Thursday, 16 February 2017

Bàn thêm về Thông tư 39 (Bài đăng trên Doanh nhân Sài Gòn, 16/2/2017, bản gốc, tiêu đề do báo đặt lại)

http://www.doanhnhansaigon.vn/van-de/ban-them-ve-thong-tu-39/1102753/

Ngày 30/12/2016, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Thông tư 39 Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, có hiệu lực thi hành từ 15/3/2017. Thông tư 39 có một số điều khoản bất hợp lý như dưới đây mà NHNN có thể cần thiết phải xem xét, sửa đổi cho phù hợp trước ngày Thông tư này có hiệu lực.

Điều 6, về sử dụng ngôn ngữ, Thông tư 39 quy định thỏa thuận cho vay được lập bằng tiếng Việt hoặc đồng thời bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài. Tuy nhiên, điều khoản này là bất hợp lý nếu cả khách hàng và ngân hàng cho vay đều là nước ngoài. Trong trường hợp này, quy định thỏa thuận cho vay phải bằng tiếng Việt không những là thừa mà còn là một trở ngại không đáng có cho việc vay vốn tương ứng.

Điều 7 quy định khách hàng phải có phương án sử dụng vốn khả thi. Quy định này có thể là hợp lý nếu khách hàng là, ví dụ, doanh nghiệp vay vốn để sản xuất kinh doanh. Nhưng sẽ là bất hợp lý, hoặc trở nên thừa, nếu khoản vay chỉ là để cho những mục đích như tiêu dùng, là cái mà không thể nói/yêu cầu phải có phương án sử dụng vốn “khả thi”.  
Điều 8 quy định về những nhu cầu vốn không được cho vay, trong đó có nhu cầu để trả nợ khoản nợ vay tại chính tổ chức tín dụng cho vay. Có một nghiệp vụ cho vay thông dụng trên thực tế là vay để đảo nợ. Chẳng hạn, khi khách hàng mở một tài khoản thẻ tín dụng với ngân hàng và được ngân hàng cấp cho một hạn mức tín dụng cụ thể nào đó. Khách hàng có thể vay nhiều lần trong hạn mức này dưới một số hình thức, ví dụ như chuyển số dư (balance transfer), trong thời hạn 6 tháng. Giả sử hạn mức này là 100 triệu đồng, khách hàng trong lần vay thứ nhất chỉ vay 50 triệu đồng trong 6 tháng, thì người này vẫn có thể được ngân hàng cho vay thêm 50 triệu đồng trong lần vay thứ hai (với mục đích tùy ý, mà có thể là để trả nợ lần vay đầu tiên). Nay, nếu Thông tư 39 quy định không được cho vay để trả nợ khoản nợ vay tại chính tổ chức tín dụng cho vay thì điều khoản này hoặc là thừa hoặc là không thực tế. Dù có hay không điều 9 này thì cả ngân hàng và khách hàng đều không thể hiện trên giấy tờ mục đích của lần vay thứ hai là đảo nợ, dù thực tế là vậy, và việc cho vay kiểu này không thể bị “xử lý” bằng pháp luật được, trừ khi cấm mọi hình thức cho vay nhiều lần cho cùng một khách hàng.
Cũng tại điều 8, nhu cầu vay để trả nợ khoản nợ vay tại tổ chức tín dụng khác và trả nợ khoản vay nước ngoài cũng bị cấm. Điều này cũng là bất hợp lý với những khoản vay để, ví dụ, tất toán một hợp đồng vay vốn mua bất động sản với một ngân hàng bằng khoản vay mới cho cùng mục đích tại một ngân hàng khác, khi người vay thấy ngân hàng khác cho vay với các điều khoản và điều kiện dễ chịu hơn. Đây là một giao dịch vay vốn rất phổ thông ở nước ngoài nên nếu bị cấm thì có nghĩa là cả người vay và ngân hàng đã bị tước đi những lợi ích tiềm năng, trong khi sự cạnh tranh trên thị trường lại bị hạn chế. Trên hết, dù có bị cấm thì mục đích cho vay này vẫn có thể thực hiện được mà không thể bị phát hiện hay “xử lý” được khi mà việc vay vốn trên giấy tờ là để cho mục đích tiêu dùng, trong khi mục đích thực tế là để trả khoản vay tại một ngân hàng khác.

Khoản 2, điều 13 quy định về lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định trong từng thời kỳ nhằm đáp ứng một số nhu cầu vốn cho nông nghiệp, nông thôn; sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu; kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa; công nghiệp hỗ trợ; và kinh doanh của doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Điều khoản trên liệu có là cần thiết khi chỉ quy định khống chế mức trần lãi suất ngắn hạn cho những khoản cho vay mà thường là trung và dài hạn như trên? Quan trọng hơn, điều khoản trên (và những điều khoản khác trong Thông tư 39) không đề cập thêm về quyền lợi của tổ chức tín dụng sẽ được hưởng khi phải cho vay trong giới hạn trần lãi suất thường là thấp hơn thị trường, gây thiệt hại cho tổ chức tín dụng. Nếu không cho tổ chức tín dụng được hưởng những quyền lợi nào đó, ví dụ, được vay NHNN với lãi suất ưu đãi, thì hoặc là điều khoản này là duy ý chí, đi ngược nguyên tắc thị trường (và vì thế không thể có hiệu lực được), hoặc là các tổ chức tín dụng sẽ chủ động giảm thiểu cho vay trong những lĩnh vực này (vì không có lợi bằng cho vay trong những lĩnh vực khác), tức là cũng đi ngược với chủ trương và mong muốn của NHNN.

Khoản 4, điều 13 quy định trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả. Thực tế với nhiều khoản vay thì lãi chậm trả không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả là quá thấp, thấp hơn cả lãi suất cho vay thông thường trong một số khoản vay, và điều này sẽ khuyến khích người vay trì hoãn trả nợ và lãi đúng hạn. Bởi vậy, điều khoản này cần thiết phải sửa đổi cho phù hợp hơn.
Cũng khoản 4, điều 13 quy định, trong trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Có thể nó luôn rằng mức lãi suất phạt bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn này là quá “mềm” so với lãi suất áp dụng cho các khoản vay chi tiêu qua thẻ tín dụng lên đến trên 20%/năm, gây thiệt hại một cách bất công cho các tổ chức tín dụng, khi lãi suất vay trong hạn chỉ là, ví dụ, 10%/năm.

Điều 14 quy định về các loại phí liên quan đến các hoạt động cho vay, nhưng không thấy đề cập đến những loại phí khác, ví dụ phí thay cho lãi suất. Chẳng hạn, có một số khoản vay ngắn hạn, thay vì đưa ra một lãi suất nào đó, ngân hàng lại chào một khoản phí một lần, gọi là phí xử lý khoản vay, theo một tỷ lệ nào đó tính trên số dư cho vay. Không rõ những loại phí tương tự kiểu này có được đề cập ở một văn bản quy phạm pháp luật liên quan nào đó như nêu trong điều 14 này hay không.
Điều 16 về cung cấp thông tin, có quy định khách vay phải báo cáo việc sử dụng vốn vay và chứng minh vốn vay được sử dụng đúng mục đích ghi trong thỏa thuận cho vay. Tuy nhiên, điều này là không cần thiết hoặc quá trói buộc với những khoản vay, ví dụ, tiêu dùng.

Điều 23 quy định thỏa thuận cho vay phải được lập thành văn bản. Quy định này là lỗi thời và/hoặc quá trói buộc với một số loại hình cho vay mà hoàn toàn có thể thực hiện thông qua điện thoại có ghi âm sau khi ngân hàng đã tiến hành các bước cần thiết để xác định/nhận danh tính người vay, và giải thích đầy đủ cho người vay các điều kiện và điều khoản cho vay, cũng trên điện thoại, có xác nhận (là đã hiểu) bằng lời của người vay. Ở nước ngoài, những khoản vay cá nhân lên tới hàng trăm nghìn đô la vẫn được thực hiện qua hình thức gọi điện này mà không cần phải có bất cứ một văn bản nào. Nói cách khác, quy định này cần phải để mở hơn.
Điều 24 quy định khách hàng phải báo cáo và cung cấp tài liệu chứng minh việc sử dụng vốn vay theo yêu cầu của tổ chức tín dụng. Điều này không phải là luôn cần thiết với những khoản vay tiêu dùng như đã lấy ví dụ ở trên. Với những khoản vay này nếu bắt buộc ngân hàng phải yêu cầu và khách hàng phải chứng minh việc sử dụng vốn thì đây là một điều trói buộc không cần thiết. 
 

Tỷ giá tăng là phù hợp trên mọi lẽ (Bài đăng trên CafeF, 16/2/2017, bản gốc)

 http://cafef.vn/ty-gia-tang-la-phu-hop-tren-moi-le-20170216101403094.chn

 Tuần này đã chứng kiến sự tăng mạnh của tỉ giá VND/USD trong hệ thống ngân hàng với mức tăng hàng trăm đồng và đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Sự gia tăng này có thể là điều khó hiểu với một số người nếu cứ xét theo những yếu tố “thuận lợi” ủng hộ sự ổn định tỉ giá vẫn được viện dẫn đến từ trước đến nay như cán cân cung cầu ngoại tệ không có đột biến, nguồn cung USD vẫn dồi dào do FDI vẫn khả quan và có thặng dư thương mại, đã qua mùa cao điểm thanh toán cuối năm thường làm tăng cầu USD v.v…

Tuy nhiên, nếu phân tích kỹ hơn những biến động các yếu tố cơ bản trong ngắn và trung hạn thời gian qua thì sẽ thấy sự gia tăng tỉ giá như hiện nay không chỉ là kết quả tất yếu của những yếu tố thị trường khách quan mà còn phù hợp ngay với những định hướng chính sách của Chính phủ nói chung và Ngân hàng Nhà nước (NHNNN) nói riêng.

Trước tiên, xét về yếu tố thị trường khách quan, phải kể đến sự lên giá đáng kể của đồng USD trong nửa tháng qua, bắt đầu đi lên từ mức 99,512 ngày 31/1 và tăng một mạch lên mức 101,24 ngày 15/2 là mức cao nhất trong hơn một tháng qua (Biểu 1). Như vậy, USD đã lên giá 1,7% so với rổ các đồng tiền chủ chốt dùng để xác định chỉ số dollar.

Trong khi đó, như ở Biểu 2 cho thấy, tỉ giá VND/USD cũng có xu hướng đi lên khá rõ rệt trong cả 1 tháng qua, trừ một số ngày chững lại và/hoặc giảm nhẹ. Nếu xét trong cùng kỳ từ ngày 31/1 đến 15/2 thì tỉ giá VND đã tăng 0,6%, từ mức tương ứng là 22,643 lên 22,773. Trong bối cảnh có sự mạnh lên của USD, và tương ứng với đó là sự yếu đi tương đối của các đồng tiền chính trên thế giới, việc VND mất giá so với USD là điều gần như tất yếu, tuy sự mất giá của VND vẫn còn khá khiêm tốn so với mức mất giá chung của các đồng tiền khác (tương ứng là 0,6% so với 1,7%), và điều này có được chính là nhờ việc đồng USD vẫn có mặt bên cạnh các đồng tiền chủ chốt khác trong rổ các đồng tiền để NHNN làm một cơ sở xác định tỉ giá trung tâm và điều hành tỉ giá.  

Chuyển sang yếu tố định hướng chính sách của Chính phủ và NHNN. Trong năm 2017 Chính phủ yêu cầu NHNN kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, ổn định kinh tế vĩ mô và góp phần tăng trưởng kinh tế hợp lý; điều hành tỉ giá hợp lý, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tài chính, tiền tệ trong và ngoài nước.
Trong yêu cầu và định hướng trên, rõ ràng lạm phát được xác định là mục tiêu số 1. Ổn định tỉ giá như các năm trước đã không còn được đặt ra, thay vào dó là để cho tỉ giá diễn biến “phù hợp” với các yếu tố trong và ngoài nước. Ý nghĩa của định hướng này là NHNN có nhiều dư địa chính sách hơn với tỉ giá, có thể để biến số này biến động nếu thực tiễn đòi hỏi phải vậy.
Quay trở lại với diễn biến tỉ giá gần đây. Lạm phát có dấu hiệu tăng mạnh tháng 1 như là kết quả của việc NHNN đã bơm mạnh thanh khoản trước Tết (một phần thông qua việc mua vào hàng tỉ USD trong tháng 1). Để giảm áp lực lạm phát, NHNN gần đây hơn đã phải liên tục hút bớt thanh khoản qua thị trường mở OMO. Nhưng điều này lại dẫn đến một kết quả không mong muốn là làm gia tăng áp lực lên lãi suất, gây khó khăn cho việc vay vốn với lãi suất thấp hơn của doanh nghiệp, đi ngược lại với yêu cầu của Chính phủ với NHNN là điều hành chính sách tiền tệ để hỗ trợ tăng trưởng.
 
Để tránh tình trạng tiến thoái lưỡng nan trên, NHNN buộc phải chuyển sang hỗ trợ tăng trưởng thông qua kênh tỉ giá, tức là để VND yếu đi so với USD qua đó kích thích xuất khẩu để bù đắp tác động tiêu cực của việc thắt chặt hơn cung tiền làm tăng áp lực lên lãi suất.    

Lưu ý rằng việc nới lỏng tỉ giá vẫn có thể thực hiện được trong bối cảnh NHNN đã chủ động thắt chặt lại hơn cung tiền thông qua việc ngừng bán hoặc bán USD với giá cao hơn nhằm đẩy tỉ giá lên. Và việc để tỉ giá biến động đi lên như vừa qua cũng hoàn toàn phù hợp với thực tiễn khách quan là USD đã mạnh lên so với các đồng tiền khác, đúng như chỉ đạo của Chính phủ. Chủ trương nới lỏng tỉ giá này của NHNN cũng được thể hiện rõ qua sự biến động đáng kể theo hướng đi lên của tỉ giá trung tâm mấy ngày gần đây.
Cũng lưu ý thêm rằng việc VND mới chỉ mất giá vừa phải so với USD trong khi các đồng tiền chủ chốt khác mất giá nhiều hơn cho thấy thực ra VND đã lên giá so với các đồng tiền chủ chốt nói chung, và , do đó, đã có tác động tiêu cực lên xuất khẩu của Việt Nam. Như thế có nghĩa là vẫn còn nhiều áp lực làm VND suy yếu đáng kể hơn nữa để tỉ giá thực sự hỗ trợ tăng trưởng xuất khẩu, nhất là nếu USD tiếp tục xu hướng lên giá so với các đồng tiền khác trong những tuần tới.

Tóm lại, trong bối cảnh có sự thay đổi trật tự ưu tiên các mục tiêu điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ và những diến biến bất lợi trong và ngoài nước, việc tỉ giá VND/USD có xu hướng đi lên là tất yếu và sẽ còn tiếp tục nếu những diễn biến bất lợi này tiếp tục kéo dài trong thời gian tới.   


Monday, 13 February 2017

Luật Hỗ trợ tái cơ cấu các ngân hàng và xử lý nợ xấu: Muộn còn hơn không! (Bài đăng trên TBKTSG, 13/2/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/156707/Luat-Ho-tro-tai-co-cau-cac-ngan-hang-va-xu-ly-no-xau-Muon-con-hon-khong.html


Phát biểu tại hội nghị triển khai kế hoạch năm 2017 của VietinBank diễn ra ngày 9-1-2017, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Lê Minh Hưng cho biết cần có khuôn khổ pháp lý để xử lý nợ xấu và tái cơ cấu ngân hàng. NHNN sẽ phối hợp để xây dựng luật tạm gọi là Luật Hỗ trợ tái cơ cấu các ngân hàng và xử lý nợ xấu.
Theo đó, những vấn đề về xử lý các ngân hàng trong diện tái cơ cấu chưa có quy định của luật thì sẽ được luật hóa để có hành lang pháp lý rõ ràng, có công cụ để hệ thống ngân hàng thuận lợi trong việc thực hiện đề án tái cơ cấu. Về xử lý nợ xấu, những vướng mắc tồn tại trong quy định pháp luật, ví dụ, các quy định liên quan đến thu giữ tài sản đảm bảo để đảm bảo quyền lợi của người cho vay, cũng sẽ được đưa vào luật để tháo gỡ các khó khăn khi xử lý nợ xấu. Về xử lý sở hữu chéo, sẽ đưa vào luật những quy định chặt chẽ hơn để hạn chế thao túng, sử dụng ngân hàng nhằm mang lại lợi ích cho công ty sân sau.
Đã và sẽ rất cần thiết
Có thể nói ngay rằng xây dựng và ban hành một luật như trên là một điều rất cần thiết, lẽ ra đã phải làm ngay trước khi NHNN thực hiện những động thái liên quan đến tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, mua lại bắt buộc các ngân hàng thương mại (NHTM) với giá 0 đồng, và xử lý nợ xấu mà chủ yếu thông qua việc cho ra đời Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), hay “tạm” trích lập dự phòng, từ mà ông Hưng nêu ra trong hội nghị.


Vì sự thiếu vắng những cơ sở pháp lý như vậy mà dư luận tỏ ra không hoàn toàn thông suốt với những hành động mạnh tay xử lý các vấn đề tồn tại trong hệ thống ngân hàng như việc NHNN mua lại bắt buộc các NHTM với giá 0 đồng mà không cần sự đồng ý của các cổ đông hiện hữu, hay việc VAMC loay hoay với “đống” nợ xấu mua về khó xử lý vì các quyền hạn của ngân hàng với tư cách chủ nợ liên quan đến tài sản bảo đảm chưa được pháp luật đảm bảo…
Nên có những nội dung cụ thể nào?


Tuy NHNN không hé mở những nội dung, điều khoản cụ thể trong luật mà mình đề xuất nhưng căn cứ vào những động thái và phát biểu gần đây của các quan chức NHNN thì rất có thể sẽ có những nội dung được luật hóa liên quan đến việc các NHTM lớn, có vốn nhà nước, như Vietcombank, VietinBank và BIDV, tự nguyện hay được hoặc bị NHNN chỉ định tham gia tái cơ cấu các ngân hàng 0 đồng và các NHTM cổ phần thuộc dạng yếu kém khác. Những nội dung này có thể là quyền lợi, nghĩa vụ của các NHTM lớn này, sự ưu đãi từ cơ chế để đổi lấy việc tự nguyện hay chấp nhận tham gia tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém, cơ chế để xử lý, giảm thiểu các hậu quả và thiệt hại mang lại cho các NHTM có vốn nhà nước này sau khi tham gia tái cơ cấu.


Có một nội dung quan trọng mà nếu không được luật hóa thì sẽ là một thiếu sót lớn. Các NHTM lớn trên tuy có vốn nhà nước nhưng về nguyên tắc vẫn là các ngân hàng cổ phần, có các cổ đông tư nhân. Dù luật đề xuất nói trên có thể có các điều khoản bảo đảm lợi ích khi các ngân hàng này tham gia tái cơ cấu nhưng điều này không có nghĩa là tất cả cổ đông của các ngân hàng này đều sẽ “vui vẻ” đồng thuận tham gia tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém khác. Tất nhiên là cổ đông nhà nước mà đại diện là NHNN có thể lấy tư cách là cổ đông chi phối để loại bỏ sự phản đối của các cổ đông khác, nhất là những cổ đông nhỏ, lẻ. Nhưng sự lấn lướt này sẽ tạo ra thêm những bất đồng, những tiền lệ không hay cho mô hình hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Bởi vậy, luật đề xuất nói trên nên có thêm những điều khoản mở rộng quyền của các cổ đông nhỏ, lẻ, không chi phối trong việc quyết định có tham gia hay không việc tái cơ cấu các ngân hàng khác, chẳng hạn bằng việc nâng cao tỷ lệ bỏ phiếu chấp thuận trong hội nghị cổ đông.

Ngoài ra, nếu lấy lý do nguồn lực trong nước hạn chế, chuyện bán cổ phần cho nước ngoài còn nhiều rào cản… để cho rằng việc tái cơ cấu các NHTM yếu kém nhất thiết phải có sự tham gia của các NHTM có vốn nhà nước thì sẽ chưa thuyết phục.


Không nói đâu xa, Chính phủ đang có chủ trương huy động vàng trong dân để phát triển kinh tế. Nói điều này để cho thấy nguồn lực trong nước vẫn còn rất nhiều tiềm năng và điều thiếu vắng chỉ là cơ chế phù hợp để huy động nguồn lực này, kể cả vào việc tái cơ cấu các ngân hàng. Một trong những cách có thể thực hiện được là song song với việc ghi giảm giá trị sổ sách các khoản nợ xấu (nhất là các khoản nợ xấu ít có khả năng thu hồi) của mình, các ngân hàng yếu kém tiến hành chứng khoán hóa các khoản nợ xấu đỡ “xấu” hơn dưới sự bảo lãnh của Chính phủ (có thu phí), và có thể dùng các chứng khoán này làm tài sản thế chấp cho các giao dịch khác. Đây là một cách làm được áp dụng ở nhiều nơi, mà điển hình mới đây nhất là sự tái cơ cấu ngân hàng Popolare di Mari ở Ý.


Đồng thời, chuyện bán cổ phần cho nước ngoài còn nhiều rào cản hoàn toàn có thể khắc phục được cũng chính bằng luật hóa, hoặc sửa đổi luật hiện tại để loại bỏ những rào cản này, làm cho nhà đầu tư nước ngoài có thể tham gia thuận lợi vào việc tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém, một lĩnh vực chắc chắn cũng rất hấp dẫn với nhiều nhà đầu tư ngoại mà vướng mắc chỉ là rào cản pháp lý. Không sửa những bất cập trong luật hiện hành mà chỉ chăm chăm nghĩ đến ban hành một luật mới làm lối thoát trong cùng một lĩnh vực là điều khó hiểu, khó chấp nhận được. Nếu lo ngại sự tham gia ngày càng tăng của nhà đầu tư ngoại vào hệ thống ngân hàng Việt Nam thì cần nhớ rằng ngay các NHTM có vốn nhà nước cũng có cổ đông (không nhỏ) là các ngân hàng và nhà đầu tư nước ngoài!

Thursday, 2 February 2017

Quản trị rủi ro ngân hàng: Kỳ vọng vào Basel III, IFRS 9 (Bài đăng trên Doanh nhân Sài gòn, 2/2/2017, bản gốc, tiêu đề do báo đặt lại)

http://www.doanhnhansaigon.vn/tai-chinh-chung-khoan/quan-tri-rui-ro-ngan-hang-ky-vong-vao-basel-iii-ifrs-9/1102410/

Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2007-2008, nhiều nước trên thế giới đã rút ra được những bài học cần thiết và bắt đầu thực thi nhiều luật lệ, quy định mới nhằm củng cố sức khỏe hệ thống tài chính của mình để đề phòng những cuộc khủng hoảng tương tự có khả năng nổ ra sau này.
Thế giới đang thay đổi
Hai trong số những quy định tài chính mới và quan trọng nhất được đề xuất áp dụng năm 2018 là tỷ lệ đòn bảy của các ngân hàng thương mại quy định bởi Ủy ban Basel về Giám sát tài chính và nằm trong bộ tiêu chuẩn giám sát tài chính mới là Basel III, và IFRS 9 (Tiêu chuẩn Báo cáo Tài chính Số 9) được quy định bởi Ủy ban Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế. Những quy định khác trong Basel III yêu cầu các ngân hàng thương mại ngừng sử dụng các thước đo nội bộ để đánh giá rủi ro sẽ được áp dụng từ năm 2017.
Basel III được đề xuất nhằm giảm sự tùy tiện của các ngân hàng, tuy là đúng luật, trong việc hạch toán rủi ro. Theo quy định mới có hiệu lực đầu năm 2017, các ngân hàng thương mại sẽ không còn được phép sử dụng các mô hình đánh giá rủi ro nội bộ để đánh giá rủi ro của các đối tác và khách hàng của họ. Từ năm 2018, quy định mới này sẽ được áp dụng mở rộng ra cả việc chứng khoán hóa. Trong những năm sau đó, các ngân hàng sẽ phải đánh giá các khách hàng vay vốn của họ dựa trên các tiêu chuẩn đề xuất bởi Ủy ban Basel.
Trong khi đó, IFRS 9 thay thế cho phiên bản trước đó là IAS 39. IFRS gồm 3 chủ đề: phân loại và đo lường các công cụ tài chính, ghi nhận sớm tổn thất kỳ vọng cho các tài sản tài chính, và hạch toán phòng ngửa rủi ro.
Các quy định mới sẽ tác động mạnh đến các ngân hàng
Dù chưa có hiệu lực ngay trong năm 2017 này nhưng Basel III hiện đang bị phê phán là đã làm giảm mức độ thanh khoản toàn cầu và tốc độ tăng trưởng tín dụng. Nên khi nó chính thức có hiệu lực đầu năm 2018 thì tác động của nó sẽ còn được lớn hơn thế nhiều. Khi được thực thi, những luật lệ này được cho là sẽ bóp nghẹt hơn nữa việc cho vay của các ngân hàng thương mại, buộc các ngân hàng thương mại có xu hướng chỉ cho vay những doanh nghiệp tốt nhất. Và như thế có nghĩa là có thể sẽ làm gia tăng “dịch” phá sản trên toàn cầu vì nhiều doanh nghiệp không tiếp cận được vốn vay ngân hàng, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hơn nữa, cũng giống nhiều quy định tài chính khác trước đây, tác động của những luật lệ mới về tài chính sẽ đến sớm hơn là ngày chúng có hiệu lực. Có nghĩa là ngay trong năm mới 2017 này các luật lệ tài chính mới đã bắt đầu tác động đến các chủ thể trong nền kinh tế mặc dù ngày có hiệu lực của chúng là đầu năm 2018. 

Còn với việc thực thi IFRS 9, thì theo nhiều chuyên gia phân tích tín dụng, nó sẽ làm tăng nợ xấu tại một số ngân hàng thêm lên ít nhất 1/3. Vì khi nợ xấu, hay sự ghi nhận chúng, tăng lên, các ngân hàng sẽ phải tăng vốn chủ sở hữu lên tương ứng. Nói cách khác, các ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn và tốn kém hơn khi cho vay khách hàng.
Theo các quy định mới ở trên, với khác hàng là các doanh nghiệp có doanh thu cao hơn và tỷ lệ đòn bảy thấp hơn thì các ngân hàng thương mại sẽ cần ít vốn chủ sở hữu hơn (vì doanh nghiệp khách hàng của họ ít rủi ro hơn). Như vậy, các ngân hàng thương mại có động cơ chỉ cho vay các doanh nghiệp lớn nhất, cạnh tranh nhất (và tức là có doanh thu và lợi nhuận cao nhất), để giảm thiểu rủi ro. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp nhỏ hơn sẽ có rất ít cơ hội được vay vốn để phát triển.        
Việt Nam đi chậm hơn
Khác với thế giới đang tiến lên Basel III, ở Việt Nam bắt đầu từ tháng 2/2016, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mới chỉ định 10 ngân hàng thương mại, gồm BIDV, VietinBank, Vietcombank, Techcombank, ACB, VPBank, MB, Maritime Bank, Sacombank và VIB, thực hiện thí điểm phương pháp quản trị vốn và rủi ro theo tiêu chuẩn Basel II, “người tiền nhiệm” của Basel III.
Basel II có 3 trụ cột: yêu cầu về vốn tối thiểu, giám sát tuân thủ, và kỷ luật thị trường. Basel III cũng 3 trụ cột như trên, nhưng có thêm chữ “tăng cường”, có nghĩa là các tiêu chuẩn của Basel III sẽ cao hơn của Basel II. Ví dụ, về yêu cầu vốn tối thiểu, Basel III yêu cầu các ngân hàng phải duy trì một lượng vốn tối thiểu là 4,5% của tổng tài sản (tính theo trọng số rủi ro) từ cổ phiếu phổ thông, so với mức 2% trong Basel II. 
Khác biệt lớn khác là về phương pháp ước tính rủi ro tín dụng. Basel II khuyến khích các ngân hàng tự phát triển và áp dụng phương pháp đánh giá tín dụng nội bộ (IRB) để xác định lượng vốn tối thiểu ngân hàng cần phải nắm giữ đối với mỗi một khoản cho vay. Tại mỗi ngân hàng thương mại áp dụng Basel II, IRB được xây dựng dựa trên sự ước tính rủi ro tín dụng của mỗi khoản cho vay.

Trong khi đó, như đã nói ở trên, từ đầu năm 2017 thế giới sẽ thực thi quy định mới không cho phép các ngân hàng thương mại sử dụng các mô hình đánh giá rủi ro nội bộ để đánh giá rủi ro của các đối tác và khách hàng của họ. Lý do là, như trong một nghiên cứu của Ủy ban Basel về Giám sát tài chính năm 2013 cho thấy, cùng một tài sản nhưng mỗi ngân hàng lại áp dụng một trọng số khác nhau, nhiều khi chênh lệch nhau đến 20%, để tính rủi ro tín dụng chung (bình quân gia quyền) của ngân hàng đó (cho tất cả các tài sản mà ngân hàng đang nắm giữ), dẫn đến kết quả tính toán rủi ro tín dụng không nhất thiết phản ảnh đúng bàn chất rủi ro của các tài sản mà các ngân hàng đang nắm giữ.

Giảm thiểu tác động bất lợi
Tuy là một phiên bản cũ nhưng việc thự thi Basel II cũng đã và sẽ khá khó khăn và chật vật ở Việt Nam vì nhiều nguyên nhân. Trước tiên, Basel II đòi hỏi quốc gia áp dụng phải có một hệ thống tài chính phát triển và mạnh, vì sự áp dụng sớm Basel II ở những nước có nguồn lực hạn chế sẽ làm phân tán các nguồn lực dành cho các ưu tiên cấp bách, làm loãng thay vì củng cố sự giám sát rủi ro tài chính. Tiếp đó, áp dụng thành công Basel II đòi hỏi phải có số liệu chính xác, đáng tin cậy và kịp thời. Nếu rủi ro không được tính toán, hay bị phóng đại hoặc bị tính thấp đi có thể làm vô hiệu hóa tác dụng tích cực của Basel II. Ngoài ra, việc thiếu vắng đội ngũ chuyên gia phân tích rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại, cũng như chi phí tốn kém để áp dụng Basel II cũng là những trở ngại cho việc thực thi các tiêu chuẩn của Basel II ở Việt Nam.

Do đó, việc thực thi Basell II ở Việt Nam có thể được nhìn nhận như một bước tập dượt cho Basel III, phiên bản cao hơn và đòi hỏi nhiều hơn so với Basel II. Tuy vậy, cũng giống như Basel III và những luật lệ mới được áp dụng từ năm 2017, Basel II cũng sẽ sự phân biệt giữa các đối tượng cho vay là doanh nghiệp lớn với các doanh nghiệp nhỏ hơn vì doanh nghiệp nhỏ hơn thường được xem là có độ rủi ro cao hơn các doanh nghiệp lớn, và, do đó, đòi hỏi các ngân hàng phải có nhiều vốn hơn. Nếu không có các biện pháp khắc phục phù hợp thì nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sẽ không thể tiếp cận được vốn ngân hàng. Việc xây dựng các quỹ bảo lãnh tín dụng hay giải quyết các vấn đề về tài sản thế chấp vay vốn là một trong những biện pháp như vậy, tuy chỉ có tác dụng hạn chế. Bởi vì, ví dụ, quỹ bảo lãnh tín dụng chỉ có thể ở quy mô nhỏ do hạn chế về nguồn vốn, trong khi việc phân tích, đánh giá rủi ro để ra quyết định bảo lãnh của các quỹ này thường không thể tốt bằng các ngân hàng thương mại nên dễ dẫn đến khả năng “cụt vốn” khi các doanh nghiệp vừa và nhỏ được bảo lãnh vay vốn mất khả năng thanh toán.   
Bên cạnh đó, việc để cho các ngân hàng thương mại áp dụng sử dụng các mô hình đánh giá rủi ro nội bộ để đánh giá rủi ro của các đối tác và khách hàng của họ theo quy định của Basel II cũng là điều cần được xem xét và điều chỉnh. Bởi chính vì quy định lỏng lẻo này đã góp phần làm nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008 và Basell III được ra đời để khắc phục bất cập này. Do đó, để tránh những bất ổn và đổ vỡ trong hệ thống ngân hàng, song song với việc thực thi nhiều quy định trong Basel II, Việt Nam cần thiết phải thống nhất và áp dụng một mô hình đánh giá rủi ro chung, có thể dựa trên những tiêu chuẩn mà Ủy ban Basel đưa ra, cho tất cả các ngân hàng thương mại để tránh tình trạng các rủi ro không được lượng hóa đầy đủ và hợp lý. Nếu thấy rằng các tiêu chuẩn đánh giá rủi ro của Ủy ban Basel đưa ra là quá cao, quá khó thực hiện cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay thì cần có một sự thỏa hiệp nào đó nhưng phải đảm bảo các tiêu chuẩn chung đánh giá rủi ro ở Việt Nam sẽ phải cao hơn các tiêu chuẩn cũ theo Basel II.

Monday, 23 January 2017

Toilet… ký sự (Bài đăng trên TBKTSG, 23/1/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/156247/Toilet-ky-su.html

Có dịp sống và đi lại qua hàng chục nước từ Á, Úc sang Phi và Âu (chưa đến Mỹ), thấy chuyện về cái toilet đôi khi chẳng phải chỉ đơn giản là cái toilet mà còn cho thấy nhiều vấn đề khác.
Đương nhiên, với những nước nghèo, kém phát triển như Việt Nam hay ở châu Á và châu Phi, thì chuyện toilet công cộng ít, mất vệ sinh, và phải trả tiền là chuyện hầu như tất yếu phải thế, không thể khác, không có gì là đáng ngạc nhiên hay thất vọng cả. Bởi vậy, nếu có đi du lịch ở những nước này thì tốt nhất là luôn phải chuẩn bị tâm thế để đối phó với chuyện tìm đỏ mắt không thấy cái toilet nào trên đường thiên lý, hoặc phải bịt mũi nhắm mắt cho xong chuyện mà vẫn có thể cứ phải trả tiền dù đã mua hàng hóa hay dịch vụ của nơi đó, ví dụ như siêu thị hay nhà ga.
Vẫn cái chuyện toilet đó và ở ngay trong khu vực, nếu mà sang những nước giầu có, phát triển như Singapore và Nhật thì hầu như chắc chắn là “Xin chúc mừng bạn đã đến thiên đường của… toilet!” Toilet có ở hầu hết khắp mọi nơi, kể cả những nơi hẻo lánh, chẳng mấy khi phải xếp hàng vì “cầu” cao hơn “cung”, mà lại hầu như rất ít nơi phải trả tiền, gần như hoàn toàn miễn phí cho mọi người qua lại. Thậm chí, ở Nhật, có lẽ do thời tiết mùa đông lạnh giá kết hợp với chuyện là xã hội có nhiều người cao tuổi, hay chỉ đơn giản bởi tại văn hóa sạch sẽ của người Nhật nó là thế nên nước này đã trang bị các bệ xí bệt hiện đại với vòi xịt rửa nước nóng và xấy khô trong các toilet tại rất nhiều địa điểm công cộng, và tất nhiên cũng hoàn toàn miễn phí. Và cũng không rõ có phải do ý thức cao của người Nhật hay không mà các toilet đều khá sạch sẽ, khô ráo, dù ít khi nhìn thấy nhân viên vệ sinh quét dọn.
Ở nước giầu như Singapore, “thiên đường toilet” có hơi khác với Nhật một chút ở chỗ là chất lượng không được đồng đều như vậy. Toilet công cộng ở nhiều nơi “xịn” và sạch như khách sạn 5 sao, và tất nhiên là vẫn miễn phí hoàn toàn, trực tiếp hay gián tiếp. Trong khi đó, toilet ở một số nơi lại khá bầy hầy, dù cũng có người quét dọn thường xuyên. Có lẽ lý do tại ý thức của nhiều người Singapore, và nhiều người nước ngoài sống hoặc du lịch tại nơi đây chưa đạt đến đẳng cấp của người Nhật chăng?
Và cũng chẳng nơi nào giống như Singapore khi ở sân bay Changi, cứ cách một vài chục mét lại có một toilet lớn có thể phục vụ hàng chục người một lúc, với màn hình điện tử đặt ngay ngoài cửa ra vào để khách sử dụng toilet xong có thể chấm điểm ngay người lao công trực trong phiên đó. Từ những điều nhỏ nhặt như vậy nên chẳng phải ngẫu nhiên mà Changi được xếp hạng là một trong những sân bay lớn tốt nhất thế giới.
Đến đây, chắc nhiều người sẽ chép miệng tự nhủ, thì tại nước người ta giầu có, phúc lợi cao, thuộc diện “nhà có điều kiện” mới làm được như thế chứ, đâu có gì lạ?
Xin thưa luôn là không phải vậy!
Nếu đặt chân đến châu Âu, kể cả một số nước Tây Âu giầu có và nhiều phúc lợi hạng cao như Áo và Đức, nếu ai là người có vấn đề với hệ tiêu hóa và bài tiết thì hơi bị… phiền! Phiền từ chuyện không phải lúc nào cũng tìm thấy toilet công cộng, hoặc nếu may có tìm được thì phải xếp hàng dài (nhất là bên nữ), đến chuyện một số tiền không nhỏ sẽ chui khỏi túi mình cho các toilet sau mỗi ngày lang thang ngoài đường.

Nơi đây, có lẽ nhu cầu đi toilet bị xếp hạng thấp nhất, không đáng quan tâm đến trong số những nhu cầu cơ bản của con người. Hoặc giả người dân nơi đây “nhịn” giỏi, có ít nhu cầu đi toilet. Hoặc nữa là Chính phủ muốn dành phúc lợi cho những chuyện khác cấp bách hơn chuyện toilet, nên chuyện toilet ở đây mới có nhiều cái “lạ” trong mắt những người đến từ nơi khác.
Chưa kể đến những nơi hẻo lánh hơn, ngay trong các siêu thị, trung tâm mua sắm, nhiều cái khá rộng, vài ba tầng như trong tòa nhà ngay cạnh vị trí vừa bị khủng bố bằng xe tải ở Berlin hồi tháng 12 vừa qua, chỉ duy nhất có một cái toilet với hàng người dài với nét bồn chồn đợi đến lượt hiện rõ trên mặt (lậy trời mong không ai bị tiêu cấp!).

Ở những nơi công cộng do Chính phủ quản lý như nhà ga, bến tầu, một số địa điểm tham quan người sử dụng vẫn cứ phải trả tiền để vào toilet (mỗi lần nửa euro hoặc hơn, tức khoảng 12-13 nghìn đồng) dù đã mua vé tầu, xe, hay vé vào cửa. Nên biết thêm là nửa euro này ở Đức là gần mua được một chai nước, một phong kẹo chocolate, hay một chai sữa trong siêu thị rồi đó. Thôi đành tự lý giải (để cho đỡ tức) rằng mức vé đã được Chính phủ tính “sát nút”, không bao gồm chi phí thuê lao công quét dọn vệ sinh, và/hoặc Chính phủ không muốn người khác, nhất là không phải khách hàng, dùng “chùa” dịch vụ của mình.

Một số cửa hàng cửa hiệu hoặc không bố trí toilet cho khách mua, hoặc có nhưng vẫn thu tiền mà lại lờ đi chuyện hoàn lại cho khách khi khách mua hàng hóa và dịch vụ của họ, tuy ở một số cửa hàng khác, như McDonald’s, thì sòng phẳng và công bằng hơn khi khấu trừ lại tiền phí toilet nếu khách chìa ra hóa đơn sử dụng toilet ra khi mua đồ ăn của họ (hóa đơn này in ra bởi máy tự động đặt ở cửa toilet, phải nhét tiền xu thì mới vào được bên trong). 
Tóm lại là hầu như không có một mô thức chung nào cho cái toilet từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam cả. Nhưng có một điểm chung có thể rút ra là, trừ một số rất ít nước “đặc thù” như Nhật và Singapore ra, ở mọi nơi, mọi quốc ga, dù là giầu hay nghèo, đã hay đang phát triển, và phúc lợi công cộng cao hay thấp, nếu là người tiết kiệm và không muốn bị rầu lòng, phiền toái với chuyện toilet thì tốt nhất là nên nhịn ăn, nhịn uống tối đa trước và trong khi ra đường!

Friday, 20 January 2017

Không có lý do gì để Việt Nam bỏ Tết âm lịch (Bài đăng trên Doanh nhân Sài gòn, 20/1/2017, bản gốc)

http://www.doanhnhansaigon.vn/van-de/khong-co-ly-do-gi-de-viet-nam-bo-tet-am-lich/1102462/

Những năm gần đây, mỗi dịp gần Tết âm lịch là lại nổ ra cuộc tranh luận gay gắt và xem ra bất phân thắng bại về chuyện nên hay không duy trì Tết âm lịch, có nên nghỉ dài (từ 7 đến 10 ngày) hay không, và có nên gộp Tết âm lịch vào Tết dương lịch hay không.

Qua theo dõi dư luận, thấy bên phản đối duy trì Tết âm lịch, hoặc ủng hộ chuyện gộp 2 cái tết này vào với nhau đưa ra một số lý do sau:

Thứ nhất, nghỉ Tết âm lịch 10 ngày, hay kể cả 7 ngày, là quá dài. Điều này không những là ngược với phần còn lại của thế giới khi họ làm việc thì ta nghỉ (và khi họ nghỉ Noel, nghỉ Tết dương lịch thì ta lại làm việc), ảnh hưởng đến quan hệ với đối tác nước ngoài, mà còn ảnh hưởng đến tâm lý và năng suất làm việc (trước và sau Tết người lao động làm việc uể oải, cầm chừng), kéo theo những tệ nạn như nhậu nhẹt, tai nạn giao thông v.v...

Thứ hai, Nhật đã chuyến sang ngày Tết dương lịch, bỏ Tết âm lịch (hoặc chỉ nghỉ 1 ngày), Hàn Quốc cũng đang đi theo hướng này, trong khu vực chỉ còn Trung Quốc và Việt Nam là nghỉ Tết âm lịch nhiều.

Thứ ba, Việt Nam phải theo tiến trình văn minh của thế giới, tiến hành hội nhập bằng cách chuyển/gộp Tết âm lịch vào Tết dương lịch, thay đổi hình thức ăn Tết âm lịch theo hướng ngắn hơn, văn minh hơn (tức là ít đến thăm nhau hơn, ít ăn nhậu hơn, hướng đến các hoạt động văn hóa chất lượng hơn).

Thứ tư, Việt Nam thuộc diện có nhiều ngày nghỉ lễ cao nhất khu vực. Những nước như Thái Lan, Lào, và Singapore chỉ nghỉ 4 - 5 ngày trong các dịp quốc  lễ.

Dưới đây, xin phân tích từng lý do trên để xem xét điểm hợp lý và bất hợp lý của chúng.

Về lý do thứ nhất, thực ra những năm gần đây Việt Nam mới nghỉ nhiều ngày trong dịp Tết âm lịch như vậy, chứ trước đây chỉ nghỉ 3 ngày (từ mùng 1 đến 3 Tết). Gần đây, số ngày nghỉ tăng lên không phải là người dân được nghỉ nhiều hơn, mà là do phải làm bù vào những ngày trước hoặc sau Tết âm lịch để thời gian nghỉ Tết kéo dài hơn mà không bị gián đoạn.
Cho đến năm trước vẫn là như vậy, nhưng riêng năm nay thì không thấy đả động gì đến chuyện phải làm bù, mà cụ thể là là cho ngày 26/1 và 27/1 (tức 29 và 30 Tết) là ngày lẽ ra không được nghỉ Tết.
Vậy, chuyện nghỉ dài ở Việt Nam thực ra không phải là nghỉ dài, chẳng qua chỉ là nghỉ trước, làm bù sau, hoặc làm bù trước, nghỉ sau, và số ngày nghỉ trong năm thì vẫn thế (ít nhất là đúng cho đến năm trước). Nói cách khác, không phải vì có Tết âm lịch mà (gần đây) chúng ta được nghỉ dài, nghỉ thêm này. Do đó, phê phán vì có Tết âm lịch nên nghỉ dài là bất hợp lý. Cái có thể phê phán ở đây chỉ là sự tùy tiện trong cách tính ngày nghỉ Tết và không thông báo trước lịch nghỉ Tết từ lâu để toàn xã hội biết mà điều chỉnh lịch làm việc (mãi đến khoảng tháng 10 hoặc muộn hơn thì Chính phủ mới thông báo lịch nghỉ Tết của năm đó).

Về chuyện nghỉ ngược với thế giới, điều này là một thực tế. Nhưng nếu vì chuyện này mà yêu cầu phải bỏ Tết âm lịch (hoặc gộp vào Tết dương lịch) để cho giống thế giới thì có khác gì yêu cầu các nước phải "nhất thể hóa", có ngày nghỉ giống nhau? Còn nếu lý luận rằng ngày nghỉ có thể khác nhau nhưng miễn là phải ngắn để đỡ bị ảnh hường thì hãy xem bảng dưới đây.


Các nước trong khu vực có từ 6 ngày nghỉ lễ liên tục trở lên trong năm 2017
 (Kể cả ngày nghỉ trùng vào thứ bảy, chủ nhật)

Quốc gia/vùng lãnh thổ
Thời gian nghỉ
Số ngày
Myanmar
12/4 - 23/4
12
Trung Quốc
27/1 - 2/2
7*
Indonesia
24/6 - 2/7
8
Việt Nam
26/1 - 1/2
7
Đài Loan (Trung Quốc)
27/1 - 1/2
6

* Gồm cả ngày nghỉ do làm bù trước hoặc sau kỳ nghỉ. Nguồn: http://publicholidays.asia

Theo bảng trên, mới chỉ xét đến các nước Đông Á và Đông Nam Á đã có thể thấy ít nhất có 4 nước ngoài Việt Nam có những kỳ nghỉ dài liên tục từ 6 ngày trở lên trong năm 2017 (chưa kể 3 nước khác là Brunei, Nhật và Thái Lan có một kỳ nghỉ liên tục 5 ngày, gồm cả thứ bảy và chủ nhật, khác biệt hoàn toàn với khu vực và thế giới). Tại sao các nước trên không bãi bỏ hoặc gộp những ngày nghỉ dài của mình vào những ngày nghỉ khác cho giống, cho “hội nhập” với thế giới?
Về chuyện nghỉ dài nên năng suất lao động giảm, điều này thuộc về chuyện nội bộ của công ty, cơ quan, những người sử dụng lao động, do những lý do ví dụ như thiếu vắng những biện pháp kỷ luật lao động cứng rắn và phù hợp để buộc người lao động quay trở về với nhịp điệu lao động như cũ, chứ không phải do tại nghỉ dài. Hơn nữa, nếu cứ cho rằng nghỉ dài là giảm năng suất lao động thì chẳng lẽ Nhà nước cần cấm người lao động được nghỉ phép liên tục, ví dụ 5 ngày trong một lần nghỉ sao? Quay trở lại với những nước ở bảng trên và những nước có kỳ nghỉ dài cả tuần lễ, mà thường được gọi là “golden week”, như Nhật và Trung Quốc, liệu có ai chứng minh được năng suất lao động của họ giảm đi sau kỳ nghỉ lễ?

Tương tự, không thể “đổ lỗi” cho nghỉ dài kéo theo tai nạn, tệ nạn. Đã là ngày nghỉ, dù chỉ 1 ngày thì người ta vẫn cứ ăn nhậu, vẫn có thể gây ra tệ nạn, tai nạn như thường. Để tránh hậu họa thì chỉ còn cách cấm tiệt “ăn” Tết, theo đúng nghĩa đen! Nói cách khác, Tết âm lịch không phải là nguyên nhân của tệ nạn, tai nạn.

Lý do thứ hai, rằng Nhật và Hàn Quốc đã/đang chuyển Tết âm lịch sang Tết dương lịch, chỉ còn Trung Quốc  và Việt Nam nghỉ Tết âm lịch nhiều.

Nếu hàm ý rằng 2 nước này nhờ chuyến sang ăn Tết dương lịch nên mới được như ngày nay thì rất thiếu căn cứ. Chẳng ai chứng minh được bằng con số (thực chứng) rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa bỏ Tết âm lịch hoặc gộp Tết âm lịch vào Tết dương lịch với sự giàu mạnh của một quốc gia.

Kể cả lập luận rằng 2 nước trên được như ngày này là nhờ họ có ngày nghỉ Tết âm lịch ngắn, trái với Việt Nam và Trung Quốc, thì đây vẫn là lập luận phi lý, vì bản thân Trung Quốc nghỉ (Tết âm lịch) nhiều như vậy nhưng họ đã vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ hai toàn cầu, sắp có cơ soán ngôi đầu bảng của Mỹ. Vậy thì chuyện nghỉ Tết âm hay không, và nghỉ dài hay ngắn, xem ra không có mấy liên hệ với chuyện quốc gia đó có giàu có lên được hay không

Về lý do thứ ba, rằng Việt Nam phải theo tiến trình văn minh của thế giới, có vẻ như những người phản đối Tế âm lịch đánh đồng chuyện nghỉ/ăn Tết âm lịch với sự lạc hậu, không văn minh. Nếu đúng vậy thì cần biết rằng không chỉ người dân ở Việt Nam hay Trung Quốc và vùng lãnh thổ Hồng Kông hay Đàl Loan, mà cả người dân ở các nước như Singapore và Thái Lan, Brunei, Indonesia và Malaysla, cũng coi Tết âm là ngày lễ quốc gia và người dân được nghỉ lễ. Rõ ràng không thể gắn chuyện bỏ Tết âm lịch với trào lưu thế giới hay hội nhập gì cả.


Và dù rằng Brunei, Indonesia, và Malaysia là các quốc gia Hồi giáo nhưng các nước này vẫn coi Tết âm lịch là ngày nghỉ lễ quốc gia, chứ không vì lý do hội nhập hay “giữ gìn sự trong sáng” của, ví dụ, văn hóa đạo Hồi mà họ cấm đoán, chối bỏ hay hợp nhất ngày lễ này, vốn là ngày lễ theo tập quán, văn hóa ngoại đạo. Cũng cần biết rằng Indonesia chính thức chọn Tết âm lịch là ngày nghỉ lễ quốc gia từ 2003.
Các nước khác sẵn lòng chấp nhận văn hóa và tập quán ngoại lai như vậy, tại sao ta lại cứ muốn chối bỏ văn hóa và tập quán có từ hàng ngàn năm nay của cha ông, nhất là khi chưa ai chứng minh được rằng thứ văn hóa, tập quán này (nghỉ Tết âm lịch) là xấu?

Và cũng nên biết thêm rằng tập tục ăn/vui Tết âm lịch ở các nước này (ít nhất trong cộng đồng người Hoa) từ bao lâu nay vẫn là vậy. Ai thích đi thăm họ hàng, tổ chức ăn uống, lì xì thì vẫn đi, vẫn làm; ai thích tranh thủ những ngày nghỉ để đi du lịch, thưởng ngoạn văn hóa thì vẫn cứ đi. Chẳng có chuyện Tết âm lịch của họ theo hướng ngắn hơn, "văn minh" hơn, thể hiện ở việc ít đến thăm nhau hơn, ít ăn nhậu hơn, hướng đến các hoạt động văn hóa chất lượng hơn... như những người phản đối Tết âm lịch ở Việt Nam lập luận.

Về lý do cuối cùng, Việt Nam thuộc diện có nhiều ngày nghĩ lễ cao nhất khu vực. Những nước như Thái Lan, Lào, và Singapore chỉ nghỉ 4 - 5 ngày trong các dịp quốc lễ.

Thông tin trên là hoàn toàn sai. Như bảng dưới đây cho thấy, Việt Nam thực ra có số ngày nghỉ thuộc dạng ít nhất trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á trong năm 2017, dù Việt Nam đã cho nghỉ thêm 2 ngày trong dịp Tết âm lịch năm nay (ngày 26/1 và 27/1) so với các năm trước. Do đó, nếu bỏ Tết âm lịch thì Nhà nước phải cho người dân nghỉ bù vào các thời điểm khác trong năm để đảm bảo số ngày nghỉ lễ ờ Việt Nam không trở nên quá ít ỏi so với khu vực và thế giới. Mà nếu làm như vậy thì dù có bỏ Tết âm lịch ở Việt Nam thì mọi tác động tiêu cực được gắn với Tết âm lịch (nghỉ nhiều, dài, thiệt hại kinh tế, không hội nhập, tệ nạn, tai nạn gia tăng...) vẫn sẽ còn nguyên đó.

Số ngày nghỉ lễ quốc gia tại các nước trong khu vực năm 2017
(không kể các ngày nghỉ trùng vào thứ bảy, chủ nhật)

Quốc gia/vùng lãnh thổ
Số ngày
Quốc gia/vùng lãnh thổ
Số ngày
Campuchia
21
Nhật
12
Indonesia
19
Macao
12
Myanmar
18
Hàn Quốc
11
Thái Lan
15
Trung Quốc
11
Đài Loan
14
Việt Nam
11
Hồng Kông
13
Malaysia
10*
Philippines
13
Singapore
10
Brunei
12
Lào
9

* Mỗi bang có thêm các ngày nghỉ riêng. Nguồn: http://publicholidays.asia

Tương tự, nếu gộp Tết âm lịch vào Tết dương lịch thì vẫn phải/nên đảm bảo tổng số ngày nghỉ trong năm không ít hơn so với trước đây, và, do đó, mọi chuyện rốt cuộc vẫn như cũ, chẳng giải quyết được vấn đề gì.

Sau tất cả, Tết âm lịch từ lâu đã trở thành một thứ như là tín ngưỡng trong lòng hầu hết người Việt, không nên và không dễ gì xóa bỏ.

Wednesday, 18 January 2017

Giải pháp hiện thực hóa thanh toán không dùng tiền mặt (Bài đăng trên Doanh nhân Sài gòn, 18/1/2017, bản gốc)

http://www.doanhnhansaigon.vn/van-de/giai-phap-hien-thuc-hoa-thanh-toan-khong-dung-tien-mat/1102379/

Mới đây Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016-2020. Đề án này có những mục tiêu cụ thể như đến cuối năm 2020, tỷ trọng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán ở mức thấp hơn 10%; đến năm 2020, toàn thị trường có trên 300.000 thiết bị chấp nhận thẻ POS được lắp đặt, 100% các siêu thị, trung tâm mua sắm và cơ sở phân phối hiện đại có thiết bị chấp nhận thẻ, có thể thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt; nâng tỷ lệ người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản tại ngân hàng lên mức ít nhất 70% vào cuối năm 2020 v.v…

Ví dụ về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt ở Ấn Độ
Một trong những ví dụ điển hình về sự chuyển biến nhanh chóng sang một xã hội không dùng tiền mặt là Ấn Độ. Nước này vào ngày 8/11/2016 đã đột ngột ban bố lệnh thu hồi các đồng tiền có mệnh giá 500 và 1.000 rupee, là 2 mệnh giá phổ biến nhất ở Ấn Độ, và đổi lấy các đồng tiền mới có mệnh giá 500 và 2.000 rupee có tính an toàn cao hơn.

Việc thu hồi và đổi tiền mới nói trên ngoài mục đích chính là chống tham nhũng và sự phát triển của thị trường ngầm, nó còn châm ngòi cho một diễn biến khá bất ngờ khác là buộc hàng trăm triệu người tiêu dùng nước này thành khách hàng bất đắc dĩ của hệ thống thanh toán điện tử do không còn đủ tiền mặt để tiến hành các giao dịch thanh toán thông thường như trước đây nữa. Cần biết rằng trước thời điểm 9/11/2016, giao dịch bằng tiền mặt chiếm 95% tổng số các giao dịch thanh toán ở Ấn Độ, ngay cả dịch vụ taxi Uber cũng chấp nhận thanh toán bằng tiền mặt; có tới 90% cửa hàng bán lẻ không có máy đọc thẻ và các phương tiện chấp nhận thanh toán điện tử khác; có đến hơn nửa dân số nước này không có tài khoản ngân hàng…

Dù có nhiều nghi ngại về thời điểm Ấn Độ quyết định thực hiện được điện tử hóa thanh toán trên toàn quốc trong bối cảnh tiền mặt chiếm ưu thế tuyệt đối trong các giao dịch như trên, nhưng thực tế việc chuyển sang một xã hội không dùng tiền mặt đang diễn ra nhanh chóng ở đây sau lệnh thu hồi và đổi tiền tháng 11/2016. Tài khoản ngân hàng mới đang được mở với tốc độ tăng vọt so với trước, các dịch vụ thanh toán điện tử được đẩy mạnh, hình thức giao hàng và trả tiền trong thương mại trực tuyến đã hầu như chấm dứt và những ngành nghề kinh doanh dựa trên thanh toán điện tử như mua tạp hóa online đã bắt đầu lan rộng. Báo chí đưa tin thậm chí ngay cả người bán rau trên vỉa hè cũng lắp đặt các thiết bị đọc mã vạch và thanh toán trực tuyến. Các cửa hàng bán lẻ khác thì cũng đã chấp nhận ví điện tử v.v…
Hiện thực hóa Đề án không dùng tiền mặt ở Việt Nam

Có nhiều điểm tương đồng về một xã hội bị chi phối bởi tiền mặt giữa Việt Nam và Ấn Độ, như trình độ phát triển ở mức thấp với đa phần dân chúng sống ở nông thôn, tỷ trọng tiền mặt trong thanh toán ở mức cao, số dân có tài khoản ngân hàng ở mức thấp, cơ sở vật chất phục vụ thanh toán điện tử, đặc biệt là ở nông thôn và vùng sâu, vùng xa cực kỳ thiếu thốn…
Mặc dù Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt đến năm 2020 ở Việt Nam không đưa ra những số liệu tương ứng hiện có và trong quá khứ, cho phép ta so sánh giữa hiện thực và mục tiêu để nhận biết sơ lược rằng các mục tiêu của Đề án có quá tham vọng và có thể thực hiện được vào năm 2020 hay không, nhưng như trường hợp của Ấn Độ cho thấy với sự quyết tâm cao và những biện pháp có phần cực đoan buộc các chủ thể liên đới tự giác và nghiêm túc thực hiện các bước đi cần thiết chuyển sang một xã hội không dùng tiền mặt thì Đề án hoàn toàn có khả năng sẽ được hiện thực hóa.

Trong những trường hợp như Việt Nam hay Ấn Độ, việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt phải đối mặt với một câu hỏi mang kiểu “con gà hay quả trứng có trước?”. Cụ thể, để thanh toán điện tử được phổ cập, trước tiên cần có nhiều người sử dụng rộng khắp trên cả nước. Nhưng để có nhiều người sử dụng thì phải thiết lập được một cơ sở hạ tầng kỹ thuật rộng khắp, hỗ trợ thanh toán điện tử. Đồng thời, phí sử dụng thanh toán điện tử cho cả người mua lẫn người bán phải ở mức thấp, khuyến khích mọi người chuyển sang sử dụng thanh toán điện tử vì sự tiện lợi, an toàn của nó. Nhưng phát triển cơ sở hạ tầng rộng khắp và mức phí thấp chỉ có thể thực hiện được khi hệ thống ngân hàng có đủ động lực và có điều kiện để làm những việc này, mà cụ thể hơn khi họ có thêm nhiều tài khoản thanh toán mới được mở ra để có thêm một nguồn tiền gửi thanh toán lớn hầu như không tốn phí và một cơ sở khách hàng lớn tạo điều kiện cho ngân hàng hạ thấp các mức phí dịch vụ liên quan đến thanh toán nhưng vẫn làm tăng tổng thu nhập từ dịch vụ thanh toán cho các ngân hàng.     
Để giải quyết tình trạng “con gà hay quả trứng” nói trên, những động thái chính sách mang tính cưỡng bức gần đây của Chính phủ như bắt buộc các giao dịch mua bán bất động sản và xe máy, ô tô phải thực hiện không dùng tiền mặt là những tiền đề và động thái đúng đắn và cần nhanh chóng nhân rộng mang tính cưỡng bức ra các lĩnh vực và ngành nghề khác. Một trong những lĩnh vực kế tiếp là mua bán trực tuyến nhưng không được phép thực hiện thông qua hình thức giao hàng-trả tiền mặt. Tương tự như vậy là các dịch vụ chia sẻ trực tuyến như Uber, Grap Taxi và Easy Taxi v.v... Những động thái chính sách này của Chính phủ, ở một góc độ nào đó cũng có ý nghĩa tương tự như hành động đổi tiền mang tính cưỡng bức, cực đoan hơn của Ấn Độ, sẽ tạo điều kiện, khuyến khích và bắt buộc thêm nhiều người chuyển sang mở tài khoản tại ngân hàng và chấp nhận thanh toán không dùng tiền mặt.

Về phía các đơn vị cung cấp hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt là các hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ ở nông thôn và vùng sâu vùng xa, việc trang bị các máy đọc thẻ và thiết bị thanh toán đầu cuối, cũng như nối mạng để thực hiện thanh toán điện tử không phải là điều dễ dàng và ít tốn kém, nên sự hỗ trợ về chính sách, kỹ thuật và tài chính của Chính phủ cũng là điều cần thiết.
Chính phủ cũng cần thiết phải tăng cường tuyên truyền sâu rộng cho người dân và doanh nghiệp về lợi ích sử dụng thanh toán điện tử, ví dụ bằng những bài toán cụ thể cho thấy tính an toàn và hiệu quả hoàn toàn có thể bù đắp được những tốn phí trong sử dụng thanh toán điện tử để khuyến khích mọi người tích cực chuyển sang các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt. Đồng thời, Chính phủ cần thúc đẩy phát triển hạ tầng kỹ thuật để phủ sóng nối mạng internet toàn quốc, hỗ trợ nhân rộng thanh toán không dùng tiền mặt trên cả nước.

Song song đó, ở phía các ngân hàng thương mại, Chính phủ cũng cần có những động thái chính sách mang tính cưỡng bức và khuyến khích để họ tiến hành mở rộng và nâng cấp cơ sở hạ tầng và hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt (ví dụ như đặt điều kiện về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt cho việc mở và duy trì các chi nhánh và điểm giao dịch), cũng như hạ thấp các loại phí dịch vụ (ví dụ, quy định mức trần về phí giao dịch, thanh toán điện tử). Do trước mắt, việc trang bị và nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật là rất tốn kém với các ngân hàng nên các chính sách hỗ trợ cần thiết của Chính phủ như miễn giảm thuế và các nghĩa vụ giao nộp, hay cho vay hỗ trợ từ Ngân hàng Nhà nước. 

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).