Wednesday, 16 August 2017

Dự trữ ngoại hối: Kỷ lục nhưng đừng chủ quan! (Bài đăng trên CafeF, 16/8/2017)

http://cafef.vn/du-tru-ngoai-hoi-ky-luc-nhung-dung-chu-quan-20170816050108413.chn

Quả thật, nếu so với những năm trước thì dự trữ ngoại hối của Việt Nam năm nay đã cao hơn rất nhiều, như được thể hiện ở đồ thị dưới đây. Cụ thể, vào năm 2012, dự trữ ngoại hối của Việt Nam tụt xuống còn 25,4 tỷ USD. Con số này chỉ tăng mạnh vào năm 2014 lên mức 34,3 tỷ USD nhưng rồi lại giảm mạnh còn 28,4 tỷ năm 2015. Từ đó trở đi thì nó mới có xu hướng tăng ổn định như dự báo của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), đạt 36,7 tỷ năm 2016, 42,2 tỷ năm 2017 và 48,6 tỷ năm 2018.



Nguồn: IMF Country Report No. 17/190 (7/2017); Ghi chú: Số liệu từ năm 2016 là dự báo

Tuy nhiên, điều đáng lưu tâm hơn là dự trữ ngoại hối trên quy ra tương đương với bao nhiêu tháng nhập khẩu. Đây là một chỉ tiêu phản ánh quy mô dự trữ ngoại hối của một quốc gia ở mức cao hay thấp, an toàn hay không an toàn.

Trong đồ thị trên, đường màu da cam cho biết dự trữ ngoại hối của Việt Nam vẫn chưa vượt quá mức 2,5 tháng nhập khẩu trong suốt mấy năm qua và một số năm tới (theo IMF, phải đến năm 2020 thì mức này mới đạt 2,7 tháng). Mà theo quy ước quốc tế thì dự trữ ngoại hối của một quốc gia phải tương đương với ít nhất là 3 tháng nhập khẩu thì mới an toàn để chống đỡ với các cơn sốc về cầu ngoại tệ. Như vậy, mặc dù dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã có những bước cải thiện đáng kể từ năm 2016 để đạt những “kỷ lục” mới trong những năm tiếp theo, nhưng những “kỷ lục” này vẫn chưa đủ lớn theo tiêu chuẩn chung của thế giới.

Quan trọng không kém là tuy về con số tuyệt đối thì đúng là dự trữ ngoại hối của Việt Nam năm 2017 là năm cao kỷ lục (42,2 tỷ USD) nhưng cần lưu ý là mức này chỉ tương đương với 2,3 tháng nhập khẩu của cùng năm, chỉ nhỉnh hơn một chút so với năm 2016 (2,2 tháng) và thậm chí còn thấp hơn cả năm 2014 (2,4 tháng).

Lý do của tình trạng trên là thực ra dự trữ ngoại hối của Việt Nam tuy có tăng lên nhưng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam còn tăng mạnh hơn, nên tỷ lệ giữa dự trữ ngoại hối và kim ngạch nhập khẩu hầu như không có biến chuyển nhiều. Hàm ý của điều này một lần nữa cho thấy rằng dự trữ ngoại hối – chiếc gối đỡ giảm sốc cho nền kinh tế Việt Nam khỏi những biến động bên ngoài – vẫn còn “mỏng”, chưa an toàn, chưa đủ dập tắt mọi cơn sóng trồi sụt trên thị trường ngoại hối cũng như sự ổn định của tỷ giá.

Do đó, chính sách tiền tệ và ngoại hối trong thời gian tới cần tránh sự chủ quan, đừng chỉ nhìn con số tuyệt đối đang ở mức cao kỷ lục, để có những bước đi thích hợp nhằm tiếp tục cải thiện dự trữ ngoại hối hiểu theo mức tương đối (quy theo tháng nhập khẩu của Việt Nam) và không tạo thêm áp lực cho tỷ giá nếu muốn duy trì sự ổn định của nó trong những tháng tới.

Tuesday, 15 August 2017

Ứng xử với nạn “thích” tuyển lao động nước ngoài (Bài đăng trên TBKTSG, 15/8/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/163464/Ung-xu-voi-nan-thich-tuyen-lao-dong-nuoc-ngoai.html

Tỉnh Bình Thuận mới đây đã chấp thuận cho Công ty TNHH Vận hành kinh doanh Vĩnh Tân Điện lực Trung Quốc được tuyển 196 lao động nước ngoài để đáp ứng nhu cầu sử dụng của Nhà máy Nhiện điện Vĩnh Tân 1 ở xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong.
Thông tin trên một lần nữa lại gây quan ngại trong dư luận bởi liên quan đến lao động Trung Quốc, mặc dù tin tức cho biết trước đó công ty này đã thông qua Trung tâm Dịch vụ việc làm của tỉnh đăng tuyển rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng trên phạm vi cả nước nhưng không tuyển được người nào nên buộc phải chuyển sang tuyển lao động nước ngoài. Cũng cần biết thêm là tiêu chuẩn tuyển dụng là tốt nghiệp đại học trở lên, thông thạo tiếng Trung, tiếng Anh.


Trước khi bàn vào chủ đề chính, xin nói chuyện ngoài lề một chút. Cách đây vài năm người viết có tham gia một chuyến đi thăm thực địa tại một nhà máy nhiệt điện phía Bắc được xây dựng, lắp đặt thiết bị và vận hành bởi nhà thầu Trung Quốc. Bước vào các phòng điều hành, dễ nhận thấy toàn bộ ê kíp điều hành là người Trung Quốc. Máy móc, thiết bị, hệ thống phần cứng và phần mềm điều hành đương nhiên là được ghi bằng tiếng Trung.
Khách quan mà nói, trong môi trường như vậy mà “lọt” vào đó một vài người Việt không nói, đọc và viết thạo được tiếng Trung thì quả là chuyện không tưởng, không chỉ vì họ sẽ không làm được (một cách hiệu quả) công việc, mà còn gây khó dễ, thiệt hại cho phía nhà điều hành, nhà máy, bởi không lẽ phải bố trí cho mỗi một vị trí làm việc của người Việt một người phiên dịch Trung - Việt hay sao? Đó là chưa kể việc truyền đạt qua phiên dịch sẽ dễ dẫn đến tình trạng “chữ tác đánh chữ tộ” để rồi chất lượng công việc bị ảnh hưởng, thậm chí gây đình trệ.


Từ chuyện nhỏ trên, quay trở lại với chủ đề, có thể thấy vấn đề đầu tiên nằm ở việc phía Việt Nam dùng nhà thầu Trung Quốc, thiết bị, tài liệu và phần mềm của Trung Quốc (vốn để dùng trong nội địa Trung Quốc) nên mới dẫn đến tình trạng phải tuyển lao động Trung Quốc. Giả sử nếu các thiết bị máy móc, tài liệu và phần mềm bằng tiếng Anh, tiếng Việt, và nếu nhà thầu Trung Quốc sẽ tiến hành đào tạo, chuyển giao vận hành cho lao động Việt Nam thì có lẽ sẽ không mấy khó khăn để tuyển được số nhân viên cần thiết cho công việc tại nhà máy nhiệt điện ở Vĩnh Tân. Tương tự như vậy, nếu Việt Nam không chọn các nhà thầu xây dựng Trung Quốc thì chắc cũng không dẫn đến tình trạng các công trường xây dựng này “thích” tuyển lao động Trung Quốc, ít nhất là bởi, nói một cách công bằng, giao tiếp với nhau giữa các nhân viên quản lý, điều hành (là người Trung Quốc, đương nhiên) với công nhân xây dựng bằng cùng một thứ tiếng, tiếng Trung, sẽ là thuận lợi hơn rất nhiều cho công việc.
Nhưng từ vấn đề trên không thể tùy tiện suy ra một cách dễ dãi rằng Việt Nam không nên, không cần tuyển dụng, sử dụng nhà thầu và thiết bị Trung Quốc nữa thì sẽ tránh được tình trạng này. Vì, cũng phải nói một cách công bằng rằng trong không ít trường hợp việc sử dụng các yếu tố Trung Quốc này là có những lý do chính đáng.


Vậy thì vấn đề tiếp theo là phải bàn đến biện pháp “sống chung với lũ”, nếu không còn lựa chọn nào khác ngoài nhà thầu và thiết bị Trung Quốc. Biện pháp căn bản nhất đương nhiên sẽ là trực tiếp và gián tiếp khuyến khích nhà tuyển dụng Trung Quốc (trong ví dụ trên là các nhà thầu, nhà điều hành) tự giác tuyển dụng ít lao động Trung Quốc và thay vào đó là lao động Việt Nam. Nói cách khác, phải làm cho nhà tuyển dụng tự giác, thấy rõ được rằng họ sẽ có lợi hơn, ít tốn kém hơn nếu thực sự họ tìm thấy và tuyển được lao động Việt Nam đáp ứng được điều kiện tuyển dụng đặt ra như với lao động Trung Quốc.
Trên thực tế, việc nhà tuyển dụng Trung Quốc có tạo cơ hội bình đẳng trong tuyển dụng lao động người Việt tại Việt Nam hay không đang là “vùng xám”, gây nghi ngờ, thắc mắc, lo ngại trong dư luận, vì cho đến nay ở không ít công trường, cơ sở công nghiệp đã có sự hiện diện của nhiều lao động Trung Quốc mà nhìn vào công việc họ đang làm thì khó có thể nói đó là lao động kỹ thuật (cao) mà lao động địa phương không đáp ứng được. Ngay chính từ thông báo tuyển dụng tại nhà máy điện Vĩnh Tân trên cũng làm người ta nghi ngờ thực tâm của nhà tuyển dụng, vì tại sao đòi hỏi không chỉ tốt nghiệp đại học trở lên, không những phải thông thạo tiếng Trung mà còn cả tiếng Anh nữa? Những người đáp ứng được tất cả các tiêu chuẩn này có lẽ không nhiều, và chắc cũng chẳng mặn mà với công việc tại nhà máy này. Quan trọng hơn, những lao động Trung Quốc được tuyển dụng bởi nhà máy này nay mai sẽ có mấy người tốt nghiệp đại học và thông thạo tiếng Anh?


Đến đây, sẽ là hữu ích nếu tham khảo kinh nghiệm của các nước phải đương đầu với vấn đề lao động nước ngoài. Trong số này phải kể đến Singapore với nhiều biện pháp hữu hiệu được đưa ra trong vòng mấy năm qua để hạn chế lao động tay nghề thấp hoặc lao động giản đơn từ nước ngoài tràn vào, gây nhiều hệ lụy xã hội. Tất nhiên, tiền đề tham khảo ở đây là không có chuyện “tiếp tay” cho nhà tuyển dụng Trung Quốc của cán bộ ở các cơ quan quản lý hữu trách địa phương, một khả năng khó có thể phủ nhận hoàn toàn trên thực tế ở Việt Nam.
Những biện pháp hạn chế lao động nước ngoài của Singapore bao gồm: Hạ thấp hạn mức (hay trần) số lượng lao động nước ngoài mà công ty tại Singapore được phép tuyển dụng trên tổng số lao động của công ty; Nâng mức thuế đánh lên việc tuyển dụng lao động nước ngoài không có kỹ năng hoặc kỹ năng thấp; Hạn chế số lượng giấp phép lao động cấp mới hay hạn chế việc gia hạn giấy phép lao động hiện thời đối với những công ty nào không chứng tỏ được rằng đã nỗ lực tuyển dụng, đào tạo và phát triển cơ hội nghề nghiệp cho lao động bản địa (các công ty này sẽ bị liệt vào danh sách đen của Bộ Lao động nước này, và sẽ bị cấm vĩnh viễn tuyển lao động nước ngoài nếu một thời gian sau đó vẫn không cải thiện được tình hình).      


Các công ty trước khi tuyển dụng lao động nước ngoài cũng bị yêu cầu phải đăng quảng cáo việc làm cùng với mức lương dự kiến lên trang web quốc gia về việc làm tối thiểu trong 14 ngày để qua đó đánh giá được khả năng đáp ứng và mức độ hưởng ứng của lao động bản địa. Mức lương tối thiểu để lao động nước ngoài được cấp phép làm việc tại Singapore cũng được nâng lên đáng kể, làm tốn kém thêm cho các công ty tuyển dụng nếu họ vẫn cứ “thích” lao động nước ngoài.
Quan trọng không kém, để giảm thiểu khả năng “lách luật” của các công ty, Chính phủ Singapore tăng cường thanh tra, hậu kiểm việc tuyển dụng lao động nước ngoài và tăng nặng hình phạt với các công ty vi phạm. Nếu là trong ví dụ trên ở Việt Nam, việc thanh tra, hậu kiểm có thể sẽ tập trung vào yếu tố như trình độ ngoại ngữ và mức lương có đúng như đã quảng cáo trên mạng việc làm quốc gia hay không, có thật là không có lao động bản địa nào đáp ứng được hay quan tâm đến công việc này không…


Tóm lại, trong khi Việt Nam vẫn phải chấp nhận mở cửa cho lao động nước ngoài, gồm cả lao động Trung Quốc trong thời hội nhập, chứ không thể ngăn chặn với những lý do không mấy hợp pháp, chính đáng như họ sẽ lấy vợ Việt Nam, sinh con đẻ cái rồi lập ra “phố Tầu” ở Việt Nam…, điều mà Việt Nam cần và có thể làm được là ban hành và thực thi nghiêm các chính sách quản lý việc tuyển dụng lao động nước ngoài theo hướng đảm bảo ưu tiên cơ hội nghề nghiệp cho lao động Việt Nam theo kinh nghiệm quốc tế. Song song với đó, chất lượng thực thi và giám sát thực thi pháp luật của các cơ quan hữu trách địa phương cũng cần phải được đảm bảo để không dẫn đến tình trạng thỏa hiệp với nhà tuyển dụng nước ngoài gây phương hại đến lợi ích quốc gia.

Tuesday, 8 August 2017

Những bất cập có thể thấy trước (Bài đăng trên TBKTSG, 8/8/2017, bản gốc, tiêu đề do báo đặt)

http://www.thesaigontimes.vn/163206/Nhung-bat-cap-co-the-thay-truoc.html

Mới đây Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam (AVR) đã đề xuất Chính phủ thành lập một tập đoàn bán lẻ trên cơ sở “bắt tay” của bốn đại gia hàng đầu trong các nhà bán lẻ hiện nay, gồm Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại Sài Gòn (Saigon Co.op), Tập đoàn Phú Thái (PhuThai Group), Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (Satra) và Tổng Công ty Thương mại Hà Nội (Hapro). (1)


Đã từng thất bại


Theo AVR, trước đây Chính phủ từng rất ủng hộ, kỳ vọng mô hình trên sẽ hỗ trợ rất nhiều cho thị trường bán lẻ, tuy nhiên mô hình đó đã thất bại. Một trong những nguyên nhân chính là không tiếp cận được mặt bằng tại các tỉnh muốn phát triển.


Tuy AVR không nói rõ mô hình thất bại là mô hình nào nhưng đó có thể là mô hình Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam (VDA) – một sản phẩm được cho ra đời từ năm 2007 bởi sự “bắt tay” giữa chính bốn đại gia nêu trên. Đại diện VDA cho biết, (theo định hướng) VDA sẽ trở thành công ty mẹ và đảm nhận những việc mà một doanh nghiệp đơn lẻ không thể làm được. Việc tập hợp lại cơ sở vật chất, hệ thống mặt bằng, vốn, kinh nghiệm, thị trường, hàng hóa… của bốn đại gia trên sẽ rất lớn. Khi VDA thành công thì các nhà đầu tư nước ngoài phải cân nhắc khi muốn thâu tóm hệ thống phân phối, logistic tại Việt Nam.


Phân trần cho sự thất bại của mô hình VDA, đại diện công ty này đổ lỗi cho cơ chế, chính sách không đồng bộ và từ chính sách đến thực tiễn còn một khoảng cách xa. Cụ thể, về chính sách đất đai, một số địa phương sẵn sàng ủng hộ mặt bằng, một số địa phương thì không. Đồng thời, chủ trương thoái vốn của Nhà nước đã buộc Satra và Hapro phải thoái vốn khỏi VDA, trong khi hai thành viên còn lại thì không đủ tiềm lực.


Hình dong của mô hình “bắt tay” kiểu mới


Trong khi không thấy AVR nói gì thêm về mô hình mới sẽ cụ thể là như thế nào, đại diện VDA lại cho biết họ đang kêu gọi thành lập một tập đoàn bán lẻ kiểu mới với nhiều điểm khác với mô hình cũ. Ví dụ, bất cứ thành phần nào cũng có thể tham gia mô hình này. Đặc biệt là không thực hiện theo cơ chế đồng thuận như mô hình cũ nữa - mỗi thành viên góp vốn 25% - mà ai bỏ vốn vào nhiều sẽ điều hành.


Bên cạnh đó, tập đoàn bán lẻ mới cũng có ý định thành lập hệ thống siêu thị nông nghiệp. Nông dân khi vào siêu thị này sẽ mua được tất cả từ con giống, phân bón đến thức ăn, máy móc… đúng giá, không sợ mua hàng giả.


Những bất cập


Có thể thấy chủ trương thành lập một mô hình “bắt tay” kiểu mới như nêu ở trên vẫn chủ yếu nhằm mục đích thành lập cho được một tập đoàn có quy mô lớn tận dụng lợi thế thuộc tốp đầu về doanh thu của cả bốn thành viên trên. Tuy nhiên, sự cùng bỏ vốn bởi các thành viên, bất kể tỷ lệ sở hữu bao nhiêu, sẽ luôn chỉ cho ra đời một công ty con có quy mô nhỏ hơn quy mô của các công ty thành viên này cộng lại. Hơn nữa, tùy thuộc vào mức độ có thể đóng góp vốn của các công ty thành viên, bất chấp quy mô lớn, dẫu đầu thị trường của chúng, quy mô của công ty con của chúng hoàn toàn có thể rất khiêm tốn.


Cụ thể hơn, mặc dù quy mô doanh thu hợp nhất của bốn đại gia nói trên được cho là lên tới 4-5 tỷ đô la Mỹ nhưng nếu mỗi đại gia trong số này chỉ có thể huy động và góp được trung bình là 100 triệu đô la thì quy mô vốn của “tập đoàn” mới cũng chỉ là 400 triệu đô la mà thôi, có khi chỉ tương đương hoặc nhỉnh hơn quy mô của một trong bốn thành viên này, tức là còn lâu mới đủ sức dẫn dắt thị trường và làm e ngại các đại gia bán lẻ nước ngoài đang nhòm ngó, thôn tính thị trường bán lẻ Việt Nam như ý đồ của AVR và VDA.


Đến đây, một vấn đề nảy sinh khác là dù có quy mô nhỏ hay lớn nhưng do vì hoạt động trong cùng lĩnh vực, thị trường, và địa bàn nên “tập đoàn” bán lẻ mới này sẽ tự nhiên trở thành một đối thủ cạnh tranh mới, quay trở lại đối đầu trực tiếp với các “đấng sinh thành” ra nó. Điều này có nghĩa là bên cạnh nỗi chật vật phải đối phó với các đối thủ nội và ngoại hiện có, bốn đại gia trên lại còn thêm vất vả đối mặt với một đối thủ mới mà rất có thể là ghê gớm vì nó được thừa hưởng tất cả những yếu tố lợi thế được “di truyền” từ các doanh nghiệp bố mẹ. Tính bất trắc và xung đột lợi ích như thế này đương nhiên sẽ là điều không được bốn đại gia bán lẻ hoan nghênh nếu họ nhìn ra, thấy trước được vấn đề.


Giải pháp ổn thỏa duy nhất cho những vấn đề trên là bốn đại gia trên tự nguyện sáp nhập, hợp nhất với nhau tạo ra một “đại tập đoàn” bán lẻ mới hầu như không có đối thủ trong nước, và tha hồ rảnh tay đối phó với các tập đoàn bán lẻ nước ngoài. Nhưng giải pháp này chắc chắn là bất khả thi không chỉ vì khó có thể tìm tiếng nói chung giữa cả bốn bên và các cổ đông của họ trong vấn đề này, mà còn bởi luật pháp sẽ không cho phép sự hình thành của một tổ chức như vậy khi dẫn đến khả năng thâu tóm, lũng đoạn thị trường, hạn chế và triệt tiêu cạnh tranh.


Ngay cả với dự định tốt đẹp về thành lập siêu thị nông nghiệp mà đại diện VDA nêu ra cũng không có gì đảm bảo là sẽ xảy ra đúng như ý đồ, như tuyên bố. Với kiểu “một mình một chợ” nhờ quy mô lớn (nếu đúng như kế hoạch), đánh bại các doanh nghiệp phân phối nhỏ lẻ hơn trong ngành thì điều chắc chắn là giá bán trong siêu thị này sẽ là “đúng giá”, nhưng mà là giá của họ niêm yết, chứ không phải là giá trên thị trường khi có sự cạnh tranh giữa nhiều nhà cung cấp, phân phối! Và trong trường hợp này thì lại càng cần có sự tham gia của các nhà bán lẻ, phân phối ngoại để làm đối trọng với vị thế lũng đoạn thị trường của “tập đoàn” mới này.


Tóm lại, đề xuất các đại gia bán lẻ nội địa bắt tay với nhau để cho ra đời một “tập đoàn” bán lẻ quy mô lớn, đặc biệt là khi lôi kéo theo sự can thiệp của nhà nước, không chỉ tự thân là điều bất khả thi, thậm chí gây tác dụng ngược, mà còn không phải là giải pháp đối phó với sự cạnh tranh từ các nhà bán lẻ, phân phối nước ngoài.


(1)   http://cafef.vn/bon-dai-gia-viet-bat-tay-dau-voi-doanh-nghiep-ngoai-20170721071906953.chn

Friday, 28 July 2017

Nâng trần lãi suất USD lên bao nhiêu còn phụ thuộc nhiều yếu tố! (Bài đăng trên CafeF, 29/7/2017, bản gốc, tiêu đề do báo đặt lại)

http://cafef.vn/nang-tran-lai-suat-usd-len-bao-nhieu-con-phu-thuoc-nhieu-yeu-to-20170729111201022.chn

Thời gian qua Chính phủ đã đôi lần yêu cầu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nghiên cứu giải pháp phù hợp để huy động nguồn vốn vàng, ngoại tệ nhàn rỗi trong dân, để biến thành vốn đưa vào sản xuất, kinh doanh. Và mới tuần trước đây, trong buổi làm việc với NHNN, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng một lần nữa nhắc lại yêu cầu này.

Không rõ chủ trương hưởng ứng yêu cầu trên của NHNN ra sao, nhưng xem ra nếu hưởng ứng thì NHNN không có mấy lựa chọn, ngoài việc nâng trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ lên trên mức hiện tại là 0%/năm như đề xuất của một số chuyên gia. Nhưng đến đây thì lại có thêm sự chia rẽ trong giới chuyên gia khi người thì cho rằng cần nâng lên 0,5%/năm trong khi người khác thì đề xuất nâng lên tới 2-2,5%/năm.

Vậy đâu là cơ sở để quyết định một mức trần lãi suất tiền gửi USD phù hợp?

Để trả lởi câu hỏi này, điều trước tiên cần nhận thức rõ, khẳng định rõ với nhau rằng không có cái gọi là nguồn vốn vàng và ngoại tệ “nhàn rỗi” trong dân. Vì chủ đề của bài này là về USD nên ở đây chúng ta cũng chỉ nói đến USD và khẳng định lại là không có USD “nhàn rỗi” trong dân.

USD bản thân là tiền, thậm chí còn là đồng tiền có lợi thế hơn nhiều so với VND, vì USD không chỉ “tiêu” được ở Việt Nam mà còn trên phạm vi toàn thế giới. Nên, theo lý thuyết và cả thực tế, nó sẽ (dễ dàng) “chảy” đến chỗ nào, ở trong hoặc ngoài nước, mang lại lợi nhuận cao nhất cho chủ sở hữu. VND đã không “nhàn rỗi” thì càng không thể kỳ vọng USD sẽ “nhàn rỗi” được. Bởi vậy, dù là ở Việt Nam, bị khống chế bởi trần lãi suất tiền gửi 0%, nhưng chắc chắn không mấy người nắm giữ USD lại cam chịu gửi tiền vào ngân hàng để không được cái gì cả, vì họ dễ dàng và hoàn toàn có khả năng bắt số USD mình nắm giữ sinh lời.

Một trong những ví dụ minh họa cho lợi thế của USD và khả năng sinh lợi ở Việt Nam mà báo chí đã “phanh phui” là chuyện người nắm giữ USD sẽ gửi vào ngân hàng và dùng chứng chỉ tiền gửi này để thế chấp vay VND chính tại ngân hàng đó, với lãi suất ưu đãi, ví dụ là 5%/năm để rồi lại đem gửi chính số VND vào ngân hàng đó để hưởng lãi suất 7%/năm, tức là vẫn thu được lợi nhuận 2%/năm (tính theo lượng VND vay được) từ khoản nắm giữ USD của mình, mặc dù trên danh nghĩa khoản tiền gửi USD vào ngân hàng Việt Nam không hề có lãi.

Như vậy, điều có thể rút ra ở đây là không những USD không nằm “nhàn rỗi” trong dân ở cái nghĩa là không sinh lời, mà thậm chí đang sinh lời ở mức không hề tệ. Bởi là mức không hề tệ nên mới có chuyện ngân hàng Việt Nam hiện vẫn đang tiếp tục huy động được khá nhiều để cho vay bằng USD, dù rằng, xin được nhắc lại, lãi suất tiền gửi USD là 0%/năm, và dù rằng Mỹ đã và đang vẫn tiếp tục “lăm le” nâng lãi suất USD ở bản quốc.

Từ đây, để tiếp tục trả lời câu hỏi Việt Nam cần phải nâng trần lãi suất USD lên bao nhiêu thì phải làm rõ vấn đề khác là nhu cầu vay USD ở Việt Nam nhiều đến mức nào?

Nếu là khối doanh nghiệp thì hiện nay nhu cầu và đối tượng vay USD đang bị khống chế bởi Thông tư 24. Về phía Chính phủ, không rõ họ có hay không kế hoạch phát hành trái phiếu, tín phiếu bằng ngoại tệ trong nước như đã từng làm trước đây. Nếu không có thì có nghĩa là nhu cầu vay/huy động USD ở Việt Nam trong thời gian này sẽ không có biến động gì nhiều, nếu nhìn từ cả góc độ công lẫn tư. Điều này cũng có nghĩa là NHNN không cần phải nâng trần lãi suất USD, vì mọi việc vẫn diễn ra bình thường, như cũ!

Ngược lại, nếu khu vực doanh nghiệp được nới lỏng điều kiện vay vốn bằng USD, còn Chính phủ thì quay trở lại với kế hoạch phát hành trái phiếu ngoại tệ lên đến hàng tỷ USD thì lập tức nhu cầu USD trong nước sẽ tăng vọt. Ở mức trần lãi suất 0% hiện tại (hoặc lãi suất thực tế cao hơn, thu được từ những cách “lách” như trên) số USD huy động được sẽ chỉ là “muối bỏ bể” so với nhu cầu tăng vọt, buộc NHNN phải tính đến việc nâng trần lãi suất.

Trong bối cảnh trên, trần lãi suất không thể chỉ được nâng lên ở mức “gọi là”, kiểu như 0,5% hay 1%/năm được, mà phải ở mức cao hơn nhiều, tỷ lệ thuận với nhu cầu vay vốn USD. Đến một quy mô nào đó, mức lãi suất huy động USD mà ngân hàng thương mại cần chào mời để hấp dẫn tiền gửi USD trong nước thậm chí có thể trở nên còn cao hơn cả nếu họ huy động từ nước ngoài. Tương ứng với đó là trần lãi suất tiền gửi USD mà NHNN áp đặt cũng phải “nới” hết cỡ, và trở nên không còn cần thiết vì đằng nào thì ngân hàng thương mại cũng đi vay từ nước ngoài cho rẻ hơn là huy động trong nước.


Nhưng có lẽ ít có khả năng NHNN mạo hiểm nới lỏng quy chế cho vay bằng ngoại tệ vì quan ngại nó sẽ làm trầm trọng thêm nạn đô la hóa, vốn là một trong những nguyên nhân làm giảm tác dụng của chính sách tiền tệ và gây bất ổn vĩ mô. Vậy câu trả lời chỉ còn nằm ở chủ trương và động thái phát hành trái phiếu, tín phiếu bằng ngoại tệ trong nước của Chính phủ.

Và cũng cần lưu ý thêm rằng mặc dù trên danh nghĩa chi phí huy động USD chỉ là 0%/năm nhưng thực tế ngân hàng phải trả cho người gửi USD một lãi suất cao hơn nhiều (2% như trong ví dụ trên) để rồi lãi suất cho vay USD còn cao hơn thế nữa, có thể là 4% hoặc hơn. Trong bối cảnh này, Chính phủ nếu muốn phát hành trái phiếu, tín phiếu ngoại tệ trực tiếp cho ngân hàng thương mại thì họ cũng phải chào mời một lãi suất cạnh tranh, không thấp hơn quá nhiều so với lãi suất mà ngân hàng cho vay doanh nghiệp. Bởi vậy, cũng sẽ không có chuyện Chính phủ sẽ huy động được USD với lãi suất không tưởng, ví dụ 1%, 2%/năm, cho dù trần lãi suất tiền gửi 0% vẫn được bảo lưu.

Do đó, nếu cân nhắc kỹ thì có lẽ Chính phủ cũng không nên quá lạc quan với kênh huy động USD trong nước và, do đó, NHNN cũng không bị lâm vào tình thế khó xử với chính sách trần lãi suất hiện nay của chính mình.

Làm được nhưng phải đánh đổi (Bài đăng trên TBKTSG, 28/7/2017, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/162933/Lam-duoc-nhung-phai-danh-doi.html

Chỉ trong năm nay, Chính phủ đã hai lần yêu cầu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nghiên cứu giải pháp phù hợp để huy động nguồn vốn vàng, ngoại tệ nhàn rỗi trong dân, để biến thành vốn đưa vào sản xuất, kinh doanh. Tuần trước, trong buổi làm việc với NHNN, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng một lần nữa nhắc lại yêu cầu này.

Hiện tại, NHNN đã thiết lập trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ là 0% nên để tăng cường huy động ngoại tệ thì có nhiều ý kiến đề nghị NHNN phải nâng trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ này lên trên mức này.

Một vấn đề đặt ra là cần phải nâng trần lên bao nhiêu để vừa đảm bảo hấp dẫn người dân gửi пgoạі tệ vào ngân hàng, đồng thời không làm chi phí huy động trở nên quá cao, nhất là khi so với vay ngoại tệ của nước ngoài. Câu trả lời là tùy thuộc vào nhu cầu vay ngoại tệ của nền kinh tế.

Nếu cả Chính phủ và doanh nghiệp đều “tích cực” vay ngoại tệ thì buộc hệ thống ngân hàng phải chào mời một lãi suất tiền gửi ngoại tệ rất hấp dẫn mới mong huy động đủ ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu vay vốn của Chính phủ và doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là trần lãi suất huy động ngoại tệ sẽ phải được nâng lên không chỉ là 0,25%, 0,5% mà sẽ phải cao hơn, thậm chí là có thể tiệm cận với mức huy động từ quốc tế.

Như vậy, việc NHNN nâng trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ để tăng cường huy động ngoại tệ trong dân chúng nhằm mục đích cung ứng vốn ngoại tệ giá rẻ cho Chính phủ hoặc doanh nghiệp là tự thân mâu thuẫn. May ra thì chỉ có ai “nhanh tay” vay được ngoại tệ ngay khi trần lãi suất được nâng lên theo lộ trình, ví dụ, lên 0,25%/năm là được hưởng lợi lớn, trước khi nguồn ngoại tệ huy động được ở mức lãi suất này cạn kiệt, buộc NHNN phải tiếp tục nâng nó lên từ từ và tiếp tục cho đến khi lãi suất huy động trong nước bằng hoặc cao hơn so với quốc tế và người vay chuyển sang vay trên thị trường quốc tế cho... rẻ!

Quan trọng hơn, sẽ không thể phủ nhận rằng việc nâng trần lãi suất như vậy sẽ làm tăng mạnh tình trạng đô la hóa vì người dân sẽ chuyển hóa tài sản của mình sang ngoại tệ để hưởng lãi cao hơn trong khi vẫn bảo toàn giá trị tài sản của mình. Đô la hóa trầm trọng sẽ làm vô hiệu hóa tính hữu hiệu của chính sách tiền tệ, gây bất ổn cho tỷ giá, lãi suất và ổn định vĩ mô. Chính vì những lý do này mà NHNN trước đây đã phải áp đặt trần lãi suất 0%.

Nay, nếu NHNN nâng trần lãi suất lên chính là mở đường cho những bất ổn vĩ mô tràn vào.
Sự ổn định tương đối của tỷ giá trong thời gian qua một phần nhờ có chính sách trần lãi suất 0% của NHNN. Khi chính sách này được nới lỏng, các bất ổn vĩ mô lại trở thành vấn đề nóng chỉ còn là chuyện thời gian mà thôi.

Saturday, 22 July 2017

Những nội dung đáng chú ý trong Quyết định phê duyệt Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (Bài đăng trên CafeF, 22/7/2017)

http://cafef.vn/nhung-noi-dung-dang-chu-y-trong-quyet-dinh-phe-duyet-de-an-co-cau-lai-he-thong-cac-to-chuc-tin-dung-giai-doan-2-20170722135216845.chn

Tuần trước Chính phủ vừa ra Quyết định 1058/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020” (trong bài này gọi tắt là Quyết định). Quyết định này có một số nội dung quan trọng, đáng chú ý như sau.

Thứ nhất, Quyết định quy định Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cùng với Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng phương án tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ đến năm 2020 để đáp ứng đủ vốn theo chuẩn mực vốn của Basel II.
Với quy định trên, trong vòng mấy năm tới đây có lẽ sẽ hiếm khi còn tình trạng Bộ Tài chính “đòi” các ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước phải chia cổ tức như đã từng xảy ra vừa qua, mặc dù đã không nhận được sự đồng thuận từ các ngân hàng này với giải trình rằng họ cần bổ sung vốn từ lợi nhuận kinh doanh để đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu cao hơn. Tất nhiên là các ngân hàng thương mại này cũng có thể tiếp tục chia cổ tức cho cổ đông Nhà nước nếu họ “ăn nên làm ra”, lợi nhuận thu được vượt mức cần có để bổ sung vốn theo phương án được phê duyệt, nhưng điều này là không chắc chắn, tùy thuộc điều kiện thị trường.

Thứ hai, Quyết định quy định Bộ Tài chính phối hợp cùng các bộ, ngành và địa phương nghiên cứu, xây dựng lộ trình và bố trí nguồn xử lý các khoản nợ xấu liên quan đến nợ đọng xây dựng cơ bản có nguồn gốc từ ngân sách trung ương, địa phương và nợ xấu từ hoạt động cho vay theo chương trình dự án, chỉ định của Chính phủ, Thủ tướng, khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh.
Như vậy, Quyết định đã chính thức công nhận trách nhiệm của Nhà nước trong việc dùng ngân sách để xử lý nợ xấu, mặc dù trên nguyên tắc thì điều này không được phép theo Nghị quyết vừa qua của Quốc hội. Nói cách khác, Nghị quyết của Quốc hội liên quan đến điểm này cần được hiểu theo (và cần nhận được sự đồng thuận rộng rãi trong xã hội) rằng nợ xấu do ai/tổ chức nào tạo ra thì người/tổ chức đó chịu trách nhiệm, và Nhà nước sẽ phải/chỉ dùng ngân sách để xử lý nợ xấu nếu nợ xấu phát sinh bởi chính quyền.

Thứ ba, Bộ Tài chính cũng được giao trách nhiệm nghiên cứu, xây dựng khuôn khổ pháp lý cho hoạt động chứng khoán hóa các khoản nợ và chuyển đổi các khoản nợ xấu thành chứng khoán để giao dịch công khai, minh bạch vào thời điểm thích hợp.
Theo quy định này, có thể thấy việc xử lý nợ xấu sẽ được thúc đẩy nhanh hơn và hiệu quả hơn khi Chính phủ đã mở ra một kênh xử lý mới, bên cạnh các kênh xử lý nợ xấu truyền thống như bán tài sản thế chấp, hoán đổi vốn cho vay thành cổ phần, trích lập và dùng dự phòng để xử lý… Tuy việc xử lý nợ xấu qua kênh chứng khoán hóa này là mới mẻ, chưa từng có tiền lệ ở Việt Nam nhưng nó đã chứng tỏ tính hữu hiệu ở nhiều nước, mà điển hình mới đây là Ý nơi mà nợ xấu của một số ngân hàng yếu kém được chứng khoán hóa và chào bán ra thị trường với sự bảo lãnh phát hành của Chính phủ.

Thứ tư, Công an được quy định phối hợp, hỗ trợ các tổ chức tín dụng và VAMC, đảm bảo an ninh trật tự trong việc thu giữ, xử lý tài sản đảm bảo để thu nợ. Như vậy, một trong những điểm nghẽn của việc xử lý nợ xấu mà cụ thể là sự chây ì, chống đối của người có tài sản đảm bảo đã chính thức được khai thông nhờ sự can thiệp của chính quyền. Nói cách khác, tranh chấp dân sự liên quan đến nợ xấu đã trở nên mang tính cưỡng chế dưới sự đảm bảo của công lực.
Thứ năm, Bộ Tài nguyên Môi trường có trách nhiệm nghiên cứu, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý liên quan đến đăng ký điện tử về đất đai, trong đó có đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; xây dựng quy định và chỉ đạo thực hiện lộ trình cập nhật và công khai thông tin các giao dịch về quyền sử dụng đất đai, tài sản gắn liền với đất trên hệ thống thông tin điện tử của cơ quan tài nguyên và môi trường để các bên liên quan nắm bắt.

Nếu được thực hiện, quy định trên sẽ hạn chế những hành vi gian lận, phạm pháp điển hình liên quan đến thế chấp bất động sản và đất đai trong thời gian qua vốn là một trong những căn nguyên phát sinh nợ xấu. Ví dụ về những hành vi này có thể là cùng một mảnh đất hoặc bất động sản nhưng được thế chấp tại nhiều ngân hàng.
Quy định này còn có tác dụng trong những trường hợp ví dụ nhằm bảo vệ quyền lợi của người mua bất động sản hình thành trong tương lai khi chủ đầu tư đem thế chấp dự án để vay vốn ngân hàng nhưng vẫn tiến hành bán cho khách mà không cho biết tình hình thế chấp (và khách mua tiềm năng cũng không có cách gì để kiểm tra được tình trạng thế chấp này), dẫn đến rủi ro lớn cho khách mua trong tương lai khi chủ đầu tư không trả nợ cho ngân hàng. Hậu quả khác là làm nảy sinh tranh chấp giữa ngân hàng và khách hàng mua bất động sản sau này; trong trường hợp này ngân hàng cho vay chủ đầu tư có khả năng phải ôm một khoản nợ xấu vì tài sản thế chấp là dự án bất động sản đang có tranh chấp.

Friday, 21 July 2017

Tách bạch giấy đăng ký và giấy sở hữu ô tô (Bài đăng trên TBKTSG, 20/7/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/162676/Tach-bach-giay-dang-ky-va-giay-so-huu-o-to.html

Nhiều chủ ô tô mua trả góp trong thời gian qua đã gặp rắc rối vì bị cảnh sát phạt do không có giấy (chứng nhận) đăng ký xe bản gốc, bởi nó đang bị thế chấp tại ngân hàng cho vay mua ô tô trả góp.

Do đều có các điều luật liên quan quy định (và hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh thực tế) rằng bên ngân hàng cho vay trả góp mua ô tô được quyền giữ giấy đăng ký xe bản gốc (nếu chủ ô tô và ngân hàng có thỏa thuận như vậy), và rằng khi tham gia lưu thông thì người lái ô tô phải mang theo giấy đăng ký xe bản gốc, nên rõ ràng trong trường hợp này người mua trả góp ô tô bị mắc kẹt giữa hai bên, chịu hoàn toàn rủi ro bị cảnh sát giao thông phạt khi lái xe mà không xuất trình được giấy đăng ký xe bản gốc.

Để giải quyết ổn thỏa vấn đề này, và cùng với vấn đề pháp lý liên quan đến nghĩa vụ trả nợ ngân hàng của người chủ ô tô khi mua xe theo kiểu trả góp bằng vốn vay ngân hàng, Việt Nam cần nhanh chóng bổ sung thêm một loại giấy tờ pháp lý là giấy chứng nhận quyền sở hữu ô tô, vốn phổ biến ở rất nhiều nước trên thế giới và là loại giấy tờ có giá trị pháp lý tương tự như “sổ đỏ” dùng để chứng nhận quyền sở hữu trong bất động sản ở Việt Nam.

Giấy chứng nhận quyền sở hữu ô tô nói trên chứa thông tin về chủ xe cũng như thông tin về chiếc xe đó như ngày mua, số khung và biển số xe, hoặc thậm chí có thêm thông tin liên quan như xe này được mua mới hay cũ... Giấy này có thể do người chủ ô tô hay ngân hàng cho vay giữ, tùy thuộc vào địa phương (nước) và tùy thuộc loại hình vay mua trả góp ô tô. Nhưng thường thì trên thực tế giấy này sẽ do ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính cho vay trả góp mua ô tô nắm giữ trong suốt thời gian có hiệu lực của hợp đồng vay mua xe. Sau khi người chủ xe trả hết nợ, ngân hàng hoặc tổ chức tài chính sẽ tiến hành làm thủ tục xóa tên ngân hàng, tổ chức tài chính khỏi giấy chứng nhận quyền sở hữu này và gửi giấy chứng nhận này đến cho người chủ xe.

Điều khác biệt với trường hợp của giấy đăng ký xe đang nói đến ở Việt Nam là dù người chủ ô tô có hay không có giấy chứng nhận quyền sở hữu này thì người đó vẫn được điều khiển chiếc xe này một cách hoàn toàn hợp pháp chừng nào có giấy chứng nhận đăng ký xe (và các loại giấy tờ liên quan như giấy phép được quyền chạy xe, như ở một số nước), và tất nhiên là chừng nào người chủ xe vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng cho vay (để không bị khởi kiện, giữ xe).


Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng người chủ ô tô giữ bản (sao) chứng nhận này sẽ không có nghĩa là người chủ này hoàn toàn sở hữu, toàn quyền quyết định chiếc ô tô đó. Bất kể ai nắm giữ giấy chứng nhận này, nếu một người khác là đồng sở hữu và có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu thì người đó cũng có quyền với chiếc ô tô này. Người đồng sở hữu này không chỉ có thể là ngân hàng, tổ chức tài chính cho vay mua trả góp mà còn có thể là người cùng bỏ tiền ra mua ô tô hay thậm chí là một thành viên trong gia đình trước đây từng có quyền sở hữu chiếc ô tô đó.

Để loại bỏ những người đồng sở hữu này và trở thành người chủ duy nhất và có toàn quyền quyết định chiếc ô tô thì người chủ hiện tại cần phải lấy được chữ ký của những người đồng sở hữu vào một văn bản chứng nhận từ bỏ quyền (đồng) sở hữu chiếc xe (và những người đồng sở hữu này trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu cho người chủ hiện tại nếu họ đang nắm giữ).

Khi đã thanh toán nợ nần xong với ngân hàng, người chủ xe lại có thể tiếp tục dùng giấy chứng nhận quyền sở hữu này để làm tài sản thế chấp vay tiền tại ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính. Nếu không trả nợ đầy đủ, ngân hàng hoặc tổ chức tài chính có quyền thu giữ xe.

Như vậy, Việt Nam cần sớm sửa các điều luật hiện hành và ban hành những luật mới liên quan đến chứng nhận đăng ký ô tô, và chứng nhận quyền sở hữu ô tô. Theo đó, giấy chứng nhận đăng ký ô tô cần phải luôn được nắm giữ bởi người lái ô tô để khi bị cảnh sát giao thông hỏi đến thì không bị phạt vì thiếu giấy này. Còn ngân hàng cho vay mua ô tô trả góp, để đảm bảo “nắm được tóc” thì cần (và được quyền) nắm giữ giấy chứng nhận sở hữu ô tô với tư cách là đồng sở hữu được ghi ngay trên giấy này (cùng với những đồng sở hữu khác, nếu có). Khi chiếc xe được bán, thế chấp, người mua hoặc người nhận thế chấp sẽ nhận biết được tình trạng sở hữu của chiếc ô tô căn cứ vào giấy chứng nhận sở hữu này (nếu ngân hàng đã trả lại cho người chủ hiện tại) và các giấy tờ liên quan (như giấy chứng nhận từ bỏ quyền đồng sở hữu của ngân hàng sau khi món nợ đã được thanh toán đầy đủ).

Wednesday, 19 July 2017

Thêm trách nhiệm cho Ngân hàng Nhà nước (Bài đăng trên CafeF, 19/7/201)

http://cafef.vn/them-trach-nhiem-cho-ngan-hang-nha-nuoc-20170719110601781.chn

Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng, mới đây đã yêu cầu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có giải pháp hạ lãi suất, tăng cường cho vay các doanh nghiệp mới thành lập và doanh nghiệp khởi nghiệp, đồng thời có giải pháp huy động ngoại tệ thay vì gửi với lãi suất 0% để hòa vào các nguồn lực khác cho đầu tư. Kèm với đó, mục tiêu tăng trưởng tín dụng được đặt ra là 18%-20%, cao hơn mức 18% mà NHNN tuyên bố mới đây sau động thái hạ các lãi suất điều hành hôm 7/7 vừa qua.

Nhiều ý kiến cho rằng, những yêu cầu đặt ra với NHNN sẽ giúp doanh nghiệp và nền kinh tế “dễ thở hơn”, tuy nhiên với ngành ngân hàng thì khó lại thêm khó. Xoay quanh vấn đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với TS. Phan Minh Ngọc, một chuyên gia về kinh tế tài chính.

PV: Thưa ông, nhiệm vụ mà Chính phủ giao cho NHNN là điều hành chính sách phù hợp cùng mục tiêu tăng trưởng tín dụng 18-20% - cao hơn so với mục tiêu ban đầu NHNN đưa ra ở mức 18%, phải chăng điều này sẽ làm cho NHNN thêm gánh nặng?

TS. Phan Minh Ngọc: Đúng vậy. Có thể nói là trách nhiệm của NHNN lại càng trở nên nặng nề và khó khăn hơn. Bởi, một mặt, họ phải nới lỏng thêm chính sách tiền tệ để đảm bảo đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng cao hơn so với trước, trong khi đó vẫn phải đặt ưu tiên lên hàng đầu việc kiềm chế lạm phát dưới 5% trong năm nay, trong khi lạm phát trung bình nửa đầu năm đã đạt trên 4%. Sự thận trọng trước nhiệm vụ khó khăn này cũng được minh họa ngay ở động thái cắt giảm lãi suất điều hành rất khiêm tốn, chỉ 0,25 điểm phần trăm hôm 7/7, trong khi NHNN chủ trương ổn định tăng trưởng tín dụng ở mức 18%.

Nếu không muốn nới lỏng chính sách tiền tệ quá mức làm tăng áp lực lạm phát, NHNN buộc phải dùng đến giải pháp hành chính buộc các ngân hàng thương mại phải giảm lãi suất cho vay 0,5 đến 1 điểm phần trăm/năm. Nhưng trong việc này, do sự hỗ trợ của NHNN dưới dạng cung cấp vốn đầu vào cho hệ thống ngân hàng thương mại chỉ có hạn (hiện tại mới chỉ giảm 0,25 điểm phần trăm lãi suất điều hành) nên việc buộc các ngân hàng thương mại phải giảm lãi suất ở mức nhiều hơn mức giảm của NHNN sẽ làm ảnh hưởng trầm trọng đến doanh thu và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại.

Nhưng các ngân hàng vẫn phải tuân thủ theo mệnh lệnh của NHNN chứ?

Khi doanh thu và lợi nhuận của hệ thống ngân hàng thương mại tụt giảm sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng tái đầu tư, bổ sung vốn, củng cố tính an toàn của hệ thống, cũng như làm giảm mức độ nộp ngân sách thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp từ các ngân hàng.

Đó là chưa nói đến khả năng thực tế có thể xảy ra là các ngân hàng thương mại tuy một mặt sẽ chấp hành chỉ đạo cắt giảm lãi suất của NHNN, nhưng mặt khác lại thu hẹp cho vay trong những lĩnh vực mà NHNN chỉ đạo phải tăng cường cho vay, trong bối cảnh có sự thiếu vắng quy định bắt buộc các ngân hàng thương mại phải dành tối thiểu bao nhiêu phần trăm dư nợ cho một lĩnh vực, ngành cụ thể nào đó. Hoặc cũng có thể các ngân hàng thương mại sẽ lách chỉ đạo này bằng cách áp dụng các loại phí, lệ phí lên khách hàng doanh nghiệp và cá nhân vay vốn để bù đắp vào phần lãi suất bị cắt giảm theo chỉ đạo của NHNN.

Chính phủ yêu cầu các ngân hàng tăng cho vay với nhóm doanh nghiệp mới thành lập hoặc khởi nghiệp, đây là một chủ trương rất đúng đắn để hỗ trợ cho các doanh nghiệp, tiếp thêm sức mạnh cho họ. Về phía các ngân hàng liệu có vấn đề gì không thưa ông?

Với chỉ đạo của Chính phủ yêu cầu hệ thống ngân hàng tăng cường cho vay doanh nghiệp mới thành lập và doanh nghiệp khởi nghiệp, đây cũng là một khó khăn, thách thức lớn, đặc biệt với NHNN khi phải chỉ đạo và theo dõi việc cho vay của các ngân hàng thương mại.

Bởi các ngân hàng thương mại thường rất e dè cho các doanh nghiệp mới vay khi các doanh nghiệp này chưa hoặc mới bắt tay vào sản xuất, kinh doanh, chưa có lịch sử hoạt động và đủ thời gian để chứng tỏ năng lực, tính cạnh tranh, khả năng tồn tại, khả năng trả nợ v.v… Nếu không có các biện pháp hành chính, bắt buộc từ NHNN thì các ngân hàng thương mại sẽ luôn tìm cách giảm thiểu việc cho vay với những doanh nghiệp loại này.

Nhưng việc áp dụng biện pháp hành chính, bắt buộc của NHNN sẽ có khả năng được đối phó lại bởi các hành động lách quy định của ngân hàng thương mại như đối với trường hợp cắt giảm lãi suất cho vay đến một số lĩnh vực và ngành ưu tiên nói ở trên. Do đó, chủ trương tăng cường cho vay các doanh nghiệp mới và doanh nghiệp khởi nghiệp có thể sẽ không đạt được như ý muốn.

Chính phủ cũng chỉ đạo NHNN nghiên cứu biện pháp huy động ngoại tệ trong dân. Đối với việc này nhiều chuyên gia cho rằng sẽ khó khả thi vì lãi suất USD hiện nay bằng 0%. Còn ông nhận định thế nào?

Đối với chỉ đạo huy động ngoại tệ trong dân, đây cũng là một tình huống khó xử với NHNN. Chủ trương hạ lãi suất tiền gửi ngoại tệ về 0% trước đây là một động thái được cho là cần thiết để không chỉ giảm tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế mà còn có mục đích quan trọng là giảm áp lực lên ổn định tỉ giá và lạm phát.

Nay, với chỉ đạo mới của Chính phủ, NHNN có thể sẽ sớm phải nâng trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ lên trên 0%. Và cái khó thêm ở đây là nếu chỉ nâng trần này lên ở mức “gọi là”, ví dụ, 0,25%/năm, thì mức này vẫn là chưa đủ để hấp dẫn người dân gửi ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng, và tức là lượng ngoại tệ huy động qua kênh này sẽ hạn hẹp. Nhưng nếu nâng trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ lên cao quá thì lại có rủi ro không chỉ là làm trầm trọng thêm nạn đô la hóa cũng như đe dọa sự ổn định của tỉ giá, mà còn làm cho chi phí huy động qua kênh phát hành trái phiếu ngoại tệ của Chính phủ (thông qua hệ thống ngân hàng) trở nên đắt đỏ hơn, không rẻ hơn nhiều so với nếu huy động từ nước ngoài.

Tóm lại, với các yêu cầu mới, ông cho rằng trách nhiệm của NHNN sẽ nặng nề và khó khăn hơn?

Đúng vậy. Trách nhiệm của NHNN trong thời gian tới sẽ trở nên nặng nề và khó khăn hơn nhiều khi họ trở thành chủ thể chính trong việc thúc đẩy tăng trưởng nhưng vẫn phải đảm bảo ổn định vĩ mô và an toàn hệ thống ngân hàng. Trong bối cảnh này, có lẽ NHNN buộc phải thực thi các chính sách “dò và tiến” vừa để Chính phủ thấy nỗ lực của mình đồng thời không làm tăng thêm đáng kể các rủi ro cho nền kinh tế.

Giảm lãi suất quan trọng thế nào? (Bài đăng trên Doanh nhân Sài Gòn, 19/7/2017)

http://www.doanhnhansaigon.vn/van-de/giam-lai-suat-quan-trong-the-nao/1204083/

Sáng 18/7, dẫn đầu đoàn kiểm tra Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về tình hình thực hiện các nhiệm vụ được Chính phủ và Thủ tướng giao, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Tổ trưởng Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ Mai Tiến Dũng đã truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng yêu cầu NHNN hạ lãi suất. Theo Bộ trưởng Dũng: “Tính toán phác thảo, dư nợ tín dụng của Việt Nam khoảng trên 5 triệu tỷ đồng, nếu giảm lãi suất 1% thì các DN dành được 50.000 tỷ đồng, cứ tính 5 đồng vốn 1 đồng lãi thì chúng ta đã có 10.000 tỷ đồng, riêng tiền thuế thu nhập DN đã có 2.000 tỷ đồng và giúp tăng 0,25% GDP. Hay nợ công trong nước hiện khoảng 1 triệu tỷ đồng, nếu giảm lãi suất 1% thì tiết kiệm từ ngân sách khoảng 10.000 tỷ đồng”. 


Nói thêm về tầm quan trọng của việc hạ lãi suất, Bộ trưởng Dũng cho biết nợ công hiện nay khoảng 1 triệu tỉ đồng. Theo Bộ trưởng thì nếu lãi suất cho vay giảm 1%/ năm thì "chúng ta tiết kiệm được cho ngân sách nhà nước 10.000 tỉ đồng", là một khoản bù đắp đầu tư phát triển rất tốt”. 
Những con số nêu trên dường như cho thấy dù chỉ giảm ở mức độ khiêm tốn là 0,5 đến 1 điểm phần trăm thì việc hạ lãi suất vẫn sẽ rất có ý nghĩa cho nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, nếu phân tích sâu hơn một chút thì thấy có một số bất hợp lý trong những con số nếu trên. 
Thứ nhất, với dư nợ tín dụng của Việt Nam trên 5 triệu tỷ đồng thì đúng là nếu giảm lãi suất 1 điểm phần trăm tính trên 5 triệu tỷ đồng, sẽ giảm được 50.000 tỷ đồng tiền lãi nền kinh tế phải trả cho hệ thống ngân hàng thương mại hàng năm. Tuy nhiên, 5 triệu tỷ đồng dư nợ tín dụng này là con số cộng dồn dư nợ từ trước đến nay (và vẫn còn hiệu lực đến hiện tại). Và 5 triệu tỷ đồng này có nhiều kỳ hạn khác nhau, với nhiều mức lãi suất khác nhau, khó có thể cắt giảm theo kiểu “hồi tố” được, vì đã thể hiện và cam kết trong hợp đồng cho vay giữa ngân hàng với người vay. Nếu buộc ngân hàng phải tự nguyện cắt giảm theo kiểu hồi tố thì điều này có nghĩa là làm thiệt hại một cách bất công cho ngân hàng bởi họ cho vay với lãi suất cao thì cũng phải huy động với lãi suất cao. Vậy, 50.000 tỷ đồng mà doanh nghiệp và cá nhân vay vốn ngân hàng được hưởng lợi cũng chính là khoản thua lỗ mà các ngân hàng sẽ phải gánh chịu.
Chưa hết, lợi nhuận ngân hàng giảm sẽ dẫn đến hàng loạt hệ lụy lên tăng trưởng và ổn định vĩ mô như không có nguồn bổ sung, củng cố vốn an toàn tối thiểu nên làm tăng rủi ro đổ vỡ hệ thống; thiếu hụt nguồn vốn cho vay kết hợp với tỷ lệ an toàn vốn không được cải thiện sẽ làm cho tăng trưởng tín dụng cho nền kinh tế bị co hẹp lại; và phần trích nộp ngân sách dưới dạng thuế thu nhập doanh nghiệp và phân chia lợi nhuận cổ đông (với các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước) cũng bị suy giảm theo làm tăng thâm hụt ngân sách, giảm chi tiêu công và kích cầu, từ đó lại dẫn đến giảm tăng trưởng kinh tế…    


Giả sử việc cắt giảm lãi suất cho vay chỉ diễn ra với những khoản cho vay mới từ thời điểm này trở đi. Vì dư nợ cho vay mới chỉ là một phần của con số 5 triệu tỷ đồng trên (18%-20%, là tốc độ tăng trưởng tín dụng mục tiêu cho năm nay), con số “tiết kiệm” được, không phải trả lãi cho các ngân hàng cũng sẽ chỉ là một phần của con số 50.000 tỷ đồng nói trên (chính xác là 9-10.000 tỷ đồng), không lớn như tuyên bố. Đó là chưa kể việc “tiết kiệm” này cũng vẫn chính là phần lợi nhuận mà ngân hàng phải “cắt máu” cho doanh nghiệp và cá nhân vay vốn, và cũng sẽ mang lại những hệ lụy cho tăng trưởng và ổn định như phân tích ở trên.
Thứ hai, giả sử cứ đầu tư 5 đồng thì thu được 1 đồng lãi, đúng như Bộ trưởng Dũng phát biểu thì từ 9-10.000 tỷ đồng “tiết kiệm” được như tính toán ở trên, “chúng ta” sẽ thu thêm được gần 2.000 tỷ đồng lãi. Trong số này, tiền thuế thu nhập doanh nghiệp thu được sẽ là 400 tỷ đồng (20% lợi nhuận), chứ không phải là 2.000 tỷ đồng như công bố của Bộ trưởng. Và xin nhắc lại là “chúng ta” thu thêm được 2.000 tỷ đồng tiền lãi và ngân sách thu thêm được 400 tỷ đồng thuế thu nhập nhưng thực chất những con số này sẽ bị ghi giảm trừ từ phần đóng góp của hệ thống ngân hàng thương mại do đã phải hy sinh lợi nhuận cho phần còn lại của nền kinh tế.


Thứ ba, Bộ trưởng Dũng nói 2.000 tỷ đồng thuế thu nhập doanh nghiệp làm tăng 0,25% GDP. Nhưng lưu ý rằng GDP theo giá thực tế hiện là trên 5 triệu tỷ đồng. Con số 2.000 tỷ đồng này chỉ tương đương chưa đến 0,04% GDP mà thôi.
Thứ tư, về nợ công mà theo công bố trên là 1 triệu tỷ đồng. Cũng tương tự như đã phân tích, đây là dư nợ đến thời điểm hiện tại với kỳ hạn và lãi suất đã ấn định xong xuôi, không thể hồi tố được. Nên dù lãi suất huy động cho trái phiếu Chính phủ có giảm 1 điểm phần trăm thì không có nghĩa là ngân sách tiết kiệm được 10.000 tỷ đồng như trong lập luận của bộ trưởng. Có chăng, chỉ các khoản vay nợ công mới (kể cả để đảo nợ) từ nay trở đi mới được hưởng lãi suất thấp hơn này. Nhưng những khoản vay mới này cũng sẽ chỉ là một phần nhỏ của con số 1 triệu tỷ đồng nợ công hiện tại. Nói cách khác, giảm lãi suất 1 điểm phần trăm sẽ chỉ có tác dụng khiêm tốn hơn rất nhiều so với con số ước tính trên.


Và cũng không thể không nhắc lại một lần nữa rằng giảm được gánh nặng nợ công nhờ giảm lãi suất sẽ đi kèm với cái giá phải trả là phần nộp ngân sách từ hệ thống ngân hàng sẽ bị co hẹp lại tương ứng, chưa kể đến các hệ lụy đến tăng trưởng và ổn định vĩ mô như đã chỉ ra ở trên.
Tóm lại, việc cắt giảm lãi suất nếu không có giải pháp đi kèm để không làm thiệt hại đến doanh thu và lợi nhuận của hệ thống ngân hàng thì sẽ không những không có (mấy) tác dụng mà thậm chí còn làm tổn hại đến tăng trưởng và ổn định vĩ mô.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).