Wednesday, 17 July 2019

Nhận diện những nhân tố cản trở thị trường trái phiếu doanh nghiệp (Bài đăng trên TBKTSG, 17/7/2019)

https://www.thesaigontimes.vn/291285/nhan-dien-nhung-nhan-to-can-tro-thi-truong-trai-phieu-doanh-nghiep-.html

Vấn đề phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp dài hạn gần đây thường xuyên được bàn thảo trong giới làm chính sách và giới chuyên gia ở Việt Nam như là một giải pháp cấp thiết để hỗ trợ nhu cầu vốn, đặc biệt là vốn dài hạn, cho doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh tín dụng ngân hàng ngày càng có xu hướng bị thắt lại.
Vị thế của thị trường trái phiếu doanh nghiệp
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp lành mạnh sẽ có vai trò như một nhân tố ổn định, đặc biệt trong những giai đoạn có sự căng thẳng về tài chính, vốn thường dẫn đến đóng băng tín dụng ngân hàng. Sự phát triển một thị trường trái phiếu doanh nghiệp có tính thanh khoản cao và có chiều sâu sẽ giảm sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào vốn vay ngân hàng và dẫn đến sự đa dạng hóa lớn hơn các nguồn vốn huy động cho nhiều loại hình tài sản khác nhau.
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn giúp giảm rủi ro bất tương xứng về loại tiền và kỳ hạn của các nguồn vốn huy động và chi trả, đặc biệt là đối với các dự án có thời gian hoàn vốn dài.
Những lợi ích trên cho thấy nhu cầu cần phải có một thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển theo chiều sâu và bề rộng tại mỗi quốc gia, nhất là các nước đang phát triển. Tuy vậy, từ nhận thức này đến thực tiễn là cả một chặng đường dài bởi việc xây dựng thị trường trái phiếu doanh nghiệp là một quá trình có thể rất tốn thời gian và đầy thách thức.
Nhận dạng những nhân tố cản trở và giải pháp
Hoạch định chính sách chưa được đặt đúng tầm, thực hiện đúng cách
Dù tầm quan trọng của thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã được nhìn nhận đầy đủ hơn ở Việt Nam gần đây nhưng việc phát triển thị trường này vẫn chưa phải là ưu tiên ở tầm quốc gia với một chiến lược phát triển khả thi và đúng đắn.
Bởi vậy, Chính phủ cần phải (thông qua một cơ quan chuyên trách/tổ công tác) nhanh chóng xây dựng và đề ra định hướng chiến lược dài hạn trong chương trình nghị sự phát triển thị trường với những bước đi và đầu công việc cụ thể, trong đó có những giải pháp xử lý các tồn tại nêu ở dưới đây, để đảm bảo sự phát triển trật tự và bền vững của thị trường này.
Vẫn lúng túng với những vấn đề sơ khai
Để đi xa hơn, nhanh hơn, cần giải quyết ngay những vấn đề tồn tại cơ bản như phương pháp phát hành (trên thị trường) sơ cấp, vẫn phải tốn nhiều thời gian để phê duyệt và đăng ký phát hành trái phiếu, thiếu nhất quán về tài liệu, giấy tờ thủ tục liên quan phát hành, cũng như thiếu một đường cong lãi suất chuẩn, hợp lý của Chính phủ và chưa đặt ra được lịch phát hành/đấu giá trái phiếu định trước...
Yếu kém về cơ sở hạ tầng thị trường và sự hạn hẹp cơ sở nhà đầu tư
Đây cũng là một trở ngại lớn khác đối với sự phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam. Để hỗ trợ phát triển thị trường trái phiếu sơ cấp thì cần nhanh chóng củng cố tính hiệu quả của việc mua bán trái phiếu, phát triển một hệ thống tạo dựng thị trường, thiết lập một chỉ số trái phiếu doanh nghiệp, và tạo dựng tổ chức là bên thứ ba chuyên bảo lãnh phát hành.
Cơ sở nhà đầu tư hạn hẹp có thể khắc phục ngay bằng cách loại bỏ các rào cản hạn chế sự tham gia của nhà đầu tư vào thị trường trái phiếu doanh nghiệp, cũng như khuyến khích nhà đầu tư tham gia vào thị trường bán lẻ.
Nghèo nàn về công cụ
Yếu tố này làm giảm tính hấp dẫn của trái phiếu doanh nghiệp với nhà đầu tư và nhà phát hành vốn đa dạng về nhu cầu; hạn chế thanh khoản trên thị trường, dẫn đến cản trở sự phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp theo cả bề rộng lẫn chiều sâu. Do vậy, cơ quan chức năng cần phát triển thêm nữa các công cụ quản lý rủi ro, phòng chống rủi ro (hedging), hợp đồng mua lại và hợp đồng mua lại đảo ngược (repo và reverse repo), phái sinh lãi suất (interest rate derivative), hoán vị rủi ro tín dụng (CDS) và thị trường phái sinh, chứng khoán hóa...
Yếu kém trong bảo vệ nhà đầu tư
Sự an toàn của nhà đầu tư vẫn còn bị xem nhẹ, bỏ ngỏ. Hiện có thực tế là nhà đầu tư, nhất là những người không chuyên, rất dễ bị lạc/dụ vào “ma trận” trái phiếu doanh nghiệp với lẫn lộn thông tin thật - giả, mập mờ. Chính phủ cần xác định rõ muốn phát triển thị trường trái phiếu bền vững thì cần phải xây dựng một khuôn khổ pháp luật có tính chế tài mạnh, cũng như tăng cường thanh tra, giám sát tuân thủ để bảo vệ nhà đầu tư và buộc nhà phát hành phải minh bạch hóa đầy đủ thông tin theo yêu cầu trong thời hạn quy định.
Các quy chế cũng cần được xây dựng và thực thi để tăng cường sự minh bạch về giá và mua bán trái phiếu, đánh giá chất lượng xếp hạng tín dụng; quy chế về tái cơ cấu và phá sản cần được ban hành đầy đủ và hoàn thiện.
Bất bình đẳng về thuế
Khuôn khổ thuế cần được rà soát và xem xét lại để cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp hoạt động bình đẳng với thị trường trái phiếu chính phủ cũng như thị trường tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại.
Thuế đánh lên phát hành, nắm giữ, chuyển nhượng trái phiếu doanh nghiệp dưới các dạng thức có thể gồm thuế giao dịch, thuế trước bạ, thuế thu nhập, thuế đánh trên khoản lãi đầu tư..., nếu gộp lại mà trở nên quá nhiều so với các kênh huy động vốn khác thì sẽ khuyến khích doanh nghiệp chuyển sang huy động vốn trên thị trường chứng khoán hoặc vay vốn ngân hàng.
Còn nhà đầu tư thì có thể chọn các kênh đầu tư khác có mức thuế nhẹ hơn. Thuế cao cũng sẽ cản trở các tổ chức tài chính thực hiện tư vấn và cơ cấu hóa trái phiếu cho khách hàng doanh nghiệp của họ bởi sẽ ảnh hưởng đến chi phí phát hành và cơ cấu trái phiếu.   


Saturday, 6 July 2019

Vì sao Google ủng hộ thỏa thuận thuế quốc tế? (Bài đăng trên TBKTSG, 6/7/2019)

https://www.thesaigontimes.vn/290998/vi-sao-google-ung-ho-thoa-thuan-thue-quoc-te-.html

(TBKTSG) - Các chính phủ cần phải phối hợp với nhau để các công ty trả thuế cho những nơi mà sản phẩm và dịch vụ của chúng được tiêu thụ theo một cách phù hợp, “có đi có lại”, và được chấp nhận bởi các bên.
Mấy ngày trước, trong một bài viết trên blog của mình có tiêu đề “Đã đến lúc có một thỏa thuận thuế quốc tế mới”(1), Karan Bhatia, một cán bộ ở bộ phận quan hệ công chúng và chính phủ của Google cho biết “chúng tôi” (Google?) ủng hộ thỏa thuận gần đây của các bộ trưởng tài chính về sự cần thiết phải có những cải cách lớn nhất trong hệ thống thuế quốc tế trong một thập kỷ nay, hướng đến một khuôn khổ quốc tế toàn diện mới để đánh thuế lên các công ty đa quốc gia.
Google lên tiếng về việc nộp thuế của mình
Bài viết tiếp tục rằng: “...chúng tôi muốn có một môi trường thuế mà mọi người đều thấy là hợp lý và đúng đắn”. Đồng thời, bài viết nhấn mạnh, dù có một số quan ngại về nơi mà Google nộp thuế, mức thuế doanh nghiệp tổng hợp trên toàn cầu Google đang phải trả là 23% trong vòng 10 năm qua, phù hợp với mức thuế trung bình theo quy định của các nước phát triển khối OECD là 23,7%. Phần lớn số thuế này được nộp tại Mỹ - nơi sản sinh và phát triển phần lớn sản phẩm và dịch vụ của Google. Phần thuế còn lại được nộp tại khoảng 50 nước trên thế giới - những nơi Google có văn phòng trợ giúp việc bán dịch vụ.
Theo bài viết, việc Google trả thuế như trên không phải là cá biệt, mà phù hợp với thông lệ có từ lâu nay, cũng tương tự như việc các công ty đa quốc gia của Pháp, Đức, Nhật Bản trả nhiều thuế hơn ở bản quốc, chứ không phải ở những nơi mà sản phẩm và dịch vụ của họ được tiêu thụ. Vì vậy, trước động thái nhiều nước thành viên OECD đang đề xuất các quy định thuế hiện đại, theo đó các công ty đa quốc gia sẽ phải trả nhiều thuế hơn tại những nước mà sản phẩm và dịch vụ của họ được tiêu thụ, bài viết một mặt đồng ý đã đến lúc cần có một hệ thống phân bổ thuế doanh nghiệp mới nhưng đồng thời cũng cảnh báo tình trạng một số nước đang đơn phương hành động, áp đặt thuế mới lên các công ty đa quốc gia. Nếu không có một thỏa thuận đa phương và toàn diện, các nước chắc chắn sẽ đơn phương áp đặt thuế lên các công ty đa quốc gia ở nhiều lĩnh vực.
Bài viết nhận định rằng hành động đánh thuế đơn phương trên sẽ tạo ra một “cuộc đua xuống đáy” vì sẽ tạo ra các rào cản thương mại, cản trở đầu tư xuyên biên giới, và làm chậm tăng trưởng kinh tế. Mức thuế riêng biệt áp lên một số ít công ty công nghệ Mỹ chẳng qua chỉ là việc cố giành lấy một phần của số thuế lẽ ra phải nộp tại Mỹ, nên sẽ làm gia tăng căng thẳng thương mại. Vì vậy, các chính phủ cần phải phối hợp với nhau để các công ty trả thuế cho những nơi mà sản phẩm và dịch vụ của chúng được tiêu thụ theo một cách phù hợp, “có đi có lại”, và được chấp nhận bởi các bên.
Google muốn gì?
Qua bài viết trên, trước hết có thể thấy là Google đang muốn thanh minh cho cáo buộc tránh thuế của nhiều nước dành cho Google như vẫn thường được nhắc đến trên báo chí. Bằng việc nêu ra mức thuế doanh nghiệp thực tế phải trả là 23%, xấp xỉ mức trung bình của OECD, việc Google hoặc một công ty công nghệ tương tự như vậy dù có đặt trụ sở ở thiên đường thuế nào đi chăng nữa thì dường như mục đích chính của việc này không phải là tránh thuế vì nó không mang lại nhiều tác dụng.    
Điều tiếp theo, có thể hơi khó hiểu với nhiều người, là dù Google đang phải trả thuế đầy đủ, không kém gì các công ty thông thường khác, nhưng tại sao Google lại ủng hộ một thỏa thuận thuế mới mang tính toàn cầu? Hãy để ý đến lời lẽ trong bài viết trên, có những từ như “công bằng”, “hợp lý”, “đúng đắn”, “toàn diện”, “đa phương”, “đơn phương”... Có lẽ Google đang muốn mọi người có cái nhìn đúng hơn dành cho họ, với tư cách là một nạn nhân bị kẹt giữa sự tranh chấp (về thuế) của các quốc gia, chứ không phải là một tội đồ (trốn thuế, tránh thuế).
Cụ thể hơn, nếu các quốc gia, kể cả các quốc gia đang phát triển, không phối hợp với nhau để cùng xây dựng một khuôn khổ đánh thuế quốc tế dành cho các công ty đa quốc gia thì Google sẽ rơi vào cảnh “một cổ nhiều tròng” - không những vẫn phải trả thuế đầy đủ ở Mỹ mà còn phải trả thuế (cao) ở các nước khác như Pháp, Anh, Úc, Ấn Độ, Indonesia (và Việt Nam)..., vốn đã và đang có những đề xuất áp thuế lên các công ty công nghệ như Google. Điều này dẫn đến kết cục là hoặc Google sẽ bị mất cơ hội kinh doanh ở những nước mà Google không chấp nhận nộp thuế, hoặc phải trả thuế cao áp đặt theo ý muốn của các nước này (ngoài Mỹ).
Vì vậy, trong góc nhìn của các công ty công nghệ đa quốc như Google, một khuôn khổ thuế mang tính quốc tế, được đồng thuận bởi (hầu hết) các quốc gia trên thế giới, gồm (có thể) những nguyên tắc như tránh đánh thuế hai lần, đánh thuế thế nào và bao nhiêu lên doanh thu nếu công ty đa quốc gia không có văn phòng đại diện hay chi nhánh tại nước sở tại, hoặc thỏa thuận phân chia thuế cho các nước số thuế thu được từ công ty đa quốc gia trên phạm vi toàn cầu... là điều cấp thiết cần phải có để tránh gây thiệt hại lớn cho Google khi các quốc gia trên thế giới đều đua nhau đánh thuế họ.
Các nước hãy đi cùng nhau và... cùng Mỹ...
Cũng cần lưu ý thêm là dù bài viết đã rất “ngoại giao” khi nói “hy vọng” rằng các nước sẽ đạt được sự đồng thuận xung quanh khuôn khổ thuế mới công bằng, nhưng việc bài viết cảnh báo “cuộc đua xuống đáy” không phải là ngẫu nhiên hay vì Google tự thấy mình có sứ mệnh là sứ giả “gìn giữ hòa bình” trên thế giới.
Việc này cần được đặt trong bối cảnh Mỹ đã cương quyết chống lại việc các nước châu Âu tìm cách đánh thuế riêng lên bốn công ty công nghệ gồm Google, Apple, Facebook và Amazon (gọi tắt là GAFA). Sự phản đối này được thể hiện rõ trong nhiều tuyên bố của Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin cũng như sự cáo buộc của một nhóm nghị sĩ đảng Cộng hòa rằng hành động đánh thuế này của châu Âu là nhằm mục đích ngăn cản Mỹ tiếp cận thị trường châu Âu và châm ngòi một cuộc chiến thương mại (công nghệ) số(2).
Như vậy, nếu các nước trên thế giới không muốn phối hợp với nhau và nhất là với Mỹ để đi đến đồng thuận về đánh thuế riêng lên GAFA, hoặc là quá sốt ruột, không tin tưởng rằng một đồng thuận như thế có thể sớm đạt được, mà đơn phương áp thuế lên GAFA thì họ chắc chắn sẽ phải đối mặt với sự phản đối mạnh mẽ của Mỹ. Nếu các bên không có sự xuống thang thì viễn cảnh chiến tranh thương mại mà bài viết trên Google nhắc đến là khó tránh khỏi, mà bên yếu thế hơn, rất tiếc, thường không phải là Mỹ.
Nói cách khác, Google hiểu rõ được sự hậu thuẫn của Chính phủ Mỹ và dường như muốn ngầm nhắc nhở các nước khác đừng “vuốt râu hùm”, nếu muốn đánh thuế lên Google thì hãy hợp tác hơn là đối đầu với chính phủ Mỹ (và như thế cũng sẽ “công bằng”, “đúng đắn” hơn cho Google).
Phân tích trên có thể chỉ là một sự suy diễn quá mức nhưng ít nhất thì chuyện Chính phủ Mỹ đứng sau và bảo vệ GAFA cũng như bảo vệ “nồi cơm” của mình là một thực tế không thể khác được. Hàm ý của điều này là nếu Việt Nam muốn đánh thuế Google, Facebook hay các doanh nghiệp dựa trên nền tảng công nghệ số khác thì cần tránh xu hướng đơn phương áp đặt. Thay vào đó, cần có sự tham khảo, phối hợp và đồng thuận với các nước liên quan khác, đặc biệt là những nước bản quốc như Mỹ.
(1) https://www.blog.google/outreach-initiatives/public-policy/its-time-new-international-tax-deal/
(2) https://www.bakerinstitute.org/media/files/files/2a38fa65/bi-report-010919-cpf-digitaltax.pdf



Wednesday, 3 July 2019

“Tiền” Facebook khác Bitcoin... (Bài đăng trên TBKTSG, 3/7/2019)

https://www.thesaigontimes.vn/290595/tien-facebook-khac-bitcoin.html

Facebook công bố mô tả đầu tiên về đồng tiền mật mã (cryptocurrency) của mình, gọi là Libra. Tuy vậy, không như nhiều người nghĩ, thực ra Libra rất khác, thậm chí là ngược lại với những đồng tiền mật mã khác, điển hình là Bitcoin. 

Khác biệt trước tiên là mục đích sử dụng. Libra là một phương tiện trao đổi, giúp người sử dụng chuyển tiền cho nhau và thực hiện các giao dịch. Trong khi đó, Bitcoin, dù được tạo ra với tham vọng tạo nên một nền tảng (platform) để hỗ trợ giao dịch, lại thường được coi là một phương tiện đầu tư và lưu trữ giá trị. Chẳng thế mà nhiều người vẫn gọi Bitcoin là “vàng số”, còn Libra được gọi là tiền mật mã, có bản chất như tiền pháp định (fiat money).

Khác biệt lớn thứ hai là về phạm vi được chấp nhận. Không như sự hiểu lầm phổ biến, dù được sử dụng thanh toán các giao dịch trên Facebook nhưng Libra không thuộc về Facebook mà thuộc về Libra Association (Hiệp hội Libra) gồm nhiều “tay to” như Visa, Mastercard, Paypal, Uber, Booking, Ebay... Hiệp hội này đã phát hành sách trắng mô tả kế hoạch phát hành Libra vào nửa đầu năm 2020.

Nhờ vậy, Libra có thể nhanh chóng được thị trường chấp nhận. Trong khi đó, sau một thời gian tương đối dài ra mắt, Bitcoin chỉ là một “thực nghiệm”, vẫn đang trong giai đoạn phát triển. Thêm nữa, khả năng phí giao dịch thấp của Libra sẽ kích thích người sử dụng dùng nó để chuyển tiền. Ngược lại, Bitcoin thì đắt đỏ hơn và lại chậm hơn trong giao dịch nên ít thu hút được người sử dụng.

Liên quan đến vấn đề ở trên, người phát triển ra tiền mật mã (Bitcoin) và cộng đồng tiền mật mã là những người quyết định điều gì sẽ xảy ra với tiền mật mã. Nếu ai đó không thích một điều gì đó thì người đó có thể “hardfork” mã (tạo ra một phiên bản blockchain hoàn toàn mới, tách biệt khỏi blockchain trước đó; các node (nút) chạy các phiên bản trước đó sẽ không còn được chấp nhận bởi phiên bản mới nữa), và tạo ra một đồng tiền riêng của mình. Với chủ nhân là Hiệp hội Libra, mô hình của Libra khác biệt hoàn toàn. Tổ chức và cá nhân nào mua node với giá 10 triệu đô la Mỹ/node sẽ là người phải quyết định tương lai của Libra.  



Khác biệt thứ ba là về sự biến động. Chính vì sự biến động mạnh mà những người có máu mạo hiểm muốn mua bán Bitcoin để kiếm chênh lệch. Sở dĩ giá của Bitcoin biến động mạnh là bởi nó không bị sở hữu hay quản lý bởi bất cứ một tổ chức trung ương nào và tồn tại trong một mạng lưới phi tập trung.

Ngược lại, giá của Libra thì được ổn định bằng các tài sản thực như rổ tiền tệ, gồm các đồng tiền ở những nước/khu vực có lạm phát thấp như đô la Mỹ hay euro, và các loại chứng khoán nợ (trái phiếu chính phủ).

Lý do Libra cần được ổn định giá trị là xuất phát từ ý định biến nó thành một giải pháp thay thế hệ thống tiền tệ toàn cầu, dành cho những người có tiền tiết kiệm nhưng không tin tưởng vào một đồng tiền cụ thể nào đó như đô la Mỹ, euro... và cũng không muốn gửi tiền của mình vào những nơi bị kiểm soát bởi các ngân hàng trung ương, hay chịu rủi ro lạm phát từ việc in tiền vô tội vạ.

Khác biệt thứ tư là về tính nặc danh. Điều mà nhiều người thích về Bitcoin, và, ngược lại, nhiều chính phủ “căm ghét” nó chính là tính nặc danh của các giao dịch sử dụng Bitcoin, cũng như khả năng chuyển tiền giữa các cá nhân và giữa các chính phủ hoàn toàn bí mật, không để lại dấu vết để có thể bị truy tìm.

Ngược lại, theo sách trắng thì Libra được tạo ra để tuân thủ pháp luật, không cho phép rửa tiền, trốn thuế, hoặc bất cứ một hành vi đen tối nào khác đòi hỏi phải có giao dịch nặc danh, che giấu chủ sở hữu. Đặc tính này có được là nhờ Libra blockchain là một cấu trúc dữ liệu đơn ghi lại lịch sử các giao dịch, đơn giản hóa công việc của các ứng dụng (applications) tiếp cận blockchain, cho phép các ứng dụng đọc dữ liệu tại bất cứ thời điểm nào và xác nhận tính toàn vẹn của dữ liệu nhờ sử dụng một khung xác thực thống nhất (unified verification framework).

Sau những lùm xùm quanh chuyện lạm dụng dữ liệu và xâm phạm sự riêng tư của Facebook gần đây, theo sách trắng, người sử dụng Libra được đảm bảo những chuyện này sẽ không xảy ra với họ. Sẽ có một tên hiệu cho ví điện tử của mỗi người sử dụng để nắm giữ Libra. Do tên hiệu của ví điện tử sẽ không được gắn với tên thật của người sử dụng nên dù họ có sử dụng thường xuyên ví để mua bán thì sự riêng tư cũng sẽ không bị xâm phạm.

Đặc tính này không cản trở sự điều tra của cơ quan chức năng về dấu vết lưu thông của mỗi Libra, đã đi từ và đến những ví điện tử nào của những ai, có thể là tội phạm, nhà đầu tư cá nhân vô tội, người mua hàng trực tuyến, nhà bất đồng chính kiến hoặc đối thủ chính trị.

Khác biệt thứ năm là việc tạo ra tiền. Libra không được “đào” như với Bitcoin, mà được “đúc” trải qua một quá trình hoàn toàn khác biệt. Một Libra được tạo ra, hay được “đúc” khi một đơn vị tiền quốc gia thông thường được tiêu để mua Libra. Bản tệ mua Libra (trừ đi phí giao dịch) sẽ được thu bởi Hiệp hội Libra và dùng để mua một phần trong tập hợp các khoản tiền gửi ngân hàng toàn cầu cùng trái phiếu chính phủ cấu thành nên cái gọi là Quỹ dự trữ Libra.

Như vậy, về nguyên tắc, các giá trị sẽ được đổi ngang (một lượng Libra đổi lấy một lượng đô la Mỹ hay bản tệ). Nếu Hiệp hội Libra thu về 1 tỉ đô la Mỹ giá trị Libra thì họ sẽ “đúc” Libra, dùng tiền đó để mua 1 tỉ đô la Mỹ giá trị tiền gửi ngân hàng và trái phiếu chính phủ.

Khi hệ thống đã ổn định thì có thể kỳ vọng lượng Libra bán ra, mua vào là cân bằng nhau. Nhưng nếu vào một thời điểm nào đó người ta bán Libra để lấy bản tệ nhiều hơn là số Libra được mua thì Hiệp hội Libra sẽ “đốt” Libra, và bán ra dự trữ để lấy tiền mặt bù đắp phần thiếu hụt. Cơ chế này là ngược 180 độ so với Bitcoin, và sự khác biệt hoàn toàn là theo chủ đích.

Cần lưu ý rằng Hiệp hội Libra không phải là một tổ chức từ thiện, phi lợi nhuận. Nguồn thu của nó chính là tiền lãi trả cho tài sản trong quỹ dự trữ Libra, dùng để trang trải chi phí hệ thống, đảm bảo có thu phí nhưng ở mức độ thấp, trả cổ tức cho nhà đầu tư đã bỏ vốn ban đầu để xây dựng hệ sinh thái, và khuyến khích sự tăng trưởng và mở rộng phạm vi chấp nhận.

Grab với bước đi... ngân hàng số (Bài đăng trên TBKTSG, 3/7/2019)

https://www.thesaigontimes.vn/290588/grab-voi-buoc-di-ngan-hang-so.html

Mặc dù đã tung ra một số dịch vụ mang hơi hướng của ngân hàng số nhưng là dưới chiếc áo ví điện tử, Grab còn có kế hoạch tiến xa hơn, khi vừa nộp đơn xin phép hoạt động ngân hàng số tại Singapore.

Trong khi một số ngân hàng truyền thống ở Việt Nam đang cố gắng theo kịp xu hướng số hóa, phát triển sang những lĩnh vực mà các công ty công nghệ tài chính (FinTech) đang chiếm lĩnh thì các “kỳ lân công nghệ” như Grab đã nhắm đến những mục tiêu tham vọng hơn nhiều, mà cách đây không lâu, thật khó có thể tưởng tượng được.

Mặc dù đã tung ra một số dịch vụ mang hơi hướng của ngân hàng số nhưng là dưới chiếc áo ví điện tử như thanh toán khi mua hàng hóa, dịch vụ, thanh toán hóa đơn điện, nước, mua bảo hiểm, thẻ trả trước kết nối với MasterCard, và cho chuyển tiền qua lại giữa những tài khoản ví Moca với nhau miễn phí..., Grab còn có kế hoạch tiến xa hơn, đang chuẩn bị và nộp đơn xin phép hoạt động ngân hàng số tại Singapore.

Điều này làm nhiều người không khỏi tò mò với câu hỏi tại sao Grab muốn có giấy phép hoạt động ngân hàng số mặc dù thực tế hiện đã có một số dịch vụ trong lĩnh vực này?

Để đi tìm lời giải thích cho câu hỏi trên, trước hết cần làm rõ về khái niệm. Hoạt động ngân hàng số (còn được gọi là ngân hàng ảo) là hoạt động tài chính trên nền tảng số hóa hoàn toàn, được tiến hành bởi các công ty không có công ty mẹ là ngân hàng truyền thống (mặc dù hoạt động này cũng được mở cho các ngân hàng truyền thống thực hiện nếu muốn).

Về pháp lý, quy định/chế tài pháp lý dành cho các ngân hàng số thường là thấp hơn so với các ngân hàng truyền thống. Chẳng hạn, ngân hàng số ở Anh cần có mức vốn tối thiểu chỉ là 5 triệu euro.



Giấy phép hoạt động ngân hàng số với một số giới hạn về phạm vi hoạt động còn là tiền đề để các công ty phi ngân hàng đạt tới giấy phép hoạt động ngân hàng đầy đủ, sau khi đã đủ trưởng thành về năng lực và nguồn lực. Monzo từng là một ngân hàng số như vậy ở Anh trước khi nó được cấp giấy phép ngân hàng đầy đủ, không bị giới hạn phạm vi hoạt động, như một ngân hàng thông thường.

Trở lại chuyện tại sao Grab muốn có giấy phép hoạt động ngân hàng số tại Singapore. Lý do thứ nhất liên quan đến cơ sở khách hàng. Grab đã có một cơ sở khách hàng đủ sức cạnh tranh dễ dàng với bất cứ ngân hàng lớn nào của Singapore.

Trong vòng 50 năm qua kể từ khi thành lập, ba ngân hàng lớn nhất của Singapore (DBS, OCBC, và UOB) chỉ có khoảng 4-5 triệu khách hàng. Grab ra mắt ở Singapore năm 2013 và kể từ đó đã có đến 3,7 triệu lượt tải ứng dụng Grab (app Grab) bởi người sử dụng là những người thường luôn duy trì một số dư nào đó trong ví điện tử.

Ví này cho phép người sử dụng thanh toán khi mua rất nhiều loại hàng hóa và dịch vụ mà không cần phải kết nối với hệ thống ngân hàng, biến Grab và những công ty tương tự như thế trở thành một mối đe dọa trực tiếp với sự tồn tại của các ngân hàng truyền thống.

Thứ hai, nếu được cấp phép thì Grab có thể dễ dàng biến ví điện tử thành các tài khoản tiền gửi có trả lãi. Khi Grab trả lãi cho các khoản tiền có trong ví điện tử, điều này sẽ khuyến khích khách hàng gửi thêm tiền vào ví, cạnh tranh trực tiếp với các ngân hàng truyền thống trong việc huy động tiền gửi. Nếu được cấp phép thì Grab cũng dễ dàng nhận tiền gửi và chuyển tiền qua mạng mà không phải qua hệ thống thanh toán liên ngân hàng, bởi giờ đây khách hàng có thể chuyển tiền trực tiếp trên ứng dụng Grab.

Như vậy, nếu không sớm thay đổi thì mảng dịch vụ béo bở này của các ngân hàng truyền thống sẽ bị thâu tóm vào tay các công ty như Grab, vốn có khả năng hạ chi phí chuyển tiền xuống đến mức thấp gần như miễn phí.

Thứ ba, nếu được cấp phép hoạt động ngân hàng số thì đương nhiên Grab cũng sẽ trở thành một tổ chức cho vay. Lúc đó, Grab có thể dễ dàng bắt đầu nghiệp vụ cho vay tiêu dùng và cho vay ngang hàng (P2P). Với lợi thế có một cơ sở dữ liệu khổng lồ về các giao dịch khách hàng cũng như hành vi mua bán của khách hàng để thực thi mô hình đánh giá và xếp hạng rủi ro tín dụng của riêng mình, Grab có thể phê chuẩn và giải ngân khoản cho vay trong chớp mắt theo đúng nghĩa đen.

Ngoài ra, với lợi thế có mạng lưới khách hàng kết nối lẫn nhau, Grab có thể nhanh chóng xúc tiến cho vay ngang hàng, tương tự như mô hình LendingClub, một nền tảng cho vay ngang hàng trực tuyến (https://www.lendingclub.com/). Như vậy, nền tảng giao dịch cho vay của Grab chắc chắn sẽ nhanh chóng lấy đi một lượng lớn khách cá nhân và doanh nghiệp nhỏ và vừa của các ngân hàng truyền thống.

Thứ tư, với giấy phép ngân hàng số, Grab dễ dàng cho phép khách hàng đầu tư tiền của họ vào chứng khoán và các quỹ tương hỗ. Dựa trên những ưu việt của công nghệ tư vấn đầu tư trực tuyến (robo-advisors) và đối tác cung cấp dịch vụ trực tuyến dưới thương hiệu riêng của mình (white-label platform), Grab sẽ có khả năng cho phép khách hàng đầu tư các khoản nhỏ với rủi ro thấp, sản phẩm đầu tư đa dạng. Điều này cũng đồng nghĩa với sự thu hẹp mảng dịch vụ phi tín dụng của các ngân hàng truyền thống.

Thứ năm, với giấy phép ngân hàng số, Grab sẽ dễ dàng cho phép chuyển tiền và kiều hối quốc tế thuận tiện, tức thời và hầu như miễn phí (giữa các khách hàng mở tài khoản với Grab) nhờ mạng lưới khách hàng lan rộng ở Đông Nam Á. Các ngân hàng truyền thống từ trước đến nay vẫn chi phối nghiệp vụ kiều hối và chuyển tiền quốc tế nhưng sự xuất hiện của “tân binh” Grab sẽ buộc họ phải san sẻ mảng dịch vụ này dần cho đến khi người sử dụng thấy chẳng có lý do gì phải chuyển tiền qua ngân hàng nữa.

Danh sách các lĩnh vực mà Grab có thể cạnh tranh mạnh mẽ với các ngân hàng truyền thống sẽ không chỉ dừng lại như trên mà còn tiếp tục mở rộng, để rồi rất có thể đến một ngày không xa, sẽ có thêm những ngân hàng mới có tên như Grab Bank, cùng với đó sẽ là sự ra đi của một vài ngân hàng truyền thống do quá chậm chân hoặc không đủ năng lực, nguồn lực thực hiện số hóa trong hoạt động ngân hàng.

Viễn cảnh rất hiện thực này cũng là câu trả lời cho câu hỏi tại sao các công ty phi ngân hàng (xuất thân không phải là ngân hàng hay có dịch vụ ngân hàng) như Grab và các FinTech khác, thậm chí là các nhà mạng viễn thông, lại sốt sắng với cái giấy phép ngân hàng số như vậy. Ở Singapore thì Singtel được báo cáo là cũng đang mở rộng lĩnh vực kinh doanh ra ngoài lĩnh vực viễn thông, sang các lĩnh vực như thanh toán di động và an ninh mạng.


Tuesday, 18 June 2019

Giải nghẹn "cục xương" BOT (Bài đăng trên TBKTSG, 18/6/2019)

https://www.thesaigontimes.vn/td/289962/giai-nghen-cuc-xuong-bot.html

Nền kinh tế đang mắc nghẹn với “cục xương” mang tên BOT. Ở các dự án đầu tư theo hình thức xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT) giao thông đường bộ có thu phí, hiện có hai tình trạng, hoặc là theo lộ trình được tăng phí nhưng “trước mắt chưa tăng phí BOT và giãn thời gian thu phí tối đa đối với các dự án BOT”(1), hoặc là có lưu lượng xe qua lại thực tế thấp hơn so với dự báo trong hợp đồng. Cả hai tình trạng này đều làm “đau đầu” như nhau, bởi đều có khả năng cao tạo thành gáng nặng nợ nần mà rốt cuộc thì đều đổ lên đầu người đóng thuế.

Việc chưa cho tăng phí BOT theo lộ trình, nếu xét về mặt pháp lý, là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của phía đối tác là Nhà nước và sẽ gây thiệt hại tài chính cho đối tác là chủ đầu tư BOT. Nếu là ý chí của Nhà nước thì chủ đầu tư buộc phải chấp hành, nhưng hậu quả sẽ là, trên hợp đồng, chủ đầu tư bị thua lỗ, không trả nợ được vốn vay ngân hàng theo lịch, tạo nên nợ xấu.
Tương tự, việc dự báo lưu lượng xe qua lại trên hợp đồng cao hơn thực tế cũng làm cho chủ đầu tư bị thua lỗ. Trong một số trường hợp may mắn khi có điều khoản trong hợp đồng BOT buộc Nhà nước phải bù đắp phần chênh lệch lưu lượng xe này, thì nhà đầu tư sẽ không bị thiệt hại gì. Tuy nhiên, nếu Nhà nước không có kinh phí bù đắp hay từ chối/trì hoãn bù đắp (vì một lý do “khách quan” nào đó), hoặc nếu nhà đầu tư tự “chịu trận” khi không có điều khoản bù đắp của Nhà nước trong hợp đồng BOT, thì sẽ đều gây ra nợ xấu cho ngân hàng cho vay làm BOT.
Trong khi đó, phong trào phản đối trạm thu phí BOT đặt sai chỗ vẫn đang tiếp diễn, càng làm trầm trọng thêm cán cân thu chi và gánh nặng của Nhà nước với các dự án BOT nói chung.
Do đó, vấn đề nan giải đặt ra là cần giải quyết cục xương BOT như thế nào để không gây thương tổn nặng nề một cách bất hợp lý cho bất cứ một chủ thể nào trong số các chủ thể liên quan đến BOT gồm Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng.
Để tìm lời giải cho vấn đề trên, trước tiên cần xuất phát từ cái gốc của các hợp đồng BOT. Bên cạnh một số dự án BOT “sạch” và hiệu quả, khó có thể phủ nhận rằng có những dự án BOT “bẩn”, không hiệu quả, theo nghĩa là không có cạnh tranh (trong đấu thầu dự án), có sự “nâng đỡ không trong sáng”, hoặc là sân sau của một tổ chức hay cá nhân nào đó... - nơi mà các nguyên tắc thị trường và sự minh bạch không tồn tại, là nguồn gốc tạo ra những bất bình và phản đối của dân tình, người sử dụng.

Với những dự án BOT “bẩn” này thì việc Nhà nước cho phép tăng phí, kể cả theo lộ trình (và kể cả khi không có lãi, trên giấy tờ), hoặc chấp nhận bù đắp cho dự án khi nhà đầu tư chứng minh rằng mình đang bị thua lỗ (trên giấy tờ) do lưu lượng xe thực tế thấp hơn dự báo, hoặc Nhà nước cho phép duy trì các trạm thu phí sai nguyên tắc... đều là những hành động cần phải được bãi bỏ hoặc rút lại ngay bởi sẽ gây tổn thất, xâm phạm quyền lợi của Nhà nước, người dân, trong khi lại làm lợi một cách phi lý cho chủ đầu tư.
Khi đã xác định rõ nguyên tắc xử lý như trên thì cần phải có phương hướng xử lý riêng cho từng dự án BOT tùy theo sự “sạch” hay “bẩn” của chúng. Theo đó, việc cần làm tiếp theo là tiến hành thanh tra, kiểm toán lại toàn bộ các dự án BOT giao thông, nhất là những dự án tai tiếng, bị dân chúng phản đối nhiều để tính toán lại chính xác chi phí đầu tư (gồm lãi vay ngân hàng), căn cứ dự toán lưu lượng và lưu lượng thực tế, thời gian tối đa hoàn vốn... Hiện tại có 59 dự án BOT đường bộ đã đưa vào vận hành khai thác, nên đây cũng không phải là một con số quá lớn để thực hiện thanh tra, kiểm toán, chưa kể một số trong số này có lẽ không cần phải làm vậy.
Việc thanh tra, kiểm toán sẽ là không cần thiết, hoặc theo hướng rút gọn với kết luận xếp hạng dự án thiên về mức “bẩn” đối với những dự án mà chủ đầu tư cố tình không thực hiện các yêu cầu công khai, minh bạch hoạt động như lắp đặt cổng thu phí tự động không dừng, báo cáo doanh thu...
Với những dự án BOT “sạch”, sau thanh tra, kiểm toán mà vẫn bị thua lỗ thì Nhà nước cần thực thi nghiêm túc các nghĩa vụ và cam kết của mình như được thể hiện trên hợp đồng BOT bất kể những lý do gì có thể viện dẫn ra để làm khác đi. Người sử dụng cũng cần phải chấp nhận nếu có phải trả phí cao hơn, chịu thời gian thu phí dài hơn.
Với những dự án BOT “bẩn” thì cần để nhà đầu tư tự phải trả giá, tự gánh lấy những “thua lỗ” nếu được kê khai ra. Đồng thời, những lùm xùm liên quan đến các dự án này như chuyện đặt sai vị trí trạm thu phí, mức phí quá cao, thời gian thu phí quá dài... cần được khắc phục triệt để theo hướng có lợi cho người sử dụng. Song song đó, những đối tượng trong bộ máy quản lý nhà nước giúp sức cho những dự án này cần được vạch mặt, chỉ tên và xử lý để tránh tái diễn trong những dự án BOT khác sau này.
Ngược lại, nếu những dự án BOT “bẩn” nói trên đang có lãi thì ngoài chuyện “đóng băng” việc tăng phí theo lộ trình, Nhà nước cần yêu cầu giảm phí sử dụng theo đúng mức chi phí hợp lý cần có cho dự án đó (cần tránh xu hướng, ý muốn điều tiết lãi thu từ dự án loại này cho những dự án “sạch” khác bởi như vậy sẽ làm tổn thất cho người sử dụng nó). Thậm chí Nhà nước cần xem xét khả năng mua lại “bắt buộc” các dự án này với giá phạt dựa trên những gian lận, sai phạm từ lúc lập và tiến hành dự án.
Sau cùng, vì chuyện nợ xấu luôn được nêu ra, nhiều khi như để gây áp lực, liên quan đến hậu quả tài chính của các dự án BOT, sự liên đới của ngân hàng đến các dự án BOT “bẩn” cũng cần được cơ quan chức năng thanh tra, kiểm toán để buộc ngân hàng tự chịu trách nhiệm với hậu quả (của các sai phạm trong quá trình thẩm định, cho vay dự án BOT), giảm thiểu sự tiếp tay sai trái của ngân hàng cho các dự án BOT hiện tại và sau này.
(1) http://vneconomy.vn/nguy-co-vo-phuong-an-tai-chinh-hang-loat-bot-se-tang-phi-20190607063553833.htm


Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).