Friday, 12 October 2018

Nên cởi mở đón nhận cho vay ngang hàng (Bài đăng trên CafeF, 12/10/2018)

http://cafef.vn/chuyen-gia-nen-coi-mo-don-nhan-cho-vay-ngang-hang-20181012110544971.chn

Cho vay ngang hàng (P2P) đã ra đời và phát triển từ hơn chục năm nay trên thế giới và cũng đã xuất hiện ở Việt Nam với hàng chục doanh nghiệp hoạt động khá rầm rộ tuy chưa một doanh nghiệp nào được cấp phép chính thức cho hoạt động này vì cơ quan chức năng chưa đưa ra được khuôn khổ pháp lý thích hợp.
Tuy nhiên, tin tức về hàng loạt vụ phá sản, đóng cửa, bỏ trốn của các (chủ) doanh nghiệp cho vay ngang hàng ở Trung Quốc đã làm cho dư luận tại Việt Nam hiện có hướng thiên về kiến nghị Nhà nước cấm đoán hoạt động này ở Việt Nam. Chẳng hạn, theo một cuộc khảo sát nhỏ trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn mới đây, kết quả cho thấy có đến 81% số người tham gia khảo sát trả lời là không nên phát triển mô hình cho vay ngang hàng ở Việt Nam. Còn trong dư luận, không ít ý kiến cho rằng cho vay ngang hàng là một dạng kinh tế tài chính "ảo", dịch vụ "ảo" nên trước sau gì cũng mang đến những kết quả "ảo", kết cục xấu (cho người cho vay tiền).
Thực tế, cái nhìn tiêu cực như trên đối với cho vay ngang hàng có lẽ phần nhiều xuất phát từ tâm lý "con chim bị tên thấy cành cong cũng sợ". Nếu được hiểu một cách thấu đáo hơn thì cho vay ngang hàng không chỉ không đáng sợ như vậy mà còn mang lại nhiều lợi ích cho xã hội, nếu biết cách quản lý và phát huy.
Lợi và hại
Lợi ích lớn nhất là tất cả các bên trong các giao dịch cho vay ngang hàng đều được hưởng lợi. Người đi vay thì được vay với một lãi suất tuy cao hơn ngân hàng nhưng thậm chí còn thấp hơn cả vay từ các công ty tài chính/vay tiêu dùng. Người cho vay thì được hưởng một lãi suất cao hơn nhiều so với nếu họ gửi tiết kiệm tại ngân hàng. Sàn/nền tảng cho vay ngang hàng thì được hưởng phí từ cả 2 bên đi vay và cho vay, tuy với một mức khá khiêm tốn (ví dụ, sàn Funding Circle của Anh chỉ tính phí giao dịch 1% với người cho vay và 0,25% với người đi vay). Yếu tố chính đằng sau những lợi ích này là chi phí hoạt động thấp của sàn, do các giao dịch đều thực hiện online (trực tuyến) một cách nhanh chóng, với bộ máy quản lý gọn nhẹ, ít tốn kém. 
Ngoài cái lợi về lãi suất, cái lợi to lớn khác khó mà đong đếm được là sự tiếp cận của các doanh nghiệp vừa và nhỏ với các nguồn vốn phi ngân hàng sẵn có trên thị trường mà chẳng cần có bảo lãnh hay tài sản thế chấp. Không ít trong số những doanh nghiệp loại này đã từng và sẽ tiếp tục bị ngân hàng từ chối cho vay, làm mất đi nhiều cơ hội kinh doanh có khả năng sinh lời tốt. Điều này càng có ý nghĩa khi nền kinh tế trì trệ, tín dụng ngân hàng thì bị siết chặt do mức độ rủi ro cho vay đã tăng lên. Trong bối cảnh này, các Chính phủ càng có lý do để khuyến khích sự phát triển của cho vay ngang hàng như là một biện pháp kích thích tăng trưởng hữu hiệu nhưng không tốn kém (cho ngân sách).
Về cái hại, rủi ro lớn nhất là cho vay ngang hàng không thuộc phạm vi bảo lãnh của Quỹ bảo hiểm tiền gửi của Nhà nước nên người cho vay có thể mất trắng toàn bộ số tiền cho vay nếu người vay không/mất khả năng chi trả. Tuy nhiên, bản chất của cho vay ngang hàng – tiền của người cho vay được phân tán cho nhiều người vay – lại chính là một yếu tố giảm nhẹ rủi ro này. Thậm chí một số sàn còn tự nguyện lập ra các nguồn quỹ để "bảo hiểm" và/hoặc đền bù cho người cho vay trong trường hợp người vay không trả nợ (tất nhiên là chi phí này sẽ được cộng vào phí giao dịch mà người đi vay và cho vay phải trả cho sàn). Một số sàn khác thì giữ tài sản thế chấp là bất động sản để đảm bảo khoản vay.
Được khuyến khích phát triển
Như phân tích thêm ở dưới đây, không chỉ Trung Quốc chấp nhận cho ngành cho vay ngang hàng tồn tại và phát triển mà điều này còn đúng với nhiều nước trên thế giới bởi sự nhận thức rõ được những lợi ích mà nó mang lại cho nền kinh tế (trong khi những rủi ro, nguy hại của cho vay ngang hàng thì hoàn toàn có thể điều tiết, quản lý được).
Chẳng hạn ở Anh, hồi tháng 4/2016, Chính phủ Anh cho phép thành lập Tài khoản Tiết kiệm Tài chính Sáng tạo (IFSA) của cá nhân, qua đó cho phép công dân Anh đầu tư tới 20.000 USD vào các nền tảng tài chính khác nhau và được hoàn thuế. Những lựa chọn mà người Anh có thể đầu tư gồm có cả các nền tảng cho vay ngang hàng.
Theo dữ liệu của Chính phủ, IFSA đã thúc đẩy mạng sự tăng trưởng về giá trị giao dịch và số lượng nhà đầu tư đăng ký mới vào các nền tảng cho vay ngang hàng được cấp phép. Chẳng hạn, nền tảng Crowd2Fund chuyên cho vay các doanh nghiệp nhỏ đã đạt được tăng trưởng về vốn cho vay qua nền tảng này tới 667% và 373% tăng trưởng về số lượng nhà đầu tư đăng ký mới.
Ngăn chặn lừa đảo chứ không phải là ngăn chặn hoạt động và phát triển
Trở lại với các vụ việc lùm xùm ở Trung Quốc, điều cần lưu ý là mặc dù Chính phủ Trung Quốc trong hai năm qua đã ban hành và siết chặt các luật lệ và chính sách để hạn chế cho vay ngang hàng, nhưng sự hạn chế này là để giảm rủi ro cho người cho vay và người đi vay, nhằm mục đích thiết lập một ngành có các quy chuẩn hoạt động, chứ không phải là cấm cho vay ngang hàng.
Cụ thể hơn, Trung Quốc cấm các nền tảng/sàn cho vay ngang hàng được huy động vốn, cho vay, và "gọi vốn bất hợp pháp" để ngăn chặn việc hình thành quỹ huy động vốn theo kiểu kinh doanh đa cấp, lấy vốn của người sau trả cho người trước. Các hoạt động marketing offline cũng bị cấm, ngoại trừ hoạt động thu thập thông tin tín dụng, theo dõi vốn vay, quản lý tài sản thế chấp. Chính phủ Trung Quốc cũng cảnh báo các sàn cho vay ngang hàng – những sàn có vốn góp cổ đông và huy động vốn từ đám đông người tham gia – không được ngụy tạo mục tiêu và tự tài trợ. Các sàn cũng không được tài trợ cho các lĩnh vực như quản lý tài sản, chuyển giao cổ phần hoặc quyền của chủ nợ, hoặc cấp vốn cho thị trường các loại chứng khoán rủi ro cao, trừ khi được phê duyệt bởi cơ quan chức năng.   
Kết quả của chiến dịch siết chặt luật lệ và mạnh tay điều tra, trấn áp các sàn cho vay ngang hàng "có vấn đề" đã dẫn tới sự đóng cửa tới hơn 5.000 sàn cho vay ngang hàng ở Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 2016 đến nay. Hồi tháng 7, Chính phủ Trung Quốc tuyên bố sẽ tiếp tục chiến dịch thanh lọc này thêm 2 năm nữa trên toàn quốc nhằm ngăn chặn các hành vi lừa đảo và vi phạm quy chế, loại bỏ các doanh nghiệp cho vay ngang hàng xấu, đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh và bền vững của thị trường cho vay ngang hàng vốn sẽ mang lại lợi ích cho xã hội trong dài hạn.
Ít nhiều tương tự như vậy, Chính phủ Anh quản lý cho vay ngang hàng bằng cách yêu cầu các sàn phải tách bạch tiền của khách và tiền của mình (gửi tiền của khách vào tài khoản của bên thứ ba). Các sàn cũng được quy định phải có một lượng tiền dự trữ đề phòng mọi cú sốc tài chính (không kể các quỹ dự phòng, bảo hiểm nói ở đoạn trên). Ngoài ra, các sàn phải có kế hoạch xử lý các khoản nợ vay nếu công ty đi vay bị phá sản.
Như vậy, từ thực tiễn các nước trên thế giới có thể thấy cho vay ngang hàng về bản chất và thực tế không có gì là xấu, cần được đón nhận và tạo điều kiện phát triển ở Việt Nam. Điều cần làm ngay và trên hết là cơ quan chức năng phải đề ra được khuôn khổ pháp luật, cấp phép và thanh tra, giám sát hoạt động của các nền tảng cho vay ngang hàng hiện có và sẽ thành lập trong tương lai để đảm bảo rằng chúng hoạt động tuân thủ theo luật định, giảm rủi ro cho các nhà đầu tư (người cho vay).  

Wednesday, 10 October 2018

Nguy cơ đối mặt với cuộc khủng hoảng nợ (Bài đăng trên TBKTSG, 11/10/2018, bản gốc)

https://www.thesaigontimes.vn/279894/nguy-co-doi-mat-voi-cuoc-khung-hoang-no-.html


Kể từ lúc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung có dấu hiệu sẽ nổ ra, chứng khoán của các thị trường mới nổi đã tụt giảm mạnh, không chỉ ở Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Quốc, là hai nước mục tiêu của cuộc chiến thương mại và ngoại giao của chính quyền Trump. Thị trường của các nước mới nổi và đang phát triển khác như Argentina, Indonesia, Ấn Độ và cả Việt Nam cũng chịu chung tình cảnh.

Tuy được không ít người cho rằng Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung, nhưng thực tế khi cuộc chiến này nổ ra VnIndex đã có thời điểm mất tới 26% giá trị so với đỉnh điểm 1.204 đạt được vào ngày 9/4 năm nay (xem hình). Tuy đã có sự phục hồi nhưng VnIndex hiện vẫn còn thấp hơn đỉnh điểm này tới 15%.





Chiến tranh thương mại ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường chứng khoán là điều đáng lo ngại. Nhưng, điều đáng lo ngại không kém là gánh nặng nước ngoài ở các thị trường mới nổi có thể gây ra những cuộc khủng hoảng nợ nghiêm trọng trong bối cảnh có chiến tranh thương mại. Những cuộc khủng hoảng nợ trước đây thường gây ra hậu quả lớn hơn nhiều so với khủng hoảng chứng khoán.

Nợ doanh nghiệp của ở các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển hiện đã vượt xa mức trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Rủi ro đi kèm với thực tế này là nợ doanh nghiệp cao sẽ đe dọa ổn định tài chính và làm suy yếu nghiêm trọng bảng cân đối tài sản của các ngân hàng. Những rủi ro này hiển hiện rõ ở Đông Á, nơi có tăng trưởng kinh tế cao nhưng thường dựa trên mức vay nợ cao.

Hành động của chính quyền Trump càng tạo thêm điều kiện để cuộc khủng hoảng nợ xảy ra nhanh hơn, nguy hiểm hơn. Chiến tranh thương mại (và ngoại giao) làm các nhà đầu tư phải rút vốn khỏi thị trường chứng khoán của các nước mới nổi, làm cho các doanh nghiệp vốn không tiếp cận được tín dụng ngân hàng nên phải huy động vốn từ thị trường chứng khoán sẽ bị ảnh hưởng. Họ không thể huy động vốn mới để đáo hạn nợ cũ nữa. Đến lượt mình, các doanh nghiệp này lại làm ảnh hưởng đến các doanh nghiệp liên đới, là khách hàng vay tín dụng từ hệ thống ngân hàng, nên sẽ kéo theo nạn nhân mới là các ngân hàng khi khách vay không trả được nợ. Theo đó là một cuộc khủng hoảng nợ có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Nguy cơ của một cuộc khủng hoảng nợ kèm với việc Mỹ đánh thuế cao lên hàng nhập khẩu vào Mỹ (và ngược lại, các nước khác như Trung Quốc có biện pháp tương tự trả đũa đối với Mỹ) và triển vọng thương mại toàn cầu chậm lại sẽ làm suy giảm mạnh lòng tin và tạo tâm lý bi quan trong giới đầu tư toàn cầu. Cuộc khủng hoảng nợ tại các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển vì thế sẽ lan rộng ra cả những nền kinh tế phát triển.

So với những nền kinh tế tăng trưởng nhanh và có mức nợ doanh nghiệp cao ở châu Á được cho là dễ bị tổn thương bởi cuộc khủng hoảng nợ, Việt Nam không phải là ngoại lệ. Mức nợ nước ngoài của doanh nghiệp trên GDP ở Trung Quốc là 6,3%, Hàn Quốc là 15,1%, Malaysia là 11,7%, Thái Lan là 9,5%, Indonesia là 9,1% và Ấn Độ là 7,7%.

Ở Việt Nam, chỉ riêng nợ ngắn hạn nước ngoài của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng theo hình thức tự vay tự trả tính đến cuối năm 2017 đã là 21,9 tỷ USD (1). Với GDP khoảng 220 tỷ USD thì nợ này tương đương khoảng 10% GDP của Việt Nam. Tuy nhiên, nếu tính thêm cả nợ vay dài hạn của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng, cũng như nợ có bảo lãnh của Chính phủ và nợ của Chính phủ đi vay về cho vay lại thì chắc chắn con số này phải lớn hơn nhiều, và nhìn chung sẽ cao hơn so với các nước khác trong khu vực.

Vấn đề trở nên trầm trọng hơn khi trong cùng thời kỳ này các nước phát triển lại bắt đầu bình thường hóa chính sách tiền tệ của mình, nâng dần lãi suất để giảm áp lực lạm phát trên lãnh thổ của họ. Điều này góp phần làm “khô hạn” thanh khoản ở các nước mới nổi, đang phát triển, gây khó cho việc huy động vốn của doanh nghiệp nơi này, càng làm tăng rủi ro vỡ nợ, phá sản của chúng.

Rủi ro của một cuộc khủng hoảng nợ mới là kết quả tổng hợp của cuộc chiến thương mại đang ngày càng diễn ra kịch tính hơn, nợ doanh nghiệp tăng cao ở các nền kinh tế mới nổi, và sự thắt chặt tiền tệ ở các nước đang phát triển với Việt Nam có thể đã bộc lộ ở sự căng thẳng về tỷ giá tiền đồng/USD và áp lực tăng lên của lãi suất tiền đồng.

Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng nợ quốc tế đang rình rập, điều mà Việt Nam có thể làm được để hạn chế phần nào hậu quả là phải nhanh chóng giảm thiểu vay nợ nước ngoài của không chỉ doanh nghiệp mà còn của Chính phủ để giảm gánh nặng phải can thiệp bảo vệ tỷ giá lên NHNN cũng như bảo vệ quỹ dự trữ ngoại hối, vốn chỉ nên được dùng cho những lúc nguy cấp, ví dụ khi có chảy máu ngoại tệ ồ ạt.

Liên quan đến giảm thiểu vay nợ nước ngoài, nếu cần thiết thì phải hoãn vô thời hạn một số dự án phát triển quy mô lớn sử dụng vốn vay nước ngoài (cả ưu đãi lẫn thương mại) cho đến khi tình hình bất lợi bên ngoài trở nên đỡ rủi ro hơn. Phương châm chính sách trong giai đoạn rối ren này phải là phòng bị, giảm rủi ro, chứ không phải là mở rộng, phát triển để gánh thêm rủi ro.

Mặt khác, Việt Nam cũng cần phải tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư thân thiện hơn với nhà đầu tư để tiếp tục hấp dẫn và giữ chân dòng vốn đầu tư không chỉ trực tiếp mà còn cả gián tiếp. Về khía cạnh này, cần xử lý đúng mức để quan điểm “xét lại” về vốn FDI đang trở nên phổ biến hiện nay không làm ảnh hưởng tiêu cực đến dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam. Bởi, suy cho cùng, các yếu tố chủ quan mới là nguyên nhân của những tiêu cực mà dòng vốn FDI gây ra, nếu có, cho nền kinh tế bản địa, chứ đó không phải là đặc tính của FDI. 

(1) http://vneconomy.vn/du-no-vay-ngan-han-nuoc-ngoai-cua-doanh-nghiep-to-chuc-tin-dung-tang-dot-bien-20180527171033991.htm

Tuesday, 9 October 2018

Cần sớm quản lý cho vay ngang hàng (Bài đăng trên TBKTSG, 9/10/2018)

https://www.thesaigontimes.vn/279602/can-som-quan-ly-cho-vay-ngang-hang.html

Cho vay ngang hàng (P2P) là hình thức cho vay cá nhân và doanh nghiệp thông qua các dịch vụ trực tuyến (online) kết nối người vay và cho vay. Vì những công ty cung cấp dịch vụ cho vay ngang hàng thường giao dịch trực tuyến nên chúng có thể hoạt động với chi phí thấp, nhờ đó cung cấp dịch vụ với mức phí cũng thấp hơn so với các tổ chức tín dụng (TCTD). 

Đồng thời, người cho vay cũng hưởng lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm ngân hàng, còn người vay thì được hưởng lãi suất vay thấp hơn so với vay ngân hàng.

Do cho vay ngang hàng thường là không có, không yêu cầu tài sản bảo đảm, thủ tục đơn giản nhanh gọn nên dịch vụ này rất thích hợp với cá nhân và doanh nghiệp nhỏ và vừa - những đối tượng thường không đáp ứng được yêu cầu để được vay từ các TCTD truyền thống.
Ra đời đầu tiên ở Anh, Canada (2005) và Mỹ (2006), cho vay ngang hàng đến nay đã xuất hiện ở hàng chục nước trên thế giới. Hiện ở châu Á, cho vay ngang hàng đã phát triển mạnh ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Indonesia. Việt Nam cũng đang có một số doanh nghiệp cho vay ngang hàng hoạt động khá sôi động.
Tuy nhiên, tại Việt Nam, về mặt pháp lý, chưa có một doanh nghiệp cho vay ngang hàng nào được quản lý (cấp phép) một cách chính thức, bởi cơ quan chức năng vẫn... “đang có đề án nghiên cứu”. Điều này là trái ngược với chiều hướng chung trên thế giới khi nhiều nước ít nhiều đều đã đưa ra những quy chế và chế tài nhằm quản lý hoạt động cho vay ngang hàng trên lãnh thổ của họ. Vì vậy, cơ quan chức năng Việt Nam cần nhanh chóng nhận diện các rủi ro chính trong lĩnh vực cho vay ngang hàng để có các biện pháp quản lý thích hợp nếu không muốn chứng kiến những vụ việc vi phạm của nhiều doanh nghiệp cho vay ngang hàng gây thiệt hại lớn cho người cho vay như ở Trung Quốc trong thời gian qua.
Rủi ro trong cho vay ngang hàng
Thành công của cho vay ngang hàng phụ thuộc vào việc có bao nhiêu người sẵn lòng cho vay trên các sàn P2P và những biện pháp bảo vệ quyền lợi của người cho vay. Thường không phải tất cả người cho vay nhận diện được các rủi ro gắn liền với việc cho vay của mình qua các doanh nghiệp cho vay ngang hàng.
Về cơ bản, có năm loại rủi ro với người cho vay. Thứ nhất, tiền của người cho vay trên sàn cho vay ngang hàng có thể không được bảo hiểm bởi Chính phủ như với tiền gửi ngân hàng nên họ hoàn toàn có thể trắng tay (trên thực tế, cũng có những doanh nghiệp cho vay ngang hàng như Zopa và RateSettler của Anh cung cấp dịch vụ bảo hiểm thông qua các quỹ bảo hiểm).
Thứ hai, mặc dù nhiều doanh nghiệp cho vay ngang hàng tuyên bố là họ có quy trình đánh giá rủi ro tín dụng của người vay tương tự như của TCTD truyền thống, nhưng họ thường không chia sẻ với người cho vay đánh giá này cũng như các thông tin mà người vay cung cấp cho doanh nghiệp cho vay ngang hàng. Do đó, rủi ro với người cho vay là họ có thể đang ném tiền vào một lỗ đen nào đó.
Thứ ba, cũng giống như việc ngân hàng cũng vướng phải nợ xấu, khó có khả năng thu hồi, bất chấp họ trước đó đã thẩm định, đánh giá rủi ro các khoản vay kỹ lưỡng thế nào, người cho vay có khả năng sẽ gặp rủi ro tương tự. Lúc đó, rủi ro mà người cho vay phải đối mặt tiếp theo là liệu có thu hồi được một phần khoản nợ hay không. Một số sàn có thể hỗ trợ thu hồi vốn nhưng thường phải trả phí. Trường hợp không thu được nợ, người cho vay có thể khởi kiện nhưng giải pháp này không tối ưu nếu giá trị khoản nợ là quá nhỏ so với chi phí, thời gian và công sức bỏ ra theo đuổi kiện tụng.
Thứ tư, vì các giao dịch cho vay được tiến hành trực tuyến nên không thể loại trừ rủi ro sàn giao dịch bị tấn công (hack). Vì vậy, trên lý thuyết, người cho vay cần tìm hiểu và đánh giá được các biện pháp bảo vệ dữ liệu của sàn giao dịch. Nhưng với nhiều người bình thường thì chuyện này là không tưởng, họ đành phó mặc cho may rủi.
Thứ năm, việc thành lập một sàn giao dịch kết nối trực tuyến người vay và cho vay hiện nay đã trở nên đơn giản, nhanh chóng, thậm chí chỉ trong một đêm. Trong số này, không loại trừ nhiều sàn “ma”, lập ra với mục đích lừa đảo. Do đó, rủi ro với người cho vay là không biết được sàn nào là hợp pháp, được cấp phép bởi cơ quan chức năng (kèm với “tóc” để nắm khi lâm sự).
Quản như thế nào?
Với những rủi ro nêu trên và xét đến bối cảnh là ngành đang phát triển nhanh, có nhiều tiềm năng nên khuôn khổ chế tài của cơ quan chức năng liên quan đến cho vay ngang hàng cần hướng đến những mục tiêu sau đây.
Mục tiêu thứ nhất là bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng, đặc biệt là người cho vay. Các chế tài cần buộc các doanh nghiệp cho vay ngang hàng cung cấp công khai và đầy đủ mọi thông tin liên quan trên trang web của mình, gồm những thông tin cơ bản như giấy phép hoạt động. Đặc biệt, cần nêu rõ những lợi ích, quyền lợi và rủi ro cho vay ngang hàng (gồm rủi ro mất vốn; khả năng được bảo hiểm, bồi hoàn vốn từ sàn giao dịch; người vay có được quyền trong một thời gian nhất định được hủy hợp đồng vay tiền mà không bị phạt hay không...). Người cho vay cũng cần được cảnh báo đầy đủ và đúng mức về rủi ro tín dụng của người vay. Những điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cả người vay và cho vay có các quyết định đúng đắn, thu hút thêm nhiều khách hàng sử dụng P2P.
Mục tiêu thứ hai là thúc đẩy sự cạnh tranh hữu hiệu, lành mạnh trong ngành cho vay ngang hàng. Theo hướng này, các chế tài cần đặt ra một số tiêu chuẩn tối thiểu mà mọi sàn giao dịch P2P phải đáp ứng được, gồm tình hình tài chính thế nào thì được coi là lành mạnh, mức vốn tối thiểu phải có tương ứng với quy mô vốn vay mà nó huy động nhằm làm khách hàng (người vay và cho vay) tin tưởng rằng sàn giao dịch mà họ giao dịch hôm nay vẫn còn đó vào ngày mai, loại bỏ được những sàn/doanh nghiệp hoạt động mang tính chụp giật, lừa đảo.
Mục tiêu thứ ba là bảo đảm sự phát triển của ngành trong vòng kiểm soát. Việc quản lý nhà nước cần tính tới khả năng, ví dụ, khi được chính thức công nhận và hợp pháp hóa thì ngành cho vay ngang hàng ở Việt Nam sẽ có sự phát triển bùng nổ về quy mô và số lượng, tạo ra rủi ro lớn cho các bên tham gia, như đã diễn ra ở Hàn Quốc. Chỉ trong chưa đầy một năm, từ tháng 3 đến tháng 12-2016, giá trị vốn cho vay qua các sàn giao dịch tại Hàn Quốc đã tăng từ 72 tỉ won lên 312 tỉ won, buộc cơ quan quản lý nước này  sau đó phải đưa ra quy định hạn chế nhằm làm nguội thị trường. Cụ thể, nhà đầu tư nhỏ lẻ chỉ được đầu tư không quá 10 triệu won, nhà đầu tư có chứng nhận chỉ được đầu tư không quá 40 triệu won.
Mục tiêu thứ tư là bảo đảm các sàn giao dịch phải xây dựng và duy trì cơ chế kiểm soát rủi ro, xử lý khủng hoảng một cách minh bạch và chân thực, và có quy trình xử lý một cách đúng đắn tiền huy động của khách hàng. Các quy định cần có gồm tuân thủ quản lý, phòng chống rửa tiền, an ninh mạng, và các biện pháp phòng ngừa rủi ro, cơ chế và nguồn lực xử lý các tình huống như mất khả năng thanh toán, các biện pháp khẩn cấp trong trường hợp xảy ra trục trặc, đình trệ hoạt động.
Và mục tiêu cuối cùng là bảo đảm các doanh nghiệp cho vay ngang hàng phải xử lý một cách đúng đắn các khó khăn tài chính và khiếu nại của khách hàng, cả người vay và cho vay. Điều này để tránh tình trạng “đem con bỏ chợ” của nhiều sàn giao dịch xảy ra ở đây đó trên thế giới, đẩy rủi ro hoàn toàn về phía khách hàng. 

Monday, 8 October 2018

Nghịch lý giúp sức cho Ngân hàng Nhà nước (Bài đăng trên CafeF, 10/9/2018)

http://cafef.vn/nghich-ly-giup-suc-cho-ngan-hang-nha-nuoc-20181009102406656.chn

Đã qua 9 tháng của năm 2018 trong bối cảnh có nhiều bất lợi song Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn đang kiểm soát khá tốt ba biến số vĩ mô quan trọng và thường tương khắc với nhau là tỷ giá, lãi suất và lạm phát.
Cụ thể hơn, dù chịu sức ép lớn từ những tác động bất lợi của điều kiện bên ngoài như chiến tranh thương mại và sự mạnh lên của đồng USD tương ứng với đó là sự yếu đi của nhiều bản tệ khác trong khu vực và thế giới, đặc biệt là Nhân dân tệ (CNY), tỷ giá VND/USD chỉ tăng dưới 3% từ đầu năm đến nay, một mức chấp nhận được nếu so với mức yếu đi đến hàng chục điểm phần trăm của nhiều đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi khác.
Với lạm phát, mức tăng cũng đang được khống chế trong phạm vi 4%, ngưỡng mà Quốc hội đặt ra cho Chính phủ. Lạm phát được kiềm chế ở mức này cũng có thể được gọi là một thành công khi giá cả hàng hóa thế giới đã phục hồi và có chiều hướng tăng, nhất là giá xăng dầu. Trong khi đó, như đã thấy, dù tỷ giá đã được NHNN kiềm chế nhưng mức tăng gần 3% cho đến nay cũng phần nào tạo áp lực tăng giá cả trong nước qua kênh nhập khẩu.
Về lãi suất, sau một giai đoạn khá dài lãi suất liên ngân hàng được duy trì ở mức thấp, hiện đã có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy lãi suất đang có xu hướng đi lên và điều này dường như đã lan sang thị trường vay mượn giữa ngân hàng và doanh nghiệp, cá nhân. Tuy nhiên, áp lực tăng lãi suất có lẽ chưa ở mức lớn như được thể hiện ở lãi suất huy động cao nhất hiện nay cũng chỉ quanh quẩn 8%/năm với kỳ hạn 1 năm, nhưng cũng chỉ ở một ít ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) nhỏ, trong khi các ngân hàng TMCP khác chỉ điều chỉnh tăng nhẹ lãi suất huy động.
Như vậy, dù các biến số vĩ mô trên đã có những thay đổi theo hướng bất lợi từ quan điểm ổn định – với nghĩa là không biến động đáng kể – nhưng rõ ràng là duy trì được những biến số có tính tương khắc này ở mức như hiện nay, về lý thuyết, không phải là điều đơn giản, tự nhiên có. Câu hỏi đặt ra đâu là yếu tố hậu thuẫn, giúp sức cho NHNN trong việc kiểm soát tương đối thành công những biến số này?
Để trả lời câu hỏi trên, trước tiên cần xuất phát từ công cụ chính sách của ngân hàng trung ương nói chung, mà ở Việt Nam chính là NHNN. Về cơ bản, công cụ chính sách mang tính kinh tế chủ yếu của NHNN là tăng hay giảm cung tiền đồng. Nếu muốn hỗ trợ tăng trưởng kinh tế thì NHNN sẽ phải hạ lãi suất, tức làm tăng cung tiền (giả sử các yếu tố khác, như chính sách của Chính phủ, là không thay đổi). Nhưng việc này sẽ làm gia tăng áp lực lên lạm phát, buộc NHNN nếu muốn kiềm chế lạm phát thì phải tăng lãi suất, tức giảm cung tiền đồng. Gia tăng cung tiền để hỗ trợ tăng trưởng cũng sẽ làm suy yếu bản tệ nên nếu muốn bảo vệ tỷ giá thì NHNN thường phải giảm cung tiền đồng (bán ngoại tệ từ quỹ dự trữ ngoại hối cũng chỉ là một hình thức giảm cung tiền đồng).
Như vậy, về lý thuyết, với cùng một mức tăng cung tiền, sẽ rất khó cho NHNN đạt được cùng lúc nhiều mục tiêu như hỗ trợ tăng trưởng, kiềm chế lạm phát, ổn định tỷ giá. Giả sử các điều kiện khác không thay đổi thì để đạt được cùng lúc nhiều mục tiêu này, NHNN sẽ phải dùng đến các công cụ phi kinh tế, gồm các biện pháp hành chính như kiểm soát vốn (capital control), ưu tiên cấp tín dụng cho một số lĩnh vực chọn lọc, đặt trần và sàn tỷ giá, lãi suất v.v… Tuy nhiên, vì là các biện pháp phi kinh tế nên chúng chỉ là những biện pháp ngắn hạn bởi các chủ thể kinh tế sẽ tìm ra các lỗ hổng để "lách", sớm muộn sẽ làm mất hiệu lực của những biện pháp này. Chưa kể là nhiều biện pháp không mang tính thị trường sẽ bị các nước khác chỉ trích, khiếu nại.
Trên thực tế, các công cụ phi kinh tế trên đều đã được NHNN thi hành sớm thì cũng đã vài năm nay, nên về nguyên tắc thì chúng cũng không thể phát huy tác dụng mãi hoặc mang lại tác dụng đột biến theo hướng tích cực. Điều này có nghĩa là có thể đã có những yếu tố hỗ trợ nằm ngoài khả năng và phạm vi kiểm soát của NHNN.
Yếu tố hàng đầu phải kể đến là tăng trưởng kinh tế. Tốc độ tăng trưởng quý 3 năm nay đã lớn hơn quý 2, đưa tốc độ tăng trưởng 9 tháng đầu năm đạt gần 7% so cùng kỳ năm trước. Đây là một tốc độ tăng trưởng rất cao, đặc biệt trong bối cảnh nhiều thử thách như hiện nay. Nếu xét đến sự tăng trưởng chậm lại rõ rệt của cung tiền như được thể hiện qua tăng trưởng tín dụng 9 tháng đầu năm thì có thể nói không quá việc đạt được này là một nghịch lý, theo tư duy thông thường là nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc nặng nề vào tín dụng ngân hàng nên để tăng trưởng cao hơn cần có tăng trưởng tín dụng cao hơn.
Dù nghịch lý trên có thể có nguyên nhân từ các biện pháp cải cách môi trường kinh doanh mạnh mẽ của Chính phủ, sự phát triển của thị trường chứng khoán cung cấp vốn cho doanh nghiệp ngoài kênh tín dụng ngân hàng, hay sự tiếp tục tăng trưởng của khu vực FDI và dòng vốn FDI chảy vào nền kinh tế v.v… nhưng rõ ràng là việc nền kinh tế không còn đòi hỏi ngành ngân hàng phải liên tục mở rộng tín dụng để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng trên hết đã là một yếu tố rất thuận lợi cho việc điều hành chính sách của NHNN.
Cụ thể hơn, do không còn bị thúc ép phải mở rộng tín dụng đáp ứng nhu cầu tăng trưởng như trước đây nên NHNN đã có điều kiện để duy trì một chính sách tiền tệ thận trọng hơn, thể hiện qua mức tăng trưởng tín dụng và huy động của ngành ngân hàng trong 9 tháng đầu năm đều ở mức thấp hơn đáng kể so với cùng kỳ năm trước. Đến lượt nó, tăng trưởng cung tiền có chừng mực đã không làm gia tăng quá mức áp lực đồng thời lên lạm phát và tỷ giá, do đó cũng không làm gia tăng quá mức lãi suất, như đã được chứng kiến. Nói cách khác, NHNN thi hành được chính sách điều hành "thận trọng và linh hoạt" – vốn vẫn được coi là chìa khóa cho sự thành công của NHNN – cũng là nhờ có sự giảm phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng.
Tóm lại, sự thành công về mặt chính sách của NHNN có sự đóng góp mang tính quyết định từ những yếu tố hỗ trợ bên ngoài (phạm vi của NHNN). Hàm ý chính sách có thể rút ra được ở đây là để ổn định kinh tế vĩ mô một cách bền vững, trong dài hạn thì trước hết cần thực thi những biện pháp và công cụ mang tính kinh tế để giảm thiểu sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng. Điều này đặc biệt đúng khi NHNN chưa được độc lập với Chính phủ nên sẽ không thể "đứng ngoài cuộc" khi Chính phủ cần giải pháp kích thích tăng trưởng ngắn hạn.

Friday, 5 October 2018

Một kiến nghị không hợp lý (Bài đăng trên TBKTSG, 6/10/2018, tiêu đề do báo đặt lại)

https://www.thesaigontimes.vn/279600/mot-kien-nghi-khong-hop-ly-.html

Nếu thực hiện theo kiến nghị của HoREA - tiếp tục cho phép các tổ chức tín dụng (TCTD) được sử dụng tỷ lệ tối đa 45% nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn năm 2019 thay vì giảm về mức 40% như quy định hiện hành - thì Ngân hàng Nhà nước (NHNN) lại phải một lần nữa (lần thứ tư) ban hành một thông tư mới sửa đổi Thông tư 36/2014.

Điều này trước hết có nguy cơ làm xói mòn tính hữu hiệu và tính định hướng của các văn bản pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước, củng cố quan niệm rằng các chủ thể kinh tế luôn có thể “mặc cả” chính sách với Nhà nước, còn Nhà nước thì luôn phải “chạy theo” mà không thể dẫn dắt, định hướng thị trường theo ý muốn từ góc độ của người tạo lập và quản lý thị trường.
Hơn nữa, xem xét cụ thể hơn thì kiến nghị của HoREA cũng chưa hợp lý. Lộ trình giảm dần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn đã được công bố rõ ràng, nên, về nguyên tắc, các TCTD và chủ thể liên quan như doanh nghiệp bất động sản và người mua bán, kinh doanh bất động sản đã có đủ thời gian (tính theo năm) chuẩn bị và đón nhận những mốc thay đổi trong lộ trình giảm tỷ lệ này. Rõ ràng, ở đây không có chuyện thay đổi đột ngột về chính sách của Nhà nước nên đã làm khó thị trường.

Quan trọng hơn, việc điều chỉnh giảm tỷ lệ trên là một cấu thành thiết yếu của một chính sách chung của Nhà nước nhằm ổn định kinh tế vĩ mô trước các bất lợi đã, đang và sẽ xảy ra trong và ngoài nước. Cũng như HoREA đã nêu trong văn bản kiến nghị, NHNN vừa ban hành Chỉ thị 04/CT-NHNN ngày 2-8-2018, theo đó “Không xem xét, điều chỉnh tăng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng (trừ trường hợp đặc biệt); Kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán, BOT, BT giao thông; Kiểm soát chặt chẽ tín dụng tiêu dùng, nhất là tín dụng tiêu dùng liên quan đến bất động sản”. Chỉ thị này là một trong những hành động cụ thể triển khai chủ trương của NHNN nhằm hạn chế tăng trưởng tín dụng nhanh gây áp lực lên lạm phát và tỷ giá, đe dọa ổn định kinh tế vĩ mô.
Trong bối cảnh hạn chế tăng trưởng tín dụng như vậy, nếu không đặt ra chốt chặn tín dụng có nguồn từ vốn huy động ngắn hạn cho các dự án đầu tư trung, dài hạn (gồm các dự án bất động sản) thì, ít nhất là theo lý thuyết, hoặc là vốn tín dụng sẽ chảy hết vào các lĩnh vực không ưu tiên này, gây ra tình trạng đói vốn cho các nhu cầu ngắn hạn trong các lĩnh vực ưu tiên, hoặc là sự bất cân đối kỳ hạn giữa vốn huy động và cho vay sẽ tạo rủi ro lên tính an toàn hoạt động của hệ thống tín dụng.
Quan trọng không kém là những lý do mà HoREA đưa ra để biện minh cho kiến nghị của mình là không thỏa đáng. Ví dụ, HoREA nói rằng các doanh nghiệp bất động sản và người kinh doanh, mua bất động sản (đặc biệt ở TPHCM) phụ thuộc rất lớn vào nguồn vay tín dụng (dài hạn) ngân hàng, trong khi nguồn vốn thay thế từ các quỹ đầu tư bất động sản và thị trường chứng khoán vẫn chưa khả quan. Điều này là đúng, và theo logic, có thể luôn đúng trong một số năm nữa, chứ không phải chỉ có năm 2019, ít nhất là chừng nào mà NHNN phải hoãn thi hành tỷ lệ 40% này. Và cũng theo logic, nếu NHNN không quyết tâm thực hiện tỷ lệ 40% thì sự phụ thuộc của ngành bất động sản vào vốn tín dụng dài hạn của ngân hàng sẽ không có được động lực để thay đổi một cách căn bản và nhanh chóng.
Bản thân HoREA cũng nhìn nhận rằng điều này - sự phụ thuộc của các doanh nghiệp bất động sản TPHCM vào tín dụng ngân hàng cao hơn trên mức trung bình của cả nước - tiềm ẩn rủi ro cho cả hệ thống tín dụng và doanh nghiệp bất động sản. Như vậy, lẽ ra họ cũng nên đồng ý với chính sách của NHNN hướng tới giảm dần có lộ trình sự phụ thuộc của ngành bất động sản vào tín dụng ngân hàng như đã đặt ra tại các thông tư liên quan.   
Cuối cùng, kể cả khi NHNN quyết tâm duy trì mục tiêu chính sách của mình (không thay đổi tỷ lệ 40% hay hoãn thời hạn thi hành tỷ lệ này) thì ngành bất động sản không phải là không thể tồn tại, không có giải pháp nào để khắc phục được khó khăn mà chính sách này của NHNN sẽ tạo ra. Trong cùng văn bản kiến nghị, HoREA cũng chỉ ra tám giải pháp cho các doanh nghiệp bất động sản thích nghi với lộ trình hạn chế tín dụng vào bất động sản, và nhấn mạnh đây cũng là cơ hội để tái cấu trúc doanh nghiệp. Với vai trò và sứ mệnh của mình, lẽ ra HoREA phải sáng suốt, tỉnh táo phân tích và nhận định tình hình ngay từ khi NHNN ban hành các thông tư để kịp thời đưa ra tám giải pháp này cho các doanh nghiệp bất động sản, không đợi đến khi “nước đến chân mới nhảy”.

Thursday, 4 October 2018

Ngăn ngừa khuất tất trong cổ phần hóa: Đơn giản là hãy làm đúng luật (Bài đăng trên TBKTSG, 28/9/2018)

https://www.thesaigontimes.vn/279201/ngan-ngua-khuat-tat-trong-co-phan-hoa-don-gian-la-hay-lam-dung-luat.html

Nhiều vụ việc khuất tất trong cổ phần hóa doanh nghiệp và bán tài sản nhà nước đã được phơi bày gần đây như việc bán đất của Công ty Đầu tư và Xây dựng Tân Thuận, bán sân vận động Chi Lăng, cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại Cảng Quy Nhơn, và cổ phần hóa Hãng Phim truyện Việt Nam (VFS)...

Điểm chung đầu tiên trong các vụ việc lùm xùm này là chúng được các cơ quan hữu trách phát hiện khi quá muộn, sau khi việc mua bán đã xong xuôi một thời gian dài dù trước đó (trước và trong quá trình cổ phần hóa hoặc bán tài sản, cổ phần nhà nước) đã có nhiều dị nghị và dấu hiệu của khuất tất, mờ ám.

Điểm chung khác trong các vụ việc nói trên là mọi việc ban đầu tỏ ra đều “đúng quy trình” nhưng rồi qua thanh tra thì lại thấy hàng loạt sai phạm trong thực hiện quy trình do pháp luật quy định.
Trong bối cảnh này, vấn đề đặt ra là cổ phần hóa, bán tài sản nhà nước thế nào cho đúng để không làm thất thoát tài sản của Nhà nước (và là cơ hội đục khoét, làm giàu bất chính của một số cá nhân và nhóm lợi ích). Và, quan trọng không kém, tiến trình này không làm xấu đi môi trường đầu tư, ảnh hưởng đến quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) khi các nhà đầu tư tư nhân “tự nguyện” hủy hợp đồng mua bán tài sản, hoàn lại tài sản cho nhà nước sau khi cơ quan thanh tra điều tra và kết luận những sai phạm trong quá trình cổ phần hóa, bán tài sản nhà nước và kiến nghị thu hồi lại những tài sản này?
Để tìm câu trả lời cho vấn đề trên, hãy lấy vụ cổ phần hóa VFS làm ví dụ. Theo đó, thanh tra đã chỉ ra nhiều sai phạm lớn. Sai phạm đầu tiên là “Ban chỉ đạo cổ phần hóa không thực hiện việc lựa chọn đơn vị tư vấn định giá doanh nghiệp và tư vấn cổ phần hóa, để công ty lựa chọn là chưa thực hiện đúng pháp luật”. Sai phạm này rõ ràng là nghiêm trọng. Nhưng ban chỉ đạo là những ai và do ai quyết định thành lập?

Theo Nghị định 59/2011/NĐ-CP (là nghị định có hiệu lực trong thời gian cổ phần hóa VFS) về chuyển DNNN thành công ty cổ phần, ban này là do bộ trưởng các bộ, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hoặc hội đồng thành viên các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, tổng công ty có trách nhiệm thành lập.
Thành phần của ban do bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hội đồng thành viên công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong tổ hợp công ty mẹ - công ty con quyết định. Đối với các doanh nghiệp quy mô lớn (vốn trên 500 tỉ đồng), đặc thù... thì thành viên ban chỉ đạo cổ phần hóa doanh nghiệp có đại diện của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp và Bộ Tài chính.
Như vậy, ban chỉ đạo không chỉ là người của DNNN trực tiếp cổ phần hóa và do doanh nghiệp này chỉ định, mà còn có thành viên ít ra thì cũng là từ công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, tổng công ty, tức ở cấp cao hơn/cấp trên của doanh nghiệp cổ phần hóa. Do đó, có thể nói là sự sai phạm được thanh tra chỉ ra ở trên là một sự làm trái quy định pháp luật một cách có hệ thống chứ không phải chỉ do một vài cá nhân trong doanh nghiệp cổ phần hóa.
Quan trọng hơn, ban chỉ đạo dù muốn cũng không thể “tự tung tự tác” trong việc cổ phần hóa doanh nghiệp được, mà phải báo cáo, xin chấp thuận của cấp trên. Cũng theo Nghị định 59, trong số các trách nhiệm của ban chỉ đạo, có các trách nhiệm sau: “Báo cáo cơ quan quyết định cổ phần hóa lựa chọn phương thức bán cổ phần lần đầu”; “thẩm tra và trình cơ quan có thẩm quyền quyết định công bố giá trị doanh nghiệp, quyết định phê duyệt phương án cổ phần hóa”; “tổng hợp báo cáo cơ quan có thẩm quyền kết quả bán cổ phần”; và “tổng hợp và trình cơ quan có thẩm quyền quyết định điều chỉnh phương án cổ phần hóa, quyết định điều chỉnh giá trị doanh nghiệp sau khi chuyển thành công ty cổ phần”.
Như vậy, nếu làm đúng theo luật thì những hành vi trái pháp luật của ban chỉ đạo sẽ bị cơ quan quyết định cổ phần hóa cũng như cơ quan có thẩm quyền phát hiện và kịp thời ngăn cản. Nhưng những chuyện này đã không xảy ra, có nghĩa là các cơ quan có thẩm quyền đã không làm đúng chức trách được luật pháp quy định. Nói cách khác, điều này cũng cho thấy có sự vi phạm pháp luật (vô trách nhiệm hoặc cố ý) một cách có hệ thống.
Tiếp theo, thanh tra cho thấy tại phương án cổ phần hóa VFS, công ty này xây dựng phương án sử dụng đất gồm khu đất ở Thái Văn Lung (TPHCM), Thụy Khuê (Hà Nội) “khi chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt”. Đối chiếu với Nghị định 59, trong nghị định đã có những quy định rất chi tiết, cụ thể về đất đai trong các điều khoản liên quan đến xác định giá trị doanh nghiệp. Và trên hết, rõ ràng là cấp có thẩm quyền phê duyệt đã biết rõ vi phạm này (vì thế mới không phê duyệt).
Nhưng điều lạ là tại sao phương án cổ phần hóa VFS vẫn được phê duyệt bởi cơ quan có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền (bởi có được phê duyệt thì VFS mới trở thành công ty cổ phần như hiện nay). Điều này có nghĩa là cơ quan hoặc cấp có thẩm quyền hoặc là vô trách nhiệm hoặc là cố tình phê duyệt phương án cổ phần hóa VFS dù biết có những sai phạm, dù quy trình phê duyệt cổ phần hóa đã bị vi phạm (khi phương án sử dụng đất chưa được phê duyệt bởi cấp có thẩm quyền).
Chưa hết, hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình cổ phần hóa VFS có thể đã không xảy ra nếu một “chốt chặn” cuối cùng - công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát - được thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc và tất nhiên là đúng quy định của pháp luật.
Cũng theo Nghị định 59, một loạt cơ quan, cấp có thẩm quyền có trách nhiệm kiểm tra, giám sát các mặt có liên quan đến cổ phần hóa, trong đó có Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, Bộ Tài chính, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương... Đáng tiếc là sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chặt chẽ nghiêm túc này đã không xảy ra!
Nói cách khác, những sai phạm trên cho thấy rõ “dấu ấn” của sự vô trách nhiệm hoặc cố ý làm sai quy định của pháp luật một cách có hệ thống của không chỉ bản thân VFS mà còn của các cơ quan, cấp có thẩm quyền cao hơn. Do đó, để ngăn ngừa sự khuất tất, trục lợi trong cổ phần hóa và để tránh phải xử lý hậu quả của nó, điều cần làm là phải truy đến cùng trách nhiệm như quy định trong luật lệ hiện hành với các cá nhân và tập thể có liên quan để xử lý hành chính và hình sự (nếu có). Tuy muộn, nhưng nếu xử lý nghiêm những vụ việc như vậy để làm gương thì mới mong giảm được các hành vi vô trách nhiệm, trục lợi trong cổ phần hóa sau này.
Những giải pháp khác như hoàn thiện pháp luật, tăng cường bộ máy và tầng cấp, ban bệ quản lý cổ phần hóa, hoặc thậm chí là thu hồi vốn nhà nước như đang làm hiện nay sẽ không phải là lời giải cũng như sẽ không mang lại hiệu quả nếu chuyện đơn giản là truy trách nhiệm và xử lý nghiêm sai phạm trong cổ phần hóa không được thực hiện đúng theo quy định của luật pháp.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).