Tuesday, 25 April 2017

Tránh bộ máy cồng kềnh, bị lạm dụng (Bài đăng trên TBKTSG, 25/4/2017, tiêu đề do báo đặt)



Một điểm nổi bật trong dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi) là những quy định về thành lập, hoạt động, chức năng, thẩm quyền và nhiệm vụ của Ủy ban Cạnh tranh quốc gia (UBCTQG).
 
Không cần phải có Ủy ban cạnh tranh quốc gia
 
Mặc dù việc đưa ra mô hình UBCTQG có thể là kết quả của nhiều cuộc trao đổi và hội thảo chuyên ngành nhưng tự thân nó cho thấy sự lúng túng và bế tắc của các cơ quan hữu trách trong lập pháp và hành pháp.
 
Hẳn không ít người nhận thấy mấy năm gần đây có một xu hướng là cứ có vấn đề kinh tế - xã hội gì nổi cộm mà chưa được xử lý ổn thỏa thì thế nào cũng sẽ có các kiến nghị với đề xuất thành lập một cái ủy ban liên đới, nhiều đến mức độ có thể coi là “dịch ủy ban”. Chẳng hạn như các đề xuất thành lập Ủy ban tái cơ cấu kinh tế, Ủy ban xử lý nợ xấu, Ủy ban tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, Ủy ban về an toàn thực phẩm, Ủy ban quản lý vốn nhà nước, Ủy ban giám sát và kiểm soát nợ công, Ủy ban quản lý, giám sát vốn và tài sản nhà nước...
 
Chỉ cần nhìn vào danh sách sẽ tiếp tục dài thêm của những ủy ban kiểu này thôi là đã đủ “choáng” với hậu quả nhãn tiền là biên chế và bộ máy nhà nước sẽ tiếp tục phình to một cách “đúng quy trình” và ở quy mô và chi phí không thể kiểm soát được, vì mỗi ủy ban sẽ là cả một bộ máy đầy đủ ban bệ từ trên xuống dưới, nhân lên với nhiều ủy ban trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội. Quan trọng hơn, sự ra đời của những ủy ban này không có gì đảm bảo sẽ xử lý hiệu quả các vấn đề nổi cộm, chí ít vì các ủy ban này chồng chéo, làm thay, giẫm lên chân các cơ quan quản lý nhà nước liên đới khác.
   
 
Trở lại với các quy định về UBCTQG trong dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi), UBCTQG chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh, còn Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về cạnh tranh. Các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với UBCTQG thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh.

Trong khi đã có Chính phủ “thống nhất quản lý nhà nước”, và bên dưới là cả một bộ máy thực hiện đồ sộ gồm các bộ và UBND thì rõ ràng không cần phải có UBCTQG. Mọi vấn đề vướng mắc, phát sinh trong thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh bởi các cơ quan chuyên trách như Bộ Tài chính, Bộ Công Thương (cần được Luật Cạnh tranh trao thêm nhiều quyền và nghĩa vụ liên quan trong quản lý nhà nước về cạnh tranh) sẽ được thống nhất giải quyết ở cấp Chính phủ mà không cần phải qua cấp trung gian là UBCTQG. Tạo thêm UBCTQG chẳng khác gì tạo thêm một Chính phủ trong lòng Chính phủ, vô hiệu hóa vai trò của các bộ chuyên trách, và đặt ra câu hỏi nghiêm túc về vai trò và chất lượng hoạt động của Chính phủ nói chung.
 
Hơn nữa, theo cùng logic trong dự thảo sửa đổi luật này và trở thành một tiền lệ, mỗi một văn bản luật mới ra đời có nhiều khả năng sẽ được đi kèm với sự ra đời của một ủy ban liên đới. Điều này là không thể chấp nhận được vì làm cho bộ máy quản lý nhà nước vốn đã quá cồng kềnh sẽ càng cồng kềnh hơn, kém hiệu quả và gây lãng phí tiền thuế của dân.
 
Dễ bị lạm dụng
 
Ngoài những quy định bất hợp lý về sự tồn tại và vai trò của UBCTQG, dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi) còn có một số bất hợp lý khác. Điều 4 của dự thảo về quyền cạnh tranh trong kinh doanh quy định hoạt động cạnh tranh phải được tiến hành theo nguyên tắc trung thực, công bằng và lành mạnh, không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác, của người tiêu dùng.
 
Quy định này không rõ ràng, dễ bề bị lạm dụng. Giả sử một nhà sản xuất mì ăn liền bằng phương pháp không chiên quảng cáo rùm beng rằng (phần lớn) các loại mì ăn liền khác hiện nay đều bị chiên, có nhiều chất béo bão hòa không có lợi cho sức khỏe. Chưa biết người tiêu dùng có chuyển sang mua loại mì mới này không nhưng chắc chắn là việc “tự nguyện công bố sự thật” này (đúng là sự thật) sẽ làm sụt giảm doanh số của các nhà sản xuất mì ăn liền truyền thống. Vậy hành vi này có vi phạm Luật Cạnh tranh, có được phép không khi nó vẫn đảm bảo nguyên tắc trung thực, công bằng và lành mạnh, có nghĩa là có sao nói vậy, dựa trên kết quả khách quan, không đâm đối thủ đằng sau lưng, nói xấu đối thủ một cách vô căn cứ, đồng thời vẫn làm lợi cho người tiêu dùng trên cái nghĩa là hạn chế họ ăn các sản phẩm độc hại?
 
Hay một ví dụ khác. Những đề xuất tương tự sau này như đề xuất về giá sàn vé máy bay gần đây có thể nhân danh Luật Cạnh tranh để được thông qua. Người đề xuất sẵn sàng cung cấp thông tin trung thực, minh bạch từ thực tế kinh doanh của mình để chứng minh rằng giá vé máy bay không thể nào lại là 0 đồng, hay dưới một ngưỡng nào đó (ngưỡng sàn) khi tính đầy đủ các loại chi phí. Việc hãng hàng không nào bán vé 0 đồng được quy cho là cạnh tranh không công bằng, lành mạnh để gia tăng thị phần nhằm hạ chi phí và tăng lợi nhuận sau này, xâm phạm đến lợi ích của doanh nghiệp khác (thua lỗ), lợi ích của Nhà nước (thất thu thuế), lợi ích công cộng (an toàn bay bị uy hiếp do cắt giảm chi phí liên quan), và của người tiêu dùng (chất lượng phục vụ giảm sút, sẽ phải mua vé giá cao sau này khi hàng bay giá 0 đồng thâu tóm được thị trường).
 
Ngoài ra, một hành vi sẽ không bao giờ có thể đảm bảo quyền, lợi ích cho mọi đối tượng có liên quan cùng một lúc. Nếu hành vi quảng cáo mì ăn liền hay đề xuất áp giá sàn vé máy bay nói trên được chấp thuận thì chúng chỉ có thể đảm bảo lợi ích cho một số đối tượng và sẽ xâm phạm lợi ích của một số đối tượng khác. Ví dụ, đề xuất giá sàn vé máy bay làm lợi cho các hãng hàng không “không thể bay rẻ” nhưng đồng thời cũng xâm phạm lợi ích của các hãng hàng không giá rẻ (0 đồng) và của hành khách khi phải mua vé đắt hơn.
 
Như vậy, một mặt cần quy định rõ ràng hơn điều 4 này để tránh tình trạng bị lạm dụng theo kiểu muốn hiểu, vận dụng kiểu gì cũng đúng. Mặt khác, cần có một cơ chế về thanh tra, phúc khảo một cách độc lập các quyết định, phán quyết về cạnh tranh để tránh tình trạng các quyết định, phán quyết này bị sai hay thiếu sót, không công tâm, mang màu sắc lợi ích nhóm. Dự thảo luật hiện chưa có những quy định liên quan đến các vấn đề này.
 
Những bất hợp lý khác
 
Tương tự, khoản 4, điều 5 của dự thảo luật liên quan đến chính sách của Nhà nước về cạnh tranh, nêu: “Kết hợp đồng bộ, hiệu quả giữa chính sách cạnh tranh với chính sách thương mại, chính sách công nghiệp và chính sách điều tiết ngành”. Sự kết hợp này cụ thể nhằm mục đích gì, đồng bộ và hiệu quả như thế nào? Liệu điều này có thể bị lạm dụng để mở đường cho những quyết định hạn chế cạnh tranh, ảnh hưởng người tiêu dùng như tăng thuế nhập khẩu để bảo vệ lợi ích của một nhóm nhà sản xuất nội địa dưới danh nghĩa là để phục vụ chính sách công nghiệp hóa, tạo công ăn việc làm?
 
Trong điều 6 về hành vi bị cấm đối với cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập, khoản 1 quy định cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập được chỉ định mua, bán hàng hóa, dịch vụ với doanh nghiệp được các cơ quan này chỉ định trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước hoặc trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật.
 
Quy định này không hợp lý ở chỗ độc quyền nhà nước về hàng hóa và dịch vụ không có nghĩa là độc quyền nhà nước về doanh nghiệp cung cấp hàng hóa và dịch vụ đó. Kể cả có một doanh nghiệp nhà nước duy nhất sản xuất một loại hàng hóa độc quyền nhà nước, ví dụ như thuốc lá điếu, thì ít nhất cũng phải cho phép các đại lý được tự do cạnh tranh trong việc cung cấp thuốc lá với giá khác nhau, tùy theo mức độ chấp nhận hoa hồng của mỗi đại lý, chứ không nhất thiết phải bắt người tiêu dùng chỉ được mua tại đại lý X, Y, Z...

Monday, 17 April 2017

Tiền không “chết”! (Bài đăng trên CafeF, 16/4/2017, bản gốc)


http://cafef.vn/tien-khong-chet-20170416175256669.chn

Theo Tổng cục Thống kế, tính đến ngày 20/3/2017, tổng phương tiện thanh toán tăng 2,88% so với cuối năm 2016 (cùng kỳ năm trước tăng 3,08%). Huy động vốn của các ngân hàng thương mại tăng 2,43% (cùng kỳ năm 2016 tăng 2,26%). Tăng trưởng tín dụng 3 tháng đầu năm đã tăng mạnh nhất trong vòng 6 năm trở lại đây, đạt 2,81%
Trong khi đó, tăng trưởng GDP quí 1 năm nay chỉ đạt 5,1%, thấp nhất trong 3 năm gần đây (6,12% của quí 1/2015 và 5,48% của quí 1/2016). Trong bối cảnh cung tiền và tín dụng tiếp tục tăng trưởng mạnh nhưng tăng trưởng GDP lại suy giảm, vấn đề được đặt ra là đây có phải là nghịch lý không, và vậy thì tiền đi đâu?

Tiền không “chết”! 
Cũng có nhiều người giải thích rằng tiền NHNN “bơm” ra nền kinh tế và được các ngân hàng thương mại huy động đang được các ngân hàng này sử dụng để trả lãi cho vốn huy động về để cho vay nhưng những khoản vay này đã biến thành nợ xấu (vì thế không thu được lãi và vốn), đồng thời phải đem “cất kho” một phần để sẵn sàng thanh toán cho người gửi tiền khi đến hạn thanh toán. Giải thích này không thỏa đáng lắm vì nếu phần vốn “chết” để giải quyết nợ xấu lớn đáng kể thì tăng trưởng tín dụng không thể tăng mạnh như vậy (2,81%), mà lại còn mạnh nhất trong 6 năm qua, trong khi tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán (cung tiền) tăng chậm hơn cùng kỳ năm trước.

Hơn nữa, dù ngân hàng có cần phải dự trữ sẵn vốn để thanh toán cho khoản vốn huy động bị biến thành nợ xấu khi đến thời điểm đáo hạn thì họ cũng không cần phải đem số vốn này “cất kho” theo đúng nghĩa đen. Vì sự đáo hạn vốn huy động phần lớn là biết trước, có lịch trình cụ thể, nên các ngân hàng hoàn toàn có thể chủ động đem số vốn này cho vay hoặc đầu tư có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn để đến lúc cần có thể rút về chi trả cho người gửi tiền. Mà nếu làm như vậy thì số vốn này không phải là vốn “chết”, và vẫn sẽ được phản ánh vào mức tăng trưởng tín dụng của ngân hàng.

Kể cả với số vốn huy động từ nguồn tiền gửi không kỳ hạn hoặc tiền có trong tài khoản thanh toán của khách hàng thì ngân hàng cũng không cần phải “cất kho” một số tiền tương ứng để sẵn sàng trả lại cho khách khi khách rút ra. Một phần đơn giản vì ngân hàng cũng thường xuyên huy động vốn có kỳ hạn và không kỳ hạn nên luồng vốn vào ra luôn quay vòng, không đến mức thiếu hụt, không trông vào đâu để chi trả nên không cần phải dự trữ quá nhiều tiền mặt. Kể cả trong những thời điểm khan hiếm thanh khoản, các ngân hàng hoàn toàn vẫn có thể trông cậy vào các nguồn như vay liên ngân hàng, rút từ khoản tiền gửi của mình tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN), hoặc vay (chiết khấu) từ NHNN v.v…
Nói cách khác, không có lý do đáng tin cậy để cho rằng tuy cung tiền và tín dụng đã tăng mạnh như vừa qua nhưng đã có một phần đáng kể số tăng lên này bị “hút” vào giải quyết nợ xấu nên làm giảm đà tăng trưởng GDP.

Tăng trưởng tín dụng không nhất thiết đồng nhịp với tăng trưởng GDP
Vậy phải giải thích thế nào về tình trạng tín dụng tăng mạnh mà GDP lại giảm tốc trong quý 1? Điều trước tiên có thể nói ngay được là tuy tăng trưởng tín dụng có thể có mối liên hệ gắn kết nào đó với tăng trưởng GDP nhưng điều này không có nghĩa là nếu quý 1 có tăng trưởng tín dụng mạnh hơn thì tăng trưởng GDP của quý 1 cũng sẽ phải cao hơn. Rất có thể tác động của tăng trưởng tín dụng trong quý 1 sẽ được phản ánh ở tăng trưởng GDP ở quý 2, quý 3, quý 4 hoặc thậm chí tận năm sau.

Để dễ hiểu, chẳng hạn có một dự án đầu tư lớn được ngân hàng giải ngân vay vốn cuối tháng 3, và vốn giải ngân này sẽ được tính vào tổng tín dụng cho nền kinh tế trong quý 1. Nhưng số vốn giải ngân này nếu có phát huy tác dụng lên tăng trưởng thì chỉ là bắt đầu từ quý 2, và thậm chí chỉ có tác dụng đáng kể càng về sau này khi nó bắt đầu lôi kéo theo, kích hoạt các hoạt động kinh tế khác và nhất là khi dự án hoàn thành và bắt đầu đi vào sản xuất.
Thứ hai, tăng trưởng tín dụng không tỷ lệ thuận với tăng trưởng GDP theo kiểu tín dụng tăng X% thì GDP phải tăng trưởng Y%. Tăng trưởng GDP phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó tín dụng chỉ là một chứ không phải là tất cả. Ngoài chuyện “lệch pha” trên, rất có thể trong quý 1 (hoặc quý nào cũng vậy) đã có những diễn biến bất lợi nào đó làm cho GDP tăng trưởng yếu đi, làm giảm tác động từ yếu tố tín dụng tăng mạnh lên tăng trưởng GDP.

Thứ ba, cũng theo nguyên lý “nhiều quá thì cũng không tốt”, cung tiền và tín dụng tăng mạnh nhiều khi làm “bội thực” nền kinh tế thực nên rốt cuộc tiền chạy lòng vòng, chảy vào các tài sản tài chính và đầu cơ, không có tác động tích cực đến tăng trưởng GDP.
Ví dụ, người A vay tiền ngân hàng để mua cổ phiếu làm tăng giá cổ phiếu. Người B bán cổ phiếu cho A nhận được tiền nhưng không gửi vào ngân hàng mà tiếp tục mua cổ phiếu khác hoặc tài sản khác (gồm bất động sản, vàng và ngoại tệ), và cứ như vậy. Trong trường hợp này, tổng tín dụng có tăng nhờ ngân hàng cho những người như A vay, nhưng tín dụng chảy vào nền kinh tế thực không tăng hoặc tăng không tương xứng với lượng tín dụng mà ngân hàng rót cho những người như A. Do đó, tăng trưởng của nền kinh tế thực không thay đổi (đáng kể), dù trên thực tế tổng tín dụng đã tăng (mạnh).

Để cho dễ hình dung hơn, hãy nhớ lại thời điểm mấy năm trước đây có lúc tín dụng tăng vọt 30-40%/năm trong khi GDP chỉ tăng trưởng quanh quẩn 5%/năm, đi kèm với sự tăng mạnh giá cổ phiếu, vàng và ngoại tệ, cũng như lạm phát. Và trong quý 1 vừa qua, với giá cổ phiếu, vàng, ngoại tệ đều đứng ở mức cao, còn lạm phát đang trên đà “cất cánh”, phải chăng điều này phản ánh rõ nét câu chuyện “tiền đi đâu”?

Tóm lại, có nhiều lý do để thấy tăng trưởng tín dụng không phải là một chỉ biểu hữu hiệu cho, cũng không phải là yếu tố quyết định đến tăng trưởng GDP. Và do không có một mối liên hệ vững chắc giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng GDP nên cần tránh chính sách “thúc” tăng trưởng tín dụng bằng mọi cách, nhiều khi bất cẩn, nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP.  

Saturday, 15 April 2017

Hiểu thế nào về thông điệp “Sẽ không đặt ra vấn đề NHNN mua lại các ngân hàng với giá 0 đồng”?

Khi thảo luận về dự thảo Luật Cơ cấu lại các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu, phiên họp Chính phủ chuyên đề xây dựng pháp luật vừa qua đã đi đến thống nhất từ nay sẽ không đặt ra vấn đề Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mua lại các ngân hàng với giá 0 đồng.
Về thông điệp này, đã có một số ý kiế diễn giải khác nhau. Ý kiến thứ nhất cho rằng thông điệp về chấm dứt việc mua ngân hàng 0 đồng chỉ là vấn đề câu chữ. Vì những ngân hàng có giá trị thực của vốn chủ sở hữu nhỏ hơn 0 đồng bị mua bắt buộc thì không thể mua với giá nào khác ngoài 0 đồng (hay điều chỉnh một chút thành 1 đồng).
Ý kiến thứ hai thì phản bác quan điểm trên, rằng việc dừng mua ngân hàng 0 đồng không phải là chuyện thay đổi câu chữ, hiểu như vậy là sai với chủ trương và lộ trình phát triển mà NHNN đang theo đuổi. Dự thảo được xem là “phát pháo” đánh dấu cho tính nhất quán từ khâu thanh tra giám sát, xử lý ngân hàng yếu kém, thực hiện chuẩn Basel 2 và phát triển thị trường tài chính. NHNN đang hướng tới việc cho ngân hàng được sẽ hoạt động theo cơ chế thị trường và khách hàng gửi tiền cần “chọn mặt gửi tiền”. Bởi khách hàng ham ngân hàng có lãi suất cao thì đồng nghĩa họ sẽ phải tự gánh chịu rủi ro.

Cũng có ý kiến thứ ba không bàn trực tiếp vào phải hiểu thông điệp này thế nào cho đúng mà lại bàn rộng ra về tính hai mặt của việc mua ngân hàng 0 đồng, nhấn mạnh vào mặt trái của nó là không đúng với xu hướng kinh tế thị trường, không đúng với xu hướng thế giới và đặc biệt gây tăng mất cân đối ngân sách cũng như là nợ công. Hơn nữa việc mua ngân hàng 0 đồng khiến cho tình trạng đầu cơ, làm ăn phi pháp, chộp giật theo kiểu biến lợi ích của Nhà nước thành con tin có nguy cơ gia tăng. Bởi vậy, ý kiến này cho rằng việc NHNN dừng mua ngân hàng 0 đồng là chủ trương đúng và kịp thời. Song đồng thời cũng cần cảnh báo sớm và nhận diện những ngân hàng có vấn đề sớm để không xảy ra tình trạng buộc phải chuyển giao hoặc kiểm soát đặc biệt… Do đó, vấn đề ở đây không chỉ là dừng mua ngân hàng 0 đồng mà cần phải ngăn chặn để phát sinh những ngân hàng 0 đồng như vậy. 

Các ý kiến trên phần nào mới chỉ hiểu/diễn giải thông điệp của Chính phủ từ một khía cạnh, hoặc đơn giản là… lạc đề, nhất là các ý kiến thứ hai và thứ ba!
Với ý kiến thứ nhất, đúng là các ngân hàng yếu kém đã thuộc diện mua lại bắt buộc thì thường có vốn chủ sở hữu âm. Nhưng điều này không có nghĩa là NHNN chỉ được mua lại các ngân hàng yếu kém này với giá 0 đồng, 1 đồng, hoặc một cái giá tượng trưng nào đó mà không phải là âm đồng (tức là giá mua nhỏ hơn những thứ có giá trị được tặng/đưa/kèm thêm). Vì vốn chủ sở hữu của ngân hàng yếu kém lúc này đã âm nên nếu được NHNN mua với cái giá 0 đồng thì cái giá này thậm chí vẫn còn là quá hời cho các ngân hàng yếu kém khi xét đến nghĩa vụ chi trả mà nó và cổ đông của nó phải thực hiện nếu không được NHNN mua lại (và chịu trách nhiệm thay).

Do đó, thông điệp trên cũng có thể hiểu rằng NHNN vẫn có thể mua lại bắt buộc các ngân hàng yếu kém với một cái giá (tượng trưng) nào đó, chắc chắn không phải là 0 đồng, nhưng đồng thời các ngân hàng này và cổ đông của chúng vẫn phải có trách nhiệm tiếp tục khắc phục các hậu quả để lại (ví dụ, nợ xấu, vốn ảo, sở hữu chéo v.v…).
Việc này không phải là khó hiểu, chưa từng có trước đây ở Việt Nam. Thực ra, gần 2 năm trước đây đã có vụ việc sáp nhập một ngân hàng thương mại với một ngân hàng thương mại khác, và một cổ đông lớn của ngân hàng bị sáp nhập đã “tự nguyện” ủy quền cho NHNN thực hiện đầy đủ các quyền cổ đông của mình sau khi sáp nhập. Vị này cũng “tự nguyện” cam kết sẽ bổ sung thêm các tài sản khác thuộc sở hữu của mình nếu giá trị tài sản đảm bảo cho các nghĩa vụ nợ của mình không đủ.

Việc NHNN mua lại với một cái giá không phải là 0 đồng nhưng vẫn bắt buộc các cổ đông hiện tại của ngân hàng yếu kém thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ nợ của mình là một điều khôn ngoan, cần thiết, vừa tránh được dị nghị của dư luận về quyền/ý chí của cổ đông hiện tại, vừa vẫn đảm bảo việc mua lại này của NHNN không làm thiệt hại cho nhà nước (vì tự nhiên phải mang thêm nợ do người khác để lại).
Ngoài khả năng trên, thông điệp trên cũng có thể bao hàm một khả năng khác là việc mua lại bắt buộc ngân hàng yếu kém với cái giá 0 đồng vẫn sẽ được thực hiện, nhưng người mua bắt buộc này sẽ không còn, không phải là NHNN nữa, mà là một tổ chức tín dụng hay một doanh nghiệp khác (tất nhiên là dưới sự chỉ đạo, chỉ định của NHNN). Tất nhiên, trong trường hợp này, nếu cần thiết thì việc mua lại bắt buộc với giá 0 đồng hay một cái giá tượng trưng nào khác vẫn có thể sẽ được đi kèm với điều kiện là các cổ đông hiện tại của ngân hàng yếu kém sẽ vẫn phải tiếp tục thực hiện đầy đủ các trách nhiệm và nghĩa vụ của mình để tránh làm thiệt hại liên đới cho tổ chức đứng ra mua bắt buộc này.

Thursday, 13 April 2017

Tour 0 đồng - ứng xử kiên quyết nhưng tránh cực đoan (Bài đăng trên TBKTSG, 14/4/2017, bản gốc)


http://www.thesaigontimes.vn/158971/Tour-0-dong---ung-xu-kien-quyet-nhung-tranh-cuc-doan.html

Dư luận gần đây bức xúc với nạn “tour 0 đồng” thu hút đông đảo du khách từ Trung Quốc, làm xấu hình ảnh của ngành du lịch Việt Nam với nhiều cửa hàng chuyên bán cho khách Trung Quốc với giá cắt cổ. Chính quyền đã xử lý tình trạng này bằng việc buộc đóng cửa một số cửa hàng này. Tuy nhiên, biện pháp này xem ra là chưa đủ.
Việt Nam không phải là “nạn nhân” duy nhất

Ở khu vực, ngoài Việt Nam, còn có nhiều điểm đổ bộ được “ưu ái” của nhiều tour 0 đồng từ Trung Quốc như Hong Kong, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thailand và một số nước Đông Nam Á khác. Nếu ở Việt Nam có tour 0 đồng thì ở nhiều nước cũng có các tour gọi là “zero dollar tour”. Tuy mang lại thu nhập lớn cho kinh tế bản địa nhưng làn sóng du khách Trung Quốc đã làm “bội thực”, tạo ra nhiều tiếng xấu cho những nước này.  
Để “gỡ gạc” lại chi phí bỏ ra để tổ chức tour, các công ty du lịch phải dựa hoàn toàn vào việc mua sắm của du khách, mà phần nhiều là mua sắm theo kiểu cưỡng bức, tương tự như nạn “cơm tù” một thời thịnh hành ở Việt Nam. Đã có không ít xô xát thậm chí gây chết người giữa du khách với cửa hàng “tù” hoặc hướng dẫn viên du lịch (HDV), là người buộc du khách phải mua đủ một số lượng hàng hóa trước khi để cho họ thoát ra khỏi cửa hàng mà HDV “nhốt” họ vào đó. Ví dụ, năm 2015, ở Hong Kong, một du khách Trung Quốc đã bị bốn nhân viên của một cửa hàng đồ trang sức đánh chết vì đứng ra can ngăn xô xát giữa một thành viên trong đoàn, người từ chối mua bất cứ thứ gì trong cửa hàng, với HDV.

Mục đích đi du lịch của du khách Trung Quốc cũng “vô tình” tiếp tay cho nạn tour 0 đồng. Trong quan niệm của nhiều người Trung Quốc, các chuyển đi nước ngoài có mục đích chính không phải là để du lịch – một khái niệm khá mới mẻ với họ, mà là để mua sắm. Rất thường xuyên du khách Trung Quốc sẽ không biết phải làm gì tiếp theo nếu để họ có thời gian và tự quyết định.
Cũng cần lưu ý là tuy Nhật Bản và Hàn Quốc cũng nằm trong danh sách điểm đến ưa thích của các tour giá rẻ từ Trung Quốc nhưng các tour này ít điều tiếng hơn, chủ yếu nhờ vào chất lượng hàng hóa cao hơn và sự quản lý thương mại tốt hơn.

Chính phủ hành động
Nhiều nước trong khu vực gần đây đã có những hành động mạnh tay dẹp nạn tour 0 đồng. Trong một nỗ lực phối hợp chung với Thái Lan, Trung Quốc đã buộc các công ty du lịch đặt giá sàn cho một ngày du lịch trong các tour, cũng như cấm các công ty này chào mời các tour với giá thấp không tưởng, chủ yếu nhắm đến đối tượng khách hàng lần đầu tiên du lịch nước ngoài. Họ cũng chế tài các trang chủ của các công ty du lịch nhằm cấm đưa ra những thông tin sai lệch. Các công ty du lịch còn phải công khai chi tiết các loại chi phí bao gồm trong gói tour, và chỉ được khách mua tour thanh toán tại Trung Quốc. Công ty du lịch Trung Quốc và đối tác của họ tại Thái Lan phải khai báo chính xác số lượng du khách Trung Quốc đến Thái Lan…

Về phía Thái Lan, các cửa hàng tham gia vào việc mua hàng cưỡng bức hay bán hàng giả, hàng nhái địa phương và các thương hiệu nước ngoài sẽ bị phạt nặng vì tội trốn thuế và xử lý hành chính nếu chúng lừa dối khách hoặc bán cho họ với giá cắt cổ hay xâm phạm đến quyền lợi của du khách. Thái Lan cũng dẹp bỏ 2.500 xe bus du lịch tham gia các tour giá rẻ.
Chính quyền Đài Loan hồi đầu năm ngoái đã yêu cầu điều tra ngay lập tức các tour giá rẻ ở Đài Loan sau khi một xe bus du lịch gặp nạn làm chết 33 người và bị thương 11 người. Có nhiều tai nạn xảy ra cho các xe bus du lịch trong các tour giá rẻ trong mấy năm gần đây, làm chính quyền Đài Loan lo ngại về lỗ hổng trong quản lý làm lọt lưới các xe bus du lịch không an toàn được các công ty du lịch lựa chọn để cắt giảm chi phí.   

Tất nhiên là việc xử lý mạnh tay như trên chắc chắn sẽ làm giảm đáng kể số lượng du khách Trung Quốc đặt chân đến nước sở tại. Như ở Thái Lan, chỉ trong vòng hơn một tháng sau khi Trung Quốc và Thái Lan cùng phối hợp ra tay dẹp nạn “zero dollar tour”, lượng du khách Trung Quốc đến Thái Lan đã tụt giảm 20-25%. Nhiều doanh nghiệp ở cả hai quốc gia bị ảnh hưởng mạnh. Ví dụ, công ty Beauty Community ở Thái Lan có tới 25% doanh thu đến từ du khách Trung Quốc. Ở Trung Quốc, các công ty du lịch và bán lẻ cũng sẽ bị ảnh hưởng vì ước tính có tới 90% số tour nơi đây được chào bán rơi vào dạng tour có giá thấp không tưởng.
Tuy vậy, công bằng mà nói thiệt hại thực tế từ tụt giảm số lượng du khách có thể không lớn đến vậy vì phần lớn thu nhập từ các tour 0 đồng tạo ra đều bị thâu tóm bởi phía nước ngoài nắm toàn bộ chuỗi cung cấp. Nhiều tour du lịch Trung Quốc có HDV Trung Quốc, du thuyền và xe bus riêng được điểu khiển đằng sau bởi các ông chủ Trung Quốc. 

Việt Nam cần làm gì?
Trước tiên, cần tránh phản ứng cực đoan là “nói Không” với du lịch mua sắm của du khách Trung Quốc nói chung. Thay vào đó, Việt Nam cần theo hướng của Thái Lan khi chủ động khuyến khích và chào đón những du khách Trung Quốc đến nước này theo từng nhóm nhỏ, độc lập, tự phát (tự đi, không theo các tour từ Trung Quốc). Dù có thể là du lịch mua sắm nhưng những du khách này có điều kiện kinh tế tốt hơn những du khách theo tour giá rẻ nên thường chi tiêu nhiều hơn tại địa phương. Và vì họ tự do đi lại, không bị “chăn dắt” bởi các HDV trong các tour giá rẻ nên việc chi tiêu với giá trị lớn hơn của họ sẽ có lan tỏa mạnh hơn đến nền kinh tế bản địa. Thái Lan cũng cung cấp nhiều dịch vụ nhắm đến đối tượng du khách này như mở ra các trung tâm dịch vụ du lịch và mua sắm, với xe bus kết nối đưa đón du khách từ khách sạn đến các trung tâm này và sân bay. 

Tiếp đó, Việt Nam cần mạnh tay xử lý để giảm thiểu các tour 0 đồng với các biện pháp mà các nước trong khu vực đã áp dụng như nói ở trên, không chỉ dừng lại ở biện pháp đóng cửa, dừng hoạt động các cửa hàng chỉ bán cho khách Trung Quốc. Bởi các cửa hàng khác tuy có mở bán cho cả khách Việt Nam nhưng nếu họ vẫn niêm yết giá cả trên trời như trước thì bản chất sự việc vẫn không thay đổi (người Việt vẫn không mua được, còn du khách Trung Quốc vẫn bị chặt chém). 
Việc phối hợp với Chính phủ Trung Quốc để xử lý tour 0 đồng giống như kinh nghiệm của Thái Lan cũng là điều nên thực hiện để các công ty du lịch giá rẻ Trung Quốc không chuyển hướng từ các thị trường khác sang Việt Nam.

Sau cùng, Việt Nam cần đa dạng hóa nguồn khách du lịch, tránh phụ thuộc quá nhiều vào nguồn du khách Trung Quốc. Việc đa dạng hóa này là cần thiết để trước mắt hạn chế tác động tiêu cực về mặt kinh tế từ việc xử lý các tour 0 đồng chắc chắn sẽ làm tụt giảm mạnh lượng du khách Trung Quốc đến Việt Nam trong ngắn hạn. Ngoài ra, cũng cần lưu tâm đến khả năng Trung Quốc sử dụng con bài du khách như là một công cụ chính trị để gây sức ép lên các nước láng giềng khi có biến cố nào đó xảy ra. Bằng việc hạn chế đột ngột lượng du khách từ Trung Quốc, Chính phủ nước này có thể tạo ra sức ép kinh tế lớn lên các nước họ muốn gây sức ép, như đã được chứng kiến ở Hàn Quốc và Đài Loan gần đây.  

Tuesday, 11 April 2017

Chủ tịch hội đồng quản trị có nên kiêm giám đốc? (Bài đăng trên TBKTSG, ngày 11/4/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/158725/Chu-tich-hoi-dong-quan-tri-co-nen-kiem-giam-doc.html 
 
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) vừa công bố dự thảo thông tư hướng dẫn thực hiện một số điều của nghị định về quản trị công ty. Theo đó, chủ tịch hội đồng quản trị (HĐQT) công ty đại chúng không được kiêm nhiệm chức danh giám đốc (CEO).
 
Lợi ích
 
Về khái niệm, CEO là người quản lý chính của một công ty, còn chủ tịch HĐQT là người đứng đầu HĐQT, đại diện cho cổ đông, có nhiệm vụ giám sát việc quản lý công ty. Do đó, trên nguyên tắc, kết hợp hai chức vị này cho một người sẽ tạo ra xung đột lợi ích. Ngược lại, tách biệt hai chức năng này sẽ tiết kiệm chi phí và cải thiện tính hiệu quả của công ty đại chúng, thể hiện ở ba lợi ích sau đây.
 
Thứ nhất, đó là giảm rủi ro “phóng tay” đãi ngộ hào phóng cho ban giám đốc công ty đại chúng. Mức đãi ngộ (lương, thưởng) cho ban giám đốc phải ở thế cân bằng giữa việc không được cao quá làm tụt giảm quá mức lợi nhuận trả cho cổ đông nhưng đồng thời phải đủ hấp dẫn để giữ chân người quản lý có năng lực. HĐQT của công ty bỏ phiếu thông qua việc tăng mức đãi ngộ này. Do đó, nếu chủ tịch HĐQT cũng là CEO thì sẽ có xung đột lợi ích ở đây, khi CEO tự bỏ phiếu về mức đãi ngộ cho chính mình.
 
Thứ hai, củng cố quản trị doanh nghiệp. Một trong những vai trò chính của HĐQT là giám sát hoạt động của công ty nhằm bảo đảm rằng công ty được điều hành theo phương hướng đặt ra phù hợp với ý chí của cổ đông. Việc điều hành như vậy là trách nhiệm của CEO công ty. Nhưng nếu CEO cũng là chủ tịch HĐQT thì lại sẽ tạo ra kẽ hở cho lạm dụng quyền lực, mà trực tiếp là khả năng vị này sẽ lèo lái công ty xa rời với phương hướng hoạt động đã được thông qua của công ty, đi ngược lại lợi ích của cổ đông mà không được phát hiện và chấn chỉnh kịp thời để tránh gây ra những hậu quả lớn.
 
Thứ ba, theo luật, ban kiểm soát có thể chỉ gồm các thành viên độc lập (không phải trong ban giám đốc điều hành) và ban này báo cáo trực tiếp với chủ tịch HĐQT của công ty. Tuy nhiên, nếu chủ tịch cũng đồng thời là CEO thì tính độc lập và hiệu quả của ban này sẽ bị hạn chế. Ví dụ, theo luật, nhân viên công ty phát hiện và tố cáo các sai phạm trong công ty trực tiếp với ban kiểm soát mà không sợ bị trả đũa. Nếu ban kiểm soát nằm trong tay của chủ tịch HĐQT kiêm CEO thì nhân viên sẽ không còn dám tố cáo nữa, và nếu có thì vẫn sẽ có khả năng là ban kiểm soát sẽ “lờ” vụ việc này đi.
 
Hạn chế
   
 
Trên thực tế, mô hình tách biệt chức năng trên cũng có một số hạn chế. Trước hết, đó là ranh giới trách nhiệm có sự không rõ ràng, chồng lấn giữa chủ tịch HĐQT, CEO và HĐQT, gây ra sự bối rối ai mới là người thật sự “cầm chịch” trong công ty, gây khó khăn trong điều hành hoạt động của công ty, đặc biệt trong những thời điểm cần sự nhất quán về phương hướng. Do đó, để mô hình này hoạt động hữu hiệu thì chủ tịch HĐQT cần phải tự biết kiềm chế quyền lực của mình, không can thiệp mạnh và sâu vào việc điều hành công ty của CEO - điều này là tương đối khó khăn, đặc biệt khi vị này bảo thủ và đã trải qua vị trí CEO thành công của công ty.

Chủ tịch HĐQT có xu hướng và có thể dễ dàng “lấn sân” CEO cũng sẽ làm giảm tính độc lập, tách biệt của HĐQT, chủ tịch HĐQT với công việc quản lý công ty - điều tối cần thiết cho việc quản trị doanh nghiệp hiệu quả. HĐQT cần phải giữ khoảng cách với bộ máy quản lý công ty để trở thành bộ phận giám sát độc lập việc quản lý, điều hành hoạt động của công ty. Chủ tịch HĐQT chỉ được làm “sếp” của HĐQT (trừ một số trường hợp như công ty gặp khủng hoảng thì chủ tịch và CEO cùng chia nhau vai trò lãnh đạo).
 
“Ngược dòng”?
 
Do những hạn chế trong mô hình tách biệt hai chức năng nêu trên, nên hiện nay trên thế giới vẫn còn nhiều trường hợp chủ tịch HĐQT kiêm nhiệm và tái kiêm nhiệm chức danh CEO, hoặc ngược lại, đặc biệt là các công ty lớn. Ví dụ, ở Mỹ, năm 2014, CEO Ngân hàng Bank of America, Brian Moynihan, được bổ nhiệm kiêm nhiệm chức vị chủ tịch HĐQT, sau khi chức vị này được nắm giữ bởi một thành viên độc lập trong HĐQT từ năm 2009. Hãng Disney thì tái lập sự kiêm nhiệm hai chức vị này vào năm 2012 sau khi tách biệt chúng từ năm 2008. Chủ tịch HĐQT kiêm CEO Larry Ellison của hãng Oracle thì đã từ chức CEO nhưng vẫn là chủ tịch HĐQT đồng thời kiêm nhiệm chức vị CEO công nghệ. CEO của Hewlett-Packard Enterprise, Meg Whitman, cũng đồng thời là Chủ tịch HĐQT của HP Inc. Còn ở Darden Restaurant, CEO Charles Ledsinge Jr. được bổ nhiệm làm Chủ tịch HĐQT.

Điều có thể giải thích cho hiện tượng kiêm nhiệm, kết hợp này, đặc biệt ở Mỹ, đi ngược lại với xu hướng chung trên thế giới, là quan niệm cho rằng cần có một nhà lãnh đạo mạnh duy nhất trong công ty. Theo đó, CEO cần được trao quyền lực tuyệt đối để điều hành công ty, đặc biệt khi phải tiến hành những thay đổi lớn dễ bị cản trở bởi cơ cấu quyền lực phân tán. Theo lời một vị nguyên là chủ tịch HĐQT kiêm CEO của một công ty Mỹ thì: “Một lãnh đạo có quyền lực tối cao thì không phải là điều dễ chịu để sống cùng, nhưng là một cách rất có hiệu quả để tiến hành những việc cần thiết”.

Vì vậy, ở Mỹ, nhiều công ty chỉ tách biệt hai chức vị này khi chúng bị áp lực phải làm vậy, và khi có sự cố xảy ra. Với trường hợp của Bank of America, khủng hoảng tài chính năm 2008 buộc họ phải bổ nhiệm một thành viên HĐQT độc lập làm chủ tịch HĐQT. Sau đó, có thể vì Brian Moynihan đang nắm giữ cương vị CEO nên HĐQT thấy sẽ là an toàn khi cất nhắc vị này lên làm chủ tịch HĐQT. Tương tự như vậy với Disney, buộc phải bổ nhiệm một chủ tịch HĐQT độc lập để giải tỏa áp lực từ cổ đông trước kết quả hoạt động yếu kém lúc đó. Ở một số trường hợp khác thì việc tách biệt này chỉ là tạm thời, ví dụ, để dọn đường chuẩn bị cho vị CEO, chủ tịch HĐQT chuẩn bị về hưu.
 
Ngược lại, do có sự khá phổ biến về mô hình kết hợp “hai trong một” như vậy nên nếu một công ty Mỹ nào đó tách biệt hai chức năng này có thể sẽ bị nhìn nhận là thiếu lòng tin vào vị CEO của nó, ảnh hưởng đến uy tín và tính hiệu quả trong công việc của người này. Ngoài ra, việc một người đảm nhiệm hai chức vị có một lợi ích là sẽ chỉ có duy nhất một người chịu trách nhiệm cuối cùng khi có vụ việc gì đó xảy ra. Không như với trường hợp tách bạch hai chức vị này ở các nước khác, khi có vụ việc xảy ra, sẽ xử lý, sa thải ai đây? Chủ tịch HĐQT? CEO? Hay cả hai?
 
Chọn mô hình nào?
 
Tóm lại, cả hai mô hình, tách biệt hoặc hợp nhất, hai chức vị chủ tịch HĐQT và CEO đều có ưu điểm và nhược điểm. Quan trọng hơn, không có lý do đủ mạnh để cổ xúy cho mô hình tách biệt thay cho mô hình hợp nhất, đặc biệt với những công ty lớn như kiểu của Mỹ. Tuy vậy, điều này không có nghĩa là không (bao giờ) nên tách biệt hai chức vị này. Khi tách biệt, điều cần thiết là phải xác định vai trò và chức năng của chủ tịch HĐQT và CEO một cách rõ ràng và cẩn thận để khắc phục những hạn chế trong mô hình tách biệt hai chức vị như nêu ở trên. Để đảm bảo một nền quản trị doanh nghiệp hiệu quả cùng tồn tại với việc giám sát hiệu quả doanh nghiệp, cần phải tránh để xảy ra tình trạng chủ tịch HĐQT và CEO mỗi người hành động theo ý muốn riêng mà không có một bộ quy tắc ứng xử chung.
 
Khi tách biệt, một điều quan trọng khác cần thực hiện là có quy định pháp lý trao thêm quyền hạn chế cho các thành viên độc lập trong HĐQT và quy định hình thành vị trí người lãnh đạo các thành viên độc lập này - người không phải là chủ tịch HĐQT. Những thành viên độc lập và người lãnh đạo của họ có quyền, trách nhiệm riêng có như thảo luận công khai về chất lượng hoạt động của chủ tịch HĐQT, CEO và mức đãi ngộ cho HĐQT, CEO. Họ cũng nên có một số quyền hạn chế khác như xem xét chương trình nghị sự của chủ tịch HĐQT chuẩn bị cho các cuộc họp của HĐQT... Việc có thêm người lãnh đạo các thành viên độc lập này sẽ tạo ra thế cân bằng tốt hơn giữa công tác quản trị doanh nghiệp (của CEO) và công tác giám sát độc lập (của chủ tịch HĐQT).

Saturday, 8 April 2017

Hợp pháp hóa dùng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu (Bài đăng trên TBKTSG, 8/4/2017, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/158711/Hop-phap-hoa-dung-ngan-sach-nha-nuoc-de-xu-ly-no-xau.html

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mới đây đã đưa ra dự thảo Luật hỗ trợ tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu. Điều đáng chú ý đầu tiên trong dự thảo luật này là Điều 28 về biện pháp hỗ trợ tổ chức tín dụng (TCTD) yếu kém được mua bắt buộc. Theo đó, TCTD yếu kém được mua bắt buộc có thể được Chính phủ cấp vốn để bổ sung vốn điều lệ, hoặc Chính phủ cho vay dài hạn với lãi suất đến 0%.
Việc tái cơ cấu các TCTD yếu kém, bao gồm hình thức mua bắt buộc có liên quan mật thiết đến, chính xác ra là hầu hết bắt nguồn từ việc chúng có quá nhiều nợ xấu. Bởi vậy, tái cơ cấu TCTD yếu kém cũng có nghĩa là giải quyết nợ xấu. Trên khía cạnh này, dự thảo là văn bản luật đầu tiên (nếu được thông qua) chính thức chấp nhận, hợp pháp hóa (một cách gián tiếp) việc dùng ngân sách để xử lý nợ xấu – một chủ đề đã gây ra nhiều tranh luận trái chiều trong suốt nhiều tháng qua. Bằng văn bản luật này, việc nên hay không nên, được hay không được được dùng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu đã được trả lời chỉ bằng mấy chữ ngắn gọn như vậy.
Có điều, cho đến nay lý do tại sao và tính cần thiết phải dùng ngân sách để xử lý nợ xấu chưa bao giờ được giải thích thỏa đáng, và/hoặc được đề xuất một cách chính thức và rõ ràng bởi các cơ quan có thẩm quyền. Nếu có thì cùng lắm mới chỉ dừng lại ở mức đề xuất dùng ngân sách để xử lý nợ xấu trong kế hoạch tái cơ cấu của, ví dụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo, trong đó thậm chí ngân sách nhà nước được thay bằng khái niệm khá mập mờ là “nguồn lực nhà nước”. Ngay cả trong Tờ trình Dự án Luật hỗ trợ tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu, NHNN đã không có một dòng giải thích, làm rõ vấn đề này.
Trong khi đó, Nghị quyết về Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016-2020 được Quốc hội thông qua tháng 11 năm ngoái đã nêu rõ: “Không sử dụng ngân sách nhà nước để cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, xử lý nợ xấu hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước, cấp vốn điều lệ cho tổ chức tín dụng thương mại hoặc đóng góp cổ phần tại các tổ chức tài chính quốc tế”.
NHNN có thể biện minh rằng TCTD bị mua lại bắt buộc tức là đã thuộc sở hữu nhà nước (thành doanh nghiệp nhà nước) nên việc Chính phủ cấp vốn hay cho vay dài hạn 0% TCTD này từ nguồn vốn ngân sách vẫn là đúng đắn và hợp lý. Lập luận này sai vì trong Nghị quyết Quốc hội trích dẫn ở trên, đã quy định rõ không sử dụng ngân sách nhà nước để cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước. Và lập luận này cũng sai ở chỗ TCTD cũng có thể bị mua bắt buộc bởi TCTD khác mà không nhất thiết phải là NHNN, nên không nhất thiết TCTD bị mua bắt buộc sẽ trở thành doanh nghiệp nhà nước sau khi bị mua bắt buộc.        
Ngoài bất cập trên, dự thảo còn một số quy định chưa rõ ràng, hợp lý. Điều 6 về miễn trừ trách nhiệm quy định: “Khi tham gia xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, cán bộ, công chức NHNN, thành viên Ban kiểm soát đặc biệt, nhân sự của tổ chức tín dụng được NHNN chỉ định tham gia hỗ trợ không chịu trách nhiệm pháp lý về kết quả của việc thực hiện các phương án xử lý tổ chức tín dụng yếu kém.
Quy định trên là không hợp lý với những trường hợp, ví dụ, những người tham gia xử lý TCTD yếu kém có động cơ cá nhân, vụ lợi, hoặc vì một lý do chủ quan nào đó không thực hiện công tâm, đúng và tốt trách nhiệm của mình trong quá trình xử lý TCTD. Do không thể khẳng định hoàn toàn không có khả năng xảy ra những trường hợp này nên quy định này cần được bổ sung các điều kiện nhất định để người tham gia xử lý TCTD yếu kém được hưởng quyền miễn trừ này.
Khoản 2, Điều 7 quy định NHNN xác định TCTD yếu kém thông qua ba kênh khác nhau, trong đó không có kênh từ chính TCTD yếu kém. Lưu ý là tại Khoản 1 cũng của Điều 7 này quy định: “Khi có nguy cơ mất khả năng chi trả, nguy cơ mất khả năng thanh toán, TCTD phải kịp thời báo cáo với Ngân hàng Nhà nước về thực trạng, nguyên nhân…”. Theo quy định tại Khoản 2 này thì dù TCTD có kịp thời báo cáo tình trạng yếu kém của mình, phải chăng vẫn có khả năng NHNN không xác định TCTD đó là yếu kém mà cứ nhất thiết phải đợi xác định qua một, hai hoặc cả ba kênh như quy định?
Khoản 3, Điều 7, NHNN xem xét, quyết định đặt TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt khi TCTD lâm vào một trong các trường hợp, trong số đó có trường hợp (i) mất khả năng thanh toán và (ii) có nguy cơ mất khả năng chi trả. Vì NHNN không định nghĩa về khả năng thanh toán và khả năng chi trả, và trên thực tế thì có thể coi chúng là một nên quy định như vậy hoặc là trùng lặp, hoặc là không rõ ràng (nếu NHNN coi hai khái niệm này là khác nhau).
Cũng Khoản 3, Điều 7 có nêu trường hợp TCTD bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt khi: “Có nguy cơ mất khả năng thanh toán, bao gồm cả trường hợp nợ không có khả năng thu hồi hoặc mô hình kinh doanh tiềm ẩn rủi ro hoặc Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc (Giám đốc) vi phạm pháp luật”. Khả năng thanh toán và khả năng thu hồi nợ là hai khái niệm khác nhau hoàn toàn, không thể gộp chúng vào như hiện tại trong dự thảo qua từ “bao gồm”. Tương tự như vậy là mối liên hệ giữa nguy cơ mất khả năng thanh toán với mô hình kinh doanh tiềm ẩn rủi ro, hoặc người đứng đầu TCTD phạm pháp.
Phải chăng ý của NHNN trong quy định này là TCTD có nguy cơ mất khả năng thanh toán trong những trường hợp, ví dụ như, khi có nợ không có khả năng thu hồi hoặc mô hình kinh doanh tiềm ẩn rủi ro hoặc Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc (Giám đốc) vi phạm pháp luật v.v…? Nếu đúng vậy thì cần viết lại cho rõ ràng hơn như thế này.
Và cũng Khoản 3, Điều 7 quy định: “Khi số lỗ lũy kế của tổ chức tín dụng lớn hơn 50% giá trị của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ …”. Lưu ý là số lỗ lũy kế sẽ thay đổi theo thời điểm và  thời kỳ tính lũy kế. Bởi vậy, quy định này là không rõ ràng.
Điều 10, về thẩm quyền của NHNN đối với TCTD yếu kém, quy định trong trường hợp cần thiết, NHNN cho vay tái cấp vốn, cho vay đặc biệt để hỗ trợ thanh khoản chi trả cho người gửi tiền là cá nhân. Tuy nhiên, quy định như vậy là quá hạn hẹp vì tiền từ cho vay tái cấp vốn, cho vay đặc biệt còn cần để giải quyết các nghĩa vụ nợ khác rất cấp bách và chính đáng, với chủ nợ không phải là người gửi tiền cá nhân, ví dụ thậm chí là nhà thầu cung ứng vật tư, máy móc chuyên dụng mà TCTD còn nợ đọng vì mất khả năng chi trả.

Tất nhiên là NHNN có quyền nói là vốn của họ thì chỉ được dùng cho mục đích như quy định. Nhưng cần lưu ý thêm là việc rót vốn của NHNN là để cứu TCTD khỏi phá sản, mất khả năng chi trả, thanh toán. Nếu nhà thầu cung cấp bị nợ đọng khởi kiện TCTD và tòa án công nhận quyền lợi của nhà thầu thì TCTD yếu kém và gián tiếp là NHNN hoặc TCTD đứng ra xử lý TCTD yếu kém sẽ phải chịu trách nhiệm thanh toán, nếu không muốn TCTD yếu kém bị tuyên bố phá sản.
Cũng liên quan đến Điều 10, Điều 12 quy định TCTD yếu kém được vay đặc biệt của NHNN và một số tổ chức khác để (i) hỗ trợ thanh khoản khi TCTD lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả, hoặc (ii) để hỗ trợ phục hồi hoặc xử lý pháp nhân theo phương án phục hồi…
Như nói ở trên, nếu theo Điều 10 thì khoản vay đặc biệt này chỉ dành để chi trả cho người gửi tiền cá nhân. Trong khi đó, Điều 12 lại mở rộng mục đích được sử dụng vốn vay đặc biệt, tức có sự không nhất quán với Điều 10. Ngay cả mục đích hỗ trợ thanh khoản khi mất khả năng chi trả ở Điều 12 cũng đã có thể bao hàm cả việc chi trả không chỉ cho người gửi tiền cá nhân mà còn tổ chức nữa, khác với Điều 10.
Điều 20 về các biện pháp hỗ trợ tài chính, trong đó có quy định TCTD yếu kém được bán nợ xấu không đủ điều kiện cho VAMC. Nhưng vì VAMC hầu như chỉ thanh toán cho TCTD yếu kém bằng trái phiếu đặc biệt dùng để chiết khấu tại NHNN để lấy “tiền tươi” nên nếu dự thảo không quy định NHNN phải chiết khấu trái phiếu đặc biệt và NHNN không (muốn) làm như vậy thì rốt cuộc TCTD yếu kém cũng không có nguồn tài chính thật, bổ sung cho hoạt động của mình.
Điều 28, về điều kiện mua bắt buộc TCTD yếu kém có điều kiện là có TCTD đề xuất mua. Dự thảo đã không có quy định xử lý trường hợp có hơn một TCTD đề xuất mua. Hơn nữa, vì dự thảo không có quy định bắt buộc TCTD yếu kém hoặc NHNN phải công khai tình trạng yếu kém của TCTD này nên có lẽ chỉ có những TCTD “thân thiết” với NHNN mới được “rỉ tai” về tình trạng yếu kém của TCTD này và được bật đèn xanh cho việc mua bắt buộc. 
Điều 36 về biện pháp hỗ trợ đối với TCTD được chỉ định, dự thảo hiện tại mới chỉ nêu những biện pháp giúp không làm thiệt hại, hoặc giảm thiểu thiệt hại cho TCTD được chỉ định chứ chưa có những biện pháp rõ ràng giúp làm lợi cho TCTD được chỉ định để làm họ có thêm động cơ tích cực “xắn tay” vào xử lý TCTD yếu kém, để làm cho việc tham gia xử lý TCTD yếu kém của họ không phải là một sự miễn cưỡng, bắt buộc theo chỉ định của NHNN.

Friday, 24 March 2017

Quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ: để không chỉ là hình thức (Bài đăng trên TBKTSG, 24/3/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/158212/Quy-dinh-ve-he-thong-kiem-soat-noi-bo-de-khong-chi-la-hinh-thuc.html

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mới đây đã đưa ra dự thảo thông tư quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Điều đáng nói về dự thảo này là tuy đã đưa ra những quy định khá chi tiết về quy trình và hình thức, nhưng nó lại thiếu vắng một nền tảng hình thành nên tinh thần tự giác, tích cực và chủ động nhận diện và xử lý các rủi ro có thể phát sinh của từng cá nhân trong tổ chức tín dụng.
 
Do sự thiếu vắng này nên rất có thể tổ chức tín dụng và nhân viên chỉ thực thi các yêu cầu của dự thảo theo kiểu đối phó, sẵn sàng viện dẫn “làm đúng quy trình” để biện bạch khi có chuyện xảy ra.
 
Muôn hình vạn trạng kiểm soát nội bộ

Ngoài việc xây dựng và thực thi các hệ thống quản trị rủi ro, kiểm soát và kiểm toán nội bộ đáp ứng yêu cầu chung của cơ quan quản lý tiền tệ, nhiều ngân hàng trên thế giới còn thực thi nhiều hình thức kiểm soát nội bộ (riêng có) để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của mình.

Nhiều ngân hàng thường xuyên và định kỳ tổ chức các đợt tập huấn và tập huấn nhắc lại cho toàn bộ nhân viên. Chủ đề của những đợt tập huấn này có thể là các hình thức rửa tiền, tài trợ khủng bố, tác hại của việc nếu ngân hàng bị “vướng” vào các giao dịch này, và làm cách nào để nhận diện và phòng chống các hoạt động tội phạm này.
 
Hoặc chủ đề tập huấn cũng có thể là các vấn đề về an ninh, nhận diện và cách thức đối phó với các rủi ro đến từ các hoạt động tội phạm lừa đảo qua mạng, điện thoại và e-mail, giao dịch nội gián... Cũng không thể thiếu các cuộc tập huấn định kỳ và nhắc lại về chính sách chống hối lộ, tham nhũng, lạm dụng quyền lực để trục lợi cá nhân trong các giao dịch với chính quyền và đối tác. Các cuộc tập huấn này thường diễn ra dưới hình thức trực tuyến, “học sinh” phải đọc các tài liệu được chỉ định có ở trên mạng nội bộ và sau đó hoàn thành các câu hỏi trắc nghiệm để được cấp chứng nhận là đã hoàn thành khóa tập huấn, sau khi đã trả lời đúng một tỷ lệ nhất định các câu hỏi trắc nghiệm.
Các hình thức và biện pháp kiểm soát nội bộ rất đa dạng, khó có thể đồng bộ hóa để quy định thành luật và áp dụng chung cho toàn bộ hệ thống ngân hàng. Vì vậy, các ngân hàng sẽ tự giác và chủ động xây dựng và triển khai các hệ thống kiểm soát nội bộ sao cho phù hợp nhất.
 
Ngoài những khóa tập huấn bắt buộc trên, nhiều ngân hàng còn thường xuyên cập nhật và nâng cao nhận thức và tính tuân thủ luật lệ và quy định của nhân viên bằng cách gửi e-mail toàn ngân hàng thông báo những tin tức, diễn biến mới nhất liên quan đến các vụ vi phạm các quy định tài chính tiền tệ của một (số) cá nhân trong và ngoài ngân hàng, trong nước và trên thế giới bị các cơ quan chức năng phát giác và xử lý, làm nhân viên “biết sợ” với những hình phạt nghiêm khắc sẽ xảy đến với mình và ngân hàng nếu không tuân thủ pháp luật.
 
Chưa dừng lại ở đó, có nhiều ngân hàng còn tiến hành thường xuyên những việc tưởng như không mấy quan trọng khác. Một vài lần trong năm sẽ có các cuộc gọi hay e-mail đột xuất từ một bộ phận có trách nhiệm trong ngân hàng về một tai nạn giả tưởng làm đình trệ hoạt động của ngân hàng tại một địa phương nào đó để kiểm tra xem liệu toàn bộ nhân viên của ngân hàng có được liên lạc và giữ liên lạc thông suốt với tổng hành dinh và với đồng nghiệp của mình hay không, nhằm đảm bảo tính duy trì hoạt động liên tục của ngân hàng trong mọi điều kiện. Hoặc ngân hàng cũng sẽ kiểm tra tinh thần tuân thủ quy định bảo mật của nhân viên thông qua tổ chức các cuộc kiểm tra đột xuất các ngăn bàn của nhân viên xem có được khóa hay không, trên mặt bàn làm việc có tài liệu chứa thông tin cần bảo mật sau khi ra về hay không.
 
Cần bổ sung vào dự thảo
 
Từ thực tế ở các ngân hàng nước ngoài nêu trên, có thể thấy là các hình thức và biện pháp kiểm soát nội bộ rất đa dạng, khó có thể đồng bộ hóa để quy định thành luật và áp dụng chung cho toàn bộ hệ thống ngân hàng. Thay vào đó, trên cơ sở nhận thức đúng đắn được tính cần thiết và tầm quan trọng của việc xây dựng và vận hành hệ thống kiểm soát, quản lý rủi ro nội bộ, các ngân hàng sẽ tự giác và chủ động xây dựng và triển khai các hệ thống kiểm soát nội bộ của mình sao cho phù hợp nhất.
 
Dự thảo thông tư trên của NHNN tuy không quy định phải có những việc làm cụ thể như nêu ví dụ ở trên, nhưng như đã nói, đây không phải là điều thiếu sót. Một trong những thiếu sót chính là những điều khoản gắn chặt trách nhiệm của những người đứng đầu tổ chức tín dụng trong việc tổ chức xây dựng, điều hành và giám sát hoạt động hệ thống kiểm soát, quản lý rủi ro nội bộ. Hiện tại, dự thảo trên mới chỉ đề cập chung chung về trách nhiệm này, ví dụ: “Hội đồng quản trị, hội đồng thành viên, ngân hàng mẹ chịu trách nhiệm cuối cùng về hệ thống kiểm soát nội bộ (ngoại trừ kiểm toán nội bộ) của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; ban kiểm soát chịu trách nhiệm cuối cùng về kiểm toán nội bộ”.

“Trách nhiệm cuối cùng” trên cụ thể là thế nào, làm sao quy được cho những người đứng đầu, là điều không dễ chút nào nếu chỉ dừng lại ở mức quy định chung chung như vậy. Hãy lấy một ví dụ. Một giao dịch rửa tiền của nhân viên tại một ngân hàng bắt nguồn từ việc nhân viên này “vô tình” tiến hành giao dịch này do đã “quên” thế nào là một giao dịch rửa tiền, do ngân hàng đó không thường xuyên tập huấn bắt buộc hoặc cập nhật cho nhân viên các kiến thức về rửa tiền, như trong ví dụ ở đầu bài. Để bào chữa cho thiếu sót liên quan đến giao dịch rửa tiền này, ngân hàng có thể viện lý lẽ rằng họ đã có đầy đủ và thực hiện “đúng quy trình” kiểm soát nội bộ về phòng chống rửa tiền, ví dụ như đã ban hành đầy đủ các quy định nội bộ về phòng chống rửa tiền theo yêu cầu của NHNN. Còn chuyện họ không bắt buộc nhân viên phải đọc và hiểu đúng các quy định về giao dịch rửa tiền cũng không sai vì trong dự thảo thông tư của NHNN không đề cập đến chi tiết này! Và như vậy thì chỉ có nhân viên giao dịch xem ra mới bị pháp luật xử lý, còn ngân hàng và người quản lý thì vô can!
 
Nếu chuyện này xảy ra ở nước ngoài, hầu như bất luận thế nào thì ngân hàng này và/hoặc người quản lý của họ cũng sẽ bị xử lý đích đáng.
 
Ví dụ, hồi tháng 10 năm trước, Singapore đã phạt tiền và đóng cửa chi nhánh Ngân hàng Falcon, phạt tiền ngân hàng DBS và UBS, ngoài việc truy tố những người có liên quan của các ngân hàng này trong các giao dịch với Quỹ đầu tư nhà nước 1MDB đầy tai tiếng của Malaysia. Một trong những cáo buộc chính với các ngân hàng này là đã “không kiểm soát được các hoạt động rửa tiền” liên quan đến 1MDB, mà không cần phải đi sâu vào chi tiết tại sao lại có tình trạng “không kiểm soát” được này.
 
Do vậy, dự thảo trên cũng cần phải có thêm các quy định về xử phạt nghiêm khắc cá nhân và toàn bộ tổ chức tín dụng khi để xảy ra các vi phạm bắt nguồn từ các yếu kém và thiếu sót trong hệ thống kiểm soát nội bộ tương ứng với hậu quả của các vi phạm này. Có làm được như vậy thì các tổ chức tín dụng mới tự giác, tích cực và chủ động xây dựng, vận hành hiệu quả hệ thống kiểm soát, quản lý rủi ro nội bộ theo cả những cách thức chung và riêng mà khó có thể cụ thể hóa đầy đủ và nhất thể hóa bằng những thông tư và hướng dẫn từ NHNN.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).