Friday, 22 July 2016

Ủy ban không phải là lời giải (Bài đăng trên TBKTSG, 23/7/2016, bản gốc)


http://www.thesaigontimes.vn/149048/Uy-ban-khong-phai-la-loi-giai-phu-hop.html
Mới đây Bộ Kế hoạch và Đầu tư mà trực tiếp là Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đã hoàn thành dự thảo thành lập Ủy ban quản lý, giám sát vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp. Theo dự thảo, Uỷ ban này là cơ quan trực thuộc Chính phủ, do Chính phủ thành lập, giúp Chính phủ quản lý giám sát toàn bộ danh mục tài sản, vốn của Nhà nước tại 30 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là các tập đoàn, tổng công ty, bao gồm cả Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC). 
Về mô hình tổ chức và hoạt động của Ủy ban này, được biết nó được hình thành dựa trên tham khảo mô hình hoạt động của các cơ quan chuyên trách tương tự ở nhiều nước trên thế giới, trong đó thường được trích dẫn là Temasek Holdings của Singapore.
hình Temasek Holdings
Temasek Holdings là cỗ máy đầu tư cho Chính phủ Singapore, với Chính phủ là cổ đông chi phối. Nó chịu trách nhiệm trực tiếp với Tổng thống nên phản ánh thuộc tính sở hữu nhà nước. Đồng thời, nó có chức năng như một công ty mẹ của nhiều công ty có ít nhất 20% cổ phần nắm giữ bởi Chính phủ. 
Tuy nhiên, Temasek về danh nghĩa là một công ty tư nhân trách nhiệm hữu hạn, được thành lập năm 1974 để nắm giữ cổ phần trong các công ty mà trước đó được nắm giữ trực tiếp bởi Chính phủ Singapore. Xét về cơ cấu chủ sở hữu và mục đích kinh tế khi thành lập, Temasek thực chất là một tổ chức đầu tư tư nhân.
Tư cách là một công ty tư nhân của Temasek là để đảm bảo việc quản lý vốn nhà nước tại các công ty thuần túy dựa trên góc độ thương mại, chỉ theo đuổi lợi nhuận và tạo giá trị gia tăng tối đa cho các cổ đông, trong đó có Chính phủ, nhờ đó giúp Chính phủ tách biệt chức năng quản lý nhà nước, điều tiết thị trường với chức năng làm kinh tế.
Tuy là một công ty đầu tư tư nhân, thuộc tính sở hữu nhà nước của Temasek được thể hiện dưới 3 khía cạnh: (1) Tổng thống phê chuẩn bổ nhiệm các vị trí chủ chốt như thành viên Hội đồng quản trị hoặc Tổng giám đốc; (2) ngân quỹ cho hoạt động và các giao dịch không được lấy từ nguồn dự trữ có từ trước khi thành lập Chính phủ nhiệm kỳ hiện tại, trừ trường hợp được Tổng thống phê duyệt; và (3) Các công ty và tổ chức Chính phủ phải thực thi các chuẩn mực quản trị tài chính để bảo đảm sự quản trị đúng đắn và quản lý hữu hiệu danh mục tài sản. Ngoài 3 khía cạnh này, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc Temasek có toàn quyền và chịu trách nhiệm hoàn toàn trong quyết định đầu tư và kinh doanh, phản ánh thuộc tính sở hữu tư nhân.
Có thể nói, mô hình hoạt động như một công ty mẹ của Temasek đã và đang tiếp tục thành công là nhờ có phương hướng hoạt động rõ ràng, tách bạch khỏi can thiệp chính trị, và minh bạch, với nền tảng quản trị tiến bộ. Đây cũng chính là định hướng chung cho việc cải cách các DNNN ở mọi nước. Ngoài ra, một điểm quyết định đến sự thành công của mô hình Temasek phải có cả một hệ thống quản trị trong sạch và đúng đắn, từ thượng tầng là Chính phủ và các bộ ngành quản lý chức năng đến hạ tầng là các doanh nghiệp.
Chưa tương thích với Việt Nam
Để mô hình Temasek có thể áp dụng vào Việt Nam, trước tiên cần phải xem xét xem liệu điều kiện văn hóa, chính trị, xã hội của Việt Nam có dung dưỡng hay lại đào thải mô hình này. Không khó để thấy môi trường văn hóa quản trị đúng đắn và trong sạch ở Singapore mà Temasek đang hoạt động là hoàn toàn trái ngược với môi trường tương ứng ở Việt Nam. Singapore được xếp hạng thứ 8 trong bảng xếp hạng mức độ tham nhũng (Corruption Perceptions Index) năm 2015, trong khi thứ hạng của Việt Nam là 112 trên tổng số 167 nước được xếp hạng. Môi trường kinh doanh bị vẩn đục bởi tham nhũng cao, bất minh bạch như vậy hiển nhiên là một trong những vật cản lớn trong việc áp dụng mô hình Temasek ở Việt Nam.
Điều quan trọng cần xem xét tiếp theo là phiên bản Việt Nam của Temasek, tức Ủy ban trên, có được hoàn toàn độc lập với các can thiệp chính trị hay không. Theo dự thảo Nghị định liên quan, Ủy ban này trực thuộc Chính phủ và chịu sự quản lý nhà nước của các bộ, cơ quan ngang bộ theo ngành. Ngoài ra, ủy ban cũng trực tiếp thực hiện các chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước về tái cơ cấu, thoái vốn, sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.
Như vậy, không những là một cơ quan quản lý của nhà nước chứ không phải là một công ty tư nhân như Temasek, Ủy ban này, có thể nói, vẫn chỉ là cánh tay nối dài của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, thậm chí của các bộ và cơ quan ngang bộ. Với tư cách “chịu sự quản lý” của nhiều tầng lớp, tổ chức như vậy thì khó có thể nói hoạt động của Ủy ban này có thể độc lập với các can thiệp chính trị, mang tính mệnh lệnh, và do đó cũng khó có thể tránh được tình trạng là nó phải tiếp tục, ví dụ, rót vốn vào những DNNN, những dự án không có hiệu quả về mặt thương mại nhưng lại là những doanh nghiệp, những dự án là “chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước”.
Xét về phương hướng hoạt động, Ủy ban trên ngoài nhiệm vụ tối đa hóa hiệu quả đầu tư nhà nước tại các doanh nghiệp như của Temasek, thì còn phải ôm đồm thêm nhiều nhiệm vụ khác, trong đó có nhiệm vụ tái cơ cấu, thoái vốn, sắp xếp đổi mới và nâng cao hiệu quả của DNNN. Như vậy, nó trở thành một cơ quan đa nhiệm nên, về nguyên tắc, sẽ không thể giỏi trong từng lĩnh vực mà nó phải đảm nhận, đồng thời cũng không tránh khỏi sự lẫn lộn, mâu thuẫn, bài trừ lẫn nhau giữa các nhiệm vụ, các lĩnh vực. Nói cách khác, phiên bản Temasek ở Việt Nam đã vi phạm một trong những nguyên tắc chính của việc cải cách DNNN là phải có phương hướng hoạt động rõ ràng.
Xét về văn hóa quản trị, Ủy ban trên cũng khó có thể tái hiện được nền quản trị doanh nghiệp lành mạnh và tiến bộ như của Temasek ở Việt Nam. Với Temasek, các phương pháp, chuẩn mực quản trị tiến bộ, tiên tiến đều được áp dụng, với Hội đồng quản trị và ban giám đốc gồm nhiều thành viên độc lập, không mang quốc tịch Singapore, nhiều người vốn là những nhà quản lý cấp cao của nhiều công ty lớn. Các thông tin về hoạt động và tài chính của Temasek được công bố rất đầy đủ và dễ dàng tương tác và tiếp cận bởi công chúng, cho dù nhiều trong số này không bị yêu cầu phải công bố.
Ngược lại, ở Việt Nam, văn hóa quản trị được đặc trưng bởi thứ văn hóa “đúng quy trình” mà chẳng mấy ai biết được cái “quy trình” này là cái gì. Nếu có gì đó bị phát hiện là sai, bị phê phán, chỉ trích thì người ta đều dễ dàng dùng đến “bùa hộ mệnh” là “đúng quy trình”.
Thêm nữa, về mặt nhân sự, có lẽ sẽ ngược lại với Temasek, Ủy ban trên sẽ lại gồm những nhân sự lấy từ các bộ, các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan hành chính… tức là những người làm cán bộ, viên chức giỏi hơn là làm nhà quản lý doanh nghiệp, nhà đầu tư chuyên nghiệp mang tầm quốc tế. Vẫn những lối tư duy đó, những ràng buộc về “cơ chế” hiện tại, và vẫn tinh thần coi tài sản nhà nước là tài sản chung theo kiểu “cha chung không ai khóc”. Có khác chăng chỉ là sự quy tụ về “chung một mái nhà” của những con người này, thay vì nằm rải rác ở khắp các nơi mà thôi.
Cũng không làm giảm thất thoát tài sản nhà nước
Lý giải về sự cần thiết thành lập Ủy ban trên, ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng CIEM cho rằng, đại ý, Việt Nam có tình trạng sử dụng lãng phí, làm thất thoát lớn tài sản công mà không tìm thấy ai chịu trách nhiệm cả. Điều này được thể hiện qua hàng loạt dự án “đắp chiếu” như Xơ sợi Đình Vũ, Phân đạm Ninh Bình, Gang thép Thái Nguyên, Nhà máy ethanol… làm mất vốn Nhà nước rất lớn nhưng đến nay chưa ai bị xử lý. Ủy ban trên ra đời, theo kỳ vọng, sẽ ngăn được tình trạng vốn nhà nước đang bị hao mòn như hiện nay.
Như trên đã phân tích, Ủy ban trên dù có mang dáng hình của Temasek nhưng không thể hoạt động như kiểu và chất lượng của Temasek được. Sự ra đời của Ủy ban này cũng không giúp làm giảm thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước vì vấn đề không nằm ở chỗ quy về một mối các DNNN hay để chúng nằm ở nơi hiện tại.
Chừng nào còn sự bất minh bạch trong quản trị doanh nghiệp, còn sự can thiệp của một quan chức, một cơ quan có thẩm quyền nào đó, còn sự lẩn trốn trách nhiệm dưới chiêu bài “đúng quy trình”, “là quyết định của tập thể”, “là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước”, là “thực hiện theo quy hoạch phát triển”, và “do cơ chế”, hoặc là do “phát huy tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm” mà một quan chức nào đó đã chỉ đạo cho doanh nghiệp, cho địa phương thực hiện trong lúc hứng khởi… thì chừng đó vẫn sẽ tiếp tục còn những doanh nghiệp “đắp chiếu”, thất thoát hàng nghìn tỷ đồng, mà vẫn chẳng vạch mặt, chỉ tên được ai phải chịu trách nhiệm.
Vậy thì Ủy ban trên nếu có được cho ra đời thì bất quá chỉ như là một sự phóng to SCIC lên một quy mô mới lớn hơn nhiều. Vì các nguyên nhân để xảy ra những dự án “đắp chiếu” vẫn còn nguyên đó khi Ủy ban này ra đời, nên Ủy ban này sẽ lại na ná như một VAMC (Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam), trở thành nơi quản lý gom về một mối các dự án “đắp chiếu” này, thay vì để chúng nằm lại ở các bộ.
Tương tự như vậy, nếu Ủy ban trên trực tiếp quyết định sử dụng vốn đầu tư tại DNNN để đầu tư vào đâu, ngành nào, phân bổ bao nhiêu vốn… như dự thảo hiện nay thì về bản chất cũng chỉ là tương tự như việc thực hiện bởi SCIC hoặc các bộ hiện nay.
Nói cách khác, giải pháp cho ra đời Ủy ban trên là lời giải lạc đề cho chuyện thất thoát, lãng phí, hoạt động không có hiệu quả của DNNN, của đầu tư từ vốn nhà nước mà không quy trách nhiệm cho ai được!

Wednesday, 20 July 2016

“Siêu ủy ban” - lời giải lạc đề (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, 18/7/2016)


http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=375366

Mới đây Bộ Kế hoạch và Đầu tư mà trực tiếp là Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đã hoàn thành dự thảo thành lập Ủy ban quản lý, giám sát vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp. Theo dự thảo, Uỷ ban này là cơ quan trực thuộc Chính phủ, do Chính phủ thành lập, giúp Chính phủ quản lý giám sát toàn bộ danh mục tài sản, vốn của Nhà nước tại 30 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là các tập đoàn, tổng công ty, bao gồm cả Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC). Bên cạnh đó, cơ quan này còn trực tiếp hoặc chủ trì tham mưu, giúp Chính phủ và Thủ tướng về chính sách sở hữu Nhà nước, về tái cơ cấu, sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN. Ủy ban này cũng sẽ tập trung nguồn vốn nhà nước đang đầu tư tại doanh nghiệp để đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực chiến lược, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và nền kinh tế. 

Lý giải về sự cần thiết thành lập ủy ban này, ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng CIEM cho rằng, đại ý, Việt Nam có tình trạng sử dụng lãng phí, làm thất thoát lớn tài sản công mà không tìm thấy ai chịu trách nhiệm cả. Điều này được thể hiện qua hàng loạt dự án “đắp chiếu” như Xơ sợi Đình Vũ, Phân đạm Ninh Bình, Gang thép Thái Nguyên, Nhà máy ethanol… làm mất vốn Nhà nước rất lớn nhưng đến nay chưa ai bị xử lý. Ủy ban trên ra đời, theo kỳ vọng, sẽ ngăn được tình trạng vốn nhà nước đang bị hao mòn như hiện nay.

Đề đánh giá một cách khách quan vai trò và sự cần thiết của ủy ban này, trước tiên ta cần phân tích tại sao lại có tình trạng sử dụng lãng phí, làm thất thoát lớn tài sản nhà nước mà không ai chịu trách nhiệm, không ai bị xử lý. Khi đã rõ lý do thì ta sẽ tiếp tục phân tích xem liệu ủy ban trên có khắc phục được tình trạng không xử lý được ai đã gây thất thoát, lãng phí tài sản công, để rồi từ đó mới có thể kết luận thành lập ủy ban này có phải là một chủ trương đúng và hữu hiệu không.

Có lẽ không cần phải tốn thời gian để chỉ ra những nguyên nhân chính của việc có thất thoát, lãng phí lớn mà không quy trách nhiệm được cho ai. Đó chính là sự “đúng quy trình”, là “trách nhiệm tập thể”, là “thực hiện theo quy hoạch”, là “chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước”, là “phát huy tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm”, là “do cơ chế”…

Chẳng hạn, hầu như bất kể vụ việc lớn nhỏ, sai lè lè nào, người ta đều dễ dàng dùng đến “bùa hộ mệnh” là “đúng quy trình”, từ việc cấp dưới đề xuất chủ trương (đầu tư), và cấp trên thấy là cần thiết, cấp bách, hoặc “có ý nghĩa chính trị và xã hội” (chứ không nhất thiết là có ý nghĩa kinh tế) là mọi cá nhân và tập thể liên đới xem ra sẽ bình an tuyệt đối. Có ai đủ “gan” và thẩm quyền để lật đổ cái “đúng quy trình” này được? Mà có ai hiểu cụ thể cái “đúng quy trình” là cái gì để mà chống lại nó như chàng Don Quixote chiến đấu chống lại cối xay gió?

Về “trách nhiệm tập thể”, hầu như không có bất cứ một dự án đầu tư nào của nhà nước, hoặc DNNN, mà lại không là kết quả của một sự nhất trí và ủng hộ về chủ trương và thực thi giữa nhiều bên liên đới, từ ban giám đốc, đảng ủy, chính quyền, công đoàn…, và người đứng đầu ký tên vào dự án chỉ là người đại diện, ký thay cho tập thể này mà thôi, chứ không phải với tư cách cá nhân, “đứng mũi chịu sào”. Vậy khi xảy ra hậu quả, không nhẽ xử lý trách nhiệm của cả tập thể từng đó con người?

Với lá bùa “thực hiện theo quy hoạch”, quy hoạch được xây dựng cho tầm nhìn cả 20-30 năm, không tránh khỏi sẽ có lúc sai lầm, gây thừa thãi hoặc không có hiệu quả khi mà các biến số đầu vào thay đổi chóng mặt hàng năm. Nhưng quy hoạch là cái nôi cho các dự án đầu tư công, đầu tư bằng tiền vay, cấp phát của nhà nước nên sau này nếu các dự án tỏ ra không có hiệu quả, lãng phí thì đó là do lỗi của quy hoạch chứ chẳng phải là lỗi của ai cả, kể cả tập thể. Mà lỗi của quy hoạch thì không quy trách nhiệm cho người thực hiện dự án được, cùng lắm chỉ sửa lại là đủ.

Với những dự án ra đời bắt nguồn từ “chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước” thì vấn đề không phải là có hiệu quả, lãng phí hay không, mà là phải thực hiện, quyết tâm và quyết liệt thực hiện. Với những dự án loại này, nếu không có hiệu quả thương mại thì sẽ có hiệu quả về chính trị, xã hội, hoặc hiệu quả về một cái gì gì đó, và nếu cần thì sẽ được tạo điều kiện tối đa để trở nên hiệu quả.

Còn với “phát huy tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm”, “đi tắt đón đầu”, mới đó chưa lâu người ta còn được nghe những câu khích lệ, động viên lớn này từ một số lãnh đạo cao cấp để rồi ra đời những “xác sống” như Vinashin. Sự việc đã xảy ra rồi, nếu có muốn truy trách nhiệm đến cùng e rằng cũng khó.

Về nguyên nhân do “do cơ chế”, cũng tương tự như nguyên nhân “đúng quy trình”, “cơ chế” cho phép DNNN, các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước được hình thành và hoạt động trong môi trường ít cạnh tranh; “cơ chế” cho phép người quản lý ít chịu sức ép cải cách, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp… Vậy để thay đổi những tồn tại của DNNN, ngăn cản sự ra đời của các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước thì phải thay đổi “cơ chế”. Mà “cơ chế” cụ thể là cái gì, ai thay đổi được “cơ chế” xem ra không dễ có câu trả lời.

Chuyển sang câu hỏi, liệu Ủy ban nêu trên có khắc phục được các nguyên nhân gây ra thất thoát, lãng phí lớn hay không. Ủy ban này chắc chắn không xóa bỏ được lối làm việc “đúng quy trình”, vì bản thân nó cũng phải làm việc theo “đúng quy trình” được quy định trong quyết định thành lập nó. Nó cũng không thể có chức năng như quan tòa, xóa bỏ “trách nhiệm tập thể” để vạch ra trách nhiệm của một vài “con sâu” nào đó trong cái tập thể đó, hay đủ thẩm quyền để xóa bỏ chế độ “trách nhiệm tập thể” hiện nay. Bản thân Ủy ban này cũng là một tập thể, ra quyết định mang tính tập thể chứ không phải của một cá nhân nào đó.

Ủy ban trên cũng không có tác dụng gì trong việc làm thay đổi cách đầu tư “theo quy hoạch”, “theo chủ trương của Đảng và Nhà nước”, và cũng không cấm được một vị nào đó một ngày đẹp trời nổi hứng tiếp tục khích lệ tinh thần “dám nghĩ, dám làm (liều)” của các nhà quản lý hiện tại và sau này ở các DNNN, các dự án sử dụng vốn nhà nước.

Vậy thì Ủy ban trên nếu có được cho ra đời thì bất quá chỉ như là một sự phóng to SCIC lên một quy mô mới lớn hơn nhiều. Vì các nguyên nhân để xảy ra những dự án “đắp chiếu” vẫn còn nguyên đó khi Ủy ban này ra đời, nên Ủy ban này sẽ lại na ná như một VAMC (Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam), trở thành nơi quản lý gom về một mối các dự án “đắp chiếu” này, thay vì để chúng nằm lại ở các bộ.

Còn với các 30 tập đoàn và tổng công ty đang hoạt động, cũng khó hy vọng Ủy ban trên, về mặt nghiệp vụ, hoạt động tốt hơn SCIC hoặc các vụ tại các bộ. Cũng vẫn những nhân sự đó – những người làm viên chức giỏi hơn là làm nhà quản lý doanh nghiệp, nhà đầu tư chuyên nghiệp, những lối tư duy đó, những ràng buộc về “cơ chế” hiện tại, và vẫn “tinh thần tập thể” theo kiểu “cha chung không ai khóc” đó thì khó hy vọng Ủy ban này sẽ tạo ra được một chuyển biến căn bản trong việc giảm thất thoát, lãng phí, nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN được nó quản lý.

Tương tự như vậy, nếu Ủy ban trên trực tiếp quyết định sử dụng vốn đầu tư tại DNNN để đầu tư vào đâu, ngành nào, phân bổ bao nhiêu vốn… như dự thảo hiện nay thì về bản chất cũng chỉ là tương tự như việc thực hiện bởi SCIC hoặc các bộ hiện nay.

Nói cách khác, giải pháp cho ra đời Ủy ban trên là lời giải lạc đề cho chuyện thất thoát, lãng phí, hoạt động không có hiệu quả của DNNN, của đầu tư từ vốn nhà nước mà không quy trách nhiệm cho ai được!

Box: hình Temasek Holdings, Singapore

Temasek Holdings là cỗ máy đầu tư cho Chính phủ Singapore, với Chính phủ là cổ đông chi phối. Nó chịu trách nhiệm trực tiếp với Tổng thống nên phản ánh thuộc tính sở hữu nhà nước. Đồng thời, nó có chức năng như một công ty mẹ của nhiều công ty có ít nhất 20% cổ phần nắm giữ bởi Chính phủ (governmnet-linked companies, GLC). 

Tuy nhiên, Temasek về danh nghĩa là một công ty tư nhân trách nhiệm hữu hạn, được thành lập năm 1974 để nắm giữ cổ phần trong các công ty mà trước đó được nắm giữ trực tiếp bởi Chính phủ Singapore. Xét về cơ cấu chủ sở hữu và mục đích kinh tế khi thành lập, Temasek thực chất là một tổ chức đầu tư tư nhân.

Tư cách là một công ty tư nhân của Temasek là để đảm bảo việc quản lý vốn nhà nước tại các công ty thuần túy dựa trên góc độ thương mại, chỉ theo đuổi lợi nhuận và tạo giá trị gia tăng tối đa cho các cổ đông, trong đó có Chính phủ, nhờ đó giúp Chính phủ tách biệt chức năng quản lý nhà nước, điều tiết thị trường với chức năng làm kinh tế.

Tuy là một công ty đầu tư tư nhân, thuộc tính sở hữu nhà nước của Temasek được thể hiện dưới 3 khía cạnh: (1) Tổng thống phê chuẩn bổ nhiệm các vị trí chủ chốt như thành viên Hội đồng quản trị hoặc Tổng giám đốc; (2) ngân quỹ cho hoạt động và các giao dịch không được lấy từ nguồn dự trữ có từ trước khi thành lập Chính phủ nhiệm kỳ hiện tại, trừ trường hợp được Tổng thống phê duyệt; và (3) Các công ty và tổ chức Chính phủ phải thực thi các chuẩn mực quản trị tài chính để bảo đảm sự quản trị đúng đắn và quản lý hữu hiệu danh mục tài sản. Ngoài 3 khía cạnh này, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc Temasek có toàn quyền và chịu trách nhiệm hoàn toàn trong quyết định đầu tư và kinh doanh, phản ánh thuộc tính sở hữu tư nhân.

Tuy vậy, để mô hình Temasek hoạt động hiệu quả, không chỉ cần thỏa mãn 3 điều kiện trên, mà còn phải có cả một hệ thống quản trị trong sạch và đúng đắn, từ thượng tầng là Chính phủ và các bộ ngành quản lý chức năng đến hạ tầng là các doanh nghiệp.

 


Friday, 8 July 2016

Không ngẫu nhiên vàng nổi cơn điên! (Bài đăng trên CafeF, 8/7/2016)

http://cafef.vn/khong-ngau-nhien-vang-noi-con-dien-20160708074702577.chn

Ngày 5/7, giá vàng kết thúc ở mức 36,35-36,9 triệu đồng/lượng, nối tiếp gần một tuần giá tăng liên tục. Chưa dừng ở đó, do thị trường đồn đoán rằng giá vàng có thể giá vàng có thể lên tới 40 triệu đồng/lượng hoặc còn có thể cao hơn nữa nên người dân đã đổ xô đi mua vàng ngày 6/7, đẩy giá vàng tăng vọt tới mức đỉnh là 38,8-39,8 triệu đồng/lượng, và cuối cùng chốt phiên ở mức 38,7-39,7 triệu đồng/lượng, là mức cao nhất kể từ tháng 6/2013. Chênh lệch giữa mua vào, bán ra lên tới hơn một triệu đồng. Tuy nhiên, sang ngày 7/7, từ lúc mở phiên giá vàng đã nhanh chóng lao dốc xuống còn 37,7 triệu đồng/lượng, giảm đến hơn 2 triệu đồng/lượng so với đỉnh ngày 6/7.

Đã có một số ý kiến can ngăn, kêu gọi nhà đầu tư thận trọng với biến động bất thường của vàng, kẻo phải gánh lỗ nặng khi vàng lao dốc, do thị trường hiện nay đang tiềm ẩn nguy cơ đầu cơ, lướt sóng ngắn hạn rất cao và sự lao dốc như trên được xem như là sự ứng nghiệm cho lời can ngăn, cảnh báo trên.

Nhưng việc can ngăn, cảnh báo trên xem ra đúng trong mọi hoàn cảnh nên thực ra vì thế không mấy trọng lượng. Ranh giới giữa nhà đầu tư (nhằm mục đích bảo toàn tài sản khi rủi ro của những loại tài sản tài chính khác tăng lên) và nhà đầu cơ (nhằm mục đích lướt sóng kiếm chênh lệch giữa mua và bán) là rất mờ nhạt.

Rất có thể ban đầu sự kiện Brexit kích hoạt hành động đầu tư bảo toàn tài sản khi các đồng tiền khác nhảy nhót, và triển vọng kinh tế toàn cầu trở nên ảm đạm hơn. Nhưng hành động này đã và sẽ dẫn đến giá vàng biến động theo hướng tăng nhanh và mạnh, nên nó lập tức cũng kích hoạt hành động đầu cơ lướt sóng, với suy tính rằng giá vàng sẽ phải đạt ít nhất là từng này, từng kia trong ngày đó. Cả 2 hành động này sẽ tiếp tục “nương” vào nhau mà thúc đẩy người ta dốc toàn lực lao vào đánh cược với thị trường và đẩy giá vàng đi lên.

Một điểm đặc biệt “thuận lợi” cho cơn sốt vàng là sau khi Brexit diễn ra, người ta không/chưa trông thấy yếu tố khả quan nào khác làm dịu các rủi ro đang hiện hữu trong nền kinh tế toàn cầu. Ngược lại, chỉ thấy toàn những tin làm lợi cho giá vàng như Fed dường như sẽ tiếp tục trì hoãn (vô thời hạn) tăng lãi suất hay Trung Quốc tiếp tục phá giá đồng Nhân dân tệ, còn các tổ chức quốc tế thì thi nhau hạ triển vọng tăng trưởng toàn cầu.
Bên cạnh đó, một yếu tố cũng “thuận lợi” không kém là thực tế giá vàng trong nước vẫn còn thấp hơn giá vàng quốc tế, trong khi giá vàng quốc tế vẫn tiếp tục xu hướng đi lên kể cả trong ngày 7/7 là ngày giá vàng trong nước điều chỉnh mạnh. Chưa hết, đối nghịch với áp lực cầu về vàng tăng đột ngột và mạnh, nguồn cung vàng trong nước thì bị khóa chặt ở đầu nhập khẩu, do chính sách quản lý vàng của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).

Trước những diễn biến bất lợi về cung và cầu như trên thì giá vàng tăng lên và tăng mạnh là chuyện hiển nhiên. Tất nhiên là giá vàng hay giá của bất cứ thứ gì cũng vậysẽ không thể đi lên mãi mà phải có một điểm dừng nào đó, trước khi đổ sụp. Vì điều này chắc chắn xảy ra nên ý kiến can ngăn, cảnh báo nói ở trên kiểu gì cũng đúng, không sớm thì muộn, không xảy ra ngay trong ngày, trong tuần này thì ắt sẽ phải xảy ra trong… năm nay hoặc năm sau! Giá như có ai đó chỉ ra trước được rằng giá vàng sẽ lên đỉnh là 39,9 triệu đồng/lượng vào ngày 7/7, và chớ có nên mua vào ở cái giá đỉnh điểm này, thì đó mới là lời can ngăn, cảnh báo đắt giá và đáng mang ra bàn ở đây.

Bằng không, chừng nào còn sóng (mạnh), còn những lời đồn đoán có lý (ví dụ, dựa trên phân tích cung cầu như trên) và cả “đoán mò”, còn những yếu tố ủng hộ xu thế tăng giá của vàng thì chừng đó người ta sẽ còn tiếp tục “sống chết” với vàng, và không lời can ngăn, cảnh báo chung chung nào kiểu trên có thể ngăn cản được cơn sốt vàng. Nói cách khác, với diễn biến hiện nay của thị trường quốc tế thì sự điều chỉnh mạnh của giá vàng hôm 7/7 rất có thể chỉ là sự tạm nghỉ ngắn ngủi.

Nếu muốn “cầm cương” thị trường vàng như đã từng tuyên bố và được lặp lại mới đây thì NHNN có một giải pháp khả thi là tung vàng trong quỹ dự trữ ngoại hối của mình ra bán (bán đấu thầu vàng như thực hiện trong năm 2014) với giá chỉ định nào đó thấp hơn giá thị trường. Nhưng vì số vàng dự trữ có hạn nên nếu áp lực thị trường tiếp tục tăng lên thì việc bán vàng can thiệp này chỉ có tác dụng trong ngắn hạn. Ngoài ra, vì giá vàng thế giới vẫn đang xu hướng đi lên và cao hơn giá trong nước nên kể cả việc NHNN mua vàng về bán trong nước qua đấu thầu hay cho phép nhập khẩu vàng, thì, về nguyên tắc, cũng không làm dịu cơn sốt vàng trong nước.

NHNN cũng có thể phải dùng đến những giải pháp hành chính như quy định đối tượng được mua, được bán vàng, và số lượng vàng được mua/bán trong mỗi giao dịch, đồng thời nhờ lực lượng công an và kiểm soát thị trường kiểm tra, phát hiện và xử phạt các giao dịch vàng không chính thức v.v… Nhưng việc này cũng sẽ không mấy tác dụng, vì nó cũng tương tự như chuyện kiểm soát thị trường ngoại tệ tự do.

Về ảnh hưởng giữa giá vàng với ngoại tệ, không nói đến kênh liên thông thường nghĩ đến giữa giá vàng và ngoại tệ ở Việt Nam là khi giá vàng tăng thì nhu cầu USD tăng lên để đáp ứng việc nhập vàng lậu. Hiện, khi mức độ rủi ro và bất ổn của cả kinh tế thế giới đều tăng lên, trong khi giá vàng đã tăng mạnh và đứng ở mức cao, có thể làm nhiều nhà đầu tư/đầu cơ chùn tay, thì sự chú mục sẽ được chuyển sang những hầm trú ẩn an toàn và là phương tiện lướt sóng khác. Hiện tại, rõ ràng là nhìn đi nhìn lại thì chỉ thấy có USD là đáp ứng được mục đích này, đặc biệt là khi tỷ giá đang rất ổn định ở mức thấp trong khi các bản tệ khác biến động mạnh. Do đó, có thể nói tỷ giá VND/USD sẽ chịu thêm áp lực từ giá vàng tiếp tục gia tăng, ít nhất trong ngắn hạn.

Saturday, 2 July 2016

Tăng trưởng sẽ chịu nhiều áp lực hơn (Bài đăng trên TBKTSG, 3/7/2016, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/148285/Tang-truong-se-chiu-nhieu-ap-luc-hon.html


Bài này được viết ngay trước thời điểm Tổng cục Thống kê (TCTK) dự kiến công bố số liệu kinh tế 6 tháng đầu năm nên nội dung chỉ tập trung vào triển vọng tăng trưởng trong 6 tháng cuối năm dựa trên phân tích những rủi ro mà nền kinh tế đang và sẽ phải đối mặt, mặc dù tăng trưởng 6 tháng đầu năm khi được công bố có thể vẫn là một con số khả quan nào đó so với cùng kỳ năm trước.
Sử dụng số liệu thống kê do TCTK công bố cho 5 tháng đầu năm (riêng lạm phát đã có số liệu tháng 6), có thể thấy một số diễn biến đáng chú ý sau.
Sản lượng tăng chậm hoặc giảm sút
Trong chăn nuôi, trồng trọt, tình hình chung cho thấy sản xuất đều có sự tụt giảm từ vừa phải đến đáng kể trên hầu như mọi chỉ số, từ gieo cấy, thu hoạch lúa đông xuân, gieo sạ lúa hè thu, đến gieo trồng hoa mầu và chăn nuôi trâu bò. Về nguyên nhân thì có lẽ chủ yếu do nguyên nhân khách quan như thời tiết rét đậm, rét hại, sâu bệnh, đến nắng nóng, hạn hán, khô hạn và xâm nhập mặn. 
Lâm nghiệp và thủy sản là 2 lĩnh vực trong ngành nông nghiệp có sự tăng trưởng nhẹ so với cùng kỳ năm trước, nếu xét về mặt sản lượng. Ví dụ, về lâm nghiệp, diện tích rừng trồng tập trung và sản lượng gỗ khai thác trong tháng 5 đã tăng ở mức đáng kể so với cùng kỳ năm 2015. Tuy vậy, điều đáng chú ý là trong khi diện tích rừng trồng tăng lên thì diện tích rừng bị cháy, bị phá cũng tăng mạnh so với năm 2015.
Về thủy sản, sản lượng thủy sản trong 5 tháng đầu năm ước tính tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước. Nhưng TCTK cũng cho biết ngành này đối mặt với nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng, môi trường nước biến đổi gây dịch bệnh và cá chết hàng loạt ở miền Trung làm sức mua chững lại, sản phẩm khai thác khó tiêu thụ…
Trong công nghiệp, chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức 9,4% đạt được trong 5 tháng đầu năm 2015. Riêng ngành khai khoáng lại giảm 1,2% so với cùng kỳ năm 2015.
Giá sản xuất cũng tăng chậm hoặc giảm sút
Đáng chú ý là trong khi sản lượng chung của nền kinh tế tăng chậm hoặc giảm sút thì giá cả của nhiều nhóm hàng hóa cũng tăng chậm, thậm chí giảm sút so với cùng kỳ năm trước. Ví dụ, theo TCTK, chỉ số giá sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản bình quân 6 tháng đầu năm lại có mức giảm 0,46% so với cùng kỳ năm 2015. Trong khi đó, chỉ số giá sản xuất hàng công nghiệp bình quân sáu cũng giảm 1,15% so với cùng kỳ. Ngay cả chỉ số giá nhóm sản phẩm công nghiệp chế biến chế tạo bình quân sáu tháng vẫn giảm 0,54% so với cùng kỳ.
Điểm sáng hiếm hoi trong nền kinh tế 6 tháng đầu năm là ngành dịch vụ, với chỉ số giá sản xuất bình quân sáu tháng tăng 1,98% so với cùng kỳ.
Do cả sản lượng lẫn giá bán của nhiều ngành trong nền kinh tế nửa đầu năm nay đều chững lại hoặc giảm sút so với cùng kỳ năm trước nên có thể nói rằng giá trị thặng dư tạo ra trong nền kinh tế trong nửa đầu năm nay nếu có tăng so với năm trước thì cũng chỉ ở mức khá khiêm tốn, đặc biệt nếu tính thêm yếu tố lạm phát làm tăng giá sản xuất của nhiều hàng hóa và dịch vụ.
Nói cách khác, nếu xét riêng về mặt tăng trưởng sản lượng (và coi giá bán là cố định, theo giá so sánh của năm 2010) thì có thể GDP vẫn tăng trưởng ở một mức độ khả quan nào đó. Nhưng nếu xét về giá trị thặng dư (là tích số của sản lượng và giá bán loại trừ yếu tố lạm phát) thì GDP sẽ phải tăng trưởng ở mức rất khiêm tốn trong nửa đầu năm nay so với cùng kỳ năm 2015.
Rủi ro đang tăng lên
Bối cảnh bên ngoài đang trở nên rủi ro hơn cho nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Điều đầu tiên phải đề cập đến là sự kiện Brexit, với kết quả là Anh sẽ rút ra khỏi EU. Sự kiện này vốn được nhìn nhận là không có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế Việt Nam trước ngày 24/6 là ngày người dân Anh đi bỏ phiếu quyết định Anh sẽ ra đi hay ở lại với EU. Nhưng thực tế diễn ra mấy ngày sau bỏ phiếu cho thấy Việt Nam cũng bị tác động mạnh ngoài sự tưởng tượng của mọi người, với thị trường chứng khoán tụt giảm mạnh, tỷ giá và đặc biệt là giá vàng cũng tăng vọt. Điều này chứng tỏ tác động của Brexit không chỉ là trực tiếp mà còn gián tiếp thông qua nhiều kênh lên nền kinh tế Việt Nam, và không thể coi thường, chủ quan với tác động này trong việc hoạch định chính sách kinh tế sắp tới.
Ngoài sự kiện Brexit, được kỳ vọng là sẽ còn tiếp tục gây ảnh hưởng tiêu cực sâu rộng hơn nữa lên nền kinh tế toàn cầu và Việt Nam, thế giới sẽ phải tiếp tục đối mặt với những rủi ro hiện hữu và đang tăng lên về mức độ như chính sách lãi suất âm của nhiều quốc gia như Nhật và châu Âu, bầu cử Tổng thống Mỹ, và đặc biệt là quả bom nợ Trung Quốc đang chầu trực chờ nổ.

Ở trong nước, dư địa huy động các nguồn lực tăng trưởng đã trở nên ngày càng hạn hẹp và đặt Việt Nam vào thế nếu cố gắng huy động hơn nữa thì sẽ phải đánh đổi lấy rủi ro đổ vỡ kinh tế vĩ mô. Chính sách tiền tệ đã được nới lỏng đáng kể để hạ lãi suất, thúc đẩy tăng trưởng nhằm bù đắp cho những diễn biến bất lợi trong nửa đầu năm nay. Nhưng chính sách tiền tệ nới lỏng đang làm tăng áp lực lạm phát, với chỉ số giá tiêu dùng CPI đã tăng 1,72% 6 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm 2015. Tất nhiên, cũng có nhiều người lập luận rằng mức này vẫn còn khá an toàn vì mục tiêu lạm phát được Quốc hội đề ra cho Chính phủ là dưới 5% trong cả năm nay. Nhưng cần lưu ý rằng chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ có tác động với một độ trễ lên lạm phát, nên nếu chính sách tiền tệ tiếp tục được nới lỏng bất cẩn trong nửa năm còn lại của năm nay thì lạm phát có thể sẽ bùng nổ mạnh ngay từ đầu năm sau.


Thông thường, khi chính sách tiền tệ còn ít dư địa thì chính sách tài khóa sẽ được phát huy để tạo động lực cho tăng trưởng. Nhưng trong trường hợp của Việt Nam thì điều này hầu như xem ra là không tưởng hiện nay, với việc Chính phủ đảm bảo nguồn huy động trả nợ vay trong và ngoài nước để khống chế mức nợ công không tăng lên đã là một thành công, chứ chưa dám nói đến huy động vốn để chi cho đầu tư và phát triển.

Nguồn động lực đến từ FDI cũng chứa đựng nhiều bất trắc hơn, với nhiều dự án FDI đang bị soi xét trong cái nhìn hoài nghi của dư luận từ góc độ an ninh, môi trường, trốn thuế, chuyển giá, không thực hiện nghĩa vụ nghiêm túc với người lao động... Đó là chưa kể bản thân nhà đầu tư FDI cũng sẽ phải thận trọng hơn trong việc bỏ vốn ra nước ngoài khi mà rủi ro cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu đang tăng lên.


Trong khi đó, một cú hích quan trọng cho tăng trưởng kinh tế là cải cách thể chế và chất lượng hoạt động của Chính phủ đang phải đối mặt với nhiều rào cản mới. Mặc dù Chính phủ mới đã và đang hạ quyết tâm cải cách thể chế, xóa bỏ các trói buộc cho doanh nghiệp và người dân, nhưng trên thực tế người ta lại đang tìm nhiều cách để cản trở tiến trình này một cách vô tình hay hữu ý. Ví dụ rõ nét và đang gây quan ngại lớn hiện nay là tình trạng nghị định hóa các điều kiện kinh doanh (mà nhiều người cho là trái luật, vi hiến) trong các thông tư của các bộ trước đây để hợp pháp hóa các điều kiện kinh doanh này, mà về bản chất chỉ là lưu giữ quyền lợi cho các nhóm lợi ích chứ không phải để tạo điều kiện để nền kinh tế phát triển lành mạnh.


Tóm lại, cho dù con số tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam nửa đầu năm nay có “đẹp” đến bao nhiêu chăng nữa thì các mục tiêu tăng trưởng và phát triển mà Việt Nam đã đặt ra từ đầu năm cho cả năm nay và năm sau nữa đã và đang ngày càng phải đối mặt với nhiều rủi ro và bất trắc hơn, và trở nên khó hiện thực hóa hơn. Giải pháp khả thi hầu như duy nhất của Việt Nam là phải tích cực cải cách, cải cách và cải cách trên mọi mặt để nền kinh tế trở nên linh hoạt hơn, cạnh tranh hơn trong bối cảnh ngày càng không thuận lợi của môi trường quốc tế.

Thursday, 30 June 2016

Nới lỏng chính sách đã đến ngưỡng (Bài đăng trên CafeF, 30/6/2016)

http://cafef.vn/noi-long-chinh-sach-da-den-nguong-20160630134809219.chn

Tổng cục Thống kê vừa công bố báo cáo về tình hình kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm 2016. Về tiền tệ, báo cáo cho biết, tính đến thời điểm 20/6/2016, tổng phương tiện thanh toán tăng 8,07% so với cuối năm 2015 (cùng kỳ năm trước tăng 5,09%) và huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 8,23% (cùng kỳ năm trước tăng 4,58%). Trong khi đó, tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 6,2%, xấp xỉ mức tăng cùng kỳ năm trước là 6,28%.
Bình luận về các số liệu trên, đặc biệt là tổng phương tiện thanh tăng mạnh, TS. Phan Minh Ngọc cho rằng, không còn nghi ngờ gì rằng cung tiền – thể hiện ở con số tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán – rõ ràng đã được nới lỏng một cách mạnh mẽ. Kênh nới lỏng cung tiền chủ yếu trong đầu năm nay là thông qua việc mua vào USD để bù đắp và bổ sung dự trữ ngoại hối đã bị suy giảm nhiều tỷ USD trong năm 2015 (NHNN cho biết đã mua vào tới 8 tỷ USD trong 5 tháng đầu năm).

Đồng thời với việc mua vào USD, lượng tiền đồng đối ứng tung ra cũng đã không được trung hòa (hấp thụ trở lại NHNN) một cách tương ứng, có thể bởi lý do là NHNN muốn đáp ứng yêu cầu của Chính phủ hạ lãi suất cho vay tiền đồng nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và hỗ trợ tăng trưởng vốn đã có bước khởi đầu trong năm nay không mấy suôn sẻ.

Thế còn về tốc độ huy động vốn tăng mạnh thì sao thưa ông?

TS. Phan Minh Ngọc: Tốc độ tăng trưởng huy động vốn của các tổ chức tín dụng trong nửa đầu năm nay không chỉ bám sát (như mọi năm) mà thậm chí còn vượt tốc độ tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán. Điều này hơi khó lý giải, ngoài lý do có thể là các tổ chức tín dụng đã đẩy lãi suất huy động lên để tăng tính hấp dẫn của tiền gửi ngân hàng nhằm thu hút cả phần vốn tiền đồng đang trôi nổi trên thị trường, ngoài hệ thống ngân hàng. Điều này, tiếp đó, lại có thể cho thấy kênh gửi tiết kiệm tiền đồng đã trở nên hấp dẫn hơn một cách tương đối trong số các kênh đầu tư khác trong mắt một bộ phận nhà đầu tư.

Tín dụng tăng trưởng thấp có phải do nền kinh tế vẫn hấp thụ kém?

Trong khi tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng huy động tăng mạnh (trên 8%) thì tăng trưởng tín dụng tăng ở mức thấp hơn đáng kể (6,2%). Điều này hoàn toàn không chứng tỏ khả năng hấp thụ tín dụng của nền kinh tế bị hạn chế, mà rất có thể là do một phần đáng kể vốn huy động vào các tổ chức tín dụng đã được dùng để mua trái phiếu Chính phủ theo chủ ý của Chính phủ cũng như NHNN. Cần lưu ý rằng, việc mua TPCP cũng được NHNN hậu thuẫn như động thái mới đây nâng hạn mức đầu tư vào trái phiếu Chính phủ của một số nhóm ngân hàng thương mại tại Thông tư 36 sửa đổi.
Tất nhiên, ngoài lý do các NHTM tăng mua TPCP cũng có thể còn lý do là các ngân hàng tiếp tục phải tăng dự trữ vốn đáp ứng nhu cầu nội tại như xử lý nợ xấu, hoặc điều chỉnh cơ cấu vốn huy động và cho vay theo những yêu cầu khắt khe hơn.

Những số liệu này, cùng với lãi suất liên ngân hàng giảm sâu đã chứng tỏ hướng nới lỏng chính sách của NHNN là đúng đắn. Trong phần còn lại của năm, theo ông NHNN nên hành động như thế nào trong bối cảnh hiện tại của nền kinh tế, đặc biệt là những áp lực từ lạm phát mà nhiều chuyên gia đã cảnh báo?

Diễn biến theo hướng hạ xuống đáng kể của lãi suất liên ngân hàng thời gian gần đây cho thấy chính sách tiền tệ nới lỏng vừa qua của NHNN đạt được mục tiêu là nới lỏng thanh khoản, hạ áp lực tăng lãi suất và trợ giúp Chính phủ huy động vốn thành công cho ngân sách với lãi suất hợp lý.

Đổi lại, chính sách tiền tệ nới lỏng đã làm tăng áp lực lạm phát, với chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đang có chiều hướng đi lên rõ rệt (CPI tăng tới 2,35% trong tháng 6 so với tháng 12 năm 2015, trong khi chỉ tiêu của Quốc hội đặt ra là dưới 5% cho cả năm). Do lạm phát sẽ có độ trễ so với sự nới lỏng tiền tệ nên nếu chính sách tiền tệ tiếp tục được nới lỏng với tốc độ như vừa qua thì rất có thể CPI sẽ tăng mạnh hơn trong nửa năm còn lại hoặc chậm nhất là đầu năm sau.

Như vậy, điều rút ra trong bối cảnh hiện tại là chính sách tiền tệ của NHNN đã phát huy tối đa hiệu quả có thể kỳ vọng, đặt trong mối quan hệ với sự ổn định của các biến số vĩ mô khác. Do đó, NHNN cần thận trọng trở lại với chính sách tiền tệ của mình, giảm bớt tốc độ tăng cung tiền nhằm mục tiêu giảm bớt tốc độ tăng CPI trong những tháng còn lại của năm.
Bên cạnh đó, nếu CPI tiếp tục tăng trong những tháng tới, dù tốc độ có thể chậm lại, một phần do chính sách tiền tệ tiếp tục được nới lỏng, tuy có chừng mực hơn, NHNN cần thiết phải xem xét chủ động điều chỉnh tỷ giá theo hướng để VNĐ yếu hơn so với USD, cho dù áp lực này hoàn toàn không có nếu xét từ khía cạnh cung cầu trên thị trường ngoại hối ở Việt Nam (cung USD có thể tiếp tục dồi dào nhờ FDI).

Việc điều chỉnh này là rất cần thiết trong bối cảnh lạm phát của Việt Nam tiếp tục tăng nhanh hơn lạm phát của Mỹ và các nước đối tác thương mại chủ chốt dẫn đến sự lên giá thực của tiền Đồng, làm suy yếu tính cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.

Xin cảm ơn những chia sẻ của ông!

Saturday, 25 June 2016

Brexit: Lửa thử vàng (Bài đăng trên CafeF, 26/6/2016, bản gốc)

http://cafef.vn/brexit-lua-thu-vang-20160625162416888.chn


Thị trường chứng khoán, ngoại hối và hàng hóa toàn cầu đã rúng động mạnh hôm thứ 6 vừa qua khi kết quả trưng cầu ý dân ở Anh cho kết quả Anh sẽ rời bỏ EU, một kết quả bất ngờ với không ít người. Trong xu hướng chung tháo chạy và hoảng loạn của nhiều nhà đầu tư, thị trường vẫn cho thấy có  một số hàng hóa và đồng tiền lội ngược dòng một cách ngoạn mục, xứng đáng là nơi trú ẩn an toàn cuối cùng đáng tin cậy cho giới đầu tư trước những biến cố chính trị và kinh tế lớn diễn ra đây đó trên thế giới.
Một trong những thứ hàng hóa đầu tiên mà giới đầu tư luôn nhắm đến trong những cơn biến động toàn cầu đương nhiên là vàng vì nó đem lại sự chắc chắn và an toàn cho nhà đầu tư khi chứng khoán và các đồng bản tệ đua nhau lao dốc. Quả thật, lại một lần nữa vàng cho thấy nó là thứ tài sản không dễ gì bị thất sủng dù đã trải qua nhiều thăng trầm mấy năm qua. Sau mấy ngày dao động ở mức thấp, giá vàng thế giới sáng thứ 6 đã tăng vọt hơn 100 USD/ounce và đạt mức 1.358 USD/ounce, mức cao nhất trong vòng 2 năm nay, trước khi điều chỉnh giảm trở lại ở mức trên 1.327/ounce vào tối cùng ngày. Theo sát diễn biến này của thế giới, giá vàng trong nước cũng đã tăng vọt gần 2 triệu đồng/lượng lên sát mức 36 triệu đồng/lượng sáng thứ 6. Tuy sau đó giá vàng cũng giảm trở lại, nhưng vẫn còn trên 35 triệu/lượng.
Trên thị trường ngoại hối, đồng USD, nơi trú ẩn ưa thích quen thuộc của giới đầu tư trong các cuộc khủng hoảng lớn nhỏ, đã phục hồi ngoạn mục so với nhiều đồng tiền chủ chốt khác sau một tuần suy yếu, với US dollar index (chỉ số đô la Mỹ) tăng vọt lên 95,841 hôm 24/6 từ mức 93,529 hôm 23/6.  Ở trong nước, tỷ giá VND/USD cũng dao động trong cùng ngày, tuy mức độ khá khiêm tốn so với nhiều đồng tiền khác, đạt mức đỉnh khoảng 22.370 VND/USD, tăng 30-40 đồng so với hôm trước đó.  
Vấn đề thường trực trong đầu nhiều nhà đầu tư hiện tại là giá vàng và USD trong nước sẽ tiếp tục diễn biến ra sao ngày mai và những ngày tới?
Về giá vàng, hiện có nhiều người cho rằng giá vàng tăng mạnh như sáng thứ 6 chỉ là kết quả của cơn bùng phát tâm lý sau một thời gian căng thẳng chờ đợi và đồn đoán kết quả trưng cầu dân ý ở Anh, nên khó có thể kỳ vọng một cơn sốt giá vàng kéo dài, và sẽ phải hạ nhiệt nhanh chóng khi tâm lý thị trường bình ổn trở lại, nhất là khi tác động của Brexit không lớn và cần phải có thời gian kiểm chứng. Tuy vậy, cần lưu ý một thực tế diễn ra trong các cuộc biến động tài chính toàn cầu trước đây, đó là thanh khoản của thị trường tài chính toàn cầu có thể nhanh chóng bị suy giảm (do các nhà đầu tư co cụm lại, bảo toàn vốn), từ đó tác động mạnh đến các thị trường tài sản.
Khi thanh khoản giảm sút nhanh và mạnh, biên độ chênh lệch lãi suất huy động và cho vay tăng lên, áp lực bán giải chấp lớn thêm sẽ làm tăng mức độ rủi ro đổ vỡ của các thị trường tài sản. Lúc đó, các nhà đầu tư sẽ tiếp tục mua vào vàng, vốn được coi là hàn thử biểu của rủi ro, nên giá vàng sẽ bị đẩy lên mức cao trong một thời gian đáng kể. 
Tuy nhiên, ở chiều hướng ngược lại, cũng cần lưu ý rằng các nhà đầu tư đã “ôm” vào một lượng vàng kỷ lục trước khi diễn ra cuộc trưng cầu dân ý nên sẽ có một số nhà đầu tư không chịu nổi áp lực thanh khoản, buộc bán vàng để chốt lãi, thu hồi vốn nên sẽ phần nào triệt tiêu áp lực tăng giá vàng như phân tích ở đoạn trên.
Dù vậy, về tổng thể, giá vàng vẫn có xu hướng đi lên, ít nhất trong ngắn hạn, vì ngoài tác động tiêu cực của Brexit, thì vẫn còn nguyên đó những rủi ro và áp lực đến từ chính sách lãi suất âm của một số quốc gia, cuộc bầu cử Tổng thống ở Mỹ và quả bom nợ ở Trung Quốc.
Về tỷ giá VND/USD, bối cảnh hiện nay cũng khá tương tự như năm 2015, khi USD lên giá mạnh so với nhiều bản tệ trong khi VND thì vẫn theo sát USD, thể hiện ở sự tương đối ổn định của tỷ giá VND/USD trong những ngày qua. Nếu trong những ngày tới, USD tiếp tục mạnh lên, đứng ở mức cao so với các đồng bản tệ khác trên thế giới, điều này sẽ tạo áp lực không nhỏ lên tỷ giá VND, buộc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải can thiệp, nếu chủ trương ổn định tỷ giá vẫn là chủ đạo trong điều hành chính sách ngoại hối của NHNN.
Mặt trái của chính sách ổn định tỷ giá (“neo” tỷ giá) lên xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, cũng như bảo tồn quỹ dự trữ ngoại hối đã được bộc lộ rõ trong năm qua. Bởi vậy, và đặc biệt là với sự trợ giúp của cơ chế tỷ giá trung tâm có tính linh hoạt hơn cơ chế tỷ giá bình quân liên ngân hàng trước đây, NHNN cần để cho tỷ giá biến động mạnh hơn, theo sát thị trường hơn, hạn chế can thiệp mạnh vào thị trường ngoại hối nhằm mục đích ổn định tỷ giá. Thay vào đó, NHNN cần tập trung nỗ lực và các công cụ của mình vào kiểm soát biến số lãi suất và lạm phát là đủ và hợp lý hơn.       

Friday, 24 June 2016

Bán vốn nhà nước ở Sabeco - không nên ngụy biện (Bài đăng trên TBKTSG, 24/6/2016, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/148019/Ban-von-nha-nuoc-o-Sabeco---khong-nen-nguy-bien.html


Ông Phan Đăng Tuất, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị của Tổng công ty Bia Rượu Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) mới đây đã lên tiếng biện hộ cho sự chậm chễ trong việc thoái vốn nhà nước tại Sabeco. Kịch tính với dư luận nhất có lẽ là sự ví von của ông Tuất về việc bán Sabeco một lần trên sàn (chứng khoán) như ông bố có con gái xinh lại mang ra chợ và lấy số đấu giá, trúng ai thì lấy người ấy.
Ví von trên thoạt nghe thì rất hùng biện và thuyết phục, chắc hẳn làm không ít người đang từ phản đối chuyển cái rụp sang ủng hộ quan điểm chưa (thể) bán ngay Sabeco được. Có thể ngay bản thân ông Tuất cũng tin việc đấu giá Sabeco trên sàn cũng tương tự như việc tìm chồng cho con gái ở chợ.
So sánh không tương thích
Thực ra, việc bán Sabeco, một doanh nghiệp nhà nước (DNNN) mà đã được xác định là nhà nước không cần giữ vốn, trên sàn, qua hình thức đấu giá, về bản chất đơn thuần chỉ là một giao dịch mua bán tài sản. Trong khi đó, trừ khi có ông bố nào lâm vào hoàn cảnh “chị Dậu” thời mở cửa thì mới mang con ra chợ rao bán cho ai trả giá cao nhất. Chứ còn trong hoàn cảnh bình thường thì chẳng ông bố nào lại tìm chồng cho con theo kiểu rao bán giữa chợ búa, nơi công cộng, bởi con ông không phải là một thứ hàng hóa để mua bán. Vì vậy, nếu không phải là “bán” mà chỉ là “gả chồng” cho con thì ông bố này sẽ phải đủ thận trọng, trên cơ sở đầu tiên không phải là tiền mà là tình cảm vô biên của một ông bố với đứa con gái bé bỏng của mình, tìm hiểu để biết tông tích, thân thế người chồng, nhà chồng tương lai là ai, giàu nghèo thế nào, làm nghề gì, và “hòm hòm” đoán được con mình có được đối xử tử tế khi về nhà chồng không…
Như vậy, có thể nói ngay rằng hai việc nêu trên (bán Sabeco và gả chồng cho con) trong hoàn cảnh bình thường là hoàn toàn không tương thích để so sánh được với nhau, giống như so sánh quả cam với quả táo. Nếu cố tình (hoặc vô tình vì không hiểu) so sánh thì đây là một sự ngụy biện, đánh tráo khái niệm, đánh vào tình cảm đám đông để lấy sự ủng hộ.
Đấu giá không nhất thiết tiêu cực như thế
Kể cả cho dù Sabeco có là “đứa con tâm huyết”, “con vàng con bạc” của ông Tuất nói riêng hay Nhà nước nói chung thì việc bán Sabeco theo hình thức đấu giá trên sàn sẽ là hoàn toàn là bình thường, nhất là một khi tự mình đã xác định rõ là phải bán và bán hết. Đấu giá trên sàn là một hình thức bán hàng ở nơi có tổ chức và quy định chặt chẽ, vì thế không thể bi kịch hóa việc đấu giá này như việc bán ở chợ trời.
Ông Tuất lo rằng bán đấu giá trên sàn thì sẽ không biết được người mua là ai. Lo lắng này vừa sai vừa thừa. Để tham gia đấu giá thì người mua tiềm năng phải đăng ký và đặt cọc. Tức là ông chủ Sabeco sẽ biết trước được ai sẽ là người mua Sabeco. Nếu muốn loại những thành phần “bất hảo”, giữ lại những đối tượng phù hợp theo mong muốn thì Nhà nước sẽ đặt ra những điều kiện để được tham gia đấu giá.
Chuyện bắt người mua cam kết giữ thương hiệu là vừa thiếu vừa thừa. Thiếu vì cam kết nếu chỉ là cam kết “suông”, không có ràng buộc thì kể cả có mua kín (qua thỏa thuận, không qua đấu giá) người mua vẫn có thể “lật kèo”, không giữ cam kết nữa. Vì vậy, nếu muốn người mua theo hình thức đấu giá giữ thương hiệu sau khi thắng đấu giá thì Nhà nước chỉ cần quy định ngay điều kiện để được tham gia đấu giá là sẽ phải giữ thương hiệu sau khi thắng đấu giá và Nhà nước sẽ, chẳng hạn, trưng thu tài sản của Sabeco nếu người chủ mới vi phạm cam kết về giữ thương hiệu.
Chuyện cam kết giữ thương hiệu này còn là thừa vì chắc chắn không ông chủ mới nào của Sabeco lại dại dột tìm cách xóa bỏ thương hiệu Sabeco lừng lẫy trong ngành, chính là cái mà họ phải chật vật để đoạt lấy. Ngược lại, họ chắc chắn sẽ phải tìm cách, và có nhiều khả năng hơn trong việc phát triển hơn nữa thương hiệu này hơn những người có từ trước cho đến hiện tại ở Sabeco.
Tương tự như vậy là chuyện ông Tuất lo Sabeco rơi vào tay ai đó qua đấu giá mà lại không (tìm cách) phát triển doanh nghiệp này lên, có lợi cho đất nước trong dài hạn. Nếu bán không qua đấu giá thì điều này cũng chẳng có gì đảm bảo sẽ tránh được. Ngược lại, như nói ở trên, dù là qua đấu giá hoặc không qua đấu giá, chắc sẽ không có ông chủ mới nào lại không muốn phát triển Sabeco hơn nữa, vì cái hấp dẫn họ cuối cùng là lợi nhuận, và lợi nhuận chỉ được tối đa hóa khi doanh nghiệp liên tục phát triển.
Điều còn “lấn cấn” ở đây là chuyện liệu sự “phát triển” của doanh nghiệp dưới tay ông chủ mới có lợi cho đất nước trong dài hạn hay không, như lo ngại của ông Tuất. Sabeco của ông chủ mới vẫn phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật của Việt Nam nên sự phát triển, nếu có, của nó đương nhiên là hợp pháp, và vì nó là một thực thể hữu cơ của nền kinh tế nên sự phát triển (hợp pháp, lành mạnh) này đương nhiên là có lợi cho Việt Nam (trong dài hạn).
Ông Tuất còn lo ngại là người mua qua hình thức bán đấu giá sẽ liên kết với nhau để dìm giá, làm mất vốn của Nhà nước. Lẽ ra ông phải đặt câu hỏi ngược lại là, với hình thức mua kín, thỏa thuận với nhau sau hậu trường thì có phải là sự liên kết, thông đồng giữa một số ít người mua với nhau để lũng đoạn, dìm giá sẽ dễ dàng hơn nhiều nếu so với hình thức mang ra bán công khai, qua đấu giá, với rất nhiều người mua, làm cho sự liên kết, thông đồng này trở nên khó khăn không? Xin nhắc lại một nguyên tắc bất di bất dịch là công khai, minh bạch luôn là kẻ thù của tham nhũng và lũng đoạn.

Và cuối cùng, không biết ông Tuất có là người phát ngôn của Chính phủ hay không mà ông cho rằng Chính phủ đang tính “chọn nhà đầu tư nào để có ràng buộc” như là một cách để thoái thác chuyện đấu giá công khai trên sàn. Như trên đã phân tích, ràng buộc nhà đầu tư vẫn có thể thực hiện được dù là thông qua hình thức đấu giá công khai trên sàn. Ngược lại, không đấu giá công khai trên sàn thì cũng không nhất thiết là sẽ ràng buộc được nhà đầu tư. Nói cách khác, bán bằng cách nào không liên quan gì đến chuyện có ràng buộc được nhà đầu tư hay không.

Hơn nữa, nếu chỉ vì mỗi lý do về chuyện ràng buộc này mà Chính phủ phải cân nhắc, nâng lên đặt xuống hàng nhiều năm trời nay mà vẫn không quyết được bán Sabeco cho ai đúng như ông Tuất nói thì cũng phải xem lại tư cách và trách nhiệm của Chính phủ cũng như những người đại diện cho Chính phủ, cho Nhà nước liên quan đến Sabeco bấy lâu nay, trong đó có cả ông Tuất.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).