Thursday, 4 February 2016

Cú ngoại kích mang tên HỘI NHẬP (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, số Tết, 3/2/2016, bản gốc)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=367080

Năm 2015 sắp qua, khép lại hàng loạt sự kiện hội nhập của Việt Nam mà điển hình nhất trong số đó là việc hoàn tất đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, TPP. Lo âu cũng có, nhưng lạc quan, phấn khởi và hân hoan là nhiều hơn trên các khuôn mặt của từ quan chức, chuyên gia đến người dân thường.
Không lạc quan và hân hoan sao được khi mỗi cuộc đàm phán thương mại song phương và đa phương (FTA) được hoàn tất và ký kết đều được loan tin với những chi tiết như đối tác đàm phán có người đã phải lẻn ra một chỗ để khóc vì đã thất bại trong việc thương lượng với phía Việt Nam, để rồi phải chấp nhận phần thua thiệt cho nước họ, nhường phần thuận lợi hơn cho phía Việt Nam. Không vui mừng sao được khi tác động của những FTA này đều được lượng hóa rành rành bằng những con số như GDP của Việt Nam sẽ tăng được bao nhiêu phần trăm, bao nhiêu chục tỷ, trăm tỷ USD, và Việt Nam luôn là nước được hưởng lợi nhiều nhất khi ký kết và thực hiện những FTA này.
Lo âu cũng được nói đến, nhắc đến nhưng thường chỉ dừng lại ở một nhóm ngành, một bộ phận nhỏ dân chúng, tỷ như ngành chăn nuôi của Việt Nam trong TPP. Dễ thấy, trong cái sự chói lòa của lợi ích hàng chục phần trăm tăng trưởng GDP, hàng chục, hàng trăm tỷ USD gia tăng thêm vào thu nhập quốc dân thì sự sụp đổ, nếu có, của một bộ phận nhỏ trong nền kinh tế cũng chỉ là, chỉ được coi như một cái giá phải trả rất hời, rất dễ chịu để đánh đổi những lợi ích to lớn, toàn cục.
Nhưng rồi chợt nhớ đến bài học thời hậu WTO. Thời đó thậm chí mọi người còn vui hơn, lạc quan hơn nhiều, trước viễn cảnh cực kỳ tươi sáng rằng hàng đoàn các nhà đầu tư nước ngoài sẽ chen chân vào Việt Nam để khai phá một thị trường mới nổi đầy tiềm năng chưa được khai phá. Để rồi không lâu sau đó nền kinh tế bắt đầu trục trặc, sa lầy vào vùng trũng tăng trưởng chậm kèm theo bất ổn kinh tế vĩ mô kéo dài để lại hậu quả cho nhiều năm sau.
Nhưng nói như trên không phải là đổ lỗi cho việc gia nhập WTO nói riêng hay mọi FTA nói chung khác. Có lẽ, những bất ổn, những mất mát cho nền kinh tế xảy ra là hậu quả của một thái độ chủ quan, duy ý chí, “hội” nhưng không chịu “nhập” cuộc chơi, hoặc “nhập” nhưng không đến nơi đến chốn.
Cuộc chơi của WTO, TPP hay bất cứ FTA nào đều dựa trên một tinh thần minh bạch, bình đẳng, tuân thủ nguyên tắc thị trường. Hay nói cách khác, chính các FTA này thúc đẩy sự cải cách một nền kinh tế đang loay hoay với cái định nghĩa “thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” như của Việt Nam sang một nền kinh tế thị trường thuần túy hơn, chỉ có cạnh tranh mới có thể tồn tại, để được các đối tác lớn tôn trọng và tin cậy công nhận tư cách là một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa, nhờ đó được hưởng những lợi ích đem đến từ việc các nước đối tác hạ thấp rào cản thuế quan, không áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại như chống bán phá giá lên hàng xuất khẩu của Việt Nam.
Nhưng đáng tiếc là với những FTA trước đây, chúng ta dường như không tận dụng được những lợi thế mà chúng có khả năng đem lại, trong khi buộc phải mở cửa thị trường trong nước để hàng hóa và dịch vụ của các nước đối tác xâm nhập mà không hoặc khó có thể dùng các hình thức bảo hộ truyền thống như bấy lâu nay vẫn sử dụng. Mức độ minh bạch và tính thị trường của nền kinh tế Việt Nam vẫn còn là vấn đề bỏ ngỏ, bị xếp hạng yếu kém trong nhiều bảng xếp hạng trên thế giới trong nhiều năm qua. Khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn tiếp tục được xác định là quả đấm thép, là khu vực được bảo bọc và ưu tiên tối đa, thu hút phần lớn nguồn lực của quốc gia để rồi kết quả hoạt động lại đi ngược lại với kỳ vọng, ngày càng yếu kém, nợ chồng chất nợ. Khu vực tư nhân tuy là động lực tăng trưởng của nền kinh tế và là chủ thể khai thác một cách hữu hiệu nhất các lợi thế mang đến từ các FTA nhưng trên thực tế là chủ thể dễ bị tổn thương nhất từ các FTA khi các nguồn lực quốc gia lại tiếp tục xa lánh nó, tập trung dồn sức cho khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Trong bối cảnh mà các doanh nghiệp nhà nước tuy lớn xác mà ngày càng lụn bại, như cái thùng không đáy nuốt chửng các nguồn lực quốc gia, còn các doanh nghiệp tư nhân thì bị bỏ mặc vất vưởng, tự sống, tự tìm cách thâm nhập thị trường nước ngoài hoặc tự chống đỡ với áp lực cạnh tranh từ hàng nhập khẩu, các doanh nghiệp nước ngoài (FDI) đã nhanh chóng lấp đầy khoảng trống tạo ra trong nền kinh tế Việt Nam với những ưu thế to lớn không thể so sánh về năng lực, vốn, quản trị và khả năng tiếp cận thị trường trong và ngoài nước.
Đến các FTA mới đây ký kết, đặc biệt là TPP, một hiệp định thương mại tự do được gọi là tầm cỡ thế kỷ, và là điển hình cho các FTA khác trên thế giới. Xu hướng “hội” mà không “nhập” tốt như trên có tiếp tục xảy ra nữa hay không? Hy vọng là lần này sẽ khác về chất. Bởi khu vực doanh nghiệp nhà nước đã ngày càng mất đi vị thế và tiếng nói trong công luận và ngay cả trong hệ thống chính trị ở Việt Nam, tuy vẫn còn được hậu thuẫn đây đó bởi một số tiếng nói bảo thủ, vụ lợi. Song song đó, khu vực tư nhân đang ngày càng lớn mạnh, trưởng thành hơn và tỏ ra là những thế lực kinh tế đáng gờm với không chỉ khu vực doanh nghiệp nhà nước mà còn với cả các doanh nghiệp FDI.
Những cam kết chặt chẽ trong TPP cũng không cho phép Chính phủ tùy ý muốn làm gì, muốn bảo hộ khu vực doanh nghiệp nhà nước như thế nào thì làm. Hơn thế nữa, nó còn cho phép các cá nhân được kiện Nhà nước ra trước các tòa án trọng tài quốc tế nếu quyền lợi của họ bị xâm phạm bởi những hành vi phân biệt đối xử của Nhà nước. Tinh thần cạnh tranh công bằng, không thiên vị, phân biệt đối xử, kèm theo cơ chế khiếu nại giải quyết tranh chấp hữu hiệu được thể hiện xuyên suốt qua nhiều chương của TPP sẽ buộc các quốc gia thành viên trong đó có Việt Nam phải tuân thủ cuộc chơi mang tính thị trường, mở rộng cửa đón nhận hàng hóa, dịch vụ và vốn đầu tư của các nước thành viên khác chảy vào, trong khi cũng sẽ được đảm bảo những lợi ích tương tự từ những nước thành viên.
Như vậy, sự hội nhập với thế giới hơn nữa thông qua các FTA nhất là TPP trong năm nay sẽ là một cú “ngoại kích” song hành với một cú “nội công” từ sự trưởng thành và lớn mạnh hơn của khu vực tư nhân và sự lao dốc của khu vực doanh nghiệp nhà nước sẽ buộc Chính phủ phải có những thay đổi căn bản trong tư duy quản lý và điều hành nền kinh tế, gây sức ép hơn nữa lên tiến trình cải cách và tái cơ cấu nền kinh tế. Nói cách khác, đây cũng chính là quá trình cởi trói, tự do hóa hơn nữa nền kinh tế theo hướng thị trường, vốn có lợi cho sự năng động và linh hoạt của nền kinh tế quốc gia nắm bắt những cơ hội mới đồng thời là bệ giảm sốc cho những tác động tiêu cực không mong muốn đem lại từ các FTA này.
Trong quá trình tái cơ cấu và tự do hóa hướng tới một nền kinh tế thị trường thuần túy, sự “nhập” của Việt Nam càng trở nên nhanh hơn, thuận lợi và có ý nghĩa hơn nếu Chính phủ biết điều chuyển những nguồn lực vốn bấy lâu nay vẫn dồn cho khu vực doanh nghiệp nhà nước sang hậu thuẫn cho khu vực doanh nghiệp tư nhân, giúp chúng tăng cường được tính cạnh tranh đồng thời tìm đến và tiếp cận được những thị trường thích hợp cho hàng hóa và dịch vụ của mình. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng sự hậu thuẫn này không nên được hiểu, không phải là các hình thức trợ cấp trực tiếp bằng ưu đãi, bằng những quyền lợi như với doanh nghiệp nhà nước mà ở dạng gián tiếp như đào tạo nhân lực, tiếp cận thị trường tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ, thị trường vốn và tín dụng dễ dàng hơn v.v...

Friday, 29 January 2016

Tiếp lời Bộ trưởng Bùi Quang Vinh! (Bài đăng trên TBKTSG, 29/1/2016)

http://www.thesaigontimes.vn/141699/Tiep-loi-Bo-truong-Bui-Quang-Vinh.html

Trong phiên thảo luận các văn kiện Đại hội Đảng XII, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - Đầu tư Bùi Quang Vinh đã có những phát biểu thẳng thắn và mạnh mẽ về nhu cầu cấp bách đổi mới hệ thống chính trị và kinh tế. Bộ trưởng Vinh nêu ra 3 nguyên nhân cho thấy nếu không cấp bách đổi mới thì Việt Nam sẽ tiếp tục tụt hậu so với thế giới và rơi vào bẫy thu nhập trung bình thấp. Đó là: (1) cơ hội phát triển từ cơ cấu dân số vàng sẽ chỉ còn đến năm 2025; (2) những động lực từ công cuộc đổi mới trước đây đã dần hết phát huy tác dụng, trong khi dư địa tăng trưởng dựa trên tăng vốn đầu tư, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên không còn nhiều; và (3) Việt Nam đang hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới (nên buộc phải nâng cao năng lực cạnh tranh để không bị tụt lại).

Thực ra cả 3 nguyên nhân trên đều có quan hệ với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau nên cũng khó tách bạch như vậy. Hãy bắt đầu với nguyên nhân thứ 2. Một trong những công dụng lớn nhất của công cuộc đổi mới lần thứ nhất, từ năm 1986, là nó đã cởi trói, giải phóng các nguồn lực tiềm năng trong xã hội vốn đang bị kìm kẹp bởi những rào cản chính trị và hành chính đương thời. Lần đầu tiên sau khi đất nước thống nhất, sức lao động được chính thức công nhận là hàng hóa có thể mua bán; khu vực kinh tế tư nhân (và nhất là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài) được chính thức công nhận và khuyến khích phát triển; khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) không còn chiếm vị thế độc tôn, phải nhường bớt thị phần cho khu vực kinh tế tư nhân và nước ngoài…

Sự giải phóng các nguồn lực nói trên đã dẫn đến sự tăng trưởng nhảy vọt của 2 yếu tố đầu trong số 3 yếu tố đầu vào cho tăng trưởng kinh tế: vốn, nhân lực và năng suất tổng yếu tố (TFP). Về vốn, bên cạnh nguồn vốn chủ yếu đến từ nhà nước, thông qua khu vực DNNN như trước, còn có vốn của khu vực tư nhân và đặc biệt là FDI. Về lao động, do sự phát triển mạnh của khu vực kinh tế tư nhân và nước ngoài, một lực lượng lớn lao động đã được thu hút từ khu vực nông nghiệp và phi chính thức vào khu vực công nghiệp và dịch vụ, với năng suất cao hơn, tạo ra nhiều giá trị thặng dư hơn.

Quay trở lại với phát biểu của Bộ trưởng Vinh. Quả là sau 30 năm đổi mới lần thứ nhất, 2 yếu tố đầu vào nói trên đang tiệm cận đến ngưỡng giới hạn. Về vốn, tổng vốn đầu tư (sử dụng chỉ tiêu gross fixed capital formation của ADB) trong giai đoạn 1997-2014 đã đạt đỉnh điểm 35,1% GDP vào năm 2007 là năm đầu tiên sau gia nhập WTO. Từ đó trở đi, tỷ trọng vốn đầu tư trên GDP đã giảm dần và chỉ còn 23,8% năm 2014.

Về lao động, song song với đà giảm tăng trưởng dân số và sự phát triển của nền kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam trong mấy năm gần đây đã tụt xuống mức thấp, đạt bình quân 1,8% trong giai đoạn 2011-2014 so với mức bình quân 3,1% trong giai đoạn 1998-2010 (số liệu ADB). Điều này chứng tỏ lực lượng lao động của Việt Nam không còn dồi dào như trước đây, khó lòng hậu thuẫn cho một giai đoạn tăng trưởng kinh tế dựa trên các ngành thâm dụng lao động như trước nữa. Do đó, nguyên nhân thứ nhất (về dân số vàng) trong 3 nguyên nhân mà Bộ trưởng Vinh nêu ra thực ra chỉ là một thực tế, một bằng chứng chứng tỏ rõ thêm về sự đến hạn của những động lực tạo ra bởi công cuộc đổi mới lần thứ nhất.

Riêng về TFP, kết quả của một số ít nghiên cứu thực chứng dường như không cho thấy có sự cải thiện đều và mạnh của yếu tố này trong 30 năm qua, trừ một số giai đoạn như trong những năm gần đây, khi vốn đầu tư giảm mạnh trong khi tăng trưởng GDP vẫn được duy trì ở mức khả dĩ (trên 5%). Điều này có thể lý giải một phần bởi sự lấn át của việc gia tăng mạnh vốn và lao động trong những năm bùng nổ tăng trưởng trước đây. Điều này cũng liên quan đến nguyên nhân thứ ba, về sức cạnh tranh trong hội nhập, mà Bộ trưởng Vinh nêu ra ở trên. Theo đó, để không bị tụt hậu và đuổi kịp được khu vực và thế giới thì bắt buộc Việt Nam phải duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế trên mức trung bình của khu vực và thế giới. Nhưng trong bối cảnh cả vốn và lao động đều không thể gia tăng mạnh hơn được nữa thì Việt Nam buộc phải thúc đẩy tăng trưởng TFP nếu muốn duy trì được tăng trưởng kinh tế cao.

Tóm lại, công cuộc đổi mới lần thứ nhất mới chỉ dừng lại ở việc giải phóng vốn và sức lao động, chứ chưa tạo được một cú hích mạnh cho tăng trưởng TFP, là yếu tố sống còn để tạo ra và duy trì tăng trưởng kinh tế cao và bền vững trong những năm tới. Đây chính là nguyên nhân cần có một cuộc đổi mới lần thứ hai, và đồng thời là định hướng chính sách cho cuộc đổi mới lần này.

Liên quan đến điều này, Bộ trưởng Vinh nêu ra 3 trụ cột chính làm trọng tâm cho công cuộc đổi mới (thể chế kinh tế) lần thứ hai. Đó là: (1) tăng năng suất lao động; (2) tăng cường bình đẳng (cơ hội) cho mọi người; và (3) nâng cao năng lực và trách nhiệm giải trình của nhà nước.

Trên thực tế, cả 3 trụ cột nêu trên đều là những biện pháp trong số nhiều biện pháp gia tăng tăng trưởng TFP. Tăng năng suất lao động có nghĩa là tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn trên một đơn vị lao động. Để làm được việc này thì phải làm nhiều việc lớn mang tầm vĩ mô như mở rộng công nghiệp hóa, phát triển ngành dịch vụ… đến những việc nhỏ hơn như cải cách môi trường lao động, môi trường kinh doanh, hợp lý hóa sản xuất… Những việc lớn nhỏ này đều trực tiếp hay gián tiếp nâng cao tăng trưởng TFP. Tương tự như vậy, tăng cường bình đẳng (cơ hội) cho mọi người sẽ nâng cao khả năng đóng góp nhân lực và trí lực của những nhóm người thiệt thòi trong xã hội trong sản xuất kinh doanh, và tức là cải thiện được TFP nhờ nâng cao được chất lượng nguồn nhân lực (human capital).

Kể cả việc nâng cao năng lực và trách nhiệm giải trình của nhà nước cũng có thể quy chiếu về TFP. Khi nhà nước minh bạch và hoạt động hiệu quả hơn thì việc hoạch định và thi hành chính sách sẽ được cải thiện đáng kể về chất, giúp cho các nguồn lực kinh tế được phân bổ và sử dụng có hiệu quả hơn, nâng cao đươc TFP mặc dù tổng lượng đầu vào vốn và lao động vẫn không đổi.

Nói như trên để thấy rằng ngoài 3 trụ cột mà Bộ trưởng Vinh nêu ra ở trên, Việt Nam còn cần phải xây dựng một loạt “trụ cột” khác để nâng cao TFP nhằm đạt được mục tiêu tổng quát trong công cuộc đổi mới lần thứ hai là không bịt tụt hậu, dần thu hẹp khoảng cách với khu vực và thế giới. Những trụ cột, giải pháp này được nghiên cứu và khái quát thành mấy nhóm chính sau: đầu tư nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật (thông qua cả kênh FDI và thương mại); nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng; xác định và phân bổ nguồn lực đến khu vực có năng suất và hiệu quả cao nhất, phát triển hệ thống tài chính để trợ giúp sự phân bổ này; xây dựng và nâng cao chất lượng thể chế chính trị (ví dụ, đảm bào dân chủ), thể chế kinh tế (ví dụ, đảm bảo quyền tư hữu); và xây dựng, tạo lập một môi trường đảm bảo cạnh tranh bình đẳng…

Đến đây thì chúng ta lại đối mặt với một vấn đề lớn hơn. Đó là việc biến nhận thức thành hành động. Rõ ràng là việc thực hiện cùng lúc nhiều “trụ cột” như trên, và thực hiện “đến nơi đến chốn” không phải là dễ. Nhưng hy vọng rằng với nhận thức mạnh mẽ trong nội bộ Đảng được thể hiện qua nhiều phát biểu tâm huyết như của Bộ trưởng Vinh lần này, có thể lại một lần nữa Đảng đã thấy rõ nhu cầu “đổi mới hay là chết” như trong lần đổi mới lần thứ nhất, và sẽ có những hành động quyết liệt hơn để không chỉ tránh cho đất nước khỏi nguy cơ tụt hậu mà còn tạo cho mình cơ hội tiếp tục tồn tại và song hành cùng với dân tộc.

Wednesday, 27 January 2016

Nghịch lý tỷ giá trung tâm (Bài đăng trên CafeF, bản gốc)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/ly-giai-hien-tuong-lech-pha-ty-gia-20160126150058968.chn

Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tính toán và công bố với mục đích để định hướng thị trường đã chính thức được thực hiện 3 tuần nay. Đúng như tuyên bố của NHNN, tỷ giá trung tâm đã diễn ra theo kiểu ngày hôm nay tăng, ngày mai giảm, nhưng ngày kia thì lại đứng yên, không thể hiện một xu hướng rõ rệt nào để có thể đầu cơ.

Chưa dừng lại ở đây, tỷ giá trung tâm còn thường xuyên diễn biến ngược chiều với tỷ giá giao dịch tại các ngân hàng thương mại (tỷ giá trung tâm công bố đầu ngày làm việc tăng trong khi tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng thương mại lại giảm, hoặc đứng yên, và ngược lại). Điều có thể coi là nghịch lý là tỷ giá trung tâm được NHNN tính toán dựa trên 3 căn cứ gồm tỷ giá liên ngân hàng ngày liền trước, biến động tỷ giá của rổ 8 đồng tiền, và các cân đối tiền tệ vĩ mô, định hướng chính sách tiền tệ của NHNN, nên tỷ giá trung tâm mang tính thị trường nhiều hơn, linh hoạt hơn, nên lẽ ra sẽ phải là cơ sở phù hợp và vững chắc để các ngân hàng thương mại xác định tỷ giá niêm yết mua vào bán ra hàng ngày (nhưng không được vượt quá khuôn khổ biến động +/-3% xung quanh tỷ giá trung tâm).

Một trong những lý giải khả dĩ cho sự ngược hướng của tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng với tỷ giá trung tâm là do các ngân hàng và cả khách hàng của ngân hàng (những người có giao dịch ngoại tệ với ngân hàng) trước đây găm giữ USD nay buộc phải “nhả” số USD này ra khi họ thấy không còn cơ hội đầu cơ kiếm lời do tỷ giá trung tâm (trong con mắt họ) biến động bất thường, không có xu hướng rõ rệt nào cả (với ngân hàng thương mại còn có thêm một vật cản cho việc đầu cơ, đó là không được phép vượt quy định về trạng thái ngoại tệ). Và thường thì thời điểm của sự “nhả” ra này (làm cho cung USD tăng lên, gây áp lực giảm tỷ giá) là bất định, không nhất thiết là trùng lặp với thời điểm NHNN điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm. Nên chúng ta mới chứng kiến những ngày có sự tăng giảm ngược chiều nhau của 2 loại tỷ giá này.

Nhưng lý giải này là không ổn khi không thể giải thích được cho thực tế có nhiều ngày tỷ giá trung tâm đi xuống mà tỷ giá niêm yết của ngân hàng thương mại lại quay đầu tăng lên, cho thấy vẫn có nhiều ngân hàng và khách hàng lại quay trở lại đầu cơ, lại găm giữ USD, bất chấp ý đồ của NHNN khi để tỷ giá trung tâm biến động bất định nhằm dẹp nạn đầu cơ USD.

Đúng là nếu đầu cơ trong ngắn hạn, hàng ngày, thì nhà đầu cơ sẽ rất rủi ro khi mua hôm nay với tỷ giá cao nhưng ngày mai muốn bán thì tỷ giá lại thấp, như ý đồ của NHNN. Nhưng nếu nhà đầu cơ dự đoán (đúng) rằng tỷ giá tất yếu sẽ phải tăng lên đáng kể, ví dụ 1%, trong kỳ hạn dài hơn, chẳng hạn tháng sau, thì họ vẫn đầu cơ và vẫn có lãi. Vì cho dù NHNN có công bố tỷ giá trung tâm biến động thất thường hàng ngày thì mức biến động này cũng chỉ rất nhỏ (vài đồng đến vài chục đồng như 3 tuần vừa qua), chưa đủ để dập tắt kỳ vọng của giới đầu cơ. Quan trọng hơn, để dập tắt thành công kỳ vọng tỷ giá tăng lên của giới đầu cơ thì NHNN phải ngày nào cũng giảm tỷ giá và phải giảm đủ lớn, vì nếu không người đầu cơ vẫn thắng khi nhảy ra bán đúng vào ngày NHNN không giảm tỷ giá nữa, hoặc giảm tỷ giá không đáng kể (chưa giảm đủ 1%) tính trong suốt cả thời kỳ NHNN bắt đầu chống đầu cơ. Việc này xem là không thể, và, vì thế, có thể là một phần của lý do cho việc tỷ giá vẫn tăng lại.

Ngoài ra, cấu thành thứ ba trong việc tính toán tỷ giá trung tâm của NHNN – các cân đối vĩ mô tiền tệ và định hướng chính sách tiền tệ của NHNN – xem ra không mang nhiều tính thị trường, vì thường đã nói đến định hướng có nghĩa là ít nhiều có mang yếu tố chủ quan, áp đặt ý chí trong đó. Do vậy, sự vận động ngược chiều nhau của tỷ giá trung tâm và tỷ giá niêm yết tại ngân hàng thương mại (có phần) là do yếu tố chủ quan, không tuân theo tín hiệu thị trường của tỷ giá trung tâm này.

Tóm lại, cho dù hiện nay tỷ giá trung tâm được tính toán cẩn trọng theo một công thức nào đó, dựa trên những yếu tố thị trường thì thị trường vẫn có cái lý của nó, và tỷ giá thị trường có thể sẽ tiếp tục vận động trái chiều với tỷ giá trung tâm, và, do đó, đặt ra câu hỏi về tính cần thiết của tỷ giá trung tâm. Nhưng có lẽ với NHNN, tỷ giá trung tâm vẫn là công cụ không thể thiếu, không chỉ để góp phần (dù là hạn chế) dẹp nạn đầu cơ như nói ở trên, mà còn để “trói” tỷ giá giao dịch thực tế trên thị trường, không được vượt quá mức mà NHNN thấy là hợp lý (không vượt quá biên độ +/-3% quanh tỷ giá trung tâm). 

Thursday, 21 January 2016

Giá dầu giảm lại là một may mắn cho Việt Nam (Bài đăng trên TBKTSG, 21/1/2016, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/141368/Gia-dau-giam-lai-la-may-man-cho-Viet-Nam.html

Cái may này không phải hiển nhiên là đúng với tất cả mọi người. Nó hiển nhiên là đúng với người tiêu dùng, người sử dụng xăng dầu và hiển nhiên là sai với nhà khai thác và xuất khẩu dầu. Nhưng vì Việt Nam là nước nhập siêu sản phẩm xăng dầu, và vì nghĩ kỹ hơn thì giá dầu giảm còn là điều may mắn với kể cả bên thứ ba là (ngân sách) Nhà nước, nên rõ ràng giá dầu giảm là điều tốt lành nhiều hơn, chứ không phải là một tai họa, cho Việt Nam nói chung, trái với những trường hợp tiêu cực như Nga, Venezuela và Saudi Arabia.
Sự may mắn cho ngân sách đến từ giá dầu tụt thấp thoạt nghe tưởng là nghịch lý vì nếu giá dầu giảm thì phần nộp vào ngân sách nhà nước từ những nhà khai thác dầu như Petro Việt Nam sẽ phải giảm theo. Đúng vậy, nhưng sự việc không dừng lại ở đó.
Thứ nhất, đóng góp từ dầu thô vào tổng thu ngân sách nhà nước đã giảm dần trong những năm qua và giảm mạnh hơn trong năm 2015. Theo số liệu trên báo chí thì thu từ dầu thô năm 2012 là 18,9% tổng thu ngân sách; năm 2013 giảm còn 12,1%, năm 2014 còn 10,1% và năm 2015 chỉ còn khoảng 6%. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là sự tụt giảm giá dầu. Điều này rõ ràng không phải là điều dễ chịu với không chỉ với những doanh nghiệp như Petro Việt Nam mà còn với Chính phủ, với ngân sách nhà nước. Nhưng cũng chính thực tế này đã buộc Chính phủ phải có những biện pháp đối phó thích ứng để một mặt là đa dạng hóa nguồn thu và mặt khác là khống chế chi ngân sách. Kết quả là tổng thu ngân sách không hề bị sụt giảm tương ứng với khoản thất thu từ khai thác và xuất khẩu dầu thô như lo ngại ban đầu. Về chi ngân sách, kết quả khống chế chi ngân sách tuy không được như ý (khi chi tiêu vẫn tăng và thâm hụt ngân sách vẫn ở mức lớn, 5-6% GDP trong các năm qua), nhưng rõ ràng là Việt Nam đã tìm được cách “sống chung với lũ”, thích nghi được với môi trường giá dầu thấp.
Thứ hai, và liên quan đến điều thứ nhất, là dầu mỏ không phải là nguồn tài nguyên dồi dào ở Việt Nam, múc mãi không hết như ở các quốc gia dầu lửa khác. Dù giá dầu có đứng ở mức cao như trước đây thì sản lượng khai thác sẽ phải tụt giảm hoặc chi phí khai thác sẽ phải ngày càng cao hơn do phải tăng cường khai thác ở những mỏ xa hơn, điều kiện khai thác khó khăn hơn. Trong bối cảnh như vậy, sớm muộn thì Việt Nam cũng phải tìm cách chuyển mạnh sang tìm kiếm và tăng cường các nguồn thu ngân sách khác.
Tất nhiên là nếu dồn nhân lực, vật lực vào ngành khai thác dầu thô thì Việt Nam có thể kéo dài nguồn cung dầu thô được thêm một thời gian nữa nhờ tăng được trữ lượng khai thác tiềm năng và khả thi. Nhưng thực tế cho thấy những nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thì thậm chí sự dồi dào tài nguyên lại trở thành một lời nguyền cho nền kinh tế đó, khi nó tạo ra một nền kinh tế què quặt, phụ thuộc quá nhiều vào những cơn trồi sụt giá cả và nhu cầu trên thế giới. Thực trạng u ám hiện nay ở Nga, Venezuela, Nigeria, Irag và ngay cả những nước giầu có hơn như Saudi Arabia là một minh chứng rõ nét cho lời nguyền này, vì cuộc vui nào rồi cũng tàn, sự thịnh vượng đến từ may mắn trời cho là có nhiều dầu sẽ ngày nào đó vụt trôi đi khi thế giới không còn trong cơn khát dầu như trước nữa.
Nếu Việt Nam đã đổ tiền của vào tăng cường năng lực và sản lượng khai thác dầu thô để rồi gặp phải cơn sốc giá dầu như hiện nay thì đó là một khoản đầu tư quá tồi, tuy là một điều không may mắn (nên nhớ rằng ngay cả trong năm 2015 không mấy ai đã dự đoán đúng được sự thê thảm như hiện nay của giá dầu). Bởi vậy, có thể nói ngược lại rằng sự không dồi dào về trữ lượng và điều kiện khai thác ngày càng khó khăn hơn với chi phí cao hơn, cản trở khả năng đầu tư mở rộng khai thác dầu ở Việt Nam lại là một điều may mắn hiện nay khi đã tiết kiệm một nguồn lực kinh tế lớn và được sử dụng vào những ngành khác có lợi thế hơn ở Việt Nam. Cơ cấu nền kinh tế vì thế cũng trở nên cân đối và lành mạnh hơn.
Thứ ba, Việt Nam là một nước nhập siêu sản phẩm xăng dầu nên đương nhiên sự tụt giảm giá dầu quốc tế có tác dụng cắt giảm chi phí đầu vào cho toàn bộ nền kinh tế, kích hoạt tiêu dùng và sản xuất. Và đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến nguồn thu ngân sách được đảm bảo trong những năm qua, đúng như phân tích của một số chuyên gia trước lo ngại của dư luận về nguồn thu dầu thô tụt giảm.  
Nói tóm lại, giá dầu thô tụt giảm đã tỏ ra hoàn toàn không phải là một mối đe dọa với nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngân sách nhà nước nói riêng. Nhưng có đôi điều cần nói thêm ở đây là cách thức bù đắp sự thất thu từ khai thác và xuất khẩu dầu ở Việt Nam. Trước tiên, đành rằng phải tìm cách tìm nguồn thu mới hoặc tăng cường khai thác nguồn thu hiện tại để bù đắp thất thu từ dầu. Nhưng không nên vì nhân danh chuyện này mà lạm dụng các nguồn thu theo kiểu “tận diệt”. Thay vào đó, cần luôn ghi nhớ chuyện dưỡng thu. Chính câu chuyện về giá dầu và thu ngân sách cho thấy nếu chi phí đầu vào cho một ngành nào đó giảm đi thì phần nộp ngân sách sẽ có thể tăng lên mai sau. Trên nghĩa này, đôi khi thay vì tăng thuế phí ở một số ngành để đảm bảo chỉ tiêu thu ngân sách, phải có những thời gian và biện pháp hạ thuế phí hiện tại để tăng thu trong tương lai.
Điều cần nói khác là đối phó với thất thu từ giá dầu giảm thì không nên chỉ tập trung vào phía thu. Quan trọng không kém là phải có những biện pháp giảm chi tương ứng. Việc này từ trước đến nay xem ra vẫn là một vùng trắng trong hành động của Chính phủ khi với lý do này hay lý do khác, chi ngân sách hàng năm vẫn tăng đều. Giảm chi, chi tiêu hợp lý và đúng đắn hơn không những giảm áp lực nợ công mà còn giúp cho các ngành trong nền kinh tế “dễ thở” hơn khi Chính phủ không phải chăm chăm vào chuyện tận thu để đảm bảo mục tiêu thâm hụt ngân sách. Bởi vậy, song song với việc lập dự toán thu ngân sách trong bối cảnh giá dầu giảm mạnh và còn có khả năng giảm xuống nữa, Chính phủ cần “quyết liệt” đặt ra và thi hành mục tiêu cắt giảm chi ngân sách. Những hạng mục nào lãng phí, không hiệu quả, có thể cắt giảm, và đâu là những “lỗ đen” ngân sách… thì đã rõ, chỉ còn lại việc Chính phủ có muốn làm đến nơi đến chốn hay không mà thôi.

Friday, 15 January 2016

Thấy gì qua thông điệp nợ công "Chuyển dần sang kênh bảo lãnh của các NHTM"? (Bài đăng trên CafeF, 15/1/2016)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/thay-gi-qua-thong-diep-no-cong-chuyen-dan-sang-kenh-bao-lanh-cua-cac-nhtm-20160115091236602.chn


Trong Nghị quyết về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước 2016 mà Chính phủ vừa ban hành có một số nội dung mới, đáng chú ý và hàm ý những thay đổi quan trọng trong thời gian tới.

Về chính sách tiền tệ và tỷ giá, ngoài những câu chữ quen thuộc như “chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô…”, Nghị quyết nhấn mạnh đến mục tiêu kiểm soát lạm phát (theo mục tiêu đề ra là dưới 5%), chứ không có mục tiêu ổn định tỷ giá như trước đây. Thay vào đó, Nghị quyết chỉ nêu “sử dụng đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ và các công cụ, biện pháp để hỗ trợ ổn định thị trường ngoại tệ”.

Có thể “dịch” thông điệp trên ra nghĩa là Chính phủ vẫn muốn NHNN ổn định cung cầu trên thị trường ngoại tệ. Tuy nhiên cung và cầu, nhất là ngoại tệ là thứ rất khó nắm bắt, dự đoán và kiểm soát. Vì, ngoài cung và cầu trong nền kinh tế thật còn có cung và cầu trong nền kinh tế “ảo”, hình thành do những biến động tâm lý và môi trường vĩ mô và đầu tư toàn cầu - vốn là những thứ rất… “ảo”, không thể dùng ý chí để nắm, bắt nó “hiện hình” ra được. Thế nên cho dù có muốn ổn định cung cầu thì cũng không có nghĩa là ổn định hoàn toàn được tỷ giá.

Như vậy có thể nói thêm rằng nhiệm vụ chủ chốt của NHNN trong năm nay sẽ chỉ là theo đuổi lạm phát mục tiêu (nhờ đó điều chỉnh được lãi suất trong mức hợp lý) và để ngỏ cho tỷ giá biến động hơn nếu môi trường hình thành tỷ giá thay đổi mạnh.

Điều này sẽ giúp NHNN thoát khỏi tình trạng tiến thoái lưỡng nan như trong thời gian trước đây khi phải thực hiện “bộ ba bất khả thi” bao gồm ổn định tỷ giá, lãi suất và kiểm soát dòng vốn.

Về chính sách tài khóa, Nghị quyết nêu: “Tiếp tục tái cơ cấu lại nguồn thu ngân sách Nhà nước theo hướng tăng tỷ trọng thu nội địa. Không đề xuất, ban hành chính sách mới làm giảm thu ngân sách Nhà nước, trừ trường hợp cắt giảm thuế để thực hiện cam kết quốc tế”. Hàm ý của nội dung này có thể sẽ không còn hy vọng Chính phủ sẽ cắt giảm các loại thuế, phí nội địa, giúp cho doanh nghiệp và người tiêu dùng “dễ thở” hơn...

Tiếp theo, dường như là lần đầu tiên liên quan đến bảo lãnh của Chính phủ cho các khoản vay mới, Nghị quyết nêu ra: “Đồng thời nghiên cứu chuyển dần sang kênh bảo lãnh của các ngân hàng thương mại”.

Mặc dù mới chỉ là “nghiên cứu” để “chuyển dần sang” kênh bảo lãnh của các ngân hàng thương mại, nhưng nội dung này cho thấy một biến chuyển rất mới. Các nhà điều hành đã nhận ra những rủi ro quá lớn cho nền kinh tế khi biến nghĩa vụ nợ thương mại, của doanh nghiệp (dù là doanh nghiệp Nhà nước – DNNN) thành nghĩa vụ nợ quốc gia.

Khi “chuyển giao” trách nhiệm bảo lãnh này sang cho các ngân hàng thương mại, có thể Chính phủ kỳ vọng rằng sẽ không phải đáp ứng nhu cầu vay của các DNNN ngay như trước đây (đứng ra bảo lãnh đi vay). Nhờ thế, các DNNN sẽ phải tính toán cẩn trọng và có trách nhiệm hơn với đồng vốn huy động, với sứ mệnh và nhiệm vụ sản xuất và kinh doanh của mình, bởi không phải DNNN nào, khoản vay nào cũng sẽ được các ngân hàng thương mại đáp ứng (bảo lãnh) đầy đủ nếu hiệu quả và tính khả thi của dự án sử dụng vốn vay là thấp nhìn từ góc độ thương mại.

Việc này sẽ không chỉ giúp Chính phủ giảm được gánh nặng nợ công mà còn có tác dụng nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN, gián tiếp tác động một cách tích cực đến quá trình tái cơ cấu khu vực DNNN.

Tuy có tác động lớn như vậy nhưng Chính phủ vẫn thận trọng khi chủ trương chỉ “chuyển dần sang” kênh bảo lãnh của các ngân hàng thương mại. Bởi lẽ, nếu thực thi đồng bộ, trên diện rộng thì sẽ không có mấy DNNN vay được vốn trong khuôn khổ mới này vì rất nhiều trong số các DNNN đang sản xuất kinh doanh không hiệu quả, khó mà được các ngân hàng thương mại bảo lãnh đi vay trừ khi các ngân hàng cho vay theo chỉ định. Trong những tình huống đó, bắt buộc Chính phủ vẫn phải bảo lãnh để các DNNN này tiếp tục vay vốn nhằm vực lại sản xuất, kinh doanh hoặc tái cơ cấu theo hướng lành mạnh hơn.

Nói cách khác, có thể hiểu rằng Chính phủ, trước mắt, sẽ “nhường” cho các ngân hàng thương mại vai trò bảo lãnh đi vay với những DNNN lành mạnh nhất, (có dự án) hiệu quả nhất. Đây cũng là một điều tích cực khi các ngân hàng thương mại sẽ có thêm một nguồn thu tiềm năng tương đối chắc chắn.


Chủ động ứng phó với bất ổn từ Trung Quốc (Bài đăng trên TBKTSG, 15/1/2016)

http://www.thesaigontimes.vn/141048/Chu-dong-ung-pho-voi-bat-on-tu-Trung-Quoc.html


Thị trường chứng khoán Trung Quốc đã trải qua những cơn chấn động tuần trước với 2 lý do chủ yếu: sự mất giá của đồng Nhân dân tệ (NDT) và nỗi lo ngại rằng chính quyền Bắc Kinh đang rút bàn tay can thiệp ra khỏi nền kinh tế.
Sự can thiệp của Bắc Kinh vào thị trường chứng khoán năm ngoái đã phần nào thành công ở cái nghĩa là giữ cho giá chứng khoán ở mức cao một cách giả tạo. Và vì là giả tạo nên rốt cuộc thì giá chứng khoán cũng phải trở về mặt đất, đặc biệt là khi Chính phủ Trung Quốc đang cố gắng rút lại các biện pháp hỗ trợ mang tính cấm đoán hành chính, can thiệp phi thị trường. Bên cạnh đó, sự giảm tốc đáng kể của nền kinh tế Trung Quốc buộc Bắc Kinh phải chủ động để cho NDT yếu đi nhằm thúc đẩy xuất khẩu. Đây cũng là một yếu tố tiêu cực khác tác động mạnh đến tâm lý nhà đầu tư và làm lung lay nền móng thị trường chứng khoán Trung Quốc khi nhà đầu tư hoảng sợ phải bán tháo chứng khoán và chuyển tiền ra nước ngoài. Như một giọt nước làm tràn ly, hệ thống tự động ngắt giao dịch trên thị trường khi giá chứng khoán giảm xuống mức ấn định đã tự động hoạt động 2 lần trong tuần trước càng làm cho thị trường thêm rung lắc mạnh.
Những cơn địa chấn từ thị trường chứng khoán Trung Quốc nói riêng và nền kinh tế Trung Quốc nói chung đã và sẽ tiếp tục lan rộng ra toàn bộ nền kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam. Thế nhưng, nhiều người lại quan niệm rằng tác động tiêu cực từ Trung Quốc đến Việt Nam sẽ không lớn, thậm chí còn là cơ hội. Họ cho rằng số người Việt Nam nắm giữ và đầu tư trên thị trường chứng khoán Trung Quốc không lớn nên sự trồi sụt của thị trường chứng khoán nước này cũng không mấy ảnh hưởng đến tài sản và tâm lý của các nhà đầu tư Việt Nam và, do đó, thị trường chứng khoán Việt Nam. Ngược lại, họ cho rằng khi thị trường chứng khoán Trung Quốc đi xuống thì sẽ có nhiều nhà đầu tư nước ngoài (kể cả Trung Quốc) chuyển hướng sang thị trường chứng khoán Việt Nam, làm tăng giá chứng khoán Việt Nam.
Cũng tương tự như vậy, người ta cũng cho rằng khi nền kinh tế Trung Quốc bất ổn thì nhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển hướng dòng đầu tư FDI từ Trung Quốc sang Việt Nam, nhờ đó Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế cao hơn nhờ gia tăng đầu tư trong nền kinh tế.
Những nhận định trên là có lý, nhưng chỉ là một phần của câu chuyện. Điều đáng quan ngại nhất từ sự giảm tốc và bất ổn của nền kinh tế Trung Quốc là sự lây lan những bất ổn này ra nền kinh tế toàn cầu nên những tác động tiêu cực thậm chí sẽ lấn át hoàn toàn những tác động tích cực, nếu có, như nêu ở trên. Tăng trưởng giảm, bất ổn tăng sẽ thu hẹp tiêu dùng và đầu tư ở Trung Quốc, dẫn đến giảm hơn nữa cầu hàng hóa và dịch vụ từ phần còn lại của thế giới vốn đã và đang tiếp tục rơi xuống những mức thấp kỷ lục trong nhiều năm nay và chưa thấy có điểm dừng. Trong bối cảnh tổng cầu thu hẹp và suy giảm tăng trưởng toàn cầu như vậy (và quả thật là các tổ chức quốc tế như WB cũng đã hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm nay) thì sẽ hầu như chẳng có nước nào ở vào thế “ngư ông đắc lợi” cả, kể cả Việt Nam.
Một trong những “nguồn bệnh” lớn nhất là sự suy yếu của NDT. Một khi Bắc Kinh đã nhắm đến việc dùng tỷ giá làm vũ khí để sốc lại nền kinh tế thì họ sẽ phải theo cuộc chơi đến cùng để vũ khí này phát huy đầy đủ tác dụng. Có những ước tính cho thấy để xuất khẩu tăng đáng kể thì NDT cần phải mất giá mạnh hơn nữa, lên đến hàng chục phần trăm. Nếu quả đúng vậy và nếu Bắc Kinh quyết tâm theo đuổi phương sách này thì nó sẽ châm ngòi cho một cuộc chiến tỷ giá thực sự ở trong khu vực và trên toàn cầu. Nhớ lại hồi tháng 8 năm trước, NDT mới chỉ mất giá hơn 3,5% mà đã kéo theo sự sụt giảm giá của các đồng tiền khu vực, kể cả đồng Việt Nam vì không nước nào lại muốn đánh mất lợi thế cạnh tranh của khu vực xuất khẩu vào tay Trung Quốc, hoặc để ngỏ thị trường trong nước cho hàng hóa của Trung Quốc hay những nước có đồng tiền yếu hơn tràn ngập.


Cuộc chiến tiền tệ kiểu này đương nhiên là không có lợi cho nền kinh tế toàn cầu nhưng một khi đã bị châm ngòi và đã nổ ra thì không mấy nước không bị lôi kéo vào cuộc và không mấy nước muốn bỏ cuộc sớm vì đồng nghĩa là trở thành nạn nhân bị thiệt hại nhất so với các đối thủ trong cuộc chiến. Việt Nam nên hiểu vậy để chủ động chuẩn bị một tư thế sẵn sàng tham gia cuộc chơi chứ không còn ở thế bị động và lúng túng với tỷ giá tiền đồng như hồi tháng 8 năm trước.


Điều may mắn là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chuyển hướng chính sách tỷ giá sang một chính sách linh hoạt hơn cho phép họ phá giá tiền đồng khi cần thiết mà không phải đắn đo vì bất cứ một cam kết hay ràng buộc nào như trước. Nhưng sự chuyển hướng sang chính sách cho phép tỷ giá biến động linh hoạt này thực ra không quan trọng bằng sự chuyển hướng trong nhận thức của những người hoạch định chính sách. Một khi vẫn còn lấn cấn với những lo ngại về ảnh hưởng tiêu cực của phá giá bản tệ như trước đây thì ngay cả chính sách tỷ giá mới này cũng không đảm bảo một sự mất giá tiền đồng cần thiết để bảo vệ tính cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong một cuộc chiến tiền tệ, nếu có.


Bởi vậy, bên cạnh chính sách tỷ giá mới, NHNN cần quán triệt và sẵn sàng với khả năng phải để cho tiền đồng mất giá mạnh, không chỉ là 3%, 5% mà thậm chí là hàng chục phần trăm trong năm nay, tùy theo diễn biến và yêu cầu thực tế. Theo hướng này, và cũng là rút kinh nghiệm từ chính sách tỷ giá cũ, NHNN cũng cần thận trọng hơn với những tuyên bố mang tính định hướng cho tỷ giá, kiểu như kiên quyết giữ ổn định, hoặc không để tỷ giá tăng quá mức 3%, 5% trong năm nay. Thay vào đó, NHNN có lẽ nên để cho thị trường thấy họ chủ động chờ đón những cơn địa chấn tiền tệ từ bên ngoài và sẽ hành động nhanh chóng và thích ứng một cách cần thiết mà không có bất cứ giới hạn nào.

Saturday, 9 January 2016

Bí hiểm tăng trưởng kinh tế Nhật (Bài đăng trên TBKTSG, 10/1/2016)

http://www.thesaigontimes.vn/140783/Bi-hiem-tang-truong-kinh-te-Nhat.html


Lâu lâu lại có dịp quay lại Nhật chơi, đi lang thang qua mấy thành phố, từ Tokyo ngược lên Hokkaido rồi lại lộn xuống phía dưới, qua Kyoto, Hiroshima rồi dừng chân tại Fukuoka phía Tây Nam của Nhật. Vừa đi vừa quan sát cuộc sống thực tế của người Nhật diễn ra xung quanh, thấy nước Nhật như vẫn còn đang chìm sâu trong “những thập kỷ mất mát”.
Những siêu thị đầy ắp hàng hóa, đầy ắp biển hạ giá nhân mùa lễ tết nhưng vẫn khá vắng vẻ, trừ tầng hầm bán thực phẩm trở nên đặc nhộn nhịp vào thời điểm tối muộn trong ngày khi các gian hàng thực phẩm chế biến sẵn và tươi sống hạ đến nửa giá, trở thành thỏi nam châm khổng lồ hấp dẫn cả quý bà quý ông ăn mặc lịch sự tay năm tay mười thi nhau nhặt đồ.
Những thành phố lớn nhưng chỉ đông đúc ở những con phố trung tâm, khu du lịch. Rẽ vào những con đường nhỏ, ngay cả ban ngày cũng hiếm khi thấy người. Cả một không gian tĩnh lặng cứ như đang trong giờ thiền. Lên xe buýt, tầu điện ngầm, tầu hỏa hiếm khi thấy trẻ con, kể cả ngày cuối tuần. Khung cảnh thật trái ngược với bầu không khí sôi động, nhộn nhịp, đầy sức sống như ở Singapore hay các thành phố khác ở Đông Nam Á. Dường như cảm nhận rõ rệt hơn xã hội Nhật không chỉ đang già hóa nhanh chóng mà còn dần lụi tàn như một cơ thể già nua dù có phục thuốc thế nào cũng chỉ là kéo dài sự sống.
Nhớ lại những ngày đầu sang Nhật, học những bài học đầu tiên với giáo sư Nhật. Câu hỏi thường trực trong đầu là tại sao một nước có nhiều người tài giỏi, cần cù, kỷ luật, có tinh thần vì tập thể và dân chủ như vậy mà sao lại chìm đắm mãi trong trì trệ với tăng trưởng trồi sụt, lúc âm lúc dương. Học rồi chiêm nghiệm đủ kiểu vậy mà cho đến tận giờ cũng chẳng biết được câu trả lời cho chắc chắn.
Người ta nói rằng thì là tại thiểu phát, tại Chính phủ tăng thuế tiêu thụ (năm 1997 và 2014), tại lương thực tế của người làm công ăn lương giảm, tại xã hội Nhật già hóa, thiếu lao động… Nhưng những nguyên nhân này thực ra chỉ là hiện tượng, là hậu quả của nhau, khó mà “tóm đầu” được đâu là nguyên nhân của mọi nguyên nhân.
Nếu nói là tại thiểu phát thì cũng cần phải trả lời rằng điều gì tạo ra thiểu phát tại Nhật? Không phải đó là do xã hội già hóa, lực lượng lao động giảm nên tăng trưởng suy giảm dẫn đến mức lương thực tế giảm làm cho sức chi tiêu yếu đi hay sao? Nhưng nếu nói vậy thì cũng không ổn lắm. Chẳng phải một phần do lương thực tế giảm, chi phí cuộc sống gia đình đắt đỏ nên người Nhật ngại đẻ con, càng đẩy nhanh quá trình già hóa hay sao? Thực tế là có những đồng nghiệp Nhật khi nói chuyện liên quan đến thu nhập đã chia sẻ rằng lương của họ ở Nhật đã không được tăng trong nhiều năm.
Nếu nói là tại Nhật già hóa, thiếu lao động nên mới dẫn đến kết cục ngày nay thì câu trả lời có sẵn sẽ là cho nhập khẩu lao động. Thực tế là Nhật cũng đã và đang nhập khẩu nhiều lao động dưới dạng này, dạng khác. Mặc dù vẫn còn không ít rào cản nhưng có thể nói rằng nước Nhật ngày nay đã cởi mở với người nước ngoài nhiều hơn nhiều so với nước Nhật cách đây 10-20 năm. Trong số những nước phát triển, visa vào Nhật có lẽ là nhanh gọn, đơn giản và…rẻ nhất. Ngày nay ở Nhật, từ hàng ăn, nhà tắm công cộng, cửa hàng cửa hiệu, nhà máy, công xưởng… khắp nơi, kể cả ở những vùng hẻo lánh đều gặp nhiều người nước ngoài làm việc. Bản thân người Nhật cũng đã và đang rất cố gắng mở cửa và hòa nhập hơn với người nước ngoài, chấp nhận thế giới bên ngoài, với ngày càng nhiều nhân viên ngành dịch vụ mạnh dạn giao tiếp bằng tiếng Anh, ngày càng nhiều nơi có dán các thông tin bằng tiếng Anh thay vì chỉ đơn thuần toàn tiếng Nhật như cách đây chục năm. Vậy thì cái sự già hóa và thiếu hụt lao động cũng chẳng phải là cái gốc của vấn đề và nếu đúng vậy thì Chính phủ Nhật chẳng phải mất đến hàng thập kỷ để nhận ra và giải quyết vấn đề một cách hữu hiệu.
Nếu bảo tại vì Chính phủ Nhật tăng thuế tiêu dùng nên làm giảm thu nhập thực tế, làm giảm sức chi tiêu của dân chúng thì cũng không ổn hơn. Hẳn rằng trước khi Chính phủ Nhật quyết định tăng thuế thì họ cũng đã nhận thức được những khả năng này. Nhưng hoặc là họ cho rằng tăng thuế tiêu dùng sẽ không làm giảm sức chi tiêu của người dân về tổng thể vì một phần thu từ thuế tăng lên này sẽ được dùng để tài trợ cho an sinh và phúc lợi, tức là sẽ chảy ngược lại vào nền kinh tế. Hoặc cũng có  thể họ cho rằng chi tiêu Chính phủ là động cơ, là giải pháp hữu hiệu nhất trong hoàn cảnh hiện tại của Nhật khi khu vực doanh nghiệp và tư nhân không có mấy động cơ mở rộng chi tiêu. Mà đúng thế thật. Mặc dù thu nhập của các doanh nghiệp Nhật, nhất là những doanh nghiệp xuất khẩu được hưởng lợi nhờ đồng yen yếu hơn, tăng lên đáng kể trong 2, 3 năm nay nhưng các doanh nghiệp này cũng chẳng mặn mà với chuyện tăng lương, thưởng cho nhân viên của mình đến nỗi mà Chính phủ của ông Abe phải tìm cách vận động cho xu hướng này.
Tóm lại, trong kinh tế học rõ ràng có một khoảng cách lớn giữa lý thuyết với thực tế. Những đầu óc sáng láng nhất, quyết tâm nhất, vì nước vì dân nhất đôi khi cũng không thể vực dậy một nền kinh tế đã sang bên kia của con dốc. Nói cách khác, kể cả khi có đầy đủ nguyên liệu và công thức cho một sự tăng trưởng “đẹp” thì cũng không có gì đảm bảo sự tăng trưởng “đẹp” này sẽ xảy đến nay mai, kể cả trong nhiều năm sau.
Nhưng nói như trên cũng không có nghĩa là, không phải là cổ xúy cho sự duy ý chí, giáo điều, làm liều, “đi tắt đón đầu” sẽ mang lại thành công theo kiểu ngoại suy được. Nguyên liệu và công thức vẫn là cái cần, và phải chăng cái đủ là một chút may mắn?

Friday, 8 January 2016

Cơ chế tỷ giá mới: liệu có làm nên chuyện? (Bài đăng trên TBKTSG, 9/1/2016, bản gốc)


http://www.thesaigontimes.vn/140790/Co-che-ty-gia-moi-lieu-co-lam-nen-chuyen.html

Bắt đầu từ ngày 4/1/2016, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) thực hiện công bố tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam (VND) với đô la Mỹ. Tỷ giá trung tâm này, được NHNN công bố hàng ngày (ở mức 21.896 VND/đô la Mỹ vào ngày 4/1), sẽ là cơ sở để các tổ chức tín dụng xác định tỷ giá mua, tỷ giá bán của VND với đô la Mỹ.
Theo NHNN, tỷ giá trung tâm được xác định trên cơ sở tham chiếu diễn biến tỷ giá bình quân gia quyền trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, diễn biến tỷ giá trên thị trường quốc tế của một số đồng tiền của các nước có quan hệ thương mại, vay, trả nợ, đầu tư lớn với Việt Nam, các cân đối kinh tế vĩ mô, tiền tệ và phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ. Do đó, NHNN cho rằng, thay cho cách điều hành tỷ giá theo biên độ dao động trước kia, cách thức điều hành tỷ giá mới cho phép tỷ giá biến động linh hoạt hàng ngày theo diễn biến cung cầu ngoại tệ trong nước, biến động trên thị trường thế giới, nhưng vẫn đảm bảo vai trò quản lý của NHNN theo định hướng điều hành chính sách tiền tệ.
Như vậy, đúng như kỳ vọng của thị trường và giới đầu cơ, NHNN, sau một thời gian dài kiên quyết không thả lỏng tỷ giá trong một cơ chế “neo” tỷ giá không mấy phản ánh đúng điều kiện thực tế trên thị trường ngoại hối vốn đã và đang bị tác động mạnh bởi những xung lực từ bên trong lẫn bên ngoài, đã phải chấp nhận chuyển sang một cơ chế tỷ giá mới, có thể điều chỉnh hàng ngày. Nói cách khác, cơ chế này cho phép họ có thể phá giá (“điều chỉnh” tỷ giá) khi cần hoặc bị bắt buộc mà không sợ bị ràng buộc bởi bất cứ một cam kết hay quyết tâm nào, chẳng hạn không phá giá quá 2%/năm, như trước đây nữa.
Điều đáng quan tâm là liệu cơ chế tỷ giá mới có thật sự khác biệt so với cơ chế tỷ giá cũ hay không, và nó có giúp ích nhiều cho NHNN trong việc “cầm cương” tỷ giá hay không.
Về cơ bản, 2 cơ chế tỷ giá mới và cũ thực sự không khác biệt đáng kể. Ở cơ chế tỷ giá cũ, tỷ giá được xác định dựa trên tỷ giá bình quân liên ngân hàng hàng ngày và cộng/trừ thêm một biên độ ấn định trong từng thời kỳ. Trong cơ chế tỷ giá mới, thay vì tỷ giá bình quân liên ngân hàng, tỷ giá giao dịch trên thị trường được dựa trên tỷ giá trung tâm công bố hàng ngày, và cũng được cộng/trừ thêm một biên độ ấn định (hiện tại dường như vẫn là 3% quanh tỷ giá trung tâm).
Nói cách khác, nếu muốn thì trong cơ chế tỷ giá cũ NHNN vẫn có thể “điều chỉnh linh hoạt” tỷ giá hàng ngày thông qua việc điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng mà không cần phải chuyển sang cơ chế sử dụng tỷ giá trung tâm. Nhưng thực tế thì NHNN đã không hề làm vậy ít nhất là trong 4 tháng cuối của năm 2015, với tỷ giá bình quân liên ngân hàng mà họ công bố liên tục bất động ở mức 21.890 VND/đô la Mỹ. Cũng có thể đoán được lý do và thông cảm với cái khó của NHNN trong thời gian qua bởi họ đã trót cam kết không điều chỉnh tỷ giá quá một biên độ/ngưỡng ấn định nên nếu họ điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng (làm VND yếu đi so với đô la Mỹ) thêm nữa thì cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận phải phá giá VND, chấp nhận tự phá vỡ cam kết của chính mình.
Bởi vậy, cho dù cơ chế tỷ giá mới có phức tạp hơn, tỏ ra “hiểu” thị trường hơn, nhưng tỷ giá trung tâm hàng ngày trên thực tế hoàn toàn vẫn có thể bất động về cơ bản trong suốt một thời gian như trong cơ chế cũ nếu nó đã vượt quá một ngưỡng tối đa mà NHNN có thể chấp nhận được.
Điểm khác biệt duy nhất ở đây là các yếu tố đưa vào để xác định tỷ giá trung tâm tỏ ra phức tạp hơn tỷ giá bình quân liên ngân hàng trước đây vì ngoài yếu tố tỷ giá bình quân liên ngân hàng (và là bình quân gia quyền, chứ không phải là bình quân thông thường như trước đây) còn có 2 yếu tố khác là biến động tỷ giá của một rổ tiền tệ và các cân đối vĩ mô phù hợp với chính sách tiền tệ của NHNN. Nhưng cũng chính vì sự kết hợp không (thể) theo một công thức tính toán nhất quán nào, ví dụ như dựa vào tỷ trọng cố định, của 3 yếu tố này, đặc biệt là yếu tố thứ 3 vốn rất định tính, nên có thể nói tỷ giá trung tâm vẫn sẽ mang nặng tính chủ quan và ý chí áp đặt của NHNN chứ không nhất thiết là kết quả của một sự tính toán định lượng cụ thể, phản ánh chính xác chênh lệch cán cân cung cầu ngoại tệ thực tế trên thị trường (gồm cả yếu tố “tâm lý” mà NHNN hay viện dẫn đến).
Do đó, có lẽ động cơ thực sự đằng sau việc công bố cơ chế tỷ giá mới của NHNN và đồng thời là điểm “cứu rỗi” cho chính sách tỷ giá của NHNN chính là nhờ có việc tuyên bố chuyển sang cơ chế tỷ giá gọi là mới này mà NHNN đã có một cái cớ chính thức để nhảy ra khỏi cái vòng kim cô về tỷ giá tự họ vẽ ra để trói mình như trước đây, nhờ đó có thể rảnh tay phá giá VND (dần từng bước) hơn nữa so với đô la Mỹ từ mức quá cao như hiện tại vốn đang gây hại cho nền kinh tế nói chung và cho quỹ dự trữ ngoại hối nói riêng của NHNN trong cơ chế tỷ giá cũ dựa trên những cam kết neo tỷ giá từ đầu năm.
Có thể nói điều hữu ích trên gần như là đáng kể duy nhất đối với chính sách tỷ giá của NHNN. Có luồng ý kiến cho rằng cơ chế tỷ giá mới sẽ triệt tiêu sự đầu cơ đô la Mỹ vì NHNN có thể hôm nay tuyên bố một tỷ giá trung tâm, mai lại tuyên bố một tỷ giá trung tâm khác (thấp hơn) gây bất lợi cho giới đầu cơ găm giữ đô la Mỹ chờ giá lên. Nhưng thông thường, giới đầu cơ chỉ găm giữ đô la khi họ nhìn thấy xu hướng mất giá rõ nét của VND, thể hiện ở những bất cân đối vĩ mô như thâm hụt cán cân thương mại và thanh toán, chênh lệch lạm phát trong và ngoài nước, sụt giảm tăng trưởng, và sự lên giá thực của VND (nhất là khi có biến động ngoại lai) v.v… Do đó, cho dù NHNN có cố tình “chơi khăm” giới đầu cơ bằng việc công bố tỷ giá trung tâm theo chiều ngược nhau qua mỗi ngày thì cái sự làm khó này cũng chỉ mang tính thời điểm, không thể kéo dài từ ngày này sang ngày khác, tuần này sang tuần khác, ở một mức đáng kể. Cuối cùng thì NHNN cũng sẽ phải tuân theo cuộc chơi bày sẵn trên thị trường, để cho tỷ giá trung tâm phản ánh sát thực hơn xu hướng mà thị trường và giới đầu cơ kỳ vọng. Điều này được thể hiện rõ qua cuộc chiến tỷ giá giữa NHNN với các lực lượng thị trường trong và ngoài nước trong năm vừa qua.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).