dụng thời gian để vươn lên dưới bức màn bảo hộ thuế quan và phi thuế quan chắc chắn trong những năm trước đây. Một số nhà sản xuất ô tô ở Việt Nam như Toyota Việt Nam hay Vinastar đang phải cân nhắc có nên ngừng sản xuất để chuyển sang nhập khẩu ô tô về phân phối ở Việt Nam với lý do nhập khẩu còn rẻ hơn là nhập linh kiện về lắp ráp trong nước.

Tuy vậy, công bằng mà nói, khó có thể đổ lỗi cho sự thất bại của ngành công nghiệp ô tô nội địa của Việt Nam hoàn toàn cho một bên nào đó trong số các bên liên quan như nhà sản xuất, nhà nhập khẩu/phân phối, chính phủ, hay thị trường tiêu thụ/người tiêu dùng nội địa. Chẳng hạn, với nhà sản xuất, nhất là doanh nghiệp nước ngoài, không thể phê phán họ đã không tích cực đầu tư vào công nghiệp phụ trợ để hạ giá thành sản xuất. Vì ngay ở các cơ sở sản xuất chính của họ trên toàn cầu, với sản lượng vài trăm nghìn đến hàng triệu chiếc ô tô/năm, họ vẫn phải dựa vào một mạng lưới các nhà cung cấp độc lập, huống chi một thị trường tuy nhiều tiềm năng nhưng vẫn chỉ với quy mô tiêu thụ trên trăm ngàn chiếc các loại một năm như Việt Nam. Còn để kêu gọi các nhà sản xuất phụ trợ thì lại phải có thị trường trong nước đủ lớn hoặc thị trường xuất khẩu, là những yếu tố xem ra không có ở Việt Nam hoặc Việt Nam không có lợi thế so với những cơ sở sản xuất khác trong khu vực như Thái Lan, Trung Quốc.
Với chính phủ, vai trò là người tổ chức xem ra còn rất mờ nhạt. Các quy hoạch phát triển kế tiếp nhau vẫn loay hoay chọn ra hết dòng sản phẩm ưu tiên này đến dòng ưu tiên kia, và nặng phần liệt kê số liệu mục tiêu cụ thể như phấn đấu đến năm nào thì sản xuất ra được, xuất khẩu đi được bao nhiêu chủng loại sản phẩm nào (với con số chi tiết đến hàng chục!) mà không kèm theo bất cứ một cơ sở tính toán, dự đoán mang tính khoa học, có sức thuyết phục nào. Trong khi đó, những giải pháp nêu ra thì chỉ toàn những thứ chung chung như “rà soát” với “nghiên cứu”, “điều chỉnh” và “hoàn thiện đồng bộ” v.v...

Tuy vậy, sự bất cập của những quy hoạch ngành ô tô trên cũng khó có thể coi là nguyên nhân cho sự thất bại của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam nếu so chúng với những vướng mắc đang “trói tay” chính phủ. Một mặt, chính phủ mong muốn có một ngành công nghiệp ô tô nội địa phát triển với sản lượng sản xuất và tiêu thụ nhiều trăm nghìn chiếc mỗi năm với giá rẻ hơn hoặc ít ra là không đắt hơn nhiều so với thế giới và khu vực để cho một bộ phận lớn dân chúng với tư cách là người tiêu dùng có thể tiếp cận được. Nhưng mặt khác, với nỗi lo quá tải cơ sở hạ tầng, sự hụt hơi của đầu tư công/tư vào cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu tăng nhanh về giao thông vận tải bằng ô tô, nhất là ở các đô thị lớn, cũng như nỗi lo hụt thu ngân sách, chính phủ buộc phải dựa vào ban hành một loạt các loại thuế phí mang tính hạn chế lượng ô tô tăng lên hàng năm, đồng thời tăng được nguồn thu thuế phí cho ngân sách (một phần trong số này là để đầu tư ngược trở lại cho cơ sở hạ tầng). Tình trạng “tiến thoái lưỡng nan” về chính sách và phương hướng phát triển như vậy mới là một trong những nguyên nhân chính để giải thích cho sự phát triển chật vật của ngành ô tô  nội địa, và sự bất cập về quy hoạch là một hậu quả tất yếu của tình trạng này mà thôi, chứ không phải là nguyên nhân.
Còn về người tiêu dùng nội địa, vì là người tiêu dùng nên cũng không thể trách họ hoặc đã không có... đủ tiền để mua ô tô nội địa/nhập khẩu với giá cao ngất ngưởng, hoặc không mặn mà mua ô tô vì những nỗi lo “tầm thường” như tắc đường và không có chỗ đỗ, hoặc lại sẵn sàng lựa chọn ô tô nhập khẩu tuy đắt hơn nhưng chất lượng đảm bảo hơn ô tô sản xuất trong nước. Những hành vi này đương nhiên trực tiếp làm thu hẹp thị trường ô tô trong nước, đến lượt nó lại không kích thích được các nhà sản xuất nội địa gia tăng năng lực sản xuất, hạ giá thành sản xuất...

Nói cách khác, đã có cùng một lúc nhiều trở ngại, trói buộc lẫn nhau giữa các bên liên đới giải thích được cho tình trạng phát triển yếu kém, lệch lạc trong ngành công nghiệp ô tô ở Việt Nam cho đến nay.
Vậy thì tương lai của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam sẽ ra sao 3-4 năm nữa?

Điều có thể tiên đoán trước được là giá bán ô tô trong nước chắc chắn sẽ bị áp lực phải hạ xuống theo mặt bằng giá trong khu vực ASEAN nhờ thuế nhập khẩu từ khu vực này giảm xuống 0%. Với những chủng loại mà Hàn Quốc và Trung Quốc nói riêng trong khuôn khổ ASEAN-Hàn Quốc/Trung Quốc, và các nước khác trên thế giới nói chung trong khuôn khổ WTO rộng lớn hơn có lợi thế thì sự giảm thuế nhập khẩu từ các nước này cũng gây áp lực làm cho mặt bằng giá cả ô tô nói chung ở Việt Nam hạ thêm. Nhưng hạ đến đâu thì sẽ phụ thuộc phần lớn vào chính phủ. Nếu chính phủ mạnh dạn lựa chọn mở rộng thị trường ô tô hơn là điều tiết chặt để cơ sở hạ tầng không bị  quá tải, hay không bị hụt thu thuế phí vào ngân sách thì chính phủ sẽ phải hạ thấp các loại thuế phí nội địa đánh lên sử dụng ô tô. Giá ô tô trong nước hạ nhờ hạ thuế nhập khẩu và thuế phí nội địa sẽ thúc đẩy thị trường ô tô nội địa mở rộng về quy mô.
Đến lượt nó, một thị trường ô tô nội địa lớn hơn, phát triển nhanh hơn đến một quy mô nào đó sẽ tự nhiên kích thích (mà chẳng cần chính phủ phải kêu gọi... khản cổ) các nhà sản xuất ô tô và phụ tùng ô tô nối lại hoặc thiết lập mới cơ sở sản xuất của mình ở Việt Nam vì Việt Nam vẫn có ưu thế trong sản xuất ở một số nhánh, phân khúc nào đó trong cả chuỗi công nghiệp ô tô, nhờ lợi thế như nhân công rẻ, cự ly gần, thời gian giao hàng ngắn, cơ sở sản xuất thuận tiện chi phí thấp v.v...

Thị trường ô tô lớn hơn với nhiều người sở hữu và sử dụng ô tô hơn cũng có nghĩa là nguồn thu chính phủ từ thuế và phí sẽ tăng lên (mặc dù mức thuế và phí hạ đi) sẽ giúp chính phủ có thêm kinh phí để phát triển hạ tầng cơ sở, đồng thời cũng hấp dẫn khu vực tư nhân đầu tư vào cơ sở hạ tầng có thu phí như đường cao tốc, hầm, cầu, bãi đỗ v.v..., nhất là khi cơ chế đầu tư theo hình thức đối tác công tư PPP đang được khuyến khích. Cơ sở hạ tầng cơ sở phát triển hơn sẽ tác động ngược trở lại làm tăng nhu cầu sử dụng ô tô và, do đó, sản lượng ô tô sản xuất và tiêu thụ trong nước.
Tóm lại, tương lai ngành ô tô Việt Nam sau 3-4 năm nữa như thế nào sẽ phụ thuộc phần lớn vào việc chính phủ có muốn và có hạ được hay không các loại thuế phí nội địa để khuyến khích mở rộng thị trường ô tô nội địa!

Friday, 10 April 2015

Đừng thành kiến với vốn FDI (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, 11/4/2015)

Ngày 9.4, Trung tâm Thông tin và Dự báo KT - XH thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức hội thảo Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến kinh tế Việt Nam. Phát biểu tại hội thảo này, có ý kiến đã chỉ ra một số hạn chế cũng như tác động tiêu cực của vốn FDI lên nền kinh tế, đó là: chuyển giá; độc quyền trong một số lĩnh vực (nước uống có gas, thức ăn gia súc, chất tẩy rửa)…; chèn ép các doanh nghiệp trong nước ra khỏi thị trường ở một số lĩnh vực nhờ lợi thế vốn lớn và công nghệ mạnh, làm méo mó thị trường; và doanh nghiệp FDI còn lấn át doanh nghiệp nội địa ngay trong cả ngành công nghiệp phụ trợ, thể hiện qua ví dụ về Công ty Toyota Việt Nam với tỷ lệ nội địa hóa công bố là 40% nhưng trên thực tế những chi tiết đó phần lớn cũng được cung cấp bởi những doanh nghiệp FDI. 

Trên thực tế, không khó thấy những ý kiến trên chỉ là định kiến khắt khe và tiêu cực về vốn FDI và tác động của chúng lên nền kinh tế Việt Nam.

Trước tiên, về chuyện chuyển giá, cần khẳng định ngay rằng các doanh nghiệp cũng như cá nhân luôn có xu hướng tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận. Bởi thế, họ sẵn sàng và luôn tìm mọi cách để lách luật nhằm mục đích này. Việc chuyển giá cũng là một cách thức để các doanh nghiệp cắt giảm nghĩa vụ thuế phải nộp. Do đó, chuyển giá là thủ đoạn xấu hay đặc tính cố hữu không chỉ của doanh nghiệp FDI mà ngay cả doanh nghiệp trong nước, nếu có điều kiện. Khi đã có hiện tượng (hoặc có nghi ngờ) chuyển giá thì điều này có nghĩa là hệ thống luật lệ giám sát, theo dõi hoạt động của các doanh nghiệp đã có lỗ hổng, và, hoặc năng lực cũng như phẩm chất nhân viên thuế vụ liên đới bất cập, có vấn đề.

Vì vậy, để ngăn chặn chuyển giá thì việc cần làm không phải là ngăn chặn vốn, doanh nghiệp FDI vì cho rằng chúng có đặc tính xấu là chuyển giá. Thay vào đó, nguồn gốc của vấn đề là chuyện phải tìm cách lấp các lỗ hổng pháp lý, cũng như tăng cường năng lực và phẩm chất của nhân viên thuế vụ liên đới. Nếu không làm được như thế thì cho dù có ngăn chặn vốn, doanh nghiệp FDI, hiện tượng chuyển giá vẫn sẽ diễn ra ngay tại doanh nghiệp trong nước (ví dụ, thông qua một chi nhánh ma mở ở nước ngoài).

Về chuyện độc quyền trong một số lĩnh vực, thực ra, nên lấy làm mừng vì doanh nghiệp FDI đã chiếm được thế độc quyền, vì đâu có điều luật nào cấm, hạn chế các doanh nghiệp nội địa nhảy vào lĩnh vực này đâu, và cũng có điều luật nào cho phép doanh nghiệp được độc quyền đâu? Nếu doanh nghiệp FDI chi phối các lĩnh vực này thì có nghĩa là họ làm ăn hiệu quả hơn, cạnh tranh tốt hơn, làm các doanh nghiệp nội địa kém hiệu quả, kém cạnh tranh phải ra đi. Sự đào thải này nên được coi là một sự sàng lọc tự nhiên, đem lại sự lành mạnh cho cả cộng đồng. Ngược lại, nếu không có các doanh nghiệp FDI hiệu quả này, ai dám chắc các doanh nghiệp nội địa lại không độc quyền, để rồi cũng lũng đoạn thị trường giống như nỗi lo về doanh nghiệp FDI?

Tương tự như vậy là chuyện chèn ép doanh nghiệp trong nước, làm méo mó thị trường. Khi đã công nhận doanh nghiệp FDI là một thành phần kinh tế không thể thiếu được trong nền kinh tế thì phải công nhận sự cạnh tranh sòng phẳng giữa các thành phần kinh tế, mà cụ thể là giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa. Như đã nói ở trên, luật pháp không cho phép sự độc quyền, cũng không cho phép có sự cạnh tranh không lành mạnh, nên người thắng trong cuộc cạnh tranh hiện nay ắt phải là người thắng hợp pháp và xứng đáng, cho dù người thắng ở đây lại là doanh nghiệp FDI. Ngược lại, chính ra cần phải nói rằng, thị trường sẽ méo mó nếu các doanh nghiệp nội địa, vốn là kẻ thua cuộc, lại được bảo hộ, trợ giúp để không bị thua trong cạnh tranh với doanh nghiệp FDI để rồi chiếm lĩnh và làm cho thị trường đó hoạt động không hiệu quả, chi phí cao, chất lượng sản phẩm thấp.

Về lời phàn nàn rằng doanh nghiệp FDI cũng chi phối cả lĩnh vực công nghiệp phụ trợ, nên dù kêu gọi nhiều nhưng trên thực tế doanh nghiệp Việt Nam đang không tham gia được vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI. Đây rõ ràng không phải là lỗi của doanh nghiệp FDI. Họ không tạo ra một rào chắn giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp khi lựa chọn sản phẩm phụ trợ. Tiêu chí mà họ đặt ra chắc chắn là những yếu tố như chất lượng, giá thành, khối lượng, và thời gian giao hàng nên bất cứ doanh nghiệp nào đáp ứng được các tiêu chí này thì sẽ được lựa chọn làm nhà cung cấp cho doanh nghiệp FDI. Doanh nghiệp nội địa yếu kém đến mức độ không làm nổi con ốc vít đạt tiêu chuẩn (và tất nhiên với giá bán cạnh tranh được với con ốc vít cùng loại của doanh nghiệp phụ trợ FDI khác) thì chẳng có lý do gì mà doanh nghiệp FDI lại lựa chọn doanh nghiệp nội địa. Đặt vấn đề theo cách khác, tương tự như với trường hợp các ngành sản xuất khác, nếu trên cùng một lãnh thổ, trong cùng ngành nghề, với cùng một môi trường kinh doanh như nhau mà doanh nghiệp phụ trợ nội địa không làm được sản phẩm như doanh nghiệp phụ trợ FDI thì các doanh nghiệp nội địa cùng nên nhường sân chơi cho doanh nghiệp FDI, chứ Nhà nước không nên thúc ép, bảo hộ để doanh nghiệp nội địa chi phối lĩnh vực công nghiệp phụ trợ. Nếu làm như thế, chi phí sản xuất, và chất lượng sản phẩm chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng, làm cho các doanh nghiệp FDI sử dụng các sản phẩm phụ trợ này sẽ phải cân nhắc rút lui khỏi Việt Nam.

Và trên hết, dù là doanh nghiệp FDI nhưng xin lặp lại là chúng cũng đều là một cấu thành kinh tế quan trọng, không thể thiếu của Việt Nam. Bởi vậy, không nên có cái nhìn cũng như sự đối xử mang tính phân biệt giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa cũng tương tự như sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước.

Thursday, 9 April 2015

Triển vọng xử lý nợ xấu nhìn từ các động thái pháp lý liên quan đến VAMC (Bài đăng trên CafeF, 9/4/2015)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/trien-vong-xu-ly-no-xau-nhin-tu-cac-dong-thai-phap-ly-lien-quan-den-vamc-2015040921525585.chn

Công ty quản lý tài sản của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã hoạt động từ tháng 7/2013 và đến nay đã mua lại khoảng 123.000 tỷ đồng nợ xấu thông qua phát hành trái phiếu đặc biệt cho các ngân hàng. Tuy nhiên, quá trình hoạt động của VAMC cho thấy mô hình hoạt động của VAMC chưa mang lại nhiều hiệu quả trong việc xử lý nợ xấu ở Việt Nam.

Lý do chủ yếu là vì VAMC được thiết kế để xử lý nợ xấu theo kiểu “tay không bắt giặc” (đổi nợ xấu lấy trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành). Trong khi đó, chức năng mua nợ xấu theo giá trị thị trường bằng “tiền tươi thóc thật”, một chức năng chính của nhiều tổ chức xử lý nợ xấu (AMC) khác trên thế giới, lại chỉ là chức năng thứ yếu của VAMC vì VAMC chỉ có 500 tỷ đồng vốn điều lệ.

Để “chữa cháy” cho mô hình VAMC từng được ca ngợi là “sáng tạo” của Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chính thức đề nghị và đã được chính phủ chấp nhận việc tăng vốn điều lệ của VAMC từ 500 tỷ đồng lên 2.000 tỷ đồng, theo Nghị định 34 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 53 về thành lập, tổ chức và hoạt động của VAMC.

Nghị định 34 cũng cho VAMC cơ chế đặc thù với việc phát hành trái phiếu đặc biệt để mua nợ theo giá trị thị trường. Về tài sản đảm bảo của các khoản nợ xấu mà VAMC đã mua, nếu không có thỏa thuận, công ty sẽ được phép bán đấu giá; cơ quan có thẩm quyền sẽ sẽ có trách nhiệm hướng dẫn cho nhà đầu tư, người trúng đấu giá trên đất của dự án đầu tư nhằm thúc đẩy hoạt động thanh lý tài sản đảm bảo.

Có thể thấy, Nghị định 34 đã mở đường cho VAMC trong việc mua nợ xấu bằng tiền, chứ không phải trái phiếu đặc biệt nhưng triển vọng xử lý nợ xấu không vì thế mà sáng sủa hơn lên nhiều. Mức vốn điều lệ mới tuy đã tăng gấp 4 lần so với mức cũ nhưng con số 2.000 tỷ đồng vẫn là quá nhỏ nhoi so với khối lượng nợ xấu cần xử lý trong hệ thống ngân hàng lớn hơn thế hàng trăm lần. Do đó, VAMC vẫn cứ phải dựa vào công cụ chính của nó là trái phiếu đặc biệt để mua lại nợ xấu.

Nhưng với trái phiếu đặc biệt và những vấn đề liên quan đến nó thì, như đã biết, có những yếu tố tiêu cực làm kìm hãm quá trình xử lý nợ xấu. Cụ thể, trái phiếu đặc biệt tạo ra một bất trắc lớn cho người nắm giữ, sở hữu nó là lãi suất và tỷ lệ chiết khấu do NHNN tùy nghi quyết định theo một cách thức không thể đoán định được. Trong khi đó, các tổ chức tín dụng (TCTD) vẫn phải trích lập dự phòng 20% mệnh giá trái phiếu hàng năm, và, vì thế, nợ xấu tuy đã bán cho VAMC, vẫn còn là một gánh nặng lên lợi nhuận của các TCTD.

Ngược lại, VAMC hầu như không phải chịu bất kỳ rủi ro gì trong việc tiếp nhận và xử lý nợ xấu nên tính hiệu quả của VAMC trong việc xử lý nợ xấu mua về này là điều còn bỏ ngỏ, mặc dù VAMC luôn khẳng định là đã và đang nỗ lực xử lý, bán lại các khoản nợ xấu mua về. Hơn nữa, VAMC có xu hướng chỉ mua có tính lựa chọn một số khoản nợ xấu “tốt” (dễ bán lại, thanh lý) chứ không phải là mua đổ đống tất cả các khoản nợ xấu từ các TCTD nên càng làm cho tính hữu ích của VAMC mờ nhạt thêm trong con mắt của các TCTD.

Có lẽ cũng đã hiểu được sự miễn cưỡng của các TCTD khi phải bán nợ xấu cho VAMC , tin tức cho biết NHNN mới đây đã yêu cầu các TCTD phải bán tối thiểu 75% chỉ tiêu nợ xấu được giao cho VAMC đến 30/6 (và 100% đến 30/9/2015), nhằm thực hiện mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu về mức 3% đến cuối năm nay.

Giải pháp cưỡng bức bán nợ xấu của NHNN kết hợp với các giải pháp tăng vốn điều lệ và trao cơ chế đặc thù cho VAMC trong việc xử lý nợ xấu nói trên có thể được coi như đã khơi thông thêm một bước nữa cả đầu vào và đầu ra trong quá trình xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, đến đây thì lại có một rủi ro khác phát sinh. Đó là sự “giục tốc bất đạt”.

Với sự thúc ép bán nợ xấu dồn dập cho VAMC, trong khi quy mô nợ xấu (và, do dó, chỉ tiêu xử lý nợ xấu tối thiểu giao cho các TCT) được dự kiến sẽ tăng lên mạnh khi Thông tư 02/2013-TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có hiệu lực từ ngày 01/4/2015, sẽ có 3 khả năng xảy ra (riêng rẽ hoặc đồng thời):

​(1) VAMC không đủ năng lực và khả năng để “ôm” về và xử lý hiệu quả một khối lượng nợ xấu khổng lồ và tăng lên đột ngột trong một thời gian ngắn;

(2) Thị trường nợ xấu sẽ bị “ngập lụt” với một nguồn “hàng” khổng lồ tung ra trong một thời gian ngắn, làm tụt giảm giá trị tài sản thế chấp, ảnh hưởng tiêu cực không chỉ đến quyền lợi của các TCTD bán nợ xấu cho VAMC mà còn cho cả thị trường tài sản (bất động sản) nói chung;

(3) Nhịp độ xử lý nợ xấu buộc phải chậm lại để “câu giờ”, chờ đợi thị trường phản ứng tích cực hơn, đồng nghĩa với việc vấn đề nợ xấu về cơ bản sẽ tiếp tục bị “treo” ở đó, không có gì khác biệt đáng kể so với hiện tại, ngoài việc sổ sách của các TCTD chắc chắn sẽ “đẹp” hơn với tỷ lệ nợ xấu thấp hơn (dưới 3% nếu làm đúng như yêu cầu của NHNN).

Wednesday, 8 April 2015

Giảm phát – Khi nào cần báo động? (Bài đăng trên CafeF, 8/4/2015)

http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/giam-phat-khi-nao-can-bao-dong-20150408114450187.chn

Trong bài viết “Giảm phát cũng có dăm bảy đường!, tôi đã phê phán quan điểm phiến diện của không ít chuyên gia và tổ chức khi lên tiếng báo động cho rằng ở Việt Nam đã xảy ra tình trạng giảm phát, thể hiện tổng cầu yếu, nền kinh tế trì trệ…

Sự phản biện dựa trên 2 điểm khác biệt chính giữa Việt Nam với một trường hợp giảm phát điển hình nào đó như Nhật hay EU là tăng trưởng kinh tế của Việt Nam tương đối cao, đối lập với mức tăng trưởng cận 0 hoặc âm, và giảm phát ở Việt Nam không phải là hiện tượng có tính lâu dài đến hàng năm, hoàn toàn do sự sụt giảm giá xăng dầu bắt đầu từ nửa năm trước, đối lập với tình trạng giá cả không tăng (đáng kể) hoặc tăng trưởng âm kéo dài nhiều quý/năm ở Nhật và EU.

Và thật trùng hợp, trên tờ Financial Times số ra ngày 7/4/2015 có bài “A history of inflation – and a future of deflation” của tác giả Diane Coyle, một giáo sư kinh tế học tại Đại học Manchester và là tác giả của cuốn sách “GDP: A Brief But Affectionate History”. Bài viết của GS. Coyle lấy trường hợp của nước Anh để minh họa. Mặc dù Anh hiện tại đang phải chứng kiến chỉ số giá tiêu dùng CPI đã giảm xuống 0 nhưng GS Coyle không cho rằng đây là vấn đề vì nền kinh tế Anh vẫn tăng trưởng và rằng lạm phát tụt xuống 0 chủ yếu vì giá năng lượng sụt giảm (ý nói sự sụt giảm về giá cả này có thể không phải là hiện tượng lâu dài).

GS. Coyle còn nhấn mạnh rằng sự sụt giảm mặt bằng giá cả chỉ thành vấn đề nếu nó có tính lâu dài, bền vững (sustained) và cuốn nền kinh tế đi vào một vòng xoáy trôn ốc đi xuống. Tuy không nói rõ hơn nhưng có thể diễn giải thêm ý của GS. Coyle rằng, giảm phát chỉ thật sự đáng lo nếu nó gây lụy đến tăng trưởng theo một vòng luẩn quẩn: lạm phát thấp (và có tính lâu dài) --> người tiêu dùng trì hoãn mua sắm vì kỳ vọng rằng giá cả sẽ sụt giảm trong tương lai --> tiêu dùng sụt giảm --> tăng trưởng kinh tế sụt giảm --> sức mua hàng hóa giảm và giá cả (lạm phát) giảm.

Trở lại với trường hợp của Việt Nam. Bất chấp lạm phát đã đảo chiều, từ sụt giảm liên tục mấy tháng trước sang tăng nhẹ trong tháng 3, vẫn còn một số ý kiến lo ngại đến lạm phát thấp/giảm phát. Và cũng là một trùng hợp thú vị khi sự lo ngại này đều dựa trên những luận điểm giống nhau đến cả cách dùng chữ, ví dụ như trong câu “lạm phát quá thấp sẽ gặm nhấm doanh số và nguồn thu thuế, cản trở việc tăng lương, ăn mòn lãi suất cận biên”.

Ngoài chuyện cho thấy các tác giả của những ý kiến trên đã “copy” cách dùng từ của nhau, họ còn “copy” cả những cái sai của nhau. Cũng như tôi đã phản biện trong bài “Những cái sai đằng sau lo ngại lạm phát thấp”, lạm phát thấp thì làm cả giá cả và giá thành hàng hóa đều không tăng mạnh được, dẫn đến biên độ lợi nhuận không thay đổi và doanh nghiệp thậm chí lại còn có thêm động lực mở rộng sản xuất để tăng tổng lợi nhuận (dù biên độ lợi nhuận có thể không thay đổi), nếu các tính toán lỗ lãi của họ được bảo đảm ở mức độ chắc chắn nhờ lạm phát thấp và ổn định.

Về chuyện nguồn thu thuế bị “gặm nhấm”, đúng là khi lạm phát thấp thì nguồn thu thuế không thể tăng mạnh được như khi so với lạm phát cao, nhưng không thể nói là bị gặm nhấm, vì lạm phát tuy thấp nhưng vẫn là một con số dương và do đó nguồn thu thuế vẫn tăng lên, dù mức tăng thấp và chắc chắn là nó (nguồn thu thuế) không bị tụt giảm đi (so với cùng kỳ năm trước) dù lạm phát thấp.

Hơn nữa, như GS. Coyle cũng đã chỉ ra trong bài viết của mình, việc đẩy lạm phát lên cao (ví dụ, để làm giảm gánh nặng nợ nần, hay tăng nguồn thu thuế như ý bên trên) sẽ tái phân bổ một cách chủ ý các nguồn lực từ người gửi tiết kiệm sang người đi vay mượn.

Như thế, nếu lo ngại giảm phát và kêu gọi Chính phủ “kích” lạm phát lên để tăng nguồn thu thuế thì việc này sẽ gây tổn hại cho những người gửi tiết kiệm. Không lẽ chỉ cần quan tâm đến quyền lợi của nhà nước nói chung, doanh nghiệp nói riêng – với tư cách là những người đi thu thuế hoặc đi vay nợ – mà không cần phải quan tâm đến cả quyền lợi của những người gửi tiết kiệm? Nếu cứ làm thế sẽ không khuyến khích tiết kiệm trong nước, và rốt cuộc lại phải đi vay nước ngoài hay phải trả giá bằng lạm phát bùng nổ do phải in tiền để chi tiêu và trả nợ.

Tóm lại, lạm phát thấp chỉ thực sự đáng lo ngại và cần phải có biện pháp khắc phục khi nó thực sự thấp (hoặc âm), có tính lâu dài, bền vững (không mang tính nhất thời như do giá xăng dầu giảm) và quan trọng hơn, khi tăng trưởng GDP không tăng hoặc tăng yếu ớt.

Cần đẩy mạnh và mở rộng phạm vi tư nhân hóa cơ sở hạ tầng (Bài đăng trên TBKTSG Online, 8/4/2015)

http://www.thesaigontimes.vn/128734/Can-day-manh-va-mo-rong-pham-vi-tu-nhan-hoa-co-so-ha-tang.html

(TBKTSG Online) - Hôm nay, 8-4, Bộ Giao thông Vận tải tổ chức hội thảo về xã hội hóa hoạt động quản lý, khai thác cảng hàng không, sân bay tại Việt Nam.

Hội thảo diễn ra trong bối cảnh nhiều nhà đầu tư đang muốn được nhượng quyền khai thác các sân bay và song song đó là những lo ngại về việc thất thoát tài sản nhà nước, chuyện độc quyền nhà nước chuyển sang độc quyền tư nhân... Nhìn rộng hơn, sự bắt đầu của trào lưu tư nhân hóa cơ sở hạ tầng thời gian gần đây sẽ là điểm cáo chung cho quan niệm phổ biến cho rằng chính phủ cần phải sở hữu và kiểm soát những ngành thiết yếu trong nền kinh tế.
 
Xu hướng không thể đảo ngược
 
Việc tư nhân hóa cơ sở hạ tầng mới được bắt đầu xúc tiến ở Việt Nam trong thời gian gần đây, mặc dù trên thế giới trào lưu tư nhân hóa cơ sở hạ tầng thuộc sở hữu nhà nước đã diễn ra từ nhiều thập kỷ trước, trên hầu như mọi lĩnh vực từ sân bay, đường sắt, đường cao tốc, cảng biển, cấp thoát nước, viễn thông, bưu chính và năng lượng...
 
Tư nhân hóa cơ sở hạ tầng trở thành xu hướng không thể đảo ngược trên thế giới vì nó giúp cắt giảm chi phí và nâng cao chất lượng dịch vụ hạ tầng cơ sở, đồng thời thúc đẩy cải tiến kỹ thuật và đổi mới trong những ngành hạ tầng vốn đang èo uột dưới sự quản lý, điều hành của chính phủ, nhờ đó mang đến những đóng góp to lớn cho nền kinh tế. Không những thế, tư nhân hóa sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó mở ra những ngành và lĩnh vực kinh doanh mới cho doanh nghiệp và nhà đầu tư. Ví dụ như việc tư nhân hóa/cổ phần hóa ngành viễn thông ở Việt Nam đã tạo ra môi trường cạnh tranh gay gắt, làm lợi cho người sử dụng thông qua công nghệ và dịch vụ liên tục được đổi mới và nâng cấp với chi phí ngày càng hợp lý hơn.
 
Về phía chính phủ, tư nhân hóa, bán các tài sản hạ tầng cơ sở thuộc sở hữu của mình, tất nhiên sẽ mang lại cho Chính phủ một nguồn ngân quỹ mới, giảm thâm hụt ngân sách. Tư nhân hóa còn làm lợi cho ngân quỹ chính phủ khi nó “tước đoạt” việc chi tiêu mua sắm của Chính phủ liên quan đến các cơ sở hạ tầng thuộc quyền quản lý của mình, đồng nghĩa với việc ngăn cản và giảm bớt tham nhũng từ các quan chức chính phủ thông qua các hợp đồng mua sắm. Ngoài ra, tư nhân hóa sẽ làm giảm gánh nặng trách nhiệm của chính phủ, giúp họ tập trung vào nhiệm vụ cốt lõi của mình, ví dụ như đảm bảo an ninh quốc gia.
 
Cản trở do đâu?
 
Tuy vậy, phải thẳng thắn thừa nhận rằng tuy việc tư nhân hóa cơ sở hạ tầng đang được xúc tiến mạnh mẽ ở Việt Nam nhưng vật cản lớn cho quá trình tư nhân hóa sẽ không phải là, ví dụ, sự chống đối của một quan chức nào đó vì lo sợ mất đặc quyền, mà là những quan niệm tiêu cực về tư nhân hóa đã bắt rễ ở nhiều người bấy lâu nay. Chẳng hạn, trong việc tư nhân hóa các sân bay, Bộ Giao thông Vận tải vẫn chủ trương rằng việc kiểm soát, quản lý bay là một việc quá “trọng đại” nên không thể để vào tay tư nhân được. Nhưng thực tế trên thế giới cho thấy kết quả ngược lại. Nhiều chính phủ thường không đủ khả năng cung cấp các dịch vụ chất lượng cao và hiệu quả trong những ngành như quản lý bay, là những ngành đòi hỏi những đổi mới công nghệ và kỹ thuật mà các ông chủ tư nhân có thể mang đến.

Một ví dụ cho sự bất cập của quản lý nhà nước là Cục Hàng không Liên bang Mỹ (FAA) đã yếu kém đến độ cung cấp dịch vụ quản lý bay với chất lượng hạng hai cho dân Mỹ trong nhiều thập kỷ liền. FAA đã rất chật vật khi mở rộng năng lực và hiện đại hóa công nghệ quản lý bay của mình, trong khi các dự án nâng cấp năng lực và công nghệ lại thường bị chậm trễ và đội vốn lớn. Với một ngành có tính “sống còn” theo đúng nghĩa đen khi nắm giữ sinh mạng của bao người như vậy, sự yếu kém và bất cập trong hoạt động của FAA là điều không thể chấp nhận được, và hệ thống quản lý bay hiện nay đã được đặt vào dạng xem xét để tư nhân hóa ở Mỹ.

Nhìn lại Việt Nam, công tác quản lý bay cũng còn quá nhiều vấn đề và tồn tại với nhiều vụ việc, mới đây nhất là sự cố mất điện ở sân bay Tân Sơn Nhất. Với những vụ việc như thế thì khó mà nói là chỉ có thuộc sở hữu nhà nước thì vấn đề an ninh, an toàn bay mới được đảm bảo!
 
Trong khi đó, nhiều nước trên thế giới đã tư nhân hóa ngành quản lý bay thành công có thể làm mô hình học hỏi cho những nước đi sau như Mỹ và Việt Nam. Canada đã tư nhân hóa ngành quản lý bay từ năm 1996 với việc thành lập một công ty quản lý bay tư nhân, phi lợi nhuận - Nav Canada - sống được bằng phí thu từ người sử dụng hàng không. Mô hình của Canada đã nhận được đánh giá cao về sức khỏe tài chính, quản lý chặt chẽ, và đầu tư vào công nghệ mới.
 
Ngoài quan niệm tiêu cực về tính thiết yếu duy trì sở hữu nhà nước trong một số ngành, lĩnh vực hạ tầng cơ sở quan trọng như nói ở trên, quan niệm khá mơ hồ về “an ninh” và “lợi ích xã hội” đang là một lực cản khác cho tiến trình tư nhân hóa sâu rộng cơ sở hạ tầng ở Việt Nam. Tư nhân hóa cảng biển và sân bay đã được khẩn trương thực hiện, nhưng chỉ là đối với một số cảng biển và sân bay, và cũng chỉ mở ra cho các nhà đầu tư trong nước, hay thậm chí là không bán mà chỉ nhượng quyền khai thác... chủ yếu với lý do đảm bảo “an ninh” và “lợi ích xã hội”.

Các quan niệm này có thể phần nào hiểu và thông cảm được nếu như Việt Nam là nước tiên phong trong việc tư nhân hóa cơ sở hạ tầng nên có thể sẽ gặp nhiều rủi ro không thể lường trước. Ví dụ như các công trình trọng điểm này khi đã bị tư nhân hóa có thể bị lợi dụng để phục vụ lợi ích cho một thế lực nào đó, hoặc người sử dụng sẽ bị thiệt hại (hơn) bởi độc quyền nhà nước bị thay thế bởi độc quyền tư nhân...
 
Nhưng nhìn rộng ra thế giới, việc bán cảng biển và sân bay đã trở nên phổ biến từ lâu ở nhiều nước. Hệ thống sân bay đã được tư nhân hóa hoàn toàn hoặc một phần lớn ở những thành phố lớn như Athens, Auckland, Brussels, Copenhagen, Frankfurt, London, Melbourne, Naples, Rome, Sydney... Hệ thống cảng biển cũng chứng kiến sự việc tương tự, với một công ty ở Hồng Kông, Hutchison Whampoa, nắm quyền sở hữu vài chục cảng biển ở hàng chục nước trên thế giới. Ở Anh, năm 1983 họ đã tư nhân hóa 19 cảng biển và đã thống kê rằng hai phần ba lượng container được bốc xếp ở các cảng tư nhân hoạt động cực kỳ hiệu quả.

Với một số lượng phong phú các trường hợp điển hình trên thế giới như vậy thì các vấn đề liên quan đến “an ninh” và “lợi ích xã hội” ở Việt Nam hoàn toàn có thể giải quyết được, nếu thực sự những người trong cuộc muốn đẩy mạnh quá trình tư nhân hóa. Vấn đề còn lại chỉ là làm sao gạt bỏ được những quan niệm bảo thủ này sang một bên trong nội bộ của những người trong cuộc.

Saturday, 4 April 2015

Đằng sau con số tăng trưởng đẹp (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, 4/3/2015)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=345579

Tổng cục Thống kê (TCTK) đã công bố kết quả ấn tượng của tăng trưởng GDP quý 1/2015, với mức 6,05% so cùng kỳ năm 2014, cao hơn mức tăng trưởng đạt được trong quý 1/2014 là 5,04%. Kết quả ấn tượng này đã làm nhiều người sửng sốt đến độ khó tin, xét trong hoàn cảnh xuất khẩu tăng trưởng chậm lại, nhập khẩu tăng mạnh dẫn đến nhập siêu, và cả nước vừa trải qua một kỳ nghỉ Tết cổ truyền dài.
Dẫn đầu trong các lĩnh vực, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng trưởng ấn tượng ở mức 8,35%, trong khi lĩnh vực dịch vụ tăng trưởng ở mức 5,82%, còn lĩnh vực nông lâm thủy sản chỉ tăng 2,14% so với cùng kỳ năm trước.

Vì lĩnh vực công nghiệp là lực kéo chính cho tăng trưởng GDP trong quý nên ta tập trung phân tích lĩnh vực này. Theo TCTK, giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp khai khoáng tăng 6,7%, với một số mặt hàng chính có sản lượng tăng đáng kể (dầu thô tăng 9,8%, than đá tăng 3,2%). Đây là một trong những điều khó hiểu và tạo ra niềm hoài nghi về ý nghĩa của các con số thống kê của TCTK. Lý do vì, với giá dầu thô sụt giảm mạnh đến trên dưới 50% và giá than đá cũng sụt giảm 20%-30%, cho dù sản lượng có tăng mạnh lên đến một vài chục phần trăm thì giá trị và giá trị tăng thêm tính bằng tiền của nhóm ngành khai khoáng này ắt vẫn phải giảm đi.

Nếu thực sự đúng là giá trị tăng thêm của ngành khai khoáng đã tăng 6,7% như TCTK tính toán thì chỉ có 2 khả năng: (1) giá trị tăng thêm này chỉ là giá trị tăng thêm tính theo sản lượng (tấn, m3, lít...) chứ không phải là tiền tệ; (2) giá trị tăng thêm này được tính bằng đơn vị VND theo giá cố định (ví dụ, giá năm 2010) theo công thức Giá trị tăng thêm = Sản lượng tăng thêm X Giá đơn vị cố định.
Để xác minh 2 khả năng trên, ta sử dụng 2 loại chỉ số thống kê của TCTK, “Chỉ số công nghiệp” (dùng để đo tốc độ tăng trưởng của từng ngành công nghiệp, nhưng không rõ TCTK dựa trên sự so sánh đại lượng nào – khối lượng hay giá trị – giữa hai thời kỳ khác nhau để tính ra loại chỉ số này), và “Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp” (được  đo bằng thước đo vật chất như tấn, m3, m2, lít...) của 2 tháng đầu năm nay (đến thời điểm viết, TCTK chưa công bố 2 loại chỉ số này cho tháng 3 và quý 1/2015).

Trong bảng “Chỉ số công nghiệp”, dầu thô (không kèm khí đốt tự nhiên) có tốc độ tăng trưởng là 9,7% trong 2 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm 2014. Trong bảng “Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp”, dầu thô và khí đốt tự nhiên (gộp chung một nhóm) tăng 9%. Với sự khá tương đồng của 2 con số này (sự khác biệt có thể vì một con số là cho riêng dầu thô, còn con số kia là cho cả dầu thô kèm với khí đốt), có thể suy ra “chỉ số công nghiệp” – là cái chắc chắn có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu mà TCTK gọi là “giá trị tăng thêm” như nói ở trên – là chỉ số phản ánh và/hoặc dựa trên mức gia tăng về sản lượng của các ngành công nghiệp.
Nếu đúng như phân tích như trên thì ta sẽ thấy ngay một khiếm khuyết lớn về con số tăng trưởng GDP của TCTK. Đó là, mặc dù sản lượng hàng hóa sản xuất ra có tăng lên làm cho tăng trưởng GDP theo phương pháp tính hiện thời của TCKT có tăng lên, nhưng giá trị gia tăng tạo ra lại có khả năng giảm đi khi mà giá bán/xuất khẩu giảm của những hàng hóa này giảm đi. Nói cách khác, sản lượng (công nghiệp) tuy có tăng mạnh trong quý 1/2015 nhưng điều này không nhất thiết có nghĩa là thu nhập quốc dân tính bằng tiền (dù là VND theo giá cố định) của Việt Nam đã tăng (mạnh) lên tương ứng trong kỳ.

Ngoài ra, cần lưu ý thêm một điểm quan trọng và cũng liên quan đến chỉ số tăng trưởng sản lượng nói trên. Đó là, con số tăng trưởng các ngành công nghiệp theo thống kê của TCTK dường như bao gồm trong đó cả sản lượng tồn kho (chưa, không tiêu thụ được). Nếu sản lượng sản xuất ra của các ngành công nghiệp có tăng mạnh lên mà sản lượng tồn kho cũng lại tăng mạnh lên trong quý thì việc tăng mạnh sản lượng sản xuất này càng không còn ý nghĩa gì, bên cạnh chuyện giá bán/xuất khẩu sụt giảm như nói ở trên.
Không phải là một trùng hợp ngẫu nhiên, chỉ số tồn kho của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tính đến 1/2/2015 (TCTK chưa công bố chỉ số tồn kho cho tháng 2, 3 và cả quý 1/2015) tăng 11,3% so với cùng thời điểm năm 2014. Điều này cho thấy một tỷ trọng đáng kể của sản lượng công nghiệp gia tăng đã chui vào kho của nhà sản xuất, thay vì bán được ra thị trường. Do đó, tuy GDP quý 1/2015 có tăng trưởng “bất ngờ” tính theo sản lượng sản xuất ra nhưng thực chất của tăng trưởng này chẳng mấy tích cực khi hàng làm ra không bán được lại tăng lên và giá trị thu về thì lại sụt giảm đi do giá bán giảm đi.

Nhìn trong những quý tới, triển vọng tăng trưởng thực chất (về mặt giá trị thu về) càng bớt lạc quan nếu tỷ giá tiếp tục bị o bế như hiện nay làm cho các ngành xuất khẩu tiếp tục gặp khó, khi sản xuất tăng nhưng không xuất khẩu được, buộc phải nhập kho hoặc cắt giảm sản xuất (như đã chứng kiến trong các ngành xuất khẩu hiện nay). Ngược lại, nhập khẩu càng được khuyến khích vì VND lên giá so với nhiều bản tệ khác, dẫn đến nhập siêu gia tăng, và làm giảm tăng trưởng GDP nếu các điều kiện khác giữ nguyên (GDP = Tiêu dùng cuối cùng + Tích lũy tài sản + Chênh lệch xuất nhập khẩu).

Thursday, 2 April 2015

Quyết định không điều chỉnh tỷ giá: những điều bất hợp lý (Bài đăng trên TBKTSG, 2/4/2015, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/128431/Quyet-dinh-khong-dieu-chinh-ty-gia-nhung-dieu-bat-hop-ly.html

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hôm 25/3 đã tuyên bố không điều chỉnh tỷ giá VND tại thời điểm này. Lý do vì:
 
(1) việc tăng tỷ giá thời gian qua chủ yếu do yếu tố tâm lý, các yếu tố về kinh tế về cơ bản không có biến động lớn và đáng quan ngại;
 
(2) đồng USD chỉ tăng mạnh so với một số đồng tiền chủ chốt như EUR, bảng Anh, đô la Canada, còn so với các đồng tiền trong khu vực như Nhân dân tệ, đô la Hồng Kông, Won (Hàn Quốc)… tăng không đáng kể. Tỷ trọng thương mại Việt Nam với các nước mà đồng tiền mất giá mạnh khá nhỏ, trong khi các nước có tỷ trọng thương mại lớn thì đồng tiền mất giá không nhiều (ít ảnh hưởng đến xuất khẩu);
 
(3) cần thấy rằng để tăng khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu hiện nay yếu tố chính không phải là tỷ giá, mà cần phải nâng cao chất lượng, mẫu mã, giá trị sử dụng, độ thỏa mãn người tiêu dùng;
 
(4) điều chỉnh tăng tỷ giá có thể cải thiện xuất khẩu nhưng mức độ không lớn, trong khi còn phải cân nhắc tác động tới nhập khẩu, nhất là khi nhập khẩu đang tăng trở lại; điều chỉnh tăng tỷ giá sẽ khiến chi phí sản xuất tính bằng đồng Việt Nam tăng lên do sản xuất trong nước đang phụ thuộc nhiều vào hàng nguyên vật liệu nước nước ngoài nhập khẩu;
 
(5) diễn biến thế giới thời gian qua, các nước chủ yếu thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, chủ yếu thông qua giảm lãi suất hay mở rộng các gói nới lỏng định lượng, thông qua đó hỗ trợ xuất khẩu, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Còn ở Việt Nam, NHNN thời gian qua cũng đã và đang điều hành theo hướng đưa tiền ra khá nhiều, chủ yếu qua kênh mua ngoại tệ, giảm mặt bằng lãi suất;
 
(6) VND mất giá qua các năm, ngay cả khi USD liên tục giảm giá. Do đó, không nên quá lo ngại về việc VND lên giá tương đối với các đồng tiền sẽ ảnh hưởng đến cạnh tranh xuất khẩu; và
 
(7) phá giá làm tăng gánh nặng nợ nước ngoài của Việt Nam.  

Phân tích từng điểm ở trên (theo thứ tự), có thể chỉ ra những cái sai sau đây trong lập luận trên của NHNN.

(1) Chính những lý do này luôn được NHNN đem ra sử dụng để trấn an dư luận trong các đợt “sốt” tỷ giá lần trước nhưng rồi rốt cuộc NHNN sau đó vẫn phải điều chỉnh tỷ giá. Như thế chứng tỏ những lý do cũ mòn này không có cơ sở, hoặc nêu ra cũng không có tác dụng gì.

(2) Không rõ NHNN lấy những mốc thời gian nào để nói rằng USD lên giá (tỷ giá tăng) “không đáng kể” so với các đồng tiền trong khu vực (và là những đồng tiền nào). Lấy số liệu tỷ giá từ Bloomberg trong 1 năm qua tính đến hiện tại (27/3/2015) để tính tỷ giá trung bình cho 2 kỳ (mỗi kỳ 6 tháng): kỳ 1 từ 27/3/2014 đến 30/9/2014, và kỳ 2 từ 1/10/2014 đến 27/3/2015, được kết quả như bảng dưới đây:

Căn cứ vào mức độ điều chỉnh tỷ giá mỗi lần không quá 1 điểm phần trăm của NHNN, ta gọi một đồng bản tệ nào đó trong số nêu ở bảng trên là đã biến động “đáng kể” so với USD nếu tỷ giá tăng/giảm trên 1 điểm phần trăm. Dựa trên mốc này, có thể thấy từ bảng trên rằng VND đã tăng giá “đáng kể” so với phần lớn các đồng tiền trong khu vực, ngoại trừ CNY và HKD, là 2 đồng tiền có mức độ biến động “không đáng kể” so với USD. Nhưng riêng với HKD thì không cần xét đến vì chính sách tiền tệ của nước này là neo chặt HKD vào USD, nên sự biến động không đáng kể của nó là hiển nhiên. Nói cách khác, phát ngôn của NHNN như trên là không chính xác.




Ngoài ra, NHNN (và nhiều chuyên gia, tổ chức khác) đã bỏ qua/sai lầm ở một điểm cực kỳ quan trọng. VND neo với USD thì không có nghĩa là xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ, hay kể cả vào các thị trường khác sử dụng USD làm đồng tiền thanh toán không bị ảnh hưởng. Đơn giản vì không chỉ có Việt Nam mà nhiều đối thủ khác, ví dụ là các nước trong khu vực như nêu ở bảng trên cũng xuất khẩu vào các thị trường này. Với đồng bản tệ đã bị mất giá nhiều so với USD và VND, xuất khẩu của các nước này vào Mỹ và các thị trường khác chắc chắn sẽ tăng lên, đồng nghĩa với việc họ “ăn” mất thị phần xuất khẩu của Việt Nam ở cùng những thị trường đó. Đó là chưa kể xuất khẩu của Việt Nam vào chính các nước đối thủ khu vực này cũng sẽ bị sụt giảm vì bản tệ của họ đã mất giá so với VND. Suy rộng ra, Việt Nam sẽ bị mất lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu không chỉ với các nước trong khu vực mà còn với bất cứ nước nào trên thế giới có bản tệ yếu đi so với USD (và tức là với VND) và có cùng mặt hàng cũng như thị trường xuất khẩu như của Việt Nam. Mỗi 1 điểm phần trăm mất giá của các bản tệ này sẽ có tác dụng tương tự như 1 điểm phần trăm hoàn thuế xuất khẩu mà chính phủ các nước này trợ cấp cho nhà xuất khẩu của họ, giúp họ lấn lướt thêm các nhà xuất khẩu Việt Nam.

Điều tương tự xảy ra ở phương diện nhập khẩu. Các nước có bản tệ yếu đi so với USD và VND (không chỉ trong khu vực như nêu trong bảng trên mà còn trên thế giới) sẽ có thêm lợi thế xuất khẩu vào thị trường Việt Nam. Mỗi 1 điểm phần trăm mất giá của các bản tệ này có tác dụng tương đương như hạ đi 1 điểm phần trăm thuế đánh lên hàng xuất khẩu của họ vào thị trường Việt Nam, giúp hàng hóa của họ thêm lợi thế tràn vào lấn lướt, chèn ép hàng nội địa, làm thu hẹp sản xuất nội địa ở Việt Nam.

Tóm lại, tác động của việc VND lên giá so với nhiều bản tệ trên thế giới diễn ra trên diện rộng hơn nhiều, chứ không bó hẹp trong phạm vi xuất khẩu (và một số ít thị trường xuất khẩu) của Việt Nam như NHNN hay nhiều người quan niệm như hiện nay.

(3) Đành rằng để tăng khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu hiện nay yếu tố chính không phải là tỷ giá. Nhưng nếu tỷ giá gây bất lợi cho xuất khẩu thì có nghĩa là yếu tố tỷ giá sẽ triệt tiêu đi một phần hay toàn bộ những cố gắng cải thiện tính cạnh tranh của nhà xuất khẩu Việt Nam. Bởi thế, cùng một logic như của NHNN, để tăng khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu của Việt Nam thì nâng cao chất lượng, mẫu mã... không thôi là không đủ, mà phải có sự hỗ trợ của tỷ giá! Và cũng cùng một lý do này mà nhiều nước chủ động để bản tệ của họ yếu đi nhằm hỗ trợ cho xuất khẩu, chứ các chính phủ này không để mặc nhà xuất khẩu của mình tự loay hoay tìm sự sống còn theo kiểu như ở Việt Nam thế này.

(4) Chính xác ra thì cần phải nói rằng nhập siêu đang tăng trở lại. Chứ còn nhập khẩu đang tăng trở lại là điều bình thường và lành mạnh nếu nền kinh tế vẫn tăng trưởng và xuất khẩu cũng tăng và lớn hơn nhập khẩu để sao cho luôn đạt trạng thái cân bằng thương mại hoặc xuất siêu. Nếu đã rơi vào tình trạng nhập siêu như hiện nay thì việc không phá giá VND để kìm hãm chi phí nhập khẩu (nếu quy ra VND) sẽ không làm giảm khó khăn cho nền kinh tế vì nhập siêu có nghĩa là phải đi vay mượn nước ngoài để thanh toán cho số hàng nhập khẩu vượt trội này. Giải pháp cơ bản phải là phải tìm cách hạn chế nhập siêu, và một trong những công cụ hữu hiệu nhất là phá giá VND để vừa thúc đẩy xuất khẩu đồng thời lại góp phần hạn chế nhập khẩu (vì phá giá bản tệ sẽ có tác dụng như việc tăng thuế nhập khẩu tương ứng lên hàng nhập khẩu).

Điều chỉnh tăng tỷ giá đúng là sẽ khiến chi phí sản xuất tính bằng đồng Việt Nam tăng lên nhưng điều này không ảnh hưởng đến giá bán và lợi nhuận của hàng xuất khẩu. Giá xuất khẩu tính bằng USD, được cố định trong hợp đồng xuất khẩu. Giá nguyên vật liệu nhập khẩu cũng được tính bằng USD và cũng đã cố định trong hợp đồng nhập khẩu. Trong khi đó, những chi phí sản xuất phát sinh trong nước như tiền lương, điện nước, mặt bằng, thuế, phí, nguyên phụ liệu mua trong nước v.v... do tính bằng VND nên khi điều chỉnh tăng tỷ giá VND thì những chi phí này sẽ lại giảm đi nếu tính theo USD (và càng điều chỉnh tỷ giá mạnh thì chi phí này càng nhỏ đi nếu tính theo USD). Bởi vậy, trong đẳng thức: Lợi nhuận xuất khẩu (USD) = Giá xuất khẩu (USD) – Chi phí đầu vào nhập khẩu (USD) – Chi phí phát sinh trong nước (USD), khi giá xuất khẩu và chi phí đầu vào nhập khẩu cố định mà chi phí phát sinh trong nước giảm đi do VND bị mất giá thì rõ ràng lợi nhuận của nhà xuất khẩu sẽ tăng lên tương ứng với mức độ mất giá VND, chứ sao lại nói là không đáng kể?

(5) Nếu đúng như NHNN nói là đã đưa tiền ra khá nhiều, chủ yếu qua kênh mua ngoại tệ, làm giảm mặt bằng lãi suất, thì lẽ ra, theo lý thuyết, tỷ giá phải chịu áp lực điều chỉnh tăng lên (và hạ giá bản tệ trên thực tế chính là mục đích theo đuổi của 24 nước đã nới lỏng tiền tệ tính đến ngày 12/3*). Nhưng tỷ giá VND lại tương đối ổn định. Điều này có nghĩa là hoặc việc đưa tiền ra của NHNN là chưa đủ lớn để hạ lãi suất (và cũng tức là giảm giá VND), hoặc NHNN lại dùng những công cụ nào đó (gồm cả công cụ hành chính) để “trói” tỷ giá.

(6) Đúng là VND mất giá qua các năm, ngay cả trong giai đoạn mà USD liên tục giảm giá. Nhưng mức độ mất giá của VND là quá nhỏ so với, ví dụ, chênh lệch lạm phát giữa Việt Nam và Mỹ, cũng như mức độ mất giá của các bản tệ khác hiện nay. Nên VND đã lên giá thực so với USD nói riêng và các bản tệ khác nói chung, dẫn đến áp lực phá giá/điều chỉnh tỷ giá VND ngày càng dồn nén, và bởi vậy sẽ là một rủi ro lớn, không thể không lo lắng, nếu tỷ giá VND không được điều chỉnh linh hoạt hơn.

(7) Phá giá đúng là sẽ làm tăng gánh nặng nợ nước ngoài của chính phủ và doanh nghiệp, nhưng cần lưu ý rằng gánh nặng này chỉ tăng lên nếu quy ra VND, chứ còn nó sẽ không đổi nếu tính bằng USD, trước và sau khi phá giá. Để tránh cho chính phủ và doanh nghiệp phải trả nhiều VND hơn cho cùng một khối lượng nợ bằng USD thì NHNN phải giữ ổn định tỷ giá, hoặc phải cung cấp một lượng USD tương ứng với mức tỷ giá thấp hơn tỷ giá mà thực tế đòi hỏi (tỷ giá thị trường tự do). Điều này có nghĩa là NHNN phải bao cấp, “bù giá” cho chính phủ và doanh nghiệp. Nói cách khác, NHNN sẽ phải đứng ra gánh thiệt hại thay cho chính phủ và doanh nghiệp, và phí tổn này sẽ được tính hết vào quỹ dự trữ ngoại hối. Như thế, tránh tăng gánh nặng nợ nước ngoài cho doanh nghiệp và chính phủ bằng cách không phá giá thì sẽ phải đánh đổi lấy sụt giảm dự trữ ngoại hối. Đồng thời, nếu cứ được bao cấp thế này thì tội gì mà doanh nghiệp không bạo tay đi vay nước ngoài? Vậy có nên đánh đổi?



Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2014, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam" forthcoming in "Emerging Markets Finance and Trade".

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).