Saturday, 24 September 2016

Bài học từ việc công bố thông tin DNNN (Bài đăng trên TBKTSG, 24/9/2016)

http://www.thesaigontimes.vn/151676/Bai-hoc-tu-viec-cong-bo-thong-tin-DNNN.html

Bộ Tài chính đang đưa ra lấy ý kiến góp ý nội dung dự thảo Nghị định về báo cáo tài chính nhà nước. Đây là điều đáng mừng vì từ trước đến nay ngân sách nhà nước, đặc biệt là ngân sách địa phương, thường ít được công khai minh bạch.

Tuy nhiên, cũng giống như nhiều luật lệ và quy định khác ở Việt Nam, điều đáng quan tâm nhất không phải là thiếu luật mà là khả năng thực thi những điều luật đã được ban hành đến đâu.

Nhìn lại sự vi phạm Nghị định 81
Cách đây đúng một năm, ngày 18-9-2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định 81/2015/NĐ-CP về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Nghị định này cũng quy định rất rõ ràng và chi tiết trách nhiệm của các đối tượng gồm cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước, DNNN, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến công bố thông tin của DNNN, và một số doanh nghiệp cụ thể khác, trong việc công bố các thông tin về hầu hết các mặt liên quan đến doanh nghiệp, từ chiến lược và kế hoạch phát triển đến tình hình sản xuất kinh doanh và quản trị...

Nghị định 81 cũng quy định trách nhiệm về tổ chức thực hiện công bố thông tin của các DNNN và của cả các cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước cũng như của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT). Theo đó, cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm đôn đốc, giám sát, kiểm tra, thanh tra các nội dung về công bố thông tin của doanh nghiệp theo quy định tại nghị định này; không thực hiện việc đăng tải công khai, kịp thời trên cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan về các thông tin công bố định kỳ và bất thường của doanh nghiệp do mình quản lý.

Trên thực tế, Nghị định 81 đã hầu như bị phớt lờ và lãng quên.

Bằng chứng là, Bộ KH&ĐT vừa tiếp tục gửi yêu cầu tới các bộ, ngành, địa phương, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước để đốc thúc việc thực hiện công bố thông tin của DNNN. Đây đã là lần thứ hai trong năm 2016 Bộ KH&ĐT thực hiện việc đốc thúc này. Trước đó, vào cuối tháng 2-2016, Bộ KH&ĐT đã nhắc nhở các đơn vị trên về việc phải hoàn thành công bố thông tin DNNN và gửi về bộ trước ngày 15-3-2016. Nhưng, theo Bộ KH&ĐT, tính tới hết tháng 7-2016, mới có 7/22 bộ ngành, 14/63 địa phương và 16/30 tập đoàn, tổng công ty nhà nước thực hiện công bố thông tin của DNNN theo yêu cầu.

Khi vi phạm các quy định trong Nghị định 81 thì người quản lý DNNN sẽ bị cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước hạ bậc lương, buộc thôi việc, hoặc kiến nghị xử lý hình sự. Thế nhưng, đến nay, chưa có người quản lý tại một DNNN nào bị xử lý theo Nghị định 81 này. Nguyên nhân một phần nằm ở phía các cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước. Họ đã cố tình phớt lờ nghị định này, không nhắc nhở và xử phạt các DNNN thuộc quản lý của mình.
Cũng có phần trách nhiệm của bản thân Bộ KH&ĐT cũng như Chính phủ. Với Bộ KH&ĐT, trước tình hình vi phạm tràn lan như vậy thì, với tư cách là đầu mối theo dõi, đôn đốc và báo cáo Thủ tướng Chính phủ, họ phải kiến nghị Chính phủ xử lý những cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước, bao gồm các bộ trong Chính phủ và UBND các địa phương đã vi phạm Nghị định 81, chứ không phải là nhắc nhở rồi... nhắc nhở lại! Về phía Chính phủ, không thể nói rằng Chính phủ không hay biết gì về tình trạng không tuân thủ pháp luật của ngay các cơ quan quản lý ở trung ương như vậy. Vậy mà đã không một cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước nào bị Chính phủ xử lý kỷ luật vì đã không tuân thủ Nghị định 81 do chính mình ban hành!

Nói cách khác, sự vi phạm Nghị định 81 phản ánh rõ sự yếu kém mang tính hệ thống trong việc thực thi pháp luật ở Việt Nam.

Dự thảo nghị định mới quy trách nhiệm còn sơ sài hơn
Trở lại với dự thảo nghị định đề cập ở phần đầu bài. Nội dung các điều khoản tương đối rõ ràng và chi tiết ở một số điều khoản. Nhưng điều đáng lưu tâm nhất là các điều khoản về trách nhiệm thi hành và xử lý vi phạm trong dự thảo nghị định này thậm chí còn sơ sài và thiếu hụt hơn cả Nghị định 81.

Các đối tượng thi hành dự thảo này được quy định là “có trách nhiệm” trong việc xyz, nhưng là với ai, như thế nào, và bị xử lý ra sao khi cái “trách nhiệm” của họ không phải là cái “trách nhiệm” mà dự thảo nghị định này mong muốn... thì lại không được đề cập. Chưa kể, dự thảo nghị định này đã không đề cập đến vai trò và trách nhiệm của Chính phủ, người cuối cùng chịu trách nhiệm xử lý các vi phạm ở các bộ và cơ quan chức năng trực thuộc, trong khi Nghị định 81 ít nhiều thì cũng đã có đề cập đến.

Dự thảo nghị định trên cần đưa thêm các điều khoản quy định rõ trách nhiệm và xử lý vi phạm của người đứng đầu những cơ quan và tổ chức liên đới ở mọi cấp thuộc phạm vi điều chỉnh của dự thảo, kể cả Chính phủ, thì mới mong phần nào tránh được tình trạng “đánh trống bỏ dùi”, tức, nói nôm na, quy định là một chuyện nhưng thực thi lại là một chuyện khác, ở Việt Nam.

Friday, 23 September 2016

Có dùng ngân sách cũng không xử lý được nợ xấu (Bài đăng trên CafeF, 24/9/2016)

http://cafef.vn/co-dung-ngan-sach-cung-khong-xu-ly-duoc-no-xau-20160924091750669.chn

Vấn đề có nên dùng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu hay không vẫn đang được tranh luận mà chưa thấy điểm kết. Cho đến nay, nhiều người vẫn cho rằng để xử lý nợ xấu một cách hữu hiệu thì cần phải dùng “tiền tươi” (chứ không phải trái phiếu như giấy của VAMC).

Lý do là, khi dùng ngân sách cấp cho VAMC thì VAMC sẽ có tiền tươi để mua đứt bán đoạn nợ xấu với tổ chức tín dụng (TCTD) theo giá trị thực chứ không phải giá trị sổ sách. Nhờ thế mà các TCTD sẵn lòng bán bớt nợ xấu cho VAMC để thu tiền tươi (còn hơn là nhận về từ VAMC một mớ giấy trái phiếu VAMC với giá trị cao hơn, bằng giá trị sổ sách). Còn VAMC do mua được món hời (với giá thực tế, thấp hơn giá sổ sách) sẽ dễ dàng tìm được nhà đầu tư bán lại món nợ xấu đã mua này với giá cao hơn giá mà VAMC đã trả cho TCTD bằng tiền tươi. Kết quả là TCTD thì thoát được nợ xấu nên có điều kiện giảm lãi suất cho vay, còn VAMC thì thu lãi từ việc “buôn” nợ xấu này, nên ngân sách không những thu hồi được khoản đã rót vào VAMC để mua nợ xấu mà còn thu được lợi nhuận từ bán lại nợ xấu thông qua VAMC.

Tuy nhiên, lập luận như trên được dựa trên tiền đề là VAMC có thể tìm được và dễ dàng bán lại những khoản nợ xấu mua từ TCTD bằng tiền tươi. Nhưng lưu ý, đây chính là điểm nghẽn hiện tại với VAMC vì họ bị trói tay bởi đủ những khó khăn về pháp lý, từ chuyện thanh lý các tài sản thế chấp đến chuyện nhà đầu tư nước ngoài không được phép tham gia mua bán, sở hữu nợ xấu, tài sản thế chấp là bất động sản, và chuyện chưa có thị trường mua bán nợ xấu đúng nghĩa ở Việt Nam...

Bởi vậy, dù VAMC có được rót vốn từ ngân sách để mua nợ xấu bằng tiền tươi thì nợ xấu mua về rốt cuộc vẫn cũng sẽ bị mắc kẹt ở VAMC mà không dễ bề giải thoát được, cũng chẳng khác gì khi VAMC mua nợ xấu bằng trái phiếu của mình.

Nói cách khác, điều kiện tiên quyết để giải quyết nợ xấu ở Việt Nam là phải giải phóng những ách tắc mà VAMC hiện đang phải đối mặt trong việc xử lý nợ xấu mua về, chứ không phải là VAMC mua nợ xấu bằng gì (tiền tươi hay trái phiếu), và cũng không phải là VAMC lấy tiền đâu (phát hành trái phiếu doanh nghiệp VAMC hay vay, rút từ ngân sách) để mua nợ xấu.

Chủ trương dùng ngân sách để xử lý nợ xấu còn dựa vào lý do là ngân sách vẫn đang được dùng một cách gián tiếp để xử lý nợ xấu nên tiếp tục dùng thì cũng không sai/không sao. Nhưng cần lưu ý rằng từ trước đến nay không một cơ quan có thẩm quyền nào ra văn bản pháp luật công khai cho phép dùng ngân sách nhà nước xử lý nợ xấu. Nên dù đúng là có chuyện ngân sách bị sử dụng một cách bí mật hay trá hình dưới hình thức này hay hình thức kia liên quan đến nợ xấu thì điều này cần phải được nhìn nhận một cách rõ ràng là bất hợp pháp, hay đúng theo nghĩa là “bí mật” và “trá hình”, và càng không phải là cơ sở (pháp lý và thực tế) để kêu gọi/phê chuẩn dùng ngân sách xử lý nợ xấu một cách chính thức.

Và thực tế là có cơ quan chức năng nào đó đã gián tiếp dùng ngân sách để xử lý nợ xấu nhưng họ chưa bao giờ công khai thừa nhận điều này, luôn chỉ nói là không dùng đến ngân sách.

Ngoài ra, dùng ngân sách để xử lý được nợ xấu còn được cho là sẽ làm hạ lãi suất, từ đó làm lợi cho người dân, doanh nghiệp, ngân hàng, và cuối cùng là ngân sách. Nhưng đây chỉ là kịch bản lý tưởng hóa. Việc này cũng tương tự như tin rằng rót vốn ngân sách cho một doanh nghiệp nhà nước để đầu tư vào ngành (mũi nhọn) nào đó ắt sẽ thành công, thu được lợi nhuận lớn, nộp lãi ngược trở lại vào ngân sách, nên việc rót vốn vào doanh nghiệp nhà nước như vậy là rất nên làm. Có quá nhiều bất trắc trên con đường dài bắt đầu từ ngân sách qua VAMC đến ngân hàng qua doanh nghiệp và cá nhân rồi mới kết thúc ở ngân sách, mà chỉ cần một trục trặc ở một khâu nào đó thì kết quả hầu như sẽ là tiền đi từ ngân sách rồi... mất hút!

Và cuối cùng, dùng ngân sách để xử lý nợ xấu được cho là thúc đẩy tăng trưởng GDP, tăng trưởng thu nhập và nộp ngân sách (nhờ giảm được lãi suất). Cũng tương tự như trên, điều này cũng chỉ là kịch bản lý tưởng hóa, vì cũng có quá nhiều bất trắc trên con đường dài từ ngân sách đến nền kinh tế, thông qua VAMC và hệ thống ngân hàng, rồi lại quay trở lại ngân sách. Mấu chốt, và nguyên tắc làm ăn kinh tế, là khi “thả con săn sắt” mà không chắc “bắt được con cá rô” thì tốt nhất là phải nghĩ lại hai hay nhiều lần trước khi quyết định thả “con săn sắt” ra.

Tóm lại, sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu vừa không phải là liều thuốc đúng đắn cho căn bệnh nợ xấu, vừa có khả năng gây thất thoát, lãng phí ngân sách một cách vô ích, không thu hồi được.

Yếu tố chính chi phối biến động tỷ giá trong thời gian tới (Bài đăng trên CafeF, 23/9/2016)

http://cafef.vn/yeu-to-chinh-chi-phoi-bien-dong-ty-gia-trong-thoi-gian-toi-la-gi-20160923084603325.chn


Yếu tố chính chi phối biến động tỷ giá trong thời gian tới

Mấy ngày gần đây tỷ giá tiền đồng có xu hướng tăng (tiền đồng giảm giá), tuy nhiên ở mức độ không đáng kể như trong những đợt biến động tỷ giá trước đây. Bình luận về sự ổn định tương đối của tỷ giá trong suốt thời gian dài từ đầu năm đến nay, nhiều người cho rằng sự ổn định tương đối này là kết quả của nhiều yếu tố tích cực như: (i) Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mở rộng phát hành tín phiếu ngắn hạn để hút bớt tiền đồng được tung ra mua USD bổ sung vào quỹ dự trữ ngoại hối (theo báo chí thì NHNN đã mua 10-12 tỷ USD), (ii) thặng dư thương mại, (iii) FDI tăng khá, và (iv) kiều hối tăng mạnh v.v...


Nhưng có một yếu tố rất quan trọng mà nhiều người đã bỏ qua khi phân tích các yếu tố có tác động lên chiều hướng của tỷ giá trong thời gian qua và sắp tới. Đó là chuyện Fed tăng lãi suất.


Nhìn lại diễn biến của USD trong tương quan với một rổ ngoại tệ (gọi là chỉ số dollar, hay dollar index) như dưới đây ta sẽ rõ hơn lý do tại sao tiền đồng lại chịu áp lực mất giá mạnh suốt giữa năm 2014 cho đến cuối năm 2015.



Về khái niệm, dollar index là một chỉ số phản ánh giá trị tương đối của USD so với một rổ ngoại tệ là các đồng bản tệ của các nước đối tác thương mại của Mỹ. Rổ ngoại tệ này gồm euro, yen, bảng Anh, dollar Canada, krona Thụy Điển, và franc Thụy Sĩ. Nếu chỉ số này đi lên có nghĩa là USD có giá hơn (tăng giá) so với các ngoại tệ này.


Trở lại với đồ thị về chỉ số dollar giao ngay ở trên, ta thấy USD bắt đầu “ngóc đầu” tăng giá mạnh một mạch kể từ tháng 7 năm 2014, đạt đỉnh điểm trong suốt 11 năm trước đó vào tháng 3 năm 2015, được hậu thuẫn chủ yếu bởi nền kinh tế Mỹ đã tăng trưởng khả quan hơn phần lớn các nước và khu vực kinh tế chủ chốt khác, cũng như lãi suất ở Mỹ cũng cao hơn tương đối so với ở các nước phát triển khác.   


Sau đó, USD lại có bước nhảy vọt về giá trị so với các ngoại tệ khác trong quý 4 năm 2015 khi Fed rục rịch chuẩn bị tăng lãi suất ở Mỹ và cuối cùng là quyết định tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm vào giữa tháng 12/2015 sau gần 1 thập kỷ không tăng lãi suất.


Không hề ngẫu nhiên, trong cùng thời gian biến động mạnh về giá trị của USD so với các ngoại tệ chủ chốt trên thế giới, tiền đồng cũng chao đảo mạnh theo hướng mất giá so với USD, như được thể hiện trong biểu đồ tỷ giá VND/USD dưới đây.


 

 Theo đồ thị trên, VND cũng mất giá mạnh và liên tục so với USD bắt đầu kể từ gần giữa năm 2014 trước khi tìm được điểm tạm ngừng rơi vào đầu năm 2016. Sau đó, tiền đồng đạt được sự ổn định tương đối so với USD cho đến hiện nay. Nhưng điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi đối chiếu với đồ thị về chỉ số dollar ở trên, theo đó USD cũng có xu hướng suy yếu dần so với các ngoại tệ khác kể từ sau khi đạt đỉnh vào tháng 12/2015 và chạm đáy vào tháng 5 năm nay. Và tuy USD có “gượng dậy” đôi phần kể từ sau tháng 5 cho đến hiện tại thì nó vẫn đứng ở mức thấp so với trước đây.


Như thế, có thể nói rằng một trong những yếu tố quan trọng nhất giúp cho tỷ giá VND/USD tương đối ổn định từ đầu năm đến nay là sự “hụt hơi” của USD so với các ngoại tệ chủ chốt, từ đó làm giảm áp lực phá giá, mất giá của tiền đồng.


Về mối liên hệ giữa việc suy yếu của USD so với các ngoại tệ khác và sự ổn định tương đối của tỷ giá, có thể giải thích như sau. Do VND có xu hướng được neo vào USD (biến động trong phạm vi hẹp, kể cả sau khi NHNN áp dụng cơ chế tỷ giá trung tâm), nên khi USD mất giá so với các ngoại tệ khác thì VND cũng bị suy yếu tương ứng. Do VND suy yếu so với các ngoại tệ khác nên không bị áp lực phải phá giá VND để thúc đẩy xuất khẩu và bảo vệ thị trường trong nước trước hàng nhập khẩu, trái ngược với bối cảnh khi USD lên giá và VND cũng lên giá “ăn theo” so với các đồng bản tệ khác, làm suy yếu tính cạnh tranh của hàng hóa của Việt Nam.  


Từ phân tích trên, điều rút ra là diễn biến của tỷ giá VND/USD từ nay đến hết năm và sang năm sau nữa là như thế nào thì sẽ phụ thuộc nhiều vào động thái với lãi suất ở Mỹ của Fed. Nếu Fed quyết định tăng lãi suất ngay trong tháng này, quý này thì chắc chắn tỷ giá VND sẽ không còn được ổn định như hiện giờ, bất chấp những yếu tố tích cực mà nhiều người đã liệt kê như ở phần đầu bài đã nêu. Có chăng, những yếu tố tích cực đó chỉ giúp làm giảm phần nào cơn sốc lên tỷ giá VND/USD từ việc Fed quyết định tăng lãi suất ở Mỹ mà thôi!

Thursday, 22 September 2016

Chặn cho vay tuần hoàn, TCTD sẽ phải từ bỏ một loạt các nghiệp vụ? (Bài đăng trên CafeF, 22/9/2016)

http://cafef.vn/chan-cho-vay-tuan-hoan-tctd-se-phai-tu-bo-mot-loat-cac-nghiep-vu-20160922080245934.chn

Ngày 16/9/2016, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành công văn số 6960/NHNN-TTGSNH yêu cầu các tổ chức tín dụng dừng thực hiện việc cho vay mới trả nợ trước hạn và/hoặc cấp tín dụng theo hình thức cho vay tuần hoàn (rollover) tại tổ chức tín dụng đúng theo nội dung chỉ đạo tại công văn số 7059/NHNN-TTGSNH ngày 26/9/2014.

Theo đó, các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thực hiện thu hồi toàn bộ nợ gốc và lãi khi hết thời hạn cho vay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng với khách hàng, không được tái tục toàn bộ hoặc một phần khoản nợ gốc đã cho vay.

Lý do của việc ban hành công văn trên được cho là do việc cho vay tuần hoàn có thể khiến vùng nhận diện nợ xấu, việc phân loại tài sản và trích lập dự phòng của các ngân hàng có phần không trung thực hoặc không đầy đủ, theo các quy định mới mà Ngân hàng Nhà nước ban hành những năm gần đây, dẫn đến chất lượng tín dụng và tình hình doanh nghiệp vay vốn có thể không được phản ánh chính xác.

Quan ngại trên hoàn toàn là hợp lý nếu nhìn từ góc độ nhiều ngân hàng dùng thủ thuật cho vay đảo nợ, tức cho vay mới để trả nợ cũ, để tạo nên một hồ sơ tín dụng đẹp với tăng trưởng tín dụng cao và tỷ lệ nợ xấu thấp. Bởi thế, ngăn chặn việc dùng thủ thuật này là một điều bắt buộc phải làm đối với cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ, trong trường hợp này là Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Và nếu NHNN ban hành quy định cấm cho vay mới trả nợ trước hạn (tức đảo nợ) như nói ở trên thì quyết định này là hợp lý.

Tuy nhiên, quyết định cấm trên còn liên quan đến việc cấp tín dụng theo hình thức cho vay tuần hoàn. Nói cách khác, dường như nghiệp vụ cho vay tuần hoàn đã được hiểu như một dạng thức cho vay để đảo nợ để rồi từ đó mới có lý do cần thiết chặn các ngân hàng cấp các khoản tín dụng tuần hoàn (revolving loans). Nếu đúng vậy thì cần hiểu rằng cho vay tuần hoàn về khái niệm và bản chất là khác với cho vay đảo nợ.

Về khái niệm, một khoản cho vay tuần hoàn cho phép người vay rút tiền vay và/hoặc tiêu bất cứ lúc nào có nhu cầu, trong phạm vi một hạn mức tín dụng tối đa được ngân hàng cấp cho người vay. Một khi người vay đã trả đầy đủ số tiền gốc, lãi và các loại phí phát sinh từ hình thức cho vay này thì người vay này tiếp tục được quyền tiếp tục rút/tiêu tiền trong hạn mức tín dụng như trước.

Khoản cho vay tuần hoàn rất hữu dụng với cá nhân hoặc công ty thường xuyên đối mặt với biến động lớn về số dư tiền mặt có trong tay hoặc các khoản phải chi bất thường. Vì tính tiện dụng và linh hoạt nên các khoản cho vay tuần hoàn thường có lãi suất biến động (có thể điều chỉnh được) và cao hơn so với các khoản cho vay có thời hạn cố định. Thẻ tín dụng và thấu chi là hai ví dụ điển hình trong số những loại hình cho vay tuần hoàn.

Như vậy, có thể nói rằng nếu yêu cầu các tổ chức tín dụng dừng cấp tín dụng theo hình thức cho vay tuần hoàn thì việc này vô hình trung cũng tương tự như việc yêu cầu các tổ chức tín dụng từ bỏ các nghiệp vụ như thẻ tín dụng và thấu chi và những nghiệp vụ tương tự, là những nghiệp vụ không thể thiếu trong hoạt động ngân hàng cả truyền thống và hiện đại, cả trong nước và quốc tế.

Về nguyên tắc, một khi khách hàng vay tiền của ngân hàng đã hoàn thành nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và phí phát sinh đúng thời hạn thì khách hàng vay này là khách hàng tốt (đủ điều kiện để vay tiền), và ngân hàng không có lý do gì mà không tiếp tục cho vay các khách hàng này, kể cả dưới hình thức cho vay tuần hoàn (nếu ngân hàng mong muốn tiếp tục cho vay).

Vì vậy, yêu cầu trên của NHNN sẽ là hợp lý hơn nếu nêu rõ là các tổ chức tín dụng không được phép cho người vay đang có khoản vay tuần hoàn được tái tục khoản vay đó NẾU người vay chưa hoàn thành nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và phí phát sinh đúng theo hợp đồng tín dụng ký với ngân hàng tại khoản vay tuần hoàn hiện thời. Đồng thời, cũng nghiêm cấm ngân hàng tiếp tục cho vay các khoản vay mới với khách hàng đang có nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và phí liên quan đến các khoản vay hiện tại, bao gồm cả các khoản vay theo hình thức vay tuần hoàn, đã vượt quá hạn mức tín dụng được ngân hàng cấp, hoặc đã quá hạn thanh toán (mục đích của việc cấm cho vay mới này là để ngăn chặn khả năng ngân hàng cho khách hàng vay để đảo nợ).

Tuesday, 20 September 2016

Chương trình mục tiêu: thắt chỗ nọ, phình chỗ kia (Bài đăng trên TBKTSG, 20/9/2016)

http://www.thesaigontimes.vn/151337/Chuong-trinh-muc-tieu-that-cho-no-phinh-cho-kia.html

Ngày 12-11-2015, Quốc hội đã thông qua nghị quyết về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) giai đoạn 2016-2020. Theo đó, 16 CTMTQG giai đoạn 2011-2015 được cắt giảm còn hai CTMTQG trong giai đoạn 2016-2020, đó là xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.

Lý do là vì Quốc hội đánh giá mục tiêu của 16 chương trình quá rộng, bố trí nguồn lực chưa bảo đảm, tổ chức thực hiện có những hạn chế, dẫn đến hiệu quả thực hiện nhiều chương trình chưa cao. Việc lựa chọn hai CTMTQG này sẽ tập trung được nguồn lực, khắc phục được sự dàn trải và tạo điều kiện để tổ chức thực hiện có hiệu quả.

Tuy nhiên, cũng theo yêu cầu của Quốc hội, đối với 16 CTMTQG của giai đoạn trước thì không loại bỏ hoàn toàn, mà rà soát, sắp xếp bố trí hợp lý ở 37 dự án thành phần vào 21 chương trình mục tiêu với quy mô hợp lý hơn nhằm tổ chức thực hiện có hiệu quả. Đồng thời, 37 dự án thành phần này sẽ tiếp tục được Quốc hội giao Chính phủ rà soát để loại bỏ các mục tiêu, nhiệm vụ trùng lắp với mục tiêu, nhiệm vụ của chương trình xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.

Về kinh phí thực hiện, trong khi nghị quyết của Quốc hội về 16 CTMTQG giai đoạn 2011-2015 quyết định tổng mức kinh phí không quá 276.372 tỉ đồng (và thực tế là 324.000 tỉ đồng), thì chỉ riêng với hai CTMTQG hiện nay, dự kiến ngân sách nhà nước sẽ phải chi tối thiểu 239.317 tỉ đồng (193.155,6 tỉ đồng cho chương trình xây dựng nông thôn mới và 46.161 tỉ đồng cho giảm nghèo bền vững). Còn với 21 chương trình mục tiêu giai đoạn 2016-2020, được thực hiện bởi các bộ, dự kiến tổng số vốn đầu tư sẽ là gần 900.000 tỉ đồng.

Như vậy, trong khi chất lượng và hiệu quả triển khai hai chương trình mục tiêu quốc gia nêu trên hiện nay và trong những năm tới vẫn còn là câu hỏi bỏ ngỏ (xem thêm bài Xây dựng nông thôn mới cần thực chất hơn, TBKTSG số ra ngày 1-9-2016), thì 21 chương trình mục tiêu giai đoạn 2016-2020 được đưa ra, mặc dù đã không còn chữ “quốc gia” đính kèm, vẫn được duyệt chi một số tiền quá lớn. Và về cơ bản, 21 chương trình mục tiêu này vẫn là “cốt lõi” rút ra từ 37 dự án của 16 CTMTQG cũ, với khác biệt chính là quy mô đã lớn hơn nhiều.


Điều gì đứng đằng sau quyết định đẩy mạnh chi tiêu  vào các chương trình mục tiêu thường và mục tiêu quốc gia như vậy? Hẳn đó không phải là do ngân sách đã bội thu. Tuy thu ngân sách nhà nước có tăng lên hàng năm, nhưng chi ngân sách còn tăng mạnh hơn, dẫn đến thâm hụt ngân sách không ngừng tăng (mức thâm hụt trong giai đoạn 2011-2015 lần lượt là 112.000, 173.000, 237.000, 224.000 tỉ và 226.000 tỉ đồng).

Trong bối cảnh thâm hụt ngân sách ngày càng tăng như vậy, việc đẩy mạnh chi tiêu cho các chương trình mục tiêu nói trên đã vi phạm một nguyên tắc cơ bản của chi tiêu ngân sách ở nhiều nước trên thế giới là chi phải “nhìn” thu. Với kế hoạch chi tiêu đồ sộ như trên, hiệu quả kinh tế mang lại chưa thấy đâu nhưng điều chắc chắn là thâm hụt ngân sách sẽ càng tăng mạnh (cả về con số tuyệt đối lẫn tương đối, ví dụ tỷ lệ so với GDP) trong giai đoạn từ nay đến năm 2020.

Kể cả trong trường hợp các chương trình mục tiêu trên sẽ được triển khai hiệu quả, mang lại những kết quả tích cực về mặt kinh tế, xã hội, nhưng xét đến mức thâm hụt ngân sách lớn, ngày càng tăng nhanh, trong khi vay nợ đã chạm và vượt ngưỡng nguy hiểm thì sẽ đến một thời điểm trong tương lai không xa tất cả các khoản chi tiêu từ ngân sách cho đầu tư và phát triển sẽ phải bị cắt giảm mạnh hơn nữa, từ mức đã rất thấp như hiện nay (15% tổng chi ngân sách trong nửa đầu năm 2016, so với 72% chi thường xuyên và 13% là trả nợ) nếu không muốn ngân sách nhà nước bị phá sản. Lúc đó sẽ lại nảy sinh ra vấn đề về tính bền vững của các chương trình mục tiêu hiện đang được tiến hành, bởi các kết quả sẽ không thể duy trì được nếu không tiếp tục được bơm vốn (ví dụ, xây dựng nông thôn mới rộng khắp cả nước với hàng loạt công trình cơ sở hạ tầng sẽ cần vốn để duy tu, bảo dưỡng, vận hành).

Nói cách khác, ở đây chúng ta sẽ chỉ có hai lựa chọn. Hoặc là đẩy mạnh đầu tư ồ ạt, quy mô lớn vào hàng loạt mục tiêu, hàng loạt lĩnh vực để đạt thành tích (báo cáo) trong ngắn hạn là đã xóa bỏ được cái này, cải thiện được cái kia... để rồi những cái bị xóa bỏ này, cái đạt được kia sẽ quay trở lại như cũ trong mấy năm sau đó. Hoặc là lựa chọn cẩn trọng và cân nhắc kỹ càng một số chương trình, một số mục tiêu và lĩnh vực, trong phạm vi giới hạn về vốn và năng lực thực thi, nhưng kết quả đạt được là thực chất, bền vững, giúp ích được những bộ phận dân chúng cần giúp đỡ nhất.

Đương nhiên là lựa chọn thứ hai tuy có tính thực thi cao hơn và đáng xem xét hơn nhưng chắc chắn sẽ có nhiều cá nhân và cơ quan có thẩm quyền không mong muốn, một phần bởi căn bệnh thành tích và phần khác bởi động cơ vụ lợi. Do đó, thách thức hiện nay với Quốc hội và Chính phủ đương nhiệm là phải nhìn ra được những giới hạn về nhân lực, vật lực trong ngắn hạn và dài hạn, đồng thời đủ quyết tâm để đưa ra các chương trình phát triển kinh tế xã hội phù hợp hơn, có tính khả thi hơn.

Tuesday, 13 September 2016

Không có lý do gì để dùng ngân sách nhà nước xử lý nợ xấu! (Bài đăng trên CafeF, 13/9/2016, bản gốc)


http://cafef.vn/khong-co-ly-do-gi-de-dung-ngan-sach-nha-nuoc-xu-ly-no-xau-20160913110058088.chn

Theo dự thảo kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) đã đề suất dùng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Bộ Tài chính được giao soạn thảo đề án nghiên cứu khả năng bố trí nguồn lực ngân sách nhà nước để xử lý một phần nợ xấu, dự kiến trình Quốc hội thông qua.


Lý do biện minh cho dùng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu


Qua thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, có thể tóm gọn lý do được các cơ quan chức năng cũng như một số chuyên gia đưa ra để biện minh cho việc dùng ngân sách nhà nước xử lý nợ xấu là bởi nợ xấu tuy đã giảm nhưng vẫn còn đáng kể, tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với an toàn, hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng.


Trong khi đó, việc xử lý nợ xấu đã mua của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) còn chậm chủ yếu do cơ chế, chính sách về xử lý tài sản bảo đảm còn bất cập, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xử lý nợ xấu. Do đó, để cắt giảm nhanh chóng tỉ lệ nợ xấu vào năm 2020 một cách bền vững, tiến đến xóa hoàn toàn nợ xấu khỏi bảng cân đối kế toán của các ngân hàng thương mại (NHTM), đặc biệt các ngân hàng được kiểm soát đặc biệt, thì cần phải có quyết tâm chính trị trong vấn đề xử lý nợ xấu, mà ở đây chính là dùng ngân sách nhà nước.


Vì hệ thống NHTM trong 4 năm vừa qua đã phải hy sinh rất nhiều, khi phải tự xử lý 55% nợ xấu, còn 45% bán cho VAMC, vì thế mà lợi nhuận giảm mạnh (và đến nay, 55% nợ xấu ở ngân hàng cũng đã được cơ bản xử lý), (nên ý nói) bây giờ là lúc cần phải có sự tham gia gánh vác của nhà nước bằng cách dùng ngân sách xử lý nợ xấu.


Con số ngân sách cụ thể sẽ tùy vào khả năng cần đối ngân sách của chính phủ, nhưng sẽ rơi vào khoảng 5.000 đến 10.000 tỷ đồng. Số tiền này gấp 3 đến 5 lần số tiền 2.000 tỷ trước đây ngân sách đã từng bỏ ra để đầu tư cho VAMC mua nợ xấu. Tuy vậy, số tiền này sẽ chỉ là vốn mồi để VAMC mua nợ xấu với giá thị trường, sau đó quay vòng vốn. Nghĩa là khi đã bán được nợ xấu ra thị trường thì lại dùng tiền đó để mua nợ xấu vào. Cùng với đó, có thể phát hành thêm trái phiếu nợ xấu để bán ra thị trường. Tuy nhiên, trái phiếu này không giống trái phiếu đặc biệt của VAMC hiện nay, mà nó sẽ được chính phủ bảo lãnh để tăng tính thanh khoản.


Nhưng lý do trên là không thỏa đáng


1. Bởi việc xử lý nợ xấu sau khi mua về của VAMC nếu vẫn còn chậm thì phải khắc phục, đẩy nhanh nó lên. Nếu những bế tắc về cơ chế, chính sách hoạt động của VAMC vẫn không được khắc phục thì dù có dùng đến ngân sách nhà nước để rót cho VAMC mua nợ xấu, về nguyên tắc, nợ xấu lại càng thêm “chất đống” ở VAMC mà không thể giải phóng được, do đầu ra vẫn bị tắc nghẽn như cũ.


2. Bởi việc xử lý nợ xấu tại các NHTM vẫn còn chậm chạp là do NHNN cho phép các NHTM tái cơ cấu, “ém” nợ xấu, với mục đích là “mua thời gian”, hy vọng một ngày nào đó, bằng phép mầu nào đó, thị trường các tài sản thế chấp sẽ sáng sủa, hoặc con nợ sẽ sống lại, mạnh khỏe, tự nguyện trả nợ v.v… Nhưng điều này là viển vông vì nhiều con nợ đã thực sự hoặc trên danh nghĩa chết lâm sàng như Vinashin. Nhiều khoản nợ xấu là hậu quả của những hành động gian lận, vụ lợi của nhân viên đến sếp cao nhất của nhiều NHTM nên chúng mãi mãi là nợ cực xấu, chỉ tồn tại trên sổ sách chứ không có khả năng phục hồi giá trị, dù chỉ là một phần nhỏ. Nếu các NHTM bị buộc phải ghi nhận đúng bản chất các khoản nợ xấu này và trích lập dự phòng đầy đủ cho chúng thì tốc độ xử lý nợ xấu sẽ tăng đột biến, và tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống NHTM cũng sẽ giảm đột biến mà chẳng cần phải dùng đến ngân sách nhà nước.


3. Bởi hiện tại, theo công bố của NHNN thì tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống NHTM chỉ ở dưới mức 3%. Tỷ lệ này nếu đúng là vậy thì chẳng có lý do gì mà phải lo ngại cho sức khỏe và tính ổn định, an toàn của hệ thống ngân hàng. Kể cả tính kèm vào đó nợ xấu nằm tại VAMC thì từ mấy năm nay, các NHTM vẫn trích lập dự phòng đầy đủ theo quy định nên cũng không thể cho rằng tình hình sẽ đột nhiên xấu đi, thoát khỏi tầm kiểm soát, nếu VAMC hay các bản thân các NHTM không xử lý thêm được nợ xấu. Nếu vẫn cứ lo lắng với quan ngại thì có nghĩa là tỷ lệ nợ xấu thực sự phải cao hơn con số này rất nhiều. Mà như vậy thì việc cần làm trước tiên là phải thanh tra và công bố một tỷ lệ nợ xấu thực sự từ đó mới có thể đưa ra “đơn thuốc” điều trị được. Nếu còn che giấu, làm đẹp nợ xấu thì mọi giải pháp chữa chạy đều vô ích.


4. Bởi nợ xấu phát sinh trong hệ thống NHTM chủ yếu là do lỗi của bản thân NHTM và xuất phát từ việc bảo lãnh, hay chỉ đạo của chính quyền và các cơ quan chức năng trung ương và địa phương với các doanh nghiệp nhà nước. Người nộp thuế chẳng có tội tình gì ở đây mà phải chịu nhìn đồng tiền thuế của mình được tiêu vào những hố đen do người khác tạo ra.


Nên xử lý nợ xấu trước tiên phải là từ phía NHTM, dùng toàn bộ lợi nhuận của NHTM (kèm thêm vốn cổ đông, nếu cần). Chừng nào NHTM vẫn còn báo lãi, dù ít hơn trước, hoặc các cổ đông chưa bị trừng phạt vì đã (trực tiếp, gián tiếp) để nợ xấu phát sinh thì chẳng có lý do gì nhà nước phải bỏ tiền ra xử lý nợ xấu thay cho họ.


Chính quyền trung ương và địa phương nếu đứng đằng sau những khoản vay của các doanh nghiệp nhà nước mất khả năng chi trả thì cũng phải chịu trách nhiệm thu xếp thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình một cách sòng phẳng. Rốt cuộc thì tiền vẫn có thể chảy ra từ ngân sách, nhưng khoản nào ra khoản đó, và phải có ai đó chịu trách nhiệm, chứ không thể nhập nhằng nhân danh xử lý dứt điểm giải quyết nợ xấu để rồi tiêu tốn ngân sách vào việc vô nghĩa là mua nợ xấu thông qua VAMC mà chẳng biết tương lai của những khoản nợ này sẽ ra sao.  


5. Bởi việc xử lý nợ xấu dùng ngân sách nhà nước đã được thử nghiệm với con số 2.000 tỷ đồng rót cho VAMC (cùng với những lời bàn vào hết sức thuyết phục về sự cần thiết và tính hiệu quả của 2.000 tỷ đồng này). Nhưng kết quả ra sao thì nay đã rõ. Nên nếu dù có tăng lên thêm 5.000-10.000 tỷ đồng thì về bản chất nó cũng chẳng khác con số 2.000 tỷ trước kia là mấy, đặc biệt khi so với con số nợ xấu tuyệt đối vài trăm nghìn tỷ đồng “tồn kho” tại VAMC. Còn kết quả mang lại (của việc bơm thêm 5.000-10.000 tỷ đồn) cũng sẽ hầu như là vậy.


Hơn nữa, như đã nói ở trên, vấn đề xử lý nợ xấu không hiệu quả tại Việt Nam là do có một VAMC có cơ chế xử lý nợ xấu theo kiểu “chẳng giống ai” trong một môi trường không tương thích, và tại các ngân hàng không có động cơ quyết liệt xử lý nợ xấu, chứ không phải là VAMC không có “tiền tươi thóc thật” để mua nợ xấu (theo giá thị trường). Nếu đề xuất dùng ngân sách như hiện nay được chấp nhận thì có thể nhìn ra một viễn cảnh sau độ một năm nữa, sẽ lại có tiếng nói yêu cầu ngân sách rót ra 100.000-150.000 tỷ đồng làm “vốn mồi” vì VAMC vẫn xử lý nợ xấu chậm!


Cuối cùng, lưu ý thêm, những phân tích ở trên không chỉ vạch ra sự vô lý, vô nghĩa của đề xuất dùng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu mà còn đồng thời vạch ra đường hướng để xử lý nợ xấu một cách hữu hiệu hơn ở Việt Nam.

Sunday, 11 September 2016

Thoái vốn nhà nước: những nhận thức cần thiết (Bài đăng trên TBKTSG, 11/9/2016)

https://www.blogger.com/blogger.g?blogID=8051314897353908142#editor/target=post;postID=1266092730053259531

Thủ tướng Chính phủ mới đây đã đề nghị các bộ ngành đẩy nhanh quá trình thoái vốn nhà nước tại một số doanh nghiệp lớn, trong đó có Sabeco, Habeco, Vinamilk... Chủ trương thoái vốn tại những doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã cổ phần hóa đã được đề cập từ cách đây gần thập kỷ, nhưng rồi vì nhiều lý do đã diễn ra hết sức chậm chạp.

Chậm bởi lý do chủ quan là chính

Chẳng hạn như với Sabeco, một quan chức hữu trách của Bộ Công Thương mới cách đây không lâu cho biết Sabeco là tài sản quốc gia, giá trị hàng mấy tỉ đô la, là thương hiệu lớn, nên việc bán và giữ thương hiệu, bán ra sao, bán cho ai, bán như thế nào là bài toán của Chính phủ chứ không phải Bộ Công Thương, mặc dù bộ này đã nhiều lần làm công văn xin cổ phần hóa, thoái vốn tại Sabeco.

Trong khi đó, trước đề xuất của Hiệp hội Tài chính về bán dứt điểm vốn nhà nước ở Sabeco theo hình thức đấu giá một lần công khai trên sàn giao dịch chứng khoán, vị này đã thẳng thừng bác bỏ, thậm chí còn cho là đề xuất vụ lợi, với lý do là Chính phủ sẽ không đồng ý vì, đại ý, bán như vậy thì không biết người mua là ai, có cam kết giữ thương hiệu, phát triển công ty lên có lợi cho đất nước hay không.

Không bàn đến đề xuất bán dứt điểm vốn nhà nước theo hình thức đấu giá một lần công khai trên sàn có mang động cơ vụ lợi hay không, nhưng giải thích như trên của vị quan chức ở Bộ Công Thương đã làm không ít người hoài nghi tính bất vụ lợi đằng sau nó. Bởi Bộ Công Thương là cơ quan chủ quản, là người đại diện phần vốn nhà nước tại Sabeco và được Chính phủ giao nhiệm vụ cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại Sabeco, nên nếu họ trình ra được các phương án thoái vốn hợp lý thì không có lý gì Chính phủ lại bác các đề xuất này của họ. Vấn đề là họ có (muốn) đề xuất các phương án thoái vốn hợp lý hay không mà thôi, và nói như thế này thì quả bóng trách nhiệm đã được Bộ Công Thương đá ngược lại cho Chính phủ.
Cần tránh nguy cơ là tiền thu được từ việc thoái vốn này lại chui vào các “lỗ đen”, tức là tiếp tục được rót cho những dự án, doanh nghiệp “đắp chiếu” hay những dự án mới được “vẽ” ra để tiêu tiền ngân sách.

Tại phiên họp mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã nói rõ tinh thần bán vốn nhà nước tại các doanh nghiệp này là phải công khai, minh bạch, đưa lên sàn chứng khoán, đấu giá quốc tế trong nước, công khai cả nhà đầu tư để chống tiêu cực, lợi ích nhóm, bảo toàn tối đa tài sản nhà nước. Điều này chứng tỏ việc bán vốn nhà nước trên sàn chứng khoán đã được Chính phủ nhận thức rõ là điều cần thiết.
Vì vậy, sự chậm trễ trong thoái vốn nhà nước có lý do phần lớn là do sự thiếu trách nhiệm của các cơ quan chủ quản, và lý do này cần được giải quyết cho những đợt thoái vốn tiếp theo trong tương lai.

“Thị trường không thuận lợi” chỉ là lý do thứ yếu

Một lý do nữa vẫn thường được đưa ra để biện minh cho sự chậm trễ trong việc niêm yết và bán vốn nhà nước tại các DNNN đã được cổ phần hóa là do thị trường không thuận lợi, ví dụ như do khủng hoảng kinh tế thế giới, hay sự e ngại là nếu thoái vốn dồn dập thì thị trường sẽ “bội thực”, không hấp thu được hết nên sẽ ảnh hưởng đến giá bán...

Thực ra, nếu cứ lo ngại (kể cả một cách thực tâm) rằng điều kiện hiện thời của thị trường không thuận lợi nên cần trì hoãn niêm yết và thoái vốn nhà nước thì việc trì hoãn này có khả năng sẽ là trì hoãn mãi mãi. Vì không ai có thể nói chắc được rằng điều kiện thị trường năm sau sẽ tốt hơn năm nay nên hãy đợi đến năm sau để niêm yết và thoái vốn. Các điều kiện của nền kinh tế trong nước và thế giới luôn biến động với nhiều biến cố bất ngờ, không thể lường trước được. Vì thế, cần chủ động lập kế hoạch theo các kịch bản khác nhau và tiến hành niêm yết, thoái vốn theo những kịch bản này để vừa đạt được mục tiêu chính đặt ra là giảm bớt sự dính líu, chi phối của Nhà nước trong hoạt động của doanh nghiệp sau cổ phần hóa nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tăng thu cho ngân sách, đồng thời đối phó hữu hiệu với các điều kiện bất lợi của thị trường tại thời điểm niêm yết, thoái vốn.

Về việc e ngại thị trường “bội thực”, lý do này cũng đã rất phổ biến trước đây trong những năm cuối của thập kỷ trước và cuối cùng một loạt doanh nghiệp đã trì hoãn niêm yết, thoái vốn. Thực ra, nếu là “hàng” tốt, thì luôn có những dòng vốn khổng lồ trong và ngoài nước săn tìm, không bao giờ lo “ế” hay không tìm được người mua (với giá tốt). Còn nếu đã là “hàng” xấu, không hấp dẫn thì đúng là có bán rẻ cũng sẽ khó tìm được người mua.

Nhưng với những loại “hàng” xấu này thì Nhà nước càng phải tích cực và chủ động buông bỏ cho nhanh, kể cả bán với giá 0 đồng vì càng nắm giữ thì Nhà nước càng phải chịu thêm tổn thất và tốn kém. Ví dụ, vẫn phải tiếp tục rót vốn cho doanh nghiệp với tư cách là cổ đông chính, trong khi năng lực và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp không có cải thiện gì sau cổ phần hóa do chúng vẫn hầu như là một DNNN với Nhà nước nắm giữ đại bộ phận cổ phần.

Nói cách khác, cần tích cực đẩy mạnh cổ phần hóa và có kế hoạch chủ động niêm yết và thoái vốn nhà nước tại các DNNN được cổ phần hóa càng sớm càng tốt.

Cũng phải nhanh chóng niêm yết và thoái vốn tại các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp không hiệu quả

Hiện tại, sự chú trọng về niêm yết và thoái vốn mới chỉ diễn ra ở những doanh nghiệp lớn. Tình hình niêm yết và thoái vốn tại các doanh nghiệp nhỏ và những doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, thua lỗ hoặc “đắp chiếu” hầu như rất yên ắng, không có mấy thông tin cập nhật. Lý do có thể do các doanh nghiệp này nhỏ nên dù có thoái vốn thì cũng không mang lại cho ngân sách một khoản thu đáng kể, hoặc các cơ quan hữu trách đang phải bận tâm với vấn đề có tiếp tục cứu trợ các doanh nghiệp thua lỗ này nữa hay không trước khi niêm yết hay thoái vốn.

Nhưng như trên đã nói, việc niêm yết, thoái vốn các doanh nghiệp sau cổ phần hóa không chỉ mang thêm đến một nguồn thu bổ sung cho ngân sách mà còn làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sau cổ phần hóa, giảm nguy cơ tổn thất cho ngân sách khi vẫn phải rót thêm vốn hay tiếp tục bảo lãnh cho doanh nghiệp hoạt động mặc dù, về danh nghĩa, các doanh nghiệp này đã trở thành doanh nghiệp phi nhà nước (tư nhân) sau cổ phần hóa.

Bởi vậy, không chỉ với những doanh nghiệp (nhỏ) vẫn đang hoạt động hiệu quả, ngay cả những doanh nghiệp lớn hơn nhưng đang thua lỗ, đắp chiếu thì cũng cần chủ động thoái toàn bộ vốn tại các doanh nghiệp này càng nhanh càng tốt, kể cả có bán với giá 0 đồng hay tiến hành làm thủ tục đóng cửa, phá sản để chấm dứt sự liên đới của Nhà nước vào những “lỗ đen” tiêu tốn ngân sách này.

Mục đích thoái vốn cần được nêu rõ

Cuối cùng, như trên đã đề cập, ngoài mục đích cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sau cổ phần hóa, một trong những mục đích chính của thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp sau cổ phần hóa đương nhiên là để bổ sung nguồn thu cho ngân sách. Nhưng như thế cũng chưa đủ, vì việc thoái vốn có mục đích tối thượng là nhằm giảm thiểu sự dính líu của Nhà nước vào các hoạt động sản xuất kinh doanh trực tiếp, nhường việc này cho các nhà đầu tư tư nhân và nước ngoài.

Từ giác độ đó, cần tránh nguy cơ rõ ràng là tiền thu được từ việc thoái vốn này lại tiếp tục được rót cho những dự án, doanh nghiệp “đắp chiếu” hay những dự án mới của các DNNN hay Nhà nước làm chủ, trong số đó có nhiều cái được “vẽ” ra để tiêu tốn ngân sách.

Wednesday, 7 September 2016

Cần lý trí hơn về dự án thép của Hoa Sen (Bài đăng trên Doanh nhân Sài gòn, 7/9/2016, bản gốc)

http://www.doanhnhansaigon.vn/chuyen-lam-an/can-ly-tri-hon-ve-du-an-thep-cua-hoa-sen/1099719/

Cập nhật: Bản gốc được đăng lại trên VnEconomy
http://vneconomy.vn/thoi-su/goc-nhin-can-ly-tri-hon-ve-du-an-thep-cua-hoa-sen-20160909100247193.htm

----------------------------------------
Tập đoàn Hoa Sen mới đây đã được Ninh Thuận chấp nhận về chủ trương đầu tư một tổ hợp dự án khu liên hợp luyện cán thép tại Cà Ná với tổng công suất thiết kế trong giai đoạn đến năm 2022 là 6 triệu tấn thép (đến năm 2019 đạt 3 triệu tấn, 2022 thêm 3 triệu tấn nữa). Đến năm 2031, dự kiến tổng công suất thiết kế sẽ được nâng lên thành 16 triệu tấn.

Theo Hoa Sen, trong giai đoạn 2017-2018, sẽ triển khai xây dựng và đưa vào khai thác công suất 1,5 triệu tấn thép/năm với tổng vốn đầu tư  460 triệu USD. Dự án cũng gồm xây dựng cảng nước sâu và bến chuyên dụng để tiếp nhận tầu có trọng tải tới 300.000 DWT và bến tổng hợp tiếp nhận tầu tới 50.000 DWT.

Khi mới được công bố, dự án này đã lập tức nhận được nhiều ý kiến trái chiều, chủ yếu xoay quanh mấy vấn đề như công nghệ và thiết bị sản xuất có khả năng gây ô nhiễm môi trường, nguồn cung thép trong nước đã dư thừa, ngành thép là một ngành có công nghệ cũ hàng thế kỷ nên không nên làm thép nữa mà thay vào đó là sản xuất thép hợp kim cao cấp, và nguồn vốn ở đâu để thực hiện dự án lớn như vậy.

Trước tiên, hãy đề cập đến vấn đề gây ô nhiễm môi trường. Cần thẳng thắn thừa nhận là là dù có giữ gìn cẩn thận đến đâu thì mọi dự án sản xuất gang thép đều gây ô nhiễm ở một mức độ nào đó, không là nước thải thì là khói bụi, khí thải. Vấn đề là mức độ ô nhiễm này phải trong các hạn mức cho phép được quy định trong các bộ tiêu chuẩn quy phạm về bảo vệ môi trường của quốc gia. Nếu dự án Hoa Sen được thiết kế, xây dựng và vận hành tuân thủ theo các tiêu chuẩn quy phạm này (của Việt Nam) thì sẽ không có vấn đề gì đáng nói ở đây. Nhưng dư luận lo ngại dự án thép này của Hoa Sen sẽ lại như một dự án thép Formosa thứ hai ở Việt Nam nên tốt nhất là… tránh đi, không làm nữa!
Lo ngại trên hoàn toàn có thể thông cảm được nếu nhìn từ vụ việc Formosa. Nhưng nếu cứ lấy Formosa để làm bài học và rút ra kết luận rằng mọi dự án thép đều sẽ hủy hoại môi trường tương tự như vậy là vô lý. Bởi vấn đề với Formosa là họ cố tình không tuân thủ các quy định về môi trường của Việt Nam, chứ không phải vấn đề là họ sản xuất thép nên mới gây ô nhiễm như vậy.

Trên thế giới, ngay tại các nước OECD như Hàn Quốc, Nhật, Mỹ, và châu Âu, hiện vẫn đang có nhiều dự án phức hợp luyện cán thép có công suất và sản lượng lên tới hàng chục triệu tấn/năm như ArcelorMittal (97 triệu tấn năm 2015),  Nippon Steel and Sumitomo Metal (46 triệu tấn), POSCO (42 triệu tấn), JFE Steel (30 triệu tấn), Hyundai Steel (20 triệu tấn), Nucor (20 triệu tấn), ThyssenKrupp (17 triệu tấn), US Steel (15 triệu tấn)… Và đương nhiên là tiêu chuẩn môi trường và các chế tài áp dụng để giám sát tuân thủ tiêu chuẩn môi trường của các doanh nghiệp sản xuất thép ở những nước và khu vực này không thể thấp hơn ở Việt Nam. Các dự án thép khổng lồ này vẫn hoạt động từ nhiều năm nay ở đó, chứng tỏ sản xuất thép, kể cả ở quy mô khổng lồ, đã và đang không phải là “sát thủ” môi trường như dư luận ở Việt Nam đang quy kết một cách bất công cho các dự án thép nói chung và của Hoa Sen nói riêng.

Bởi vậy, việc cần phải làm với dự án Hoa Sen không phải là “bàn lùi”, can ngăn, cản trở để họ không đầu tư nữa, mà phải là đảm bảo rằng họ sẽ không tạo ra một Formosa thứ hai bằng cách cố tình phớt lờ các tiêu chuẩn quy phạm môi trường, khi đi vào sản xuất sau này. Bằng cách nào thì câu trả lời nằm ở phía các cơ quan chức năng của Việt Nam, được trang bị đầy đủ các công cụ và quyền hạn thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường.    

Thứ hai, về chuyện dư thừa công suất sản xuất thép trong nước, tình trạng này là một thực tế hiện nay ở Việt Nam. Nhưng cần biết rằng trong tổng công suất lắp đặt khoảng 20-25 triệu tấn hiện nay ở Việt Nam, có một tỷ trọng lớn là từ các nhà máy sản xuất quy mô nhỏ và rất nhỏ (dưới 500 nghìn tấn). Đến như Hòa Phát, nhà sản xuất thép lớn nhất Việt Nam hiện nay với thị phần khoảng 12% thị trường thép ở Việt Nam (Hòa Phát tiêu thụ gần 1 triệu tấn thép xây dựng và thép ống trong nửa đầu năm nay, so với tổng mức tiêu thụ của cả nước là 8,5 triệu tấn, theo số liệu của Hiệp hội thép Việt Nam) mà doanh nghiệp này cũng chỉ có công suất lắp đặt là khoảng 2 triệu tấn.

Do đó, sự ra đời của những dự án “khủng” như của Hoa Sen với sản xuất tích hợp từ thượng nguồn (sản xuất thép thô từ quặng sắt và than cốc bằng lò cao) đến hạ nguồn (thép cuộn, cán, hình) có hiệu quả cao chắc chắn sẽ tăng áp lực cạnh tranh lên sản xuất thép trong nước, buộc nhiều nhà máy và dự án thép (hiện có và sẽ ra đời trong tương lai) không có hiệu quả sẽ phải đóng cửa hoặc rút lại ý định đầu tư. Nói cách khác, dự án thép Hoa Sen sẽ giúp tái cơ cấu lại ngành sản xuất thép ở Việt Nam theo hướng hiệu quả hơn, tương tự như xu thế chung trên thế giới, đặc biệt ở những nước như Trung Quốc, vốn đang diễn ra làn sóng sát nhập, hợp nhất và đóng cửa nhiều nhà máy sản xuất thép nhỏ, không hiệu quả, gây ô nhiễm… dưới bàn tay đạo diễn của Nhà nước. Do đó, khi dự án Hoa Sen đi vào hoạt đông thì ngành thép Việt Nam sẽ có thêm đáng kể công suất gia tăng, nhưng đồng thời cũng sẽ có thêm đáng kể công suất mất đi từ những nhà máy đang tồn tại, nên rốt cuộc tình trạng dư thừa cung chắc sẽ không trầm trọng thêm.

Thứ ba, trên danh nghĩa đúng là Việt Nam đang dư thừa năng lực sản xuất thép, nhưng nhìn sâu vào cơ cấu sản xuất thì thấy dư thừa là ở phân khúc thép xây dựng chứ không phải thép tấm, thép cuộn cán nóng. Hiện có thể nói Việt Nam phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu thép tấm, cuộn cán nóng để sản xuất các sản phẩm thép cán nguội như tôn, thép công nghiệp (đồ điện gia dụng), nhất là thép ô tô và đóng tầu v.v… Ngoài ra, Việt Nam cũng thiếu hụt năng lực sản xuất thép ống không hàn và các loại thép đặc biệt, thép hình khác. Điều này lý giải tại sao Việt Nam vẫn phải nhập nhiều triệu tấn thép/năm vì trong đó có một phần lớn là các sản phẩm thép mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng được này.

Trong khi đó, cơ cấu sản phẩm của dự án Hoa Sen rất đa dạng, từ thép xây dựng đến thép tấm cán nóng và thép hình, tức là sẽ bổ khuyết một phần quan trọng cho sự thiếu hụt trong nước, không chỉ không lo dư thừa công suất mà không còn lo phải nhập siêu lớn trong ngành này. Cộng thêm với sự tồn tại và sản xuất của Formosa, sự tái cơ cấu ngành thép ở Việt Nam (lưu ý là Formosa cũng sản xuất nhiều loại sản phẩm mà trong nước chưa đáp ứng được) sẽ càng diễn ra mạnh hơn theo chiều hướng tích cực hơn. Ngược lại, với sự đối trọng của dự án thép Hoa Sen, Formosa sẽ phải tìm cách cạnh tranh mạnh hơn trên thị trường trong nước, và thậm chí phải tìm cách xuất khẩu nhiều hơn nếu không muốn đối mặt với sự cạnh tranh trở nên gay gắt hơn ở trong nước.

Thứ tư, đúng là công nghệ sản xuất thép hiện đã định hình gần như hoàn chỉnh, ít có thêm đột phá công nghệ nên vì thế cũng có thể coi là ngành có công nghệ bình thường, không có gì đáng hấp dẫn về mặt công nghệ như những ngành công nghệ cao khác hiện đại khác. Nhưng Hoa Sen là một tập đoàn tư nhân nên quyết định đầu tư vào ngành thép của họ là xuất phát từ những tính toán thiệt hơn về lợi nhuận, chứ không xuất phát từ sự bốc đồng, có động cơ chính trị, xã hội, hay vụ lợi như với một số dự án đầu tư công. Với họ, câu hỏi liệu công nghệ mới hay không, nên sản xuất thép thường hay thép hợp kim cao cấp không quan trọng bằng câu hỏi có tối đa hóa được lợi nhuận cho cổ đông của mình hay không. Nếu họ tính toán thấy rằng đầu tư vào dự án phức hợp thép đem lại lợi nhuận tốt thì hãy để họ làm và nên ủng hộ họ, tất nhiên với điều kiện là họ phải tuân thủ mọi quy định của pháp luật.

Ngoài ra, về lo ngại Hoa Sen sẽ sử dụng công nghệ của Trung Quốc, thì cũng cần tham khảo tình hình quốc tế. Mới hôm trước (ngày 27/8), chính quyền bang Sarawak, Malaysia ký kết Bản ghi nhớ với Tập đoàn thép Hebei Xinwuan và công ty MCC Overseas (đều của Trung Quốc) về nghiên cứu khả thi cho một dự án thép phức hợp có công suất  tới 5 triệu tấn thép mạ, 1 triệu tấn thép cuộn cán nguội, và 1 triệu tấn ống thép hàn với tổng vốn đầu tư khoảng 3 tỷ USD. Điều này cho thấy công nghệ Trung Quốc không nhất thiết là “đồ bỏ”, và thực tế là những doanh nghiệp thép lớn của Trung Quốc có tính cạnh tranh toàn cầu, đẩy không ít doanh nghiệp thép lớn nhỏ của thế giới vào tình trạng khốn đốn.

Cuối cùng, nguồn vốn cho dự án này, nếu đầu tư đầy đủ để đạt công suất 16 triệu tấn vào năm 2031 được ước tính lên tới hơn chục tỉ USD, làm cho nhiều người e ngại tính khả thi của dự án này. Nhưng cần lưu ý rằng dự án này trải qua nhiều giai đoạn, với công suất lắp đặt tăng dần, nên nhu cầu vốn cũng sẽ rải ra trong một khoảng thời gian nhiều năm. Thêm nữa, như đã nói, Hoa Sen là một tập đoàn tư nhân và khi quyết định đầu tư, đầu tư bao nhiêu thì họ đã tính toán và lượng sức mình, sức thị trường vốn để ra quyết định đầu tư. Kể cả trong trường hợp xấu, quyết định đầu tư của họ chỉ gây thiệt hại cho cổ đông của họ, chứ không gây thiệt hại, ảnh hưởng mấy đến quốc dân như với những dự án đầu tư bằng vốn nhà nước. Bởi vậy, chuyện thu xếp vốn cũng là quyền và là chuyện riêng của Hoa Sen, xin đừng bận tâm hộ cho họ!

Xây dựng nông thôn mới - cần thực chất hơn (Bài đăng trên TBKTSG, 7/9/2016, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/150803/Xay-dung-nong-thon-moi---can-thuc-chat-hon.html

Thủ tướng Chính phủ mới ban hành Quyết định phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020. Quyết định này đề cập đến 11 nội dung thành phần như quy hoạch xây dựng nông thôn mới, phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, giảm nghèo và an sinh xã hội, phát triển y tế, giáo dục, nâng cao chất lượng đời sống văn hóa, vệ sinh môi trường, nâng cao chất lượng, phát huy vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội nông thôn...

Các nội dung thành phần này có nêu các tiêu chí định lượng rất cụ thể bằng những con số thậm chí tính đến cả hàng thập phân, mà phổ biến nhất là (phấn đấu) có (tối thiểu) bao nhiêu phần trăm xã, huyện phải đạt chuẩn từng tiêu chí vào năm 2020. Mỗi một tiêu chí trong mỗi nội dung thành phần được giao cho các bộ, ngành liên quan chủ trì, hướng dẫn thực hiện.

Chỉ cần nhìn vào những nội dung trên cũng đủ thấy đây là một chương trình hết sức tham vọng, bao phủ sâu rộng mọi mặt đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của người dân sống ở nông thôn, đòi hỏi sự tham gia của không chỉ toàn bộ các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội từ trung ương đến địa phương mà còn của từng cá nhân và hộ gia đình ở nông thôn. Chương trình này cũng không chỉ sử dụng tối đa nguồn lực từ ngân sách trung ương và địa phương mà còn phải huy động cả sức người và của từ cộng đồng dân cư địa phương.

Với một chương trình quốc gia đồ sộ và tham vọng như thế này, nỗi quan ngại của nhiều người sẽ là khả năng thực hiện đến đâu, kết quả có thực chất hay không, những công việc thực hiện được có thực sự góp phần nâng cao đời sống của dân cư hay không, có phòng chống được thất thoát, lãng phí trong quá trình thực hiện hay không, có để lại gánh nặng tài chính và di chứng lâu dài, khó khắc phục cho ngân sách địa phương và quốc gia trong những năm sau hay không…

Những nỗi quan ngại trên là hoàn toàn có cơ sở. Nếu chọn ra và tìm hiểu sâu thêm một số tiêu chí đặt ra cho chương trình nông thôn mới như dưới đây sẽ thấy có nhiều vấn đề đáng phải xem xét lại trước khi tiến hành rầm rộ chương trình trên quy mô cả nước.

Về tiêu chí quy hoạch xây dựng nông thôn mới, để đạt được tiêu chí này thì chỉ cần có quy hoạch được phê duyệt. Nhưng ngay cả chuyên gia của Bộ Xây dựng cũng phải thừa nhận các đồ án quy hoạch nhìn chung đạt chất lượng chưa tốt, vì có rất ít kinh nghiệm quy hoạch, thiếu lực lượng tư vấn làm quy hoạch nông thôn, không có tổ chức tư vấn nào có đủ năng lực đồng bộ trên cả ba lĩnh vực quy hoạch (quy hoạch xây dựng, quy hoạch sản xuất và quy hoạch sử dụng đất).[1] Trong bối cảnh như vậy, việc phấn đấu xã nào, thôn nào cũng có quy hoạch xây dựng nông thôn mới có lẽ chỉ dẫn đến kết quả là người ta sẽ nhân bản các quy hoạch “điểm” để đạt thành tích, và cấp phê duyệt có lẽ cũng “nhắm mắt cho qua” cũng vì để đạt thành tích. Mà nếu đã sai ngay từ khâu cơ bản là quy hoạch thì không khó để hình dung bộ mặt thật của nông thông mới sẽ ra làm sao, cũng tương tự chuyện có thật là bệnh viện nhân bản kết quả xét nghiệm của bệnh nhân này dùng để điều trị bệnh nhân kia.

Về tiêu chí phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, dường như tiêu chí này đã và đang được triển khai một cách rầm rộ, nhiệt thành nhất. Kết quả là nông thôn mới chưa thấy đâu nhưng nhiều địa phương đã để lại một núi nợ đọng trong xây dựng nông thôn mới, mà theo nhà chức trách là do các địa phương chạy theo thành tích nên huy động quá sức dân, không có khả năng thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản. Ở đây cho thấy dấu ấn yếu kém, duy ý chí của công tác quy hoạch, lập kế hoạch triển khai nông thôn mới từ trung ương đến địa phương. Nếu đã biết đến hạn chế trong huy động nguồn lực từ trung ương, địa phương và trong dân chúng thì người ta đã không đặt ra chỉ tiêu thực hiện tham vọng và gấp rút như vậy, để rồi khuyến khích các địa phương tìm mọi cách “phấn đấu” thực hiện cho bằng được chỉ tiêu này, kể cả những cách thức không bền vững. Và khi đã dồn hết lực vào xây dựng cơ bản rồi thì cũng sẽ chẳng còn tiền đâu cho việc thực hiện các tiêu chí khác.

Đáng nói hơn nữa là thành quả xây dựng nông thôn mới được nhiều địa phương thể hiện ra thành những công trình xây dựng tiền tỉ như trụ sở, nhà văn hóa, chợ, thậm chí là nhà nghỉ dưỡng cho nông dân… nhưng hầu như bị bỏ không, cửa đóng then cài quanh năm. Nhiều trong số những công trình này chỉ là cái vỏ, với chất lượng chưa khánh thành đã xuống cấp, trang thiết bị thiếu thốn, không phát huy được công năng, vì người ta chỉ chú trọng đến tô vẽ bộ mặt để lập thành tích mà không xét đến nhu cầu thật sự và cấp bách của dân. Nếu chỉ quan tâm đến những thứ “mặt tiền” này mà bỏ qua phần nội dung thì quả thật sẽ có một nông thôn trông có vẻ mới hơn, khang trang hơn, nhưng về cơ bản vẫn là nông thôn cũ với những thứ bên trong khó đo đếm được lại hầu như không thay đổi, trừ khi người ta cố tình làm cho chúng trở nên tốt hơn trên giấy tờ.

Về tiêu chí phát triển sản xuất, không rõ các nhà hoạch định dựa vào cơ sở nào để đưa ra chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn là 44 triệu đồng/người vào năm 2020, tăng từ mức 26 triệu đồng/người năm 2015. Một phép tính nhanh cho thấy để đạt mục tiêu này thì mỗi năm trong giai đoạnh 2016-2020, thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn phải tăng bình quân là 11,1%/năm. Tất nhiên, đây là mức tăng danh nghĩa, nên nếu tính cả lạm phát, giả sử là 5%/năm trong giai đoạn này thì mức tăng thực tế sẽ là khoảng 6%/năm. Trong khi đó, tăng trưởng GDP bình quân cả nước phấn đấu đạt 6,5%-7%/năm. Với tốc độ tăng dân số phấn đấu giữ ở mức 1%/năm, như vậy tăng trưởng GDP bình quân đầu người cả nước trong giai đoạn này sẽ là 5,5%-6,5%/năm, tức cũng tương đương mục tiêu tăng thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn. Lưu ý rằng yếu tố kéo GDP cả nước là tăng trưởng công nghiệp và dịch vụ, ở các khu vực thành thị và công nghiệp, chứ không phải ở khu vực nông thôn nên thông thường tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn sẽ phải thấp hơn đáng kể, chứ không thể tương đương với tốc độ tăng thu nhập (hoặc tăng GDP) bình quân đầu người cả nước. Bởi vậy, đặt mục tiêu tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn như trong chương trình nông thôn mới như hiện nay cũng là duy ý chí, không có tính thực tiễn, nên nếu thực tế có đạt được mục tiêu này thì chắc chắn đó là do “vẽ ra” trên giấy.

Tóm lại, phong trào xây dựng nông thôn mới cho thấy hơi hướng của các phong trào rầm rộ trong cả nước trước đây, như phong trào hợp tác hóa, thủy lợi hóa, cải cách ruộng đất, cải tạo công thương, đi kinh tế mới… nhưng với quy mô và tầm ảnh hưởng thậm chí còn lớn hơn nhiều. Điểm chung của những phong trào này là sự duy ý chí với quy hoạch và kế hoạch thực hiện được lập ra trên bàn giấy, xa rời thực tiễn, bất chấp năng lực thực hiện. Do người lãnh đạo các địa phương phải đạt được các mục tiêu chung đề ra nên họ phải dùng nhiều thủ đoạn và phương cách, cả tốt lẫn xấu để cốt sao “về đích” và hoàn thành kế hoạch, mà không ít trường hợp là ngụy tạo, không thực chất.

Trong bối cảnh nguồn lực cả nước đang eo hẹp, phải dàn trải để giải quyết nhiều vấn đề cấp bách, chương trình xây dựng nông thôn mới nên được thực hiện một cách có chọn lọc, về mục tiêu và phạm vi, để không chỉ có thêm nhiều khả năng mang lại những kết quả thiết thực hơn, mà còn giúp tiết kiệm cho ngân sách quốc gia những khoản chi khổng lồ, không đẩy nền kinh tế lún thêm vào vũng lầy nợ nần kéo dài trong nhiều năm sau này.


[1] http://kientrucvietnam.org.vn/quy-hoach-xay-dung-nong-thon-moi-nhung-van-de-dat-ra/

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).