Thursday, 26 May 2016

Trả lời bạn đọc (tiếp)

Đồng chí bạn đọc hồm trước tiếp tục comment, và tớ tiếp tục trả lời như dưới đây.

Đồng chí bạn đọc viết: Trong phần comment trước, em muốn nêu ý kiến rằng thật ra SBV cũng chưa thực hiện chính sách cụ thể gì để nới lỏng tiền tệ và do vậy, việc lãi suất chưa giảm cũng không phải do các NHTM chiếm dụng vốn funding cho các khoản nợ xấu đang tồn đọng.
Về việc
SBV đã thực sự thực hiện biện pháp nới lỏng tiền tệ hay chưa: hoàn toàn đồng ý với anh răng việc SBV mua hơn 6 tỷ USD, bơm VND ra là 1 một hình thức nới lỏng CSTT. Tuy nhiên, nếu so với năm 2015 SBV bán ra gần 9 tỷ USD hút VND vào thì về tổng thể từ đầu 20145 tới nay, SBV vẫn đang hút ròng từ hệ thống NHTM khoảng 45k tỷ VND . Như vậy đâu phải do SBV nới lỏng tiền tệ. {phần này em nhầm về số liệu, xin phép edit bỏ đi ạ}

Trả lời: Tớ không sai tẹo nào cả! Đồng chí chỉ nghĩ đến chuyện bơm/hút tiền để mua/bán USD mà quên mất rằng ngoài việc này SBV đã có thể bơm tiền vì mục đích khác, ví dụ, cứu thanh khoản. Tất cả đều phản ánh qua con số thực tế đã công bố, chứ tớ chẳng bịa ra được.

Nói cách khác, ai đó có khả năng bị ung thư phổi, đồng chí là bác sĩ, lại phán rằng chắc không phải, vì hỏi bệnh nhân và được trả lời rằng không hút thuốc!

Đồng chí
bạn đọc viết:  Về việc các NHNN tận dụng nguồn nới lỏng để tài trợ cho nợ xấu: trong phần trả lời của anh rằng "nhu cầu giữ lại vốn huy động giành cho nhu cầu nội tại là có thật" thì em hoàn toàn đồng ý với anh. Tuy nhiên, nhu cầu này không phải chỉ xuất hiện từ 1-2 năm nay mà nó đã có từ rất lâu hồi 2011-2012, khi NHNN bắt đầu quá trình tái cơ cấu ngành ngân hàng. Tới cuối 2015, khi hoàn tất quá trình tái cơ cấu, thì nguồn funding cho "cục máu đông" này năm chủ yếu ở các ngân hàng 0 đồng, kiểm soát đặc biệt, và dạng NHNN nhận ủy quyền của các cổ đông lớn, ... Và như vậy, gói hỗ trợ (nếu có) cũng chỉ funding cho nhóm ngân hàng này chứ không phải cho cả hệ thống NHTM. Tuy nhiên, theo em suy đoán, thì SBV đã có những phương thức khác funding cho các ngân hàng này mà không làm tăng cung tiền của toàn hệ thống (ví dụ như ép các nh có vốn nhà nước hỗ trợ vốn cho nhóm này).

Trả lời: Lập luận này cũng sai về logic. Đúng là nhu cầu nội tại là có từ lâu (và tớ đã đúng khi đoán thế nào cũng có người lôi chi tiết này ra!) nhưng đồng chí bỏ qua khả năng là nhu cầu nội tại này đã lớn lên (đột xuất) cùng với thời gian. Ví dụ, những năm trước đây khi chưa có VAMC, khi chưa bị thanh tra tỷ lệ nợ xấu thực tế thì các ngân hàng không cần phải trích dự phòng nhiều. Nhưng 2, 3 năm gần đây tình hình đã khác, khi nợ xấu được phanh phui và buộc phải trích lập dự phòng đầy đủ; và kể cả khi có VAMC thì hàng năm vẫn phải trích lập 20% cho nợ xấu.

Đồng chí bạn đọc viết: Như vậy, em muốn khẳng định quan điểm rằng : SBV chưa thực sự nới lỏng chính sách tiền tệ dù dư địa chính sách còn khá nhiều. Hiện nay, SBV có rất nhiều công cụ hạ lãi suất mang tính thị trường chứ không phải chỉ có chính sách hành chính kiểu như hạ dự trữ bắt buộc, trần huy động cho vay, ... Như các cụ chuyên gia về hưu, 5 năm nay không cập nhật tình hình hoạt động của NHNN đem ra bàn bạc (nói cái này thì khối cụ giận : )

Trả lời: Như tớ nói ở trên, rằng tớ không bịa ra được số liệu nên căn cứ vào những gì đã được công bố thì không thể kết luận khác được, và phản biện của đồng chí là không có căn cứ, như tớ đã giải thích ở trên.

Đồng chí bạn đọc viết: Em cũng rất đồng ý với anh rằng thứ SBV cần cân nhắc trước khi thực hiện các chính sách nới lỏng là lo ngại yếu tố lạm phát. Ngoài ra, em cho rằng nếu có nới lỏng chính sách tiền tệ, giảm lãi suất thì có thực sự hỗ trợ được cho các doanh nghiệp tư nhân (vốn đang rất khó khăn tiếp cận vốn vay ngân hàng) để thúc đẩy tăng trưởng GDP hay không? Hay việc giảm lãi suất cũng chỉ làm giảm nhẹ gánh nặng nợ lãi cho các DNNN ăn hại, đang kéo dài chút hơi tàn trước khi phá sản như Tisco, Vinacomin, Dung Quất, ...và như vậy thì việc gì phải cổ vũ cho việc nới lỏng chính sách tiền tệ

Trả lời: Trong khuôn khổ thể chế và thị trường hiện hành thì đương nhiên là chỉ một phần vốn đến được doanh nghiệp tư nhân. Nhưng, về logic, khi mọi thứ không thay đổi, trừ cung tiền được nới lỏng, thì vốn ngân hàng sẽ chảy nhiều hơn đến các doanh nghiệp tư nhân. Không nới lỏng thì tình hình có khi còn tồi tệ hơn khi các DNNN (và Chính phủ) càng tìm cách giật lấy số vốn ít ỏi có trong nền kinh tế.

Phát hành trái phiếu ngoại tệ ở trong nước thì không chống đô la hóa được! (Bài đăng trên CafeF, ngày 25/5/2016)

http://cafef.vn/phat-hanh-trai-phieu-ngoai-te-o-trong-nuoc-thi-khong-chong-do-la-hoa-duoc-20160525082320065.chn

Gần đây rộ lên kiến nghị xem xét lại chính sách hạ lãi suất tiền gửi USD xuống 0%. Chính sách này vốn là một trong những giải pháp của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nhằm giảm tình trạng “đô la hóa”. Nhiều người cho rằng chính sách này đã dẫn đến tình trạng một lượng ngoại tệ nhiều tỷ USD “nằm chết” trong két sắt của người dân, trong khi nền kinh tế đang thiếu vốn. Theo họ, đây là một sự lãng phí lớn nên Chính phủ cần phải tìm cách huy động sử dụng nguồn lực lớn này.

Có điều, nếu huy động và trả lãi cho số ngoại tệ này thì sẽ gây ra hiệu quả phụ là làm trầm trọng hóa tình trạng đô la hóa nền kinh tế Việt Nam. Bởi vậy, một vài chuyên gia đã đề xuất cách thức huy động nguồn vốn này bằng cách Chính phủ phát hành trái phiếu ngoại tệ ở thị trường trong nước. Còn để chống đô la hóa thì các chuyên gia này đề xuất Bộ Tài chính cam kết, khi đáo hạn vẫn thanh toán lãi bằng ngoại tệ nhưng quy đổi ra VND với tỷ giá tại thời điểm thanh toán. Như vậy, ngân sách huy động được nguồn ngoại tệ trong nước bằng cách này sẽ không ảnh hưởng gì tới việc chống đô la hóa và còn có thể giảm được lãi suất VND.

Đề xuất trên xuất phát từ sự hiểu sai về đô la hóa. Theo cách hiểu chính thống, đô la hóa là tình trạng một quốc gia chính thức hoặc không chính thức sử dụng bản tệ của một nước khác làm phương tiện giao dịch và thanh toán hợp pháp trên lãnh thổ quốc gia. Khi ngoại tệ càng thay thế bản tệ trong các giao dịch thì nạn đô la hóa ở nước này càng trầm trọng, thậm chí đến mức cực điểm là ngoại tệ thay thế toàn bộ bản tệ, như với trường hợp ở một số nước có siêu lạm phát.

Trở lại với đề xuất huy động ngoại tệ (trong trường hợp này là USD) thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ ở thị trường trong nước nói trên. Bản thân việc cho phép cá nhân và tổ chức (thường trú) tại Việt Nam được mua trái phiếu bằng USD đã là một hành động “tiếp sức” cho nạn đô la hóa, ở cái nghĩa là USD được công nhận và sử dụng một cách chính thức tại Việt Nam, thay thế cho VND, dù chỉ là để mua trái phiếu.
Giả sử Chính phủ vẫn sẵn sàng chấp nhận tình trạng đô la hóa một phần bằng việc nhận về USD khi phát hành trái phiếu ngoại tệ, còn khi đáo hạn thì thanh toán tiền gốc và lãi cho số ngoại tệ này cho trái chủ bằng VND theo tỷ giá tại thời điểm đáo hạn. Liệu cách này có thật sự khả thi không?

Chắc chắn là phương thức huy động kiểu này chỉ có lợi cho Chính phủ nên sẽ chẳng thu hút được mấy sự quan tâm của nhà đầu tư. Đơn giản nhất là lý do ít người tin vào tỷ giá hối đoái chính thức được dùng làm tỷ giá tham chiếu để hoán đổi USD ra VND. Do hầu như luôn có sự chênh lệch lớn giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do, nên người nắm giữ USD luôn bị thiệt thòi lớn khi không may đến hạn thanh toán gốc và lãi trái phiếu này mà thị trường lại đang ở trong thời kỳ căng thẳng cung cầu USD làm VND bị mất giá mạnh nhưng tỷ giá chính thức lại bị “neo” cứng ở mức bất hợp lý như đã nhiều lần xảy ra trong quá khứ.

Như vậy, việc huy động được số USD “nằm chết” trong dân không thể xảy ra đồng thời với chống đô la hóa một cách hoàn hảo, và cho dù có chấp nhận bị đô la hóa một phần thì chắc chắn cũng khó huy động thành công được vì cách thức huy động nửa vời này sẽ đặt nhà đầu tư vào tình trạng phải đối mặt với rủi ro là tài sản của mình trước khi mua trái phiếu là con voi, đến khi đáo hạn thành con chuột.

Đó là chưa kể đến lý do nữa là nhà đầu tư khi đáo hạn, được Chính phủ thanh toán và nhận về toàn VND, nhưng sẽ không dễ dàng đổi ra được USD như trạng thái ban đầu vì không thể mua được lại số USD cần thiết từ hệ thống ngân hàng do những quy định chặt chẽ về quản lý ngoại hối. Nếu chạy ra thị trường tự do để mua thì, ngoài rủi ro tỷ giá, nhà đầu tư còn phải chịu thêm rủi ro bị tịch thu và xử phạt vì giao dịch này là trái pháp luật.
Ngoài ra, khi đáo hạn, thanh toán cho trái chủ tiền gốc và lãi USD bằng VND, thì hoặc Chính phủ phải huy động VND ở đâu đó để trả cho nhà đầu tư, hoặc Chính phủ phải bán USD (vay nợ thêm từ trong nước hay quốc tế) để lấy VND trả cho nhà đầu tư. Cả 2 cách này đều làm tăng đột biến cầu VND dẫn đến tăng áp lực lên lãi suất VND, chứ không phải là giảm đi như các chuyên gia nói trên lập luận.

Chưa hết, nếu Chính phủ dùng một phần USD huy động được ở trong nước cho chi tiêu trong nước thì Chính phủ phải chuyển đổi lượng USD này ra VND, cũng sẽ làm tăng áp lực lên lãi suất vì cầu VND đã tăng lên. Lúc đó, để ổn định lãi suất thì NHNN phải chạy theo bằng cách tung VND ra để mua số USD này về. Nhưng việc này lại làm gia tăng áp lực lên tỷ giá VND/USD. Hay nói cách khác, lãi suất không những không giảm mà tỷ giá sẽ thêm bất ổn từ hành động huy động USD của Chính phủ rồi chi tiêu (một phần) trong nước, và đây chính là biểu hiện, là hậu quả của nạn đô la hóa được tiếp sức một cách chính thức.

Monday, 23 May 2016

Trả lời bạn đọc


Có đồng chí bạn đọc gửi comment cho bài Chính sách tiền tệ đang được nới lỏng?”, nhưng hình như không publicly shared nên tớ không biết làm cách nào để trả lời, bèn copy ra riêng một entry để trả lời cho thấu đáo vậy.

Đồng chí bạn đọc viết: Em thấy tín dụng tháng 4 tăng nhanh so với các tháng đầu năm chủ yếu là do các khoản vay chưa giải ngân giai đoạn Tết và tháng giêng (âm lịch) dồn vào tháng 4 thôi. thực tế thì nếu lấy tăng trưởng tín dụng (cả usd và vnd) cuối tháng 4/2016 (tăng khoảng hơn 4 %) so với cuối tháng 3 (khoảng 3%) thì chỉ tăng khoảng 1% , theo em thì cũng chưa phải là tăng nhanh.

Trả lời: Tớ đồng ý là nếu chỉ so sánh tháng 4 với tháng 3 thì thấy là “chỉ” hơn nhau có 1 điểm %, nên cũng khó kết luận là tăng nhanh hay không, nhất là khi ở Việt Nam đã quen với con số tăng trưởng đủ loại lên đến thậm chí 2 con số. Nhưng như đã nêu trong bài, một trong những cơ sở để biết tăng trưởng như vậy là nhanh hay không là so sánh với cùng kỳ năm trước (để loại bỏ yếu tố thời vụ, như chuyện Tết và tháng giêng), cũng là cách mà các cơ quan chức năng của Việt Nam hay công bố, ví dụ như Bộ Kế hoạch đầu tư hay Tổng cục Thống kê. Mà so với năm trước thì rõ ràng tốc độ tăng trưởng của tháng 4 là nhanh hơn nhiều, đủ để kết luận rằng chính sách tiền tệ đang được nới lỏng mạnh mẽ.

Đồng chí bạn đọc viết: Ngoài ra, cung tiền M2 tăng nhanh chủ yếu là do yếu tố SBV mua USD dẫn đến VND được bơm ra. theo em ước tính đến cuối tháng 4 thì SBV đã mua vào hơn 6 tỷ USD (khoảng 140k tỷ VND, tương đương hơn 2% M2). về số tuyệt đối thì số này cũng tương đương số tăng trưởng tín dụng 4 tháng đầu 2016. Nếu nhìn nhận việc SBV mua USD chỉ là để bù lại dự trữ ngoài tệ đã bị hụt đi do năm 2015 phải bán để ổn định tỷ giá (khoảng 9 tỷ USD, không tính 1 tỷ USD bán FW) thì cho tới nay vẫn chưa thấy SBV có hành động cụ thể gì để nới lỏng tiền tệ.
Trả lời: Hành động mua USD, tung VND ra mà không sterilize chính là một hình thức (chủ ý) nới lỏng chính sách tiền tệ, tăng cung tiền. Nên không thể nhìn nhận hành động này chỉ là để bù lại dự trữ ngoại tệ đã bị thâm hụt. Nói cách khác, bất kể hành động nào của NHTW dẫn đến làm tăng cung tiền thì đều phải, đều được coi là nới lỏng chính sách tiền tệ.

Đồng chí bạn đọc viết: Như vậy phần tiền VND được bơm thêm vào hệ thống cũng xấp xỉ với dư nợ tăng thêm, các NHTM cũng chả giữ được gì cho nhu cầu vốn nội tại. SBV ngoài nước bọt thì cũng chả giúp đỡ được gì, chưa kể mấy năm nay các NHTM cũng cống hiến không ít cho cái danh hiệu "trader of the year" của SBV :D

Trả lời: Lý giải trên của đồng chí không giải thích được tại sao lại có chênh lệch giữa tốc độ tăng trưởng cung tiền với tăng trưởng tín dụng như báo cáo chính thống. Một khả năng là ngoài chuyện tung VND ra mua USD như đồng chí nêu, NHNN vẫn đã bơm thêm tiền qua, ví dụ, thị trường mở, mua trái phiếu Chính phủ v.v… nên tốc độ tăng cung tiền mới lớn hơn tốc độ tăng tín dụng.

Đồng chí bạn đọc viết: Thực tế, đến cuối quá trình tái cơ cấu, sau khi đã cho thanh tra quần nát bét các NHTM thì con số tổng nợ xấu mà bác Bình có lần lỡ mồm thòi ra cũng chỉ tầm hơn 10%. Số nợ xấu các ngân hàng hiện nay khoảng 7% (chưa đến 5% bán cho VAMC và khoảng hơn 2% theo các NHTM công bố), chênh khoảng hơn 3%, tương ứng khoảng 130k tỷ, chủ yếu nằm ở mấy bank đang được sbv "chăm sóc đặc biệt"

Trả lời: Tớ không rõ lắm về mối liên hệ của đoạn trên với bài viết, nhưng đoán rằng đồng chí muốn nói là nhu cầu giữ lại vốn huy động dành cho nhu cầu nội tại như nợ xấu thực ra cũng không lớn lắm. Nếu đúng là vậy thì đây vẫn là một nhu cầu có thật, đang tồn tại, đang “tiêu” mất một số vốn huy động của ngân hàng, và do đó giải thích được lý do tại sao lại có chênh lệch giữa tăng trưởng cung tiền và tăng trưởng tín dụng.

Đồng chí bạn đọc viết: Em là đàn em, biết tí thông tin do đang làm......, có mấy ý tưởng gửi anh để trao đổi học hỏi thêm. Nếu anh thấy vớ vẩn quá thì bỏ qua ạ.

Trả lời: Úi chết, tớ phải nói rất thành thật là cám ơn comment của đồng chí, vì vừa biết được thêm thông tin (tớ ngồi bên này thì chịu không thể biết được), vừa biết được người đọc hiểu về vấn đề này thế nào, hiểu về bài viết của mình ra sao.

Qua đây, tớ thấy được là nhiều người, kể cả những “chuyên gia” kỳ cựu như Trương Văn Phước, vẫn hiểu mơ hồ về chính sách tiền tệ và nới lỏng chính sách tiền tệ, coi đó là một cái gì đó rất phức tạp, cao siêu, và “phạm húy” nữa.hêm. Nếu anh thấy vớ vẩn quá thì bỏ qua ạ.

Saturday, 21 May 2016

Chính sách tiền tệ đang được nới lỏng? (Bài đăng trên CafeF, 21/5/2016)

http://cafef.vn/chinh-sach-tien-te-dang-duoc-noi-long-20160521150943397.chn

Tăng trưởng cho vay của các ngân hàng thương mại đang tăng tốc mạnh trong những tháng gần đây. Theo Tổng cục thống kê, nếu như đến 21/3, tăng trưởng tín dụng mới chỉ đạt 1,54% so với cuối năm 2015 (cùng kỳ năm trước tăng 1,25%), thì đến 20/4, tăng trưởng tín dụng đã vọt lên mức gần gấp đôi, 2,99%, theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và đầu tư trình Chính phủ.
Trước thực tế này, một số người cho rằng Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang nới lỏng chính sách tiền tệ nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn của nền kinh tế. Nhưng cũng có người phản đối, cho rằng chưa có biểu hiệu nào chứng tỏ chính sách tiền tệ của NHNN đang được nới lỏng. Ví dụ, tỷ lệ dự trữ bắt buộc vẫn giữ nguyên, không hề kéo xuống thấp trong vài năm nay; tái cấp vốn cũng có liều lượng, cung ứng vốn qua các công cụ của NHNN không có biểu hiện của việc nới lỏng chính sách.
Nhưng nhìn vào số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê về cung tiền M2, hay còn gọi là tổng phương tiện thanh toán, đến thời điểm 21/3/2016, M2 tăng 3,08% so với cuối năm 2015 (cùng kỳ năm trước tăng 2,09%). Một tháng sau, tính đến ngày 20/4, M2 đã tăng vọt lên 4,54% so với tháng 12/2015 (cùng kỳ năm 2015 là 2,57%), cũng theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và đầu tư. 
Như vậy, rõ ràng NHNN đang đẩy mạnh cung tiền ra nền kinh tế, hay nói cách khác, chính sách tiền tệ của NHNN đang được nới lỏng mạnh mẽ trong năm nay, đặc biệt là so với năm 2015.
Nhưng đến đây nẩy sinh ra một vấn đề, tại sao, theo như dư luận nhìn nhận từ thực tế nhiều ngân hàng đã tham gia cuộc đua tăng lãi suất huy động, mặt bằng lãi suất đang có xu hướng tăng lên, bất chấp thực tế là NHNN đã và đang nới lỏng mạnh chính sách tiền tệ, gia tăng cung tiền?
Trước tiên, nhìn vào bảng số liệu dưới đây của NHNN về diễn biến lãi suất huy động và cho vay trong 2 tháng qua so với cuối năm 2015, có thể thấy ngoại trừ lãi suất cho vay liên ngân hàng có biến động tương đối đáng kể (nhưng không theo chiều hướng tăng lên hay giảm đi rõ rệt), các lãi suất huy động và cho vay phổ biến của ngân hàng thương mại rất ổn định trong mấy tháng qua so với cuối năm 2015. Nếu giả sử những số liệu thống kê này của NHNN là chính xác và đáng tin cậy thì có thể khẳng định rằng chuyện lãi suất đang bị áp lực gia tăng nếu có xảy ra thì chỉ là mang tính cục bộ, ngắn hạn, chứ không thành xu hướng rõ rệt, có khả năng kéo dài.
 
Nhưng nếu đúng như vậy thì sẽ có người đặt vấn đề ngược lại là, nếu thực sự NHNN đang nới lỏng mạnh chính sách tiền tệ để gia tăng cung tiền thì tại sao lãi suất huy động và cho vay phổ biến của các ngân hàng thương mại lại không thể hiện xu hướng đi xuống như lẽ ra phải thế?

Lý do đơn giản cho vấn đề này là thực tế thì tăng trưởng tín dụng cũng đã tăng nhanh và mạnh. Như trên đã cho thấy, không chỉ tốc độ tăng trưởng cung tiền M2 mà cả tốc độ tăng trưởng tín dụng cũng đã gia tăng mạnh trong mấy tháng đầu năm nay so với cuối năm 2015. Nói các khác, gia tăng cung tiền đã và đang được thực hiện bám sát tốc độ và mục tiêu tăng trưởng tín dụng trong những tháng qua và có lẽ là cả thời gian tới với mục đích ổn định và, tham vọng hơn, tiến tới giảm dần lãi suất cho vay trung dài hạn.

Cũng sẽ có người đặt câu hỏi, tại sao tăng trưởng cung tiền M2 có tốc độ gia tăng lớn hơn đáng kể so với tăng trưởng tín dụng mà mặt bằng lãi suất lại không có dấu hiệu suy giảm?

Có thể trả lời câu hỏi này từ thực tế là mặc dù các ngân hàng cũng đã và đang đạt được mức tăng trưởng huy động cao hơn tăng trưởng tín dụng cho vay (ví dụ, tính đến 21/3, tăng trưởng huy động đạt 2,26% so với cuối năm 2015, trong khi tăng trưởng tín dụng chỉ là 1,54%), nhưng các ngân hàng thương mại luôn phải giữ lại một phần vốn huy động để giải quyết các nhu cầu nội tại như cân đối nguồn vốn, dự phòng và giải quyết nợ xấu, dự phòng rủi ro, và cho các mục đích đầu tư, kinh doanh v.v...
Như vậy, mặc dù chính sách tiền tệ đang được nới lỏng, nhưng lượng tiền cung ứng gia tăng này không đi hết vào nền kinh tế thông qua kênh tín dụng của ngân hàng thương mại mà được các ngân hàng huy động và giữ lại một phần để đáp ứng các nhu cầu nội tại, từ đó làm nảy sinh chênh lệch giữa tốc độ tăng trưởng cung tiền (cũng như tốc độ tăng trưởng huy động) và tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại.
Từ phân tích trên, điều có thể rút ra là để các ngân hàng thương mại hạ lãi suất cho vay thì một trong những điều kiện tiên quyết là NHNN phải tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ mạnh hơn nữa để gia tăng cung tiền nhằm hậu thuẫn cho các ngân hàng thương mại tăng cường huy động với lãi suất thấp hơn để cho vay cũng với lãi suất thấp hơn. Đương nhiên, rủi ro cho việc này là lạm phát sẽ gia tăng trở lại. Vì lạm phát mục tiêu năm nay đã được xác định ở mức 5% trong khi lạm phát thực tế 5 tháng đầu năm nay đã ở mức ước tính gần 2% nên dư địa để NHNN tăng mạnh hơn nữa cung tiền sẽ không còn nhiều, không thể mạo hiểm.
Do đó, có nhiều khả năng NHNN sẽ giữ nguyên tốc độ và nhịp gia tăng cung tiền như hiện tại cho đến hết năm để tiếp tục ổn định mặt bằng lãi suất (chứ không hy vọng là giảm đi), và đây cũng đã là một thành công khi họ phải “căng mình” giữa 2 mục tiêu mâu thuẫn là, một mặt, gia tăng cung tiền nhằm gia tăng tăng trưởng tín dụng để đạt tốc độ tăng trưởng GDP năm nay cao hơn năm 2015, mặt khác, phải kiềm chế lạm phát trong phạm vi mục tiêu 5%.

Friday, 20 May 2016

Công ty vỏ bọc: không bất hợp pháp, cũng chẳng tốt đẹp! (Bài đăng trên TBKTSG, 20/5/2016, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/146564/Cong-ty-vo-boc-khong-bat-hop-phap-cung-chang-tot-dep.html

Sự công bố danh tính của nhiều cá nhân và tổ chức ở Việt Nam có tên trong Hồ sơ Panama cũng đã gây ra một cơn bão trong nước từ suốt tuần qua. Dư luận có một số quan điểm khác nhau. Nhiều người đã lên tiếng đặt dấu hỏi về sự trong sạch của những cá nhân và tổ chức này, trong khi nhiều người khác thì tỏ ra công tâm hơn, với quan điểm có tên trong hồ sơ này không đồng nghĩa với phạm pháp. Vậy nên nhìn nhận vụ việc này thế nào?


Điều làm đa phần dư luận trong và ngoài nước “dị ứng” nhất với những cá nhân và tổ chức sở hữu và/hoặc quản lý các công ty vỏ bọc (shell company) là các công ty này chỉ tồn tại trên giấy, không có trụ sở làm việc, không tài sản, không nhân viên, mà cũng chẳng có một ngành nghề kinh doanh cụ thể nào. Chủ sở hữu thực sự của công ty thậm chí có thể dùng các chi tiết cá nhân của một người khác khi đăng ký thành lập công ty để đảm bảo tính riêng tư, bảo mật, che giấu sự liên quan của mình với công ty. Các công ty này thường được đăng ký tại địa chỉ của một công ty làm dịch vụ thành lập những công ty vỏ bọc tại một quốc gia hoặc lãnh thổ được gọi là “thiên đường thuế” như Bahamas, Bermuda, Cook, quần đảo Cayman, Panama, Jersey, quần đảo Virgin..
Chưa hết, người ta cũng có thể dễ dàng mua lại một công ty vỏ bọc khác có lịch sử “hoạt động” từ vài năm trước. Khi hoạt động dưới vỏ bọc của công ty có “thâm niên” này, người chủ của nó sẽ gặp thuận lợi hơn trong nhiều giao dịch, ví dụ như vay vốn, vốn sẽ khó khăn hơn rất nhiều nếu là dưới tư cách của một công ty mới được thành lập tuần trước, tháng trước… Nếu người chủ của nó là tội phạm thì việc sở hữu công ty như vậy sẽ làm mờ dấu vết tội phạm của người này.
“Công dụng”
Mặc dù là hợp pháp song do tính chất “ma” như trên, dễ bề được sử dụng cho những hành vi phạm pháp nên dù chưa bị “lộ” thì các công ty vỏ bọc này và các ông chủ của chúng vẫn thường có hình ảnh rất xấu và phảm cảm trong con mắt của dư luận. Chẳng phải ngẫu nhiên mà chưa biết thực hư thế nào nhưng khi Hồ sơ Panama xuất hiện, nó đã châm ngòi cho các cuộc biểu tình đây đó trên thế giới đòi các quan chức có tên trong hồ sơ này từ chức ngay lập tức.

Mục đích chủ yếu đầu tiên các công ty vỏ bọc thường hay được sử dụng là để tránh thuế. Bằng các thủ thuật kế toán để chuyển giá, các công ty xuyên quốc gia thường xuyên chuyển lợi nhuận về các công ty vỏ bọc ở các thiên đường thuế nhằm tránh phải trả thuế thu nhập doanh nghiệp ở những nước có mức thuế lên tới vài chục phần trăm, gồm có Việt Nam. Tuy không ít người ở trong và ngoài nước cho rằng hành vi này không phải là bất hợp pháp nhưng thực tế thì những nước như Mỹ đã và đang tìm cách truy thu hàng tỷ đô la tiền thuế mà những doanh nghiệp này đã “né” được bấy lâu nay. Điều tương tự cũng đang được quyết tâm thực hiện ở Việt Nam khi ai cũng thấy một điều hiển nhiên vô lý là các công ty lớn như Coca Cola và Pepsi liên tục tăng trưởng doanh thu và mở rộng hoạt động nhưng luôn báo lỗ để không phải trả một đồng thuế thu nhập doanh nghiệp nào tại Việt Nam.

Mục đích thứ hai là che giấu tài sản ở dưới dạng, ví dụ, bất động sản ở nước ngoài, hay tài khoản tại Thụy Sĩ. Che giấu sự sở hữu những tài sản này không chỉ nhằm trốn thuế, tránh thuế, mà còn để trốn tránh những quy định và luật lệ khác tại nơi cư trú như luật lệ về phòng chống tội phạm, luật lệ về công khai hóa và minh bạch tài sản, hay các luật lệ về tài chính.
Người chủ thực sự của những tài sản này có thể là một quan chức Chính phủ nhưng vì không muốn để lộ danh tính thực nên trên giấy tờ pháp lý thì những tài sản này là thuộc sở hữu của một công ty vỏ bọc. Nhưng khi người ta muốn khám phá sâu hơn nữa người chủ thực sự của công ty này là ai thì sẽ vấp phải bức tường bảo mật. Hành vi che giấu một cái gì đó thì không hẳn là phạm pháp hay đáng lên án. Nó chỉ trở thành hành vi phạm pháp khi các cơ quan chức năng chứng minh được sự dính dáng trực tiếp giữa quan chức này với công ty vỏ bọc đó, hay thông qua một loạt các mối liên hệ nhằng nhịt với các công ty vỏ bọc khác để không phải khai báo và chịu sự chế tài của các luật lệ và quy định ở nơi cư trú.
Mục đích thứ ba của việc sử dụng công ty vỏ bọc là để lợi dụng khe hở pháp luật trong đầu tư nước ngoài. Không phải ngẫu nhiên mà, ví dụ, đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc từ Hong Kong luôn chiếm một tỷ trọng lớn. Có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều người từ Trung Quốc chuyển tiền sang công ty vỏ bọc mở ở Hong Kong để rồi đầu tư ngược lại vào Trung Quốc dưới tư cách là nhà đầu tư nước ngoài nhằm hưởng những ưu đãi mà chính quyền Trung Quốc dành cho nhà đầu tư nước ngoài.
Mục đích thứ tư, và không nhất thiết là mục đích cuối cùng, là giúp các nhà đầu tư giảm thiểu rủi ro pháp lý khi đầu tư vào những nước có hệ thống pháp luật yếu kém. Giả sử nhà đầu tư nước ngoài có một liên doanh ở Việt Nam với đối tác là một pháp nhân Việt Nam. Nhà đầu tư nước ngoài lo ngại rằng khi có tranh chấp thì tòa án địa phương sẽ ra phán quyết ưu ái hơn cho đối tác Việt Nam. Để tránh tình trạng này, nhà đầu tư nước ngoài mở một công ty vỏ bọc ở quần đảo Virgin thuộc Anh được chế tài bởi luật pháp của Anh.
Tác động
Điểm qua bốn “công dụng” chính nói trên của các công ty vỏ bọc tại các thiên đường thuế thì thấy chỉ có mục đích thứ tư là có ý nghĩa tương đối tích cực, nhưng tất nhiên là đối với cá nhân nhà đầu tư. Còn ba mục đích còn lại thì không chỉ làm lợi cho cá nhân mà, ngược lại, thậm chí là phạm pháp và/hoặc có ý nghĩa rất tiêu cực với quốc gia, với xã hội. Quốc gia mất đi một nguồn thu thuế lớn. Giới tội phạm và gian lận có một công cụ đắc lực để rửa tiền, che giấu tài sản (có được từ các hành vi phạm pháp). Xã hội thì thêm phân hóa bởi bất bình đẳng giầu nghèo giãn rộng với giới có thu nhập cao thì ngày càng giầu một phần bởi những hành vi cả phạm pháp lẫn hợp pháp thông qua các công ty vỏ bọc.

Cần làm gì?

Tóm lại, mặc dù hoàn toàn có thể là hợp pháp nhưng rõ ràng sự tồn tại của các công ty vỏ bọc và việc sử dụng chúng cho một mục đích nào đó thường chỉ có hại, hoặc chí ít thì chẳng tốt đẹp gì, nếu nhìn từ lợi ích quốc gia và trật tự xã hội.

Quay trở lại với các trường hợp bị nêu danh tính ở Việt Nam. Điểm chung đầu tiên có thể thấy là các cá nhân liên đới nhanh chóng lên tiếng khẳng định sự bình thường trong sự dính líu của mình với các công ty vỏ bọc. Một số người thì phân bua sự “trong sạch” theo kiểu “không khảo mà xưng” của mình bằng cách chỉ ra rằng họ đã đóng cửa, thoát ra khỏi các công ty này từ vài năm trước (Vậy tại sao phải mở hoặc tham gia vào các công ty này trước đây?). Người thì cho rằng mình là nhà đầu tư quốc tế, là Việt kiều, nên chuyện đầu tư vào công ty vỏ bọc là bình thường! (Ai đầu tư vào công ty vỏ bọc ở thiên đường thuế mà không phải là nhà đầu tư nước ngoài?). Người thì chứng minh sự bình thường của mình bằng việc tiết lộ rằng họ chỉ mua lại công ty khác ở nước ngoài (Lưu ý về mục đích của việc mua lại công ty vỏ bọc như phân tích ở trên).

Những lời biện bạch, giải thích trên đương nhiên là quá sơ sài, ít ỏi, và thậm chí là không có ý nghĩa gì để chứng tỏ cho xã hội thấy họ là người đàng hoàng, trong sạch (tất nhiên là dưới góc nhìn từ lợi ích của toàn xã hội). Trong khi đó, mặc dù giữ thái độ thận trọng cần thiết, nhưng các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cần khẩn trương làm việc với từng cá nhân và tổ chức có tên trong Hồ sơ Panama để làm rõ động cơ và lịch sử những giao dịch của họ liên quan đến các công ty vỏ bọc.

Cũng cần nói thêm một số kiến giải và khuyến nghị xem ra có phần “chệch hướng” của một số chuyên gia. Nhiều người đề nghị hướng điều tra tập trung vào chuyện chuyển tiền ra nước ngoài, xem đó có phải là đầu tư, kinh doanh hay không, hay tiền gửi có hợp pháp hay không, có vi phạm các quy định quản lý ngoại hối hay không…

Đương nhiên là khi có giao dịch chuyển tiền chính thống (qua ngân hàng) thì các khoản chuyển tiền này phải là hợp pháp, “đúng quy trình”, đúng mục đích đã khai báo thì mới thực hiện được. Vấn đề đáng nói là mục đích thật sự chứ không phải là mục đích danh nghĩa của các khoản tiền này. Ví dụ, mục đích thật sự là tẩu tán tài sản thông qua một giao dịch chuyển tiền thanh toán hóa đơn nhập khẩu hoàn toàn hợp pháp cho một nhà xuất khẩu là một công ty “ma” ở Cayman. Làm sao để phát hiện ra và chứng minh được mục đích thật sự này mới là việc khó và cần phải làm của cơ quan chức năng Việt Nam. Cần tránh những tuyên bố và khẳng định thiếu thuyết phục như “hiện nay, các văn bản về quản lý ngoại hối đã có đầy đủ các quy định về giao dịch thanh toán, chuyển tiền vào và ra khỏi Việt Nam đối với các giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, mở tài khoản ở nước ngoài...” nên có thể …yên tâm!

Tuesday, 17 May 2016

6 lý do cản trở việc huy động vàng để phát triển kinh tế (Bài đăng trên CafeF, ngày 17/5/2016)


http://cafef.vn/6-ly-do-can-tro-viec-huy-dong-vang-de-phat-trien-kinh-te-20160517091809035.chn

Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam mới đây đã kiến nghị Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thành lập Sở Giao dịch vàng quốc gia và phát hành chứng chỉ vàng để huy động vàng trong dân cho đầu tư phát triển kinh tế. Đề xuất này có một số điểm bất ổn, ít có tính khả thi.


Trước tiên, để thành lập được sở giao dịch vàng thì cần có hàng hóa, tức là vàng, theo quy chuẩn để thị trường có thể dễ dàng định giá. Nhưng hiện tại, mặc dù đã có Thông tư 22/2013 của Bộ Khoa học công nghệ về quản lý đo lường trong kinh doanh vàng và quản lý chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ lưu thông trên thị trường như thừa nhận của NHNN, thông tư này “chưa đi vào cuộc sống”, dẫn đến việc quản lý đăng ký chất lượng, mẫu mã, quy trình thực hiện vàng trang sức, mỹ nghệ vẫn còn rất lỏng lẻo. Khi thiếu vắng quy chuẩn đo lường chất lượng và trọng lượng thì thị trường không thể định giá trị một cách chính xác một lượng vàng vật chất nào đó. Do vậy, ngoài số lượng vàng miếng có thương hiệu được NHNN công nhận, phần lớn số lượng vàng còn lại do dân nắm giữ, gồm vàng miếng các thương hiệu khác (không được NHNN công nhận), và vàng trang sức không thể mang ra trao đổi trên sở giao dịch được, và điều này có nghĩa là tham vọng lập sở giao dịch để huy động vàng trong dân không thể thành hiện thực một cách có ý nghĩa được.


Thứ hai, cho dù có dùng chứng chỉ vàng để giao dịch trên sở giao dịch vàng thay cho vàng vật chất thì vẫn cần phải trải qua công đoạn chuẩn hóa vàng để dựa vào đó cấp chứng chỉ. Nhưng như đã nói, việc quản lý đo lường chất lượng vàng chưa thực hiện tốt được thì không thể cấp chứng chỉ vàng một cách đại trà được. Để việc huy động vàng đạt đến quy mô có ý nghĩa, NHNN cần phải buộc dân chúng chuyển đổi số vàng vật chất phi quy chuẩn này thành vàng quy chuẩn. Vậy những chi phí liên quan này ai sẽ gánh chịu? Nếu NHNN không trực tiếp gánh chịu thì người dân có vàng sẽ tính hết những loại chi phí này vào lãi suất họ đòi hỏi NHNN hay bất cứ một tổ chức nào đứng ra huy động vàng nhân danh nhà nước phải đáp ứng nếu muốn “mượn” vàng của họ, càng làm đội chi phí huy động vàng trong dân. Chưa kể, chuyện chuyển đổi vàng này sẽ tạo ra nhiều rủi ro, bất ổn như vốn đã từng xảy ra trước đây.


Thứ ba, khi huy động vàng thông qua chứng chỉ vàng và phải trả lãi cho người chủ sở hữu vàng, điều này lại kích thích thêm việc đầu cơ nắm giữ vàng trong dân vì họ vừa có thêm công cụ để đầu cơ, bảo toàn tài sản của mình, lại vừa được hưởng lãi, cũng tương tự như việc nắm giữ ngoại tệ. Điều này làm trầm trọng thêm nạn “vàng hóa”, là điều mà NHNN lại đang ra sức chống đỡ bằng nhiều giải pháp vốn không nhận được sự đồng tình rộng rãi của dư luận.


Thứ tư, nếu vàng vẫn ở dạng vàng vật chất thì giá trị sử dụng của nó còn bị hạn chế. Chẳng hạn, khi thực hiện giao dịch lớn thì số vàng phải vận chuyển sẽ nhiều - một yếu tố mang tính rủi ro cao. Nay, với việc hợp pháp hóa sự tồn tại của vàng vật chất thông qua chứng chỉ vàng, việc giao dịch, thanh toán, và cất trữ tài sản vàng này trong dân chúng lại trở nên thuận lợi, dễ dàng hơn bao giờ hết. Trên nhiều phương diện, chứng chỉ vàng sẽ có giá trị và được chấp nhận rộng rãi như tiền mặt, tín phiếu, trái phiếu, séc, và các loại giấy tờ có giá khác. Bởi vậy, chủ trương phát hành chứng chỉ vàng sẽ càng mang đến một tác dụng không mong muốn là làm trầm trọng thêm nạn vàng hóa.


Thứ năm, về mặt tổ chức, NHNN không thể, không có chức năng tổ chức cả một mạng lưới huy động, chi trả vàng vật chất và cấp chứng chỉ vàng từ tất cả các tỉnh thành xuống đến ít nhất là cấp quận, huyện. Nếu được làm, và muốn làm, NHNN sẽ phải bỏ ra một chi phí khổng lồ (và cuối cùng lại tính vào ngân sách nhà nước) để xây dựng cơ sở vật chất và nhân lực cho công việc này. Nên có nhiều khả năng là NHNN sẽ phải dựa vào hệ thống ngân hàng và đại lý ủy quyền để thực hiện việc huy động và chi trả vàng hay cấp chứng chỉ vàng. Như vậy, ngoài việc vẫn phải tốn chi phí để trả cho hệ thống thu gom và chi trả vàng như thế này, NHNN còn hợp pháp hóa lại sự hiện diện của vàng trong hệ thống ngân hàng và các chân rết đại lý, là điều mà NHNN đã cố gắng chấm dứt, xóa sổ không lâu trước đây.


Cuối cùng, và cũng rất quan trọng, khi NHNN, Bộ Tài chính hay bất cứ một tổ chức nào huy động vàng cho nhà nước, họ phải trả lãi cho số lượng vàng huy động này. Dưới góc độ là một tài sản đầu tư, người sở hữu vàng sẽ đòi hỏi một lãi suất đủ lớn để hấp dẫn họ, dù không thể cao như lãi suất tiết kiệm nhưng cũng không thể quá thấp, ít nhất cũng phải vài phần trăm/năm, nêu không sẽ làm người dân không mặn mà cho vay vàng của họ được.


Số vàng này sau đó giả sử được dùng làm tài sản thế chấp để vay nước ngoài. Cứ cho là vì đã dùng vàng làm thế chấp thì lãi suất vay nước ngoài sẽ thấp hơn là vay tín chấp, nhưng lãi suất này sẽ không thể thấp hơn lãi suất cho vay các chính phủ phương Tây (tức ít nhất cũng là một vài phần trăm/năm). Thêm nữa, phía Việt Nam sẽ phải chịu thêm các chi phí vận chuyển, bảo quản vàng vật chất đến các kho được chỉ định làm nơi giữ tài sản thế chấp này theo chỉ định của người cho vay ở nước ngoài, cũng như các chi phí thanh lý, phòng ngừa rủi ro, nếu Chính phủ Việt Nam không đáp ứng được nghĩa vụ nợ của mình. Nếu cộng tất cả những khoản lãi và phí phát sinh trong và ngoài nước này lại thì rất có khả năng là lãi suất thực tế có thể còn cao hơn nếu Chính phủ Việt Nam đi vay trực tiếp nước ngoài.


Các lý do trên cho thấy chủ trương huy động vàng trong dân là rất khó khả thi và rất rủi ro.

Friday, 13 May 2016

Đầu mối giảm, chưa chắc dễ kiểm soát chi phí lót tay (Bài đăng trên TBKTSG, ngày 13/5/2016, tiêu đề do báo đặt lại)

http://www.thesaigontimes.vn/146247/Dau-moi-giam-chua-chac-de-kiem-soat-chi-phi-lot-tay.html

Theo Quyết định 08/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 35/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính, việc mua sắm tài sản Nhà nước sẽ theo phương thức tập trung, thông qua đơn vị mua sắm tập trung quốc gia hoặc đơn vị mua sắm tập trung tại các Bộ, ngành, cơ quan trung ương, các tỉnh. Đáng chú ý, khi mua sắm tài sản Nhà nước sẽ buộc phải công khai không chỉ về nhu cầu mua sắm, gồm số lượng, chủng loại tài sản mua sắm; dự toán mua sắm, nguồn vốn mua sắm tài sản… mà còn về các khoản hoa hồng, chiết khấu, khuyến mãi (nếu có) khi thực hiện mua sắm.

Ngoài ra, theo ông Nguyễn Tân Thịnh – Phó Cục trưởng Cục Quản lý công sản, Bộ Tài chính, các khoản chi hoa hồng, lót tay... khi được ng khai thì, theo Thông tư 35, sẽ phải nộp về ngân sách Nhà nước, chứ không để lại đơn vị mua sắm tài sản. Ông Thịnh còn lạc quan cho rằng khi thực hiện việc mua sắm tập trung, đầu mối mua sắm sẽ giảm đi và chỉ tập trung về một số đơn vị, do đó, hoàn toàn có thể công khai và kiểm soát các khoản chi phí hoa hồng, lót tay này.

Bối cảnh của quyết định chuyển sang thực hiện mua sắm tài sản công sang phương thức tập trung có lẽ là thực tế việc mua sắm tài sản công ở mọi cấp, ngành và tổ chức hưởng ngân sách nhà nước đã và đang bị lạm dụng, gây lãng phí và thất thoát lớn. Tuy vậy, có một số vấn đề đặt ra cho phương thức mua sắm tập trung này, cũng như việc công khai và nộp vào ngân sách các khoản hoa hồng, lót tay.
Không chắc đã tốt hơn
Vấn đề thứ nhất là về hiệu quả của việc mua sắm tập trung vào một số đầu mối. Theo Thông tư 35, việc mua sắm tập trung được thực hiện theo một trong hai cách là mua sắm tập trung theo cách thức ký thỏa thuận khung, hoặc mua sắm tập trung theo cách thức ký hợp đồng trực tiếp. Điểm chung của hai cách mua sắm tập trung này là đơn vị mua sắm tập trung tổng hợp nhu cầu mua sắm, tiến hành lựa chọn nhà thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu hoặc thuê tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp lựa chọn nhà thầu.
Như vậy, việc mua sắm tập trung theo một trong hai cách trên có lẽ chỉ giải quyết được mỗi một chuyện là thay vì từng cơ quan hưởng ngân sách được tự lựa chọn nhà thầu cung cấp thì nay, trong cơ chế mới, công việc (“béo bở”) này được dành về tay một số đầu mối ở Bộ Tài chính và các bộ, tỉnh, cơ quan trung ương khác. Câu hỏi liên quan ở đây là điều gì làm người dân hy vọng rằng những người được giao trọng trách lựa chọn nhà thầu ở các đầu mối mua sắm tập trung này sẽ công tâm hơn, liêm chính hơn, và có năng lực hơn những đồng nghiệp của họ ở từng cơ quan hưởng ngân sách có nhu cầu mua tài sản công?
Về câu hỏi trên, không thể dễ dãi mà trả lời rằng các đơn vị mua sắm tập trung này do ở cấp cao hơn (trên bộ, cơ quan trung ương, tỉnh) hoặc có trọng trách nhiều hơn (mua sắm đồng loạt cho nhiều cơ quan khác nhau) nên sẽ làm việc hiệu quả hơn và liêm chính hơn những đơn vị mua sắm ở các cơ quan riêng lẻ, ở cấp cơ sở, cấp thấp hơn. Thậm trí trái lại, sẽ có rủi ro lớn là những đầu mối tập trung này trở thành những cơ quan “siêu quyền lực” vì có quyền ban phát, phê duyệt cho rất nhiều cơ quan khác nhau, dễ dàng dẫn đến tha hóa, lạm quyền để tư lợi cho một số cá nhân trong nội bộ ở quy mô còn khủng khiếp hơn so với việc mua sắm phân tán ở từng cơ quan như trước đây.
Tất nhiên là những người liên đới sẽ có thể biện bạch rằng những đầu mối này sẽ làm việc theo “đúng quy trình”, đúng quy định của pháp luật… nên sẽ khó xảy ra những mối hiểm họa nêu trên. Nhưng nếu dùng luật lệ mà lý luận ở đây thì người ta cũng có thể chỉ ngay ra rằng trong cơ chế mua sắm cũ cũng có đầy đủ các thể loại quy định với ràng buộc để, trên nguyên tắc, các cơ quan hưởng ngân sách nhà nước không thể tự tung tự tác mua sắm vô tội vạ với giá trên trời. Nhưng kết quả thực tế với những ví dụ như mua sắm ô tô tràn lan, vượt định mức cho phép, là quá đủ để cho thấy luật lệ với quy trình nhiều khi chỉ để cho có mà thôi.
Không được quy định trong luật!
Vấn đề thứ hai đáng bàn liên quan đến cơ chế mua sắm tập trung là chuyện các nhà làm luật hy vọng sẽ thu về cho ngân sác nhà nước các loại tiền chiết khấu, hoa hồng, lót tay, khuyến mãi... nếu có!
Điều đáng ngạc nhiên là chuyện nộp ngân sách các khoản tiền này không hề được đề cập đến trong Thông tư 35! Chỉ có duy nhất Khoản 3, Điều 31 của thông tư này có chứa đựng các từ như chiết khấu, hoa hồng, và khuyến mãi, nhưng nội dung của điều khoản này là về công khai trong mua sắm tập trung, chứ không phải là về quản lý, sử dụng số tiền thu được này. Ngay Điều 28 “Các khoản thu liên quan đến mua sắm tập trung” cũng không hề đề cập đến nguồn thu từ các khoản tiền này. Như vậy, có thể tạm kết luận rằng việc buộc nộp ngân sách các loại tiền này chỉ là diễn giải luật (vô căn cứ) theo góc nhìn cá nhân.
Có thu được thì cũng chỉ là phần nổi của tảng băng
Điều không thể phủ nhận là phương thức mua sắm tập trung sẽ có một lợi thế lớn so với phương thức mua sắm phân tán, ở cấp cơ sở như trước đây. Đó là khi mua sắm với đơn hàng lớn hơn do tập trung nhu cầu từ nhiều cơ quan thay vì từng cơ quan riêng lẻ nên gần như nghiễm nhiên đơn vị mua sắm tập trung sẽ được hưởng ưu đãi về giá, ví dụ, được hưởng giá bán buôn, được chiết khấu và khuyến mãi nhiều hơn do mua với số lượng lớn hơn.
Và đương nhiên là khi đã phát sinh ra các khoản tiền kiểu như vậy và được công khai, thể hiện đầy đủ trên sổ sách thì không có mấy cá nhân lẫn tổ chức dám “ỉm” đi mà không tự động nộp lại cho ngân sách (dù cho có thể không bị quy định phải làm như vậy).
Trên thực tế cũng có một số trường hợp nhà cung cấp đã công khai rộng rãi chính sách bán hàng của mình, ví dụ như mua với số lượng bao nhiêu trở lên thì sẽ được hưởng chiết khấu bao nhiêu phần trăm. Trong những trường hợp này thì tiền chiết khấu này khó giấu được và buộc đơn vị mua sắm tập trung phải báo cáo và giao nộp cho ngân sách khoản tiền này. Dù vậy, điều này cũng không phải là một bước tiến trong cơ chế mua sắm tập trung so với cơ chế cũ, nếu cơ chế cũ cũng không cho phép được để lại những khoản tiền này ở cơ quan có nhu cầu mua sắm mà buộc phải giao nộp cho ngân sách.
Nhưng ngoài ra, sẽ còn rất nhiều khoản tiền tương tự không tự động được công khai và báo cáo do khó bị phát hiện ra khi phát sinh. Cũng tương tự như với việc mua sắm ở từng đơn vị trước đây, những người có trách nhiệm sẽ không có động cơ công khai hóa, báo cáo đầy đủ các khoản chiết khấu, khuyến mãi, lót tay, nếu bên nhà thầu cung cấp hàng hóa không tự nhiên công khai các khoản này. Còn nhà thầu thì tất nhiên cũng chẳng có động cơ tự giác khai báo một khi nhờ có chiết khấu và lót tay dành riêng cho người có quyền quyết định trong đơn vị mua sắm tập trung mà họ bán được hàng. Đó là chưa kể nhiều trường hợp nhà thầu minh bạch quá, với chính sách bán hàng rõ ràng, không chấp nhận “đi đêm” thì lại bị loại với nhiều lý do hiển nhiên nào đó cho dù có được tham dự bỏ thầu. Nói cách khác, đa phần chuyện khuyến mãi, chiết khấu và lót tay sẽ mãi chỉ là chuyện riêng, chuyện kín biết với nhau giữa nhà thầu cung cấp hàng hóa và đơn vị mua sắm tập trung. Do đó, cái mà ngân sách hy vọng thu được từ cơ chế mua sắm tập trung, nếu có, sẽ chỉ là một phần không đáng kể so với thực tế đã và sẽ xảy ra.
Ít đầu mối hơn không đồng nghĩa với công khai hơn
Như nói ở trên, Bộ Tài chính hy vọng đầu mối mua sắm giảm đi nên hoàn toàn có thể công khai và kiểm soát các khoản chi phí hoa hồng, lót tay. Nhưng qua phân tích ở trên có thể thấy số lượng đầu mối ít đi thì cũng không nhất thiết dẫn đến công khai hơn và dễ kiểm soát hơn các khoản hoa hồng, lót tay, nếu người trong cuộc nhất quyết không công khai.
Có chăng chỉ là chuyện nếu muốn thanh tra, điều tra chuyện “đi đêm” với nhau giữa đơn vị mua sắm và nhà thầu gây thiệt hại cho ngân sách thì việc này có thể thuận lợi hơn nếu chỉ phải thanh tra một vài đầu mối mua sắm tập trung thay vì hàng nghìn đầu mối như trước đây. Có điều, đây là bước hậu kiểm, và nếu có phát hiện ra sai phạm thì chỉ là hành động sửa sai “lỗi hệ thống” mà thôi. Điều quan trọng là phải có một hệ thống hoạt động minh bạch, công khai ở mọi công đoạn, mọi bước để người dân luôn có thể kiểm tra và giám sát được (tiền kiểm).
Theo hướng minh bạch và công khai hóa nói trên thì việc Thông tư 35 buộc đơn vị mua sắm tập trung công khai kết quả mua sắm tập trung qua nhiều kênh là một điểm đáng ghi nhận. Tiếc là nếu những quy định về công khai này cũng được áp dụng trong cơ chế trước đây thì có lẽ đã không phải thay đổi toàn bộ hệ thống và cách thức mua sắm tài sản công như hiện nay vốn sẽ gây ra không ít xáo trộn và cả phí tổn điều chỉnh.
Và cũng không kém phần quan trọng như diễn biến trên thực tế với nhiều quy trình và luật lệ khác, quy định (có bước tiến bộ) là như vậy nhưng thực thi nghiêm túc được đến đâu và ai sẽ giám sát, xử phạt việc tuân thủ những quy định này?

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).