Monday, 11 March 2019

Quy định về đại diện chủ sở hữu nhà nước: Chưa đảm bảo tinh gọn, hiệu quả (Bài đăng trên TBKTSG, 12/3/2019)

https://www.thesaigontimes.vn/285967/quy-dinh-ve-dai-dien-chu-so-huu-nha-nuoc-chua-dam-bao-tinh-gon-hieu-qua-.html

Chính phủ mới đây đã ban hành Nghị định 10/2019 quy định về thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước. Nghị định này thay thế cho Nghị định 99/2012 về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp. Tuy vậy, Nghị định 10 vẫn còn nhiều điểm bất hợp lý, đặc biệt là chưa đảm bảo tinh thần tinh gọn, hiệu quả trong việc tái cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước đang diễn ra.

Chồng chéo giữa SCIC và Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Nghị định 10 quy định cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước gồm Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (UBQLVNN), các bộ và cơ quan ngang bộ đại diện đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, và Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC).
Trong khi đó, theo giải trình của Chính phủ trước Quốc hội về mối quan hệ giữa UBQLVNN và SCIC, Chính phủ cho biết UBQLVNN là đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại SCIC. Nói cách khác, Bộ Tài chính phải bàn giao SCIC về UBQLVNN với tư cách đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước mới tại SCIC. Tuy vậy, SCIC vẫn là doanh nghiệp do đó vẫn hoạt động theo quy định của Chính phủ gồm tiếp tục tiếp nhận quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) còn lại (không thuộc danh mục tiếp nhận của UBQLVNN) và các công ty cổ phần từ cổ phần hóa DNNN.
Như vậy, điểm chồng chéo ở đây là có đến hai tổ chức cùng thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước, dù quy mô, đối tượng và phạm vi quản lý có khác nhau. Theo hướng tinh gọn bộ máy nhà nước thì cần tiến tới thống nhất chỉ còn một cơ quan như vậy (là UBQLVNN) và mọi doanh nghiệp cần chuyển giao về SCIC theo quy định hiện hành cần được chuyển về một mối là UBQLVNN như đúng mục đích thành lập ra UBQLVNN, chứ không nên có sự phân tách doanh nghiệp nào thì chuyển về UBQLVNN còn các doanh nghiệp còn lại thì chuyển về SCIC.
Thừa... một bộ?
Điều 5 Nghị định 10 quy định quyền, trách nhiệm của các cơ quan liên đới. Với Bộ Tài chính, họ có một số nhiệm vụ, bao gồm quy định về chuyển doanh nghiệp do Nhà nước giữ 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần; quy định việc quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; quy định tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động, hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; quy định việc giám sát, kiểm tra hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Trong khi đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư được giao một số nhiệm vụ bao gồm quy định việc công khai thông tin về hoạt động của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; quy định về quy chế hoạt động của kiểm soát viên tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; quy định về thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chia tách, giải thể, bán toàn bộ doanh nghiệp và chuyển doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.
Không khó để thấy rằng nhiều quyền và trách nhiệm trên về mặt tính chất công việc là tương tự, có thể thực hiện tốt bởi duy nhất một bộ (có thể là Bộ Tài chính). Sẽ có không ít thắc mắc tại sao lại phải phân tách như vậy, và tại sao lại phải cần hai bộ thực hiện những công việc này? Việc phân tách này tạo cảm giác rằng chia sẻ quyền hạn và trách nhiệm nhằm mục đích để “có việc mà làm”, có cớ để tồn tại mới là động cơ chính. Và rõ ràng là nếu xét từ góc độ tinh giản bộ máy thì tồn tại này cần được khắc phục ngay.
Đã phân công, phân quyền, vẫn cứ dồn lên Thủ tướng
Điều 6 Nghị định 10 quy định hàng loạt quyền và trách nhiệm của Thủ tướng trong việc thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước. Với tư cách là người đứng đầu Chính phủ thì hiển nhiên là Thủ tướng có quyền và trách nhiệm cao nhất trong lĩnh vực này. Tuy vậy, điều làm cho người ta “băn khoăn” là mới chỉ trong lĩnh vực này thôi mà Thủ tướng đã phải xét duyệt đủ loại đệ trình, đề nghị của các bộ tham mưu để ký ban hành, quyết định thực thi.
Thay vào đó, vì đã có sự phân công, phân quyền rõ ràng cho từng bộ, cơ quan chức năng, nên lẽ ra chỉ cần quy định Thủ tướng ủy quyền cho các cơ quan tham mưu này ban hành và thực hiện các chức năng liên quan đến việc thực hiện quyền và trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước. Nếu không, những chuyện “con con” như việc đầu tư vốn nhà nước để thành lập doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn với lượng vốn ít ỏi (ví dụ, 50 tỉ đồng) mà Thủ tướng cũng phải đọc và ký duyệt hồ sơ đề nghị thành lập do cơ quan đại diện chủ sở hữu lập ra thì thật là...
UBQLVNN vẫn không được tự quyết
Liên quan đến phần trên, tuy UBQLVNN còn được gọi là “siêu ủy ban” bởi tầm vóc và quyền năng của nó trên lý thuyết (ít nhất là sự độc lập với các bộ và các cơ quan chức năng trong việc ra quyết định), nhưng thực tế ủy ban này có vẻ như không có mấy thực quyền với các doanh nghiệp nó quản lý. Ví dụ với SCIC, một doanh nghiệp được đặt dưới sự quản lý của UBQLVNN, việc bổ nhiệm Tổng giám đốc SCIC vẫn phải trải qua quá trình phối hợp với Bộ Nội vụ và “sau khi có ý kiến thống nhất của tập thể Ban cán sự Đảng Chính phủ” (rồi trình Thủ tướng bổ nhiệm).
Chưa hết, UBQLVNN vẫn phải “đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền trình Chính phủ: Ban hành, sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập giao ủy ban làm đại diện chủ sở hữu theo quy định của Chính phủ; ban hành, sửa đổi, bổ sung quy chế quản lý tài chính của tập đoàn Dầu khí Việt Nam và tập đoàn Điện lực Việt Nam”.
Như vậy, có thể nói việc UBQLVNN vẫn phải “xin ý kiến” của cơ quan này, “được sự thống nhất” của cơ quan kia cho những vấn đề thuộc phạm vi quản lý của mình đã cho thấy chủ trương thành lập UBQLVNN nói riêng và chủ trương tinh gọn và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước vẫn còn nhiều vấn đề cần xem xét lại để có hướng khắc phục triệt để.

Tuesday, 5 March 2019

Một số điểm đáng lưu ý trong chỉ đạo mở rộng tín dụng của Thủ tướng (Bài đăng trên CafeF, 6/3/2019)

http://cafef.vn/mo-rong-tin-dung-lieu-co-kha-thi-20190306101922062.chn

Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 2 tuần trước, Thủ tướng đã chỉ đạo "Để thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ hơn, bắt đầu ngay trong tháng 3 và quý 1 năm 2019, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chỉ đạo mở rộng tín dụng, giảm lãi suất cho các lĩnh vực ưu tiên".
Trước chỉ đạo trên của Thủ tướng, có hai luồng ý kiến trái ngược. Luồng ý kiến thứ nhất thì cho rằng chỉ đạo trên sẽ lặp lại chính sách tăng trưởng kinh tế dựa vào mở rộng tín dụng trước đây, với hậu quả là sẽ tạo ra tăng trưởng nóng, gây lạm phát và mất giá bản tệ, thâm hụt thương mại và cuối cùng là suy thoái kinh tế.
Ở chiều ngược lại, có người cho rằng dù có muốn nhưng việc mở rộng tín dụng cũng không dễ bởi vì hạn chế về vốn của nhiều ngân hàng kết hợp với thực tế là cơ cấu/nhu cầu vốn cho vay nghiêng về trung và dài hạn, lãi suất huy động đang chịu áp lực tăng lên, trong khi giới hạn tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn bị siết lại. Tất cả những yếu tố này làm cho các ngân hàng thương mại khó đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng.
Xoay quanh vấn đề thời sự này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với chuyên gia tài chính - TS. Phan Minh Ngọc.
PV: Ông nhận xét thế nào về thông điệp mà Thủ tướng mới truyền đi liên quan đến việc mở rộng tín dụng ngay từ đầu tháng 3?
TS. Phan Minh Ngọc: Trên thị trường đang xuất hiện 2 luồng ý kiến như bạn nói. Nhưng cần lưu ý rằng cả 2 luồng ý kiến trên đều bỏ qua một chi tiết cực kỳ quan trọng trong chỉ đạo của Thủ tướng. Theo đó, Thủ tướng chỉ yêu cầu mở rộng tín dụng và giảm lãi suất "cho các lĩnh vực ưu tiên". 
Cũng cần lưu ý thêm rằng chỉ đạo của Thủ tướng với NHNN về việc mở rộng tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên như nêu trên không phải là một chính sách mới. Trước đó, đã nhiều lần trong mấy năm gần đây NHNN gửi công văn cho các tổ chức tín dụng yêu cầu tăng cường cho vay các lĩnh vực ưu tiên, chẳng hạn như Công văn số 5321/NHNN-TTGSNH hồi tháng 7/2018.
Do các lĩnh vực ưu tiên là có giới hạn và tín dụng dành cho những lĩnh vực này chỉ là một phần nhỏ trong tổng lượng tín dụng bơm ra nền kinh tế hàng năm (do những đặc thù của chúng, không hấp dẫn các ngân hàng thương mại cho vay) nên có thể nói ngay rằng mở rộng tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên này chắc chắn sẽ không làm tăng vọt tổng tín dụng ra nền kinh tế để mà gây ra những hậu quả như nói trên.
Chưa hết, cho dù tăng trưởng tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên có bị đẩy lên quá mạnh thì NHNN vẫn còn một chốt chặn an toàn khác là hạn mức tăng trưởng tín dụng cho từng ngân hàng thương mại và cho cả nền kinh tế. Như vậy, nếu tăng trưởng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên có tăng mạnh lên thì buộc tín dụng cho các lĩnh vực khác, đặc biệt là những lĩnh vực rủi ro, không được khuyến khích như bất động sản, BOT, chứng khoán v.v... sẽ phải thu hẹp lại.
Từ phân tích ở trên, có thể thấy lo ngại về chuyện mở rộng tín dụng (cho các lĩnh vực ưu tiên) sẽ dẫn đến những bất ổn vĩ mô là không thỏa đáng. Thậm chí là ngược lại, việc mở rộng tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên sẽ làm cho tăng trưởng trở nên bền vững hơn, lành mạnh hơn, an sinh xã hội tốt hơn.
Vậy theo ông việc mở rộng tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên có khả thi hay không trong bối cảnh có nhiều ràng buộc và khó khăn như vậy?
Câu trả lời nhanh là "khả thi", với điều kiện có sự trợ giúp của NHNN.
Do việc cho vay các lĩnh vực ưu tiên có nhiều rủi ro (chẳng hạn cho vay nông nghiệp sẽ chịu rủi ro mất mùa, dịch bệnh v.v...) nên thường các ngân hàng thương mại chỉ tăng cường cho vay những lĩnh vực này khi mức độ rủi ro được san sẻ, và/hoặc chi phí cho vay được bù đắp, và/hoặc điều kiện cho vay được nới lỏng bởi NHNN, cũng như các hỗ trợ khác.
Theo hướng này, NHNN có thể cần phải nới room tín dụng, hỗ trợ lãi suất, thậm chí cam kết gánh một phần thiệt hại khi doanh nghiệp và người vay trong các lĩnh vực ưu tiên này mất khả năng chi trả v.v... cho những ngân hàng thực hiện tốt chủ trương mở rộng tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên.
Cụ thể NHNN có thể hỗ trợ gánh thiệt hại và những biện pháp hỗ trợ khác như thế nào thưa ông?
Liên quan đến cam kết gánh một phần thiệt hại khi doanh nghiệp và người vay trong các lĩnh vực ưu tiên mất khả năng thanh toán, việc này có thể sẽ cần sự tham gia của các cơ quan chức năng khác bên cạnh NHNN. Chẳng hạn, việc Bộ Nông nghiệp đề xuất hỗ trợ 80% giá thị trường đối với lợn con, lợn thịt bị tiêu hủy do dịch tả lợn châu Phi là một trong những chính sách theo hướng này, gián tiếp giúp làm giảm rủi ro cho vay với các lĩnh vực ưu tiên, giúp các ngân hàng thương mại an tâm hơn khi cho vay các lĩnh vực này.
Những chính sách và biện pháp hỗ trợ khác thì trên thực tế đã ít nhiều được NHNN tiến hành. Và theo thống kê của NHNN, cho vay các lĩnh vực này liên tục được mở rộng. Nên nếu có thêm các giải pháp và sáng kiến khác (và được duy trì thường xuyên) thì chủ trương mở rộng tín dụng, hạ lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên sẽ được thực hiện không quá khó khăn mà vẫn không dẫn đến những rủi ro vĩ mô lớn như khi mở rộng tín dụng đại trà như trước đây. 
Xin cảm ơn những chia sẻ của ông!

Friday, 1 March 2019

Để cơ quan nhà nước bớt bị kiện về thuế (Bài đăng trên TBKTSG, 1/3/2019)

https://www.thesaigontimes.vn/td/285692/de-co-quan-nha-nuoc-bot-bi-kien-ve-thue-.html

Những vụ việc khiếu nại, kiện về thuế xảy ra trong thời gian qua là một điều bất lợi không chỉ ở góc độ một nguồn thu ngân sách đáng kể có khả năng bị trì hoãn, mà còn ở góc độ một nguồn lực xã hội đã bị tiêu phí vào quá trình khiếu kiện (cả cho người nộp thuế lẫn cơ quan quản lý và hệ thống tư pháp).

Trong khi đó, tính hiệu quả và minh bạch của hệ thống quản lý nhà nước bị ảnh hưởng từ xu hướng các tranh chấp không xử lý được bởi các cơ quan chức năng đẩy lên cho và chờ quyết định của Thủ tướng.

Ngoài ra, việc Bộ Tài chính đề xuất cơ quan thanh tra, kiểm toán phải chịu trách nhiệm đến cùng, và ra tòa giải trình các kết luận của mình cũng cho thấy cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng chưa tốt, làm tăng không chỉ rủi ro phát sinh các khiếu kiện mà còn rủi ro suy giảm chất lượng quản lý, thanh tra, kiểm toán thuế bởi không bên nào muốn gánh thêm trách nhiệm giải trình nếu đưa ra kết luận bất lợi cho người nộp thuế - là kết quả của quá trình đánh giá, thanh tra, kiểm toán thuế nghiêm túc.
Cũng cần lưu ý thêm rằng người viết đã thử khảo sát chức năng và nhiệm vụ của các cơ quan thanh tra và kiểm toán nhà nước của một số quốc gia như Anh, Mỹ, Trung Quốc, Singapore, và Hàn Quốc thì thấy có sự khác biệt với Việt Nam ở chỗ chức năng và nhiệm vụ của các cơ quan này ở nước ngoài chỉ là thanh tra, kiểm toán các đối tượng là cơ quan nhà nước, cơ quan/chương trình sử dụng công quỹ... hoặc có thêm đối tượng là các doanh nghiệp nhà nước lớn như ở trường hợp Trung Quốc.
Như vậy, có thể nói là ở nước ngoài hầu như không có chuyện các cơ quan này đi thanh tra, kiểm toán các doanh nghiệp/tổ chức phi nhà nước như ở Việt Nam.
Như vậy, vấn đề cơ bản ở đây trước hết là phải làm giảm thiểu rủi ro người nộp thuế khiếu nại, kiện tụng quyết định thuế của cơ quan chức năng. Theo hướng này, Phòng Pháp lý của IMF đã đưa ra một số khuyến nghị cơ sở.
Những biện pháp chung giảm thiểu khiếu kiện
Trước hết cần đảm bảo rằng các luật về thuế được soạn thảo cẩn thận về kỹ thuật, ngôn từ và chính sách để tránh sự hiểu, diễn giải luật khác nhau từ các góc độ khác nhau và (nhờ đó) giảm thiểu tần suất phải ban hành văn bản sửa đổi những luật lệ này. Người nộp thuế cũng cần được hướng dẫn về chính sách thuế một cách công khai, rộng rãi để việc khai báo thuế được suôn sẻ, đúng quy định.
Khi việc khiếu nại quyết định thuế phát sinh, nhiều nước, theo luật, sẽ cho người nộp thuế được hoãn nộp trong khi khiếu nại thuế đang được các cơ quan chức năng thụ lý. Việc này có rủi ro là người nộp thuế tiến hành khiếu nại để được trì hoãn nộp thuế. Bởi vậy, cần xác định rõ phạm vi được hoãn nộp thuế. Ngược lại, với những người nộp thuế có khó khăn về dòng tiền, cho phép họ được trả thuế một cách linh động sẽ làm giảm bớt nhu cầu “câu giờ” bằng cách khiếu nại thuế.
Một việc quan trọng khác là cơ quan thuế, thanh tra và kiểm toán phải tiếp cận người nộp thuế trên tinh thần hợp tác, đồng thời khuyến khích cán bộ kiểm toán, thanh tra giải quyết các bất đồng ngay trong quá trình kiểm toán, chứ không nên lấy tư cách bề trên, áp đặt.
Cũng cần tránh xu hướng quá mạnh tay trong việc tính thuế (vì, ví dụ, động cơ thành tích), và để khắc phục rủi ro này thì cần có thêm bộ phận chức năng độc lập làm nhiệm vụ hòa giải các bất đồng, hoặc nếu không thì cũng phải đảm bảo cho người nộp thuế có cơ hội thảo luận khúc mắc với bộ phận đưa ra quyết định, trước khi quyết định thuế chính thức được đưa ra.
Nếu có nhiều bất đồng, khiếu kiện nổ ra, điều này cho thấy có khả năng hệ thống thuế đang không hành xử đúng đắn, và cần được chủ động khắc phục để tránh những nguy cơ tương tự trong tương lai. Ngược lại, việc để cho người nộp thuế hiểu rõ họ phải gánh gánh nặng chứng minh quyết định thuế của cơ quan chức năng là không chính xác sẽ góp phần hạn chế khiếu nại thuế.
Tương tự, cần quy định áp dụng hình phạt tăng cường với những khiếu nại thiếu căn cứ, đồng thời giảm phạt thuế nếu người nộp thuế rút lại khiếu nại. Ngoài ra, cần quy định cơ quan chức năng phải đền bù chi phí khiếu nại cho người nộp thuế nếu khiếu nại thành công, và, ngược lại, người nộp thuế sẽ phải trả chi phí phát sinh trong quá trình khiếu nại, kiện tụng khi họ bị xử thua. Thêm nữa, cần quy định người nộp thuế phải tiến hành đầy đủ tất cả các biện pháp hành chính trước khi kiện ra tòa.
Kinh nghiệm ở Đức và Mỹ
Ở Đức, quy trình từ lúc có khiếu nại đến kiện ra tòa trải qua những bước sau: đầu tiên, người nộp thuế phải làm việc với bộ phận chức năng có quyết định thuế bị khiếu nại để giải quyết. Nếu không xong thì chuyển sang bộ phận giải quyết khiếu nại của cơ quan thuế (độc lập, cùng cấp với bộ phận ra quyết định thuế, với chức năng duy nhất là xem xét các khiếu nại).
Nếu vẫn không xong, hoặc cơ quan thuế không trả lời chính thức về khiếu nại trong vòng một tháng, người nộp thuế lúc đó mới được kiện ra tòa. Nhưng nếu cơ quan chức năng đồng ý thì người nộp thuế có thể trực tiếp mang vụ việc đó ra tòa (mà không phải trải qua các bước quy định).
Trong thời gian khiếu nại kết quả lên bộ phận ra quyết định thuế, người nộp thuế thường không phải nộp đầy đủ thuế đã được ấn định. Nhưng sau khi bộ phận giải quyết khiếu nại ra quyết định (chấp nhận cùng nhau ra tòa) thì người nộp thuế phải hoàn thành nghĩa vụ thuế.
Trong thời gian kiện ra tòa, cán bộ giải quyết khiếu nại của cơ quan thuế tiếp tục làm việc với người nộp thuế, và trong không ít trường hợp đã đạt được thỏa thuận theo đó người nộp thuế rút lại đơn kiện. Trong những trường hợp còn lại, thẩm phán triệu tập một cuộc họp không chính thức, có tính chất hòa giải, và thẩm phán đóng vai trò là người hòa giải, còn cán bộ giải quyết khiếu nại tiếp tục đại diện cho cơ quan thuế. Nếu vẫn không đi đến được thỏa thuận nào, lúc đó tòa sẽ chính thức phân xử và đưa ra phán quyết (có thể phúc thẩm).
Còn ở Mỹ, khi người nộp thuế không đồng ý với quyết định của cơ quan thuế từ quá trình tính thuế hoặc kiểm toán thuế, người nộp thuế được quyền yêu cầu trao đổi với cấp trên của cán bộ ra quyết định về thuế. Nếu vẫn không đồng ý, người nộp thuế có thể khiếu nại đến phòng khiếu nại của cơ quan thuế, là phòng sẽ xem xét vụ việc một cách công bằng, khách quan (vì luôn ý thức rằng không làm được như thế sẽ bị kiện).
Tại nơi này, phần lớn vụ việc được giải quyết. Để đảm bảo chức năng độc lập của phòng khiếu nại, việc liên lạc kín giữa cán bộ phòng khiếu nại với cán bộ tính thuế bị cấm.
Nếu người nộp thuế không khiếu nại lên phòng khiếu nại, trong vòng 90 ngày kể từ khi nhận được thông báo của cơ quan thuế, người nộp thuế có thể kiện ra tòa án thuế (có ba loại tòa, tùy tính chất vụ việc). Nếu trong thời gian này người nộp thuế không kiện ra tòa thì cơ quan thuế sẽ gửi hóa đơn thuế đến và lúc đó người nộp thuế không còn cơ hội kiện ra tòa nữa.
Tùy theo loại tòa án và vụ việc, tiền thuế có thể được hoãn trả cho đến khi có phán quyết. Nếu thua kiện, người nộp thuế có thể bị phạt tới 25.000 đô la Mỹ nếu tòa cho rằng vụ kiện là để trì hoãn nộp thuế, hoặc không có căn cứ khởi kiện.
Ngoài hệ thống tòa án, người nộp thuế còn có thể dùng đến dịch vụ hòa giải của cơ quan trọng tài, hòa giải.
Một số hàm ý quan trọng
Có một số hàm ý quan trọng có thể rút ra từ khảo sát trên. Thứ nhất, việc “kêu cứu”, khiếu nại lên Thủ tướng là cực kỳ sai trái. Luật Quản lý thuế cần được thiết kế để thủ tục giải quyết khiếu nại chỉ giới hạn ở phạm vi cơ quan thuế, tòa án, và các cơ quan trọng tài, hòa giải.
Thứ hai, không rõ các vụ việc khiếu kiện hiện nay ở Việt Nam đã được tiến hành qua các biện pháp giảm thiểu khiếu kiện nêu ở trên hay không, nhưng dường như nếu có thì cơ quan thuế, thanh tra và kiểm toán cũng chưa thực hiện tốt.
Thứ ba, ở các nước, mọi tranh chấp, bất đồng về thuế xem ra chỉ diễn ra giữa cơ quan thuế và người nộp thuế mà không liên quan, lôi kéo bất cứ một cơ quan chức năng nào khác. Bộ phận giải quyết khiếu nại độc lập của cơ quan thuế sẽ thường là đại diện cho cơ quan thuế để giải quyết với người nộp thuế (như là bước cuối cùng ở cấp cơ quan thuế), hoặc thông qua bên thứ ba, cho dù kết luận và quyết định về thuế không phải là do bộ phận này đưa ra. Như vậy, việc Bộ Tài chính đề xuất để Kiểm toán Nhà nước trực tiếp giải trình, ví dụ, với tòa án là không thỏa đáng, mà đây chính là trách nhiệm của cơ quan thuế.
Thứ tư, nếu cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước có chức năng thanh tra, kiểm toán các tổ chức phi nhà nước thì chức năng này nên chuyển về cho cơ quan thuế (và đảm bảo tính độc lập với các bộ phận khác của cơ quan thuế). 

Sunday, 24 February 2019

Đưa kinh tế chưa quan sát vào GDP: Dư địa đầu tư công sẽ tăng, nhưng không ổn (Bài đăng trên TBKTSG, bản gốc, tiêu đề do báo đặt lại)

https://www.thesaigontimes.vn/285396/dua-kinh-te-chua-quan-sat-vao-gdp-du-dia-dau-tu-cong-se-tang-nhung-khong-on.html


Chính phủ đang chủ trương tính lại GDP bằng cách bao gồm cả kinh tế ngầm và kinh tế không chính thức nhằm tăng quy mô GDP và từ đó (làm cơ sở) tăng dư địa nợ công để đầu tư cho nhu cầu phát triển (1).

Trước khi đi vào phân tích sâu hơn, cần hiểu logic của chủ trương này theo dòng chảy sau: Dựa vào tiêu chuẩn và kinh nghiệm thế giới Việt Nam tự đặt ra mức trần nợ công là 65% GDP. Nay nợ công đã tăng mấp mé mức này, nên nếu muốn tăng dư địa vay nợ thêm thì có một cách là phải điều chỉnh trần nợ công tăng lên. Nhưng cách này rất không ổn, vì trần nợ công đã được Quốc hội phê duyệt và Chính phủ cam kết nhất trí phấn đấu thực hiện. Nếu phải điều chỉnh lại trần nợ công thì Chính phủ sẽ mất uy tín. Cách còn lại để tăng dư địa cho nợ công là phải tăng giá trị của mẫu số là GDP. Nhưng tăng GDP cũng có giới hạn vì các nguồn lực đã và đang được khai thác triệt để, nên để đạt và duy trì tăng trưởng GDP ở mức, ví dụ, 7%/năm đã là một việc khó, đầy thử thách. Cách nhanh nhất và tiện lợi nhất để GDP tăng vọt trong một đêm, nhờ đó làm dư địa cho nợ công cũng tăng vọt theo, là đưa thêm các hoạt động kinh tế không thống kê được trước đây vào GDP. Đó chính là cơ sở của yêu cầu bổ sung kinh tế ngầm, kinh tế phi chính thức vào GDP.

Từ logic theo dòng chảy trên có thể thấy nếu Chính phủ cố gắng đưa các hoạt động kinh tế không thống kê được vào GDP (ở đây ta không nói đến chuyện có thống kê được các hoạt động kinh tế này hay không) thì việc tính trần nợ công thể hiện bằng tỷ lệ nợ công trên GDP sẽ trở nên không tương thích với phương pháp của thế giới. Bởi phương pháp của thế giới là chỉ dùng GDP chính thức (gồm các hoạt động kinh tế chính thức, thống kê, quan sát được). Thế giới tất nhiên cũng có kinh tế ngầm, kinh tế phi chính thức nhưng hầu như không có nước nào tìm cách tính và gộp các hoạt động này vào GDP chính thức. Và chắc chắn cũng không có nước nào đặt ra trần nợ công dựa trên GDP mở rộng (gồm cả kinh tế phí chính thức và kinh tế ngầm).

Thêm nữa, cho dù sẽ tính được quy mô kinh tế ngầm, kinh tế phi chính thức và gộp chúng vào GDP chính thức công bố hàng năm thì cách làm này cũng chỉ làm tăng quy mô GDP tổng hợp công bố lên đột ngột trong năm đầu tiên khi áp dụng cách tính mới này. Từ những năm sau đó, quy mô GDP tổng hợp sẽ không còn những bước tăng kiểu “nhảy vọt” nữa bởi các hoạt động kinh tế cả chính thức lẫn phi chính thức đều đã được thống kê đầy đủ, và tốc độ tăng GDP tổng hợp này hàng năm sẽ trở lại mức tự nhiên (ví dụ, GDP chính thức sẽ tăng quanh quẩn 7%/năm).

Như vậy, dù với cách làm phi tiêu chuẩn trên, một kiểu để lách luật, thì dư địa nợ công cũng sẽ chỉ tăng vọt một lần duy nhất rồi sau đó quay trở lại trạng thái bị kiềm chế như lúc trước khi thay đổi cách tính GDP. Nói cách khác, cách lách luật trên sẽ không giúp ích cho việc đảm bảo an toàn nợ công trong dài hạn khi mà biện pháp quan trọng, hữu hiệu và cần làm nhất là kiềm chế và nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công, chỉ vay nợ trong trường hợp thật cần thiết lại không được thực hiện rốt ráo. Nợ công vì thế mà sẽ tiếp tục tăng nhanh, tăng mạnh, cho đến lúc ngay cả với mẫu số đã phình to một cách đột ngột là GDP tính theo cách mới cũng vẫn làm cho nợ công nhanh chóng chạm ngưỡng trần.  

Cũng vì không phải là mức và cách làm tiêu chuẩn so với thế giới nên dù Chính phủ có thành công với việc tính lại và làm tăng vọt GDP của Việt Nam một cách đột ngột thì lúc đó, về nguyên tắc, mức trần nợ công 65% mà Quốc hội đặt ra cho Chính phủ thực hiện như hiện tại sẽ không còn thích hợp và xác đáng nữa. Đó là do con số 65% này được Quốc hội đưa ra dựa trên tiêu chuẩn và kinh nghiệm của thế giới, dựa trên cách tính GDP chính thống mà không bao gồm kinh tế phi chính thức và kinh tế ngầm.

Vì vậy, cũng về nguyên tắc, khi Chính phủ tính lại GDP theo cách gộp cả kinh tế phi chính thức và kinh tế ngầm thì Quốc hội cần phải ban hành một nghị quyết mới trong đó quy định một mức trần nợ công mới thấp hơn mức 65% hiện tại để đảm bảo nợ công luôn được khống chế trong phạm vi an toàn, phù hợp với mức trả nợ của ngân sách (dựa phần lớn vào thu thuế và các khoản thu thường xuyên khác xuất phát từ các hoạt động kinh tế quan sát, thống kê được, chứ không phải là kinh tế phi chính thức và kinh tế ngầm). 

Lúc đó, cho dù Chính phủ quyết tâm và thành công trong việc tính lại GDP thì dư địa nợ công không vì thế mà tăng lên tương ứng. Do vậy, và kết hợp thêm với chuyện tính toán lại GDP sẽ làm hao tổn một nguồn lực một cách không cần thiết, chủ trương tính lại GDP cần được xem xét lại một cách thấu đáo và hủy bỏ trước khi được thực thi một cách dang dở.

(1)  https://dantri.com.vn/kinh-doanh/tong-cuc-thong-ke-khong-the-thong-ke-duoc-kinh-te-ngam-phi-phap-20180119140922424.htm

Wednesday, 20 February 2019

Thêm một con én thì vẫn chưa có mùa xuân (Bài đăng trên TBKTSG, 20/2/2019, tiêu đề do báo đặt lại)

https://www.thesaigontimes.vn/285172/them-mot-con-en-thi-van-chua-co-mua-xuan.html

Trong một động thái mới đây nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã đồng ý cho thí điểm sử dụng tài khoản viễn thông để thanh toán hàng hóa có giá trị nhỏ, trước mắt cho ít nhất một doanh nghiệp viễn thông thí điểm.
Thông tin này đã được nhiều người hồ hởi đón nhận, bởi họ cho rằng khi dịch vụ này được triển khai thì việc đi chơi, đi chợ, du lịch... sẽ rất tiện lợi vì chỉ cần một chiếc điện thoại di động là có thể thanh toán được mà không cần phải mang theo thẻ tín dụng hay tiền mặt.
Ưu việt hơn các hình thức thanh toán khác?
Quả thật, nếu so với thanh toán bằng tiền mặt thì việc móc chiếc điện thoại di động trong túi ra, thực hiện một hai thao tác, ấn một vài nút để thực hiện việc thanh toán cho một khoản chi tiêu nào đó qua trực tuyến hoặc tại chỗ rõ ràng là tiện lợi, an toàn và văn minh hơn nhiều. Tuy nhiên, nếu vậy thì việc thanh toán bằng điện thoại di động (gọi tắt là TTDĐ) cũng sẽ không hề tiện lợi, an toàn, văn minh và phòng chống rửa tiền hữu hiệu hơn việc sử dụng thẻ tín dụng và các loại thẻ tích trữ giá trị khác (ATM, thẻ trả trước, thẻ ghi nợ...) vốn thậm chí còn an toàn, đơn giản hơn và dễ quản lý hơn cả việc dùng điện thoại di động.
Như vậy, việc TTDĐ may ra chỉ có thể trở nên hấp dẫn hơn với người dùng so với việc dùng thẻ khi số lượng điểm bán hàng chấp nhận TTDĐ nhiều hơn so với số nơi chấp nhận thẻ các loại, và/hoặc chi phí giao dịch thấp hơn so với dùng thẻ, và/hoặc người sử dụng TTDĐ không thể tiếp cận được với dịch vụ ngân hàng (mở tài khoản, chuyển tiền qua mạng...). Nhưng đến đây lại nảy sinh ra vấn đề là làm cách nào để nạp tiền vào tài khoản viễn thông một cách tiện lợi và an toàn để từ đó thực hiện TTDĐ?
Nếu việc nạp tiền vẫn phải diễn ra “thủ công”, tức thực hiện bằng tiền mặt tại các đại lý, các công ty dịch vụ thì việc này vừa vi phạm nguyên tắc không dùng tiền mặt, vừa có khả năng làm đội chi phí giao dịch, trong khi mức độ tiện lợi thì bị suy giảm. Nếu dùng chuyển khoản ngân hàng hoặc dùng thẻ tín dụng để nạp tiền thì có nghĩa là người sử dụng TTDĐ đã tiếp cận được dịch vụ ngân hàng nên không nhất thiết phải cần đến dịch vụ TTDĐ nữa.
Thực tế thanh toán không dùng tiền mặt ở Singapore và Ấn Độ
Việc chọn ra hai nước trên là có chủ định bởi Singapore là nước phát triển với đầy đủ các loại hình thanh toán không dùng tiền mặt đang được sử dụng. Còn Ấn Độ là nước đang phát triển, có tỷ lệ người nghèo sống ở nông thôn lớn với cơ sở hạ tầng viễn thông và tài chính hạn chế, ít nhiều tương đồng với Việt Nam. Ấn Độ đã buộc phải triển khai cấp tập ở quy mô toàn quốc thanh toán không dùng tiền mặt bởi một cú hích chính sách lớn của nước này hồi tháng 11-2016 - thu hồi những đồng tiền giấy phổ biến trong lưu thông, có mệnh giá 500 và 1.000 rupee để đổi lấy các đồng tiền mới có mệnh giá 500 và 2.000 rupee có tính an toàn cao hơn.
Chuyện ở Singapore thì khá đơn giản. Và không như nhiều người tưởng tượng, việc thanh toán bằng tiền mặt vẫn khá là phổ biến ở đây, đặc biệt là với những khoản chi tiêu nhỏ. Nếu đi siêu thị, chịu khó quan sát thì sẽ chứng kiến trong số chục người mua hàng sẽ có ít nhất vài ba người trả tiền mua đồ bằng tiền mặt, mặc dù hệ thống ngân hàng với ATM và thẻ tín dụng có thể nói không ngoa là quá nhiều so với dân số.
Và cũng chính vì sự phát triển của hệ thống ngân hàng (và có thể cả hạn chế bởi quy định của pháp luật) mà người viết đã sống ở đây hơn chục năm nhưng chưa bao giờ nghe thấy hoặc chứng kiến chuyện thanh toán qua tài khoản viễn thông, dù rằng việc dùng điện thoại di động để thanh toán (qua phương thức QR code hay ví điện tử...) đang ngày càng thấy nhiều hơn (nhưng chưa hoàn toàn phổ biến).
Còn ở Ấn Độ, việc thu hồi tiền giấy nói trên đột ngột làm cho hàng tỉ người của nước này bị ảnh hưởng nặng nề do có đến 86% tiền mặt trong lưu thông đã bị thu hồi lập tức, từ đó đã làm phổ biến nhanh chóng các hình thức thanh toán điện tử không dùng tiền mặt để thích nghi với cuộc sống mới không có tiền mặt.
Mười phương thức thanh toán không dùng tiền mặt phổ biến nhất là: thẻ ngân hàng, USSD (unstructured supplementary service data), AEPS (Aadhar Enabled Payment System), UPI (Unified Payments Interface), ví điện tử, thẻ ngân hàng trả trước, PoS (Point of Sale), Internet banking, mobile banking, và Micro ATM. Trong mười phương thức này không hề có phương thức nào là thanh toán qua tài khoản viễn thông (mà không đòi hỏi người sử dụng phải có nối kết với tài khoản ngân hàng).
Tóm lại, nên hiểu thế nào cho đúng?
Qua những dẫn giải nói trên, người viết e ngại là đang có sự nhầm lẫn về khái niệm về thanh toán điện tử bằng tài khoản điện thoại (hoặc tài khoản viễn thông) mà được báo chí dịch từ cụm từ Mobile Money (hoặc ngược lại). Cũng từ cách đưa tin của báo chí cũng như sự trích dẫn phát biểu của các quan chức liên đới, người ta tưởng rằng Mobile Money không yêu cầu người sử dụng phải có tài khoản ngân hàng. Sự thực thì không phải như thế, như đã nói ở trên.
Nếu Mobile Money chỉ đơn thuần là một trong những phương thức thanh toán không dùng tiền mặt được thực hiện qua điện thoại di động (có kết nối với tài khoản ngân hàng) thì mọi việc trở nên đơn giản hơn, không cần phải tốn nhiều giấy mực đến thế. Bởi đây chỉ là một kênh bổ sung để nhanh chóng đưa Việt Nam chuyển mình thành một xã hội không dùng tiền mặt, cũng là một chủ trương của Chính phủ được thể hiện qua đề án không dùng tiền mặt ở Việt Nam giai đoạn 2016-2020.
Giải pháp thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt
Dù đề án trên có một số mục tiêu có thể là khá tham vọng, nhưng như trường hợp của Ấn Độ cho thấy với sự quyết tâm cao và những biện pháp có phần cực đoan buộc các chủ thể liên đới tự giác và nghiêm túc thực hiện các bước đi cần thiết chuyển sang một xã hội không dùng tiền mặt thì đề án hoàn toàn có khả năng sẽ được hiện thực hóa.
Như là một phần trong các giải pháp toàn diện để thực hiện đề án nhìn từ kinh nghiệm của Ấn Độ, Việt Nam cần có thêm những động thái chính sách mang tính cưỡng bức gần đây của Chính phủ như bắt buộc các giao dịch mua bán bất động sản và xe máy, ô tô phải thực hiện không dùng tiền mặt; mua bán trực tuyến nhưng không được phép thực hiện thông qua hình thức giao hàng - trả tiền mặt; các dịch vụ chia sẻ trực tuyến như Grab không được thanh toán bằng tiền mặt...
Những động thái chính sách mang tính cưỡng bức này sẽ tạo điều kiện, khuyến khích và bắt buộc thêm nhiều người chuyển sang mở tài khoản tại ngân hàng và chấp nhận thanh toán không dùng tiền mặt.
Về phía các đơn vị cung cấp hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt là các hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp nhỏ, việc trang bị các máy đọc thẻ và thiết bị thanh toán đầu cuối, cũng như nối mạng để thực hiện thanh toán điện tử không luôn dễ dàng và ít tốn kém, nên Chính phủ cần hỗ trợ về chính sách, kỹ thuật và tài chính để thực hiện việc này.
Ngoài ra, Chính phủ cần tăng cường tuyên truyền cho người dân và doanh nghiệp về lợi ích của việc sử dụng thanh toán điện tử, nó hoàn toàn có thể bù đắp được những tốn phí trong sử dụng thanh toán điện tử để khuyến khích mọi người tích cực chuyển sang các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt. Đồng thời, Chính phủ cần thúc đẩy phát triển hạ tầng kỹ thuật để phủ sóng nối mạng Internet toàn quốc.

Về phía các ngân hàng thương mại, Chính phủ cũng cần có những động thái chính sách mang tính cưỡng bức và khuyến khích để họ tiến hành mở rộng và nâng cấp cơ sở hạ tầng và hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt, cũng như hạ thấp các loại phí dịch vụ. Để hỗ trợ việc này, Chính phủ có thể cân nhắc sử dụng các biện pháp như miễn giảm thuế và các nghĩa vụ giao nộp, hay cho vay với lãi suất ưu đãi.

Friday, 15 February 2019

Đánh giá, xếp hạng ngân hàng - Nhìn từ kinh nghiệm thế giới (Bài đăng trên TBKTSG, 16/2/2019)

https://www.thesaigontimes.vn/285181/danh-gia-xep-hang-ngan-hang--nhin-tu-kinh-nghiem-the-gioi.html

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Thông tư số 52/2018/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (TCTD), có hiệu lực từ ngày 1-4-2019. Thông tư này thay thế Quyết định số 06/2008/QĐ-NHNN ban hành quy định xếp loại ngân hàng thương mại cổ phần (NHTM).

Hệ thống tiêu chí được sử dụng để xếp hạng gồm sáu yếu tố: vốn (trọng số 20%), chất lượng tài sản (30%), quản trị điều hành (10%), kết quả hoạt động kinh doanh (20%), khả năng thanh khoản (15%), mức độ nhạy cảm đối với rủi ro thị trường (5%). Căn cứ vào mức điểm xếp hạng đạt được, TCTD được xếp vào một trong các hạng sau: tốt (A), khá (B), trung bình (C), yếu (D) hoặc yếu kém (E).

Kết quả xếp hạng sẽ chỉ được thông báo cho TCTD và NHNN chi nhánh tỉnh và thành phố mà không được công bố rộng rãi. Thậm chí, thông tư còn quy định việc lưu trữ và sử dụng kết quả xếp hạng phải theo quy định pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước trong ngành ngân hàng. Đây là một thay đổi lớn của Thông tư 52 so với Quyết định 06, bởi theo Quyết định 06 thì kết quả xếp hạng này được công bố trên trang web của NHNN.

Sự cần thiết có hệ thống xếp hạng

Nhiều nơi trên thế giới áp dụng một mô hình xếp hạng ngân hàng nào đó nhằm mục đích đưa ra được các chỉ số (dưới dạng con số cụ thể) phản ánh mức độ rủi ro mà TCTD đang đối mặt. Lợi ích chính của việc xếp hạng là nó tạo ra một khuôn khổ chung với những cấu thành cụ thể, dựa vào đó những thông tin định tính và định lượng của TCTD được thu thập và phân tích một cách nhất quán, từ đó tập trung nỗ lực thanh tra, giám sát vào những chỉ tiêu dưới chuẩn. Ở nhiều nước, theo quy định, TCTD nào dưới một mức chuẩn nào đó sẽ tự động bị thanh tra, giám sát. Do đó, việc xếp hạng sẽ xác định được TCTD có khả năng gặp rắc rối trong tương lai để tối ưu hóa các nguồn lực thanh tra, giám sát, tập trung vào những lĩnh vực cụ thể (ví dụ, chất lượng tài sản yếu kém, quản trị rủi ro tín dụng yếu, lợi nhuận thấp...)(1).

Xếp hạng TCTD sẽ cung cấp một bức tranh đầy đủ về tình hình hiện tại và tương lai của hệ thống các TCTD, nhờ đó cho biết những điểm mạnh, yếu và rủi ro của TCTD. Nó cũng là cơ sở để cơ quan chức năng chủ động can thiệp sớm trong quá trình thanh tra, giám sát. Sự can thiệp sớm sẽ tập trung vào buộc TCTD khắc phục những điểm yếu lộ diện qua quá trình đánh giá, xếp hạng nhằm giảm thiểu khả năng sự yếu kém này tiếp tục xấu đi, dẫn đến nguy cơ phá sản và giải thể TCTD. Sự yếu kém về quản lý rủi ro và quản trị điều hành cần được đặc biệt quan tâm vì những khiếm khuyết trong các lĩnh vực này thường là chỉ dấu chính cho khủng hoảng của TCTD trong tương lai.

Mô hình xếp hạng ngân hàng CAMELS

Với sáu tiêu chí xếp hạng trên, có thể nói mô hình xếp hạng ngân hàng của NHNN hoàn toàn tương đồng với mô hình CAMELS ra đời và được áp dụng đầu tiên tại Mỹ bởi các cơ quan quản lý chức năng như Ngân hàng Dự trữ liên bang và Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang... cho tất cả các TCTD của nước này (khoảng 8.000 tổ chức), sau đó lan tỏa sang các nước khác. Mô hình xếp hạng CAMELS dựa trên sự thanh tra tại chỗ kết hợp với phân tích các tỷ lệ trên báo cáo tài chính nhằm đánh giá và phân loại tình hình tổng thể về sức khỏe của một ngân hàng.

Các yếu tố phản ánh tình hình tổng thể của ngân hàng theo mô hình CAMELS cũng chính là sáu yếu tố được sử dụng bởi NHNN, và được viết tắt bởi sáu chữ cái, gồm C - Capital (vốn), A - Assets (chất lượng) tài sản), M - Management Capability (khả năng quản trị, điều hành), E - Earnings (kết quả kinh doanh, lợi nhuận), L - Liquidity (tình hình thanh khoản), S - Sensitivity (mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường, đặc biệt là lãi suất).

TCTD được xếp hạng từ 1 (tốt nhất) đến 5 (kém nhất) cho từng tiêu chí đánh giá trên. Kết quả xếp hạng không được công bố rộng rãi mà chỉ được thông báo cho hội đồng quản trị và những nhà quản lý cấp cao nhất của TCTD với lý do chủ yếu là giảm thiểu khả năng xảy ra sự đổ vỡ khi một TCTD nào đó nhận được kết quả xếp hạng kém đi. Tuy nhiên, điểm khác biệt với Việt Nam là ở Mỹ, Quốc hội nước này có thể tiếp cận được kết quả xếp hạng TCTD (thông qua, ví dụ, điều trần và các báo cáo của cơ quan chức năng) để nắm được tình hình an toàn và sức khỏe của ngành tài chính(2)(3).

Nên hay không nên công bố kết quả xếp hạng?

Về lý do không công bố kết quả xếp hạng ngân hàng, khi dự thảo thông tư, NHNN có giải thích rằng, do mục đích khác nhau, nên ngân hàng trung ương, cơ quan giám sát tài chính tại nhiều nước trên thế giới đều không công bố rộng rãi kết quả xếp hạng các ngân hàng như các tổ chức xếp hạng tín nhiệm trong nước và quốc tế thực hiện định kỳ. Một lý do khác nữa là việc công bố này “có tính nhạy cảm cao”.

Trên thực tế, việc đánh giá, phân loại và công bố thông tin về tình hình hoạt động và sức khỏe của TCTD không phải là không được phép, không nên trong mọi trường hợp. Một minh họa điển hình là Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) công bố kết quả đánh giá sức khỏe và khả năng chịu đựng rủi ro của khoảng 130 TCTD hoạt động trong Cộng đồng chung châu Âu qua các đợt kiểm tra định kỳ và bất thường được ECB phối hợp với các cơ quan giám sát của các quốc gia thành viên(4). Kết quả đánh giá sức khỏe này chứa đựng những thông tin rất “nhạy cảm”, có thể ảnh hưởng tiêu cực tới kết quả kinh doanh của một ngân hàng nào đó. Với ECB, sự công bố kết quả này là cần thiết bởi một trong những mục đích của việc đánh giá và công bố này là để tăng cường chất lượng thông tin hiện có về tình hình của TCTD.

Một minh họa khác liên quan đến việc công bố thông tin “nhạy cảm” về sức khỏe của TCTD là việc Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) khi đề cập đến vấn đề công bố thông tin liên quan đến ngân hàng yếu kém cũng không hề khuyến nghị rằng không nên, không được công bố các thông tin này. Thay vào đó, họ chỉ khuyến nghị rằng việc công bố thông tin cần phải được xem xét tùy từng trường hợp cụ thể, trên cơ sở liệu nó có đóng góp tích cực vào mục tiêu xử lý các ngân hàng yếu kém và duy trì sự ổn định của toàn hệ thống hay không. Tuy nhiên, BIS khuyến khích việc công bố này trong phạm vi cho phép và yêu cầu của pháp luật.

BIS còn công nhận rằng việc công bố kế hoạch hành động toàn diện và đáng tin cậy khắc phục các tồn tại của TCTD yếu kém có thể sẽ giúp duy trì và phục hồi lòng tin vào TCTD. Ngược lại, BIS cảnh báo rằng sự công bố chậm trễ sẽ tạo ra kẻ thắng, người thua (là những người gửi tiền mới) do bất đối xứng thông tin khi một số người nào đó tiếp cận được những thông tin này. Tất nhiên, theo BIS, việc công bố quá sớm thông tin bất lợi có thể dẫn đến việc đổ xô rút tiền gửi của dân chúng, làm mất khả năng thanh toán của ngân hàng(5).

Thực tế thì cho dù kết quả xếp hạng ngân hàng chỉ được gửi cho một số đối tượng hạn chế nhưng kết quả này vẫn hoàn toàn có khả năng rò rỉ ra công luận. Chẳng hạn, việc xếp hạng khả năng quản trị, điều hành ngân hàng (M) của ngân hàng Wells Fargo bị tụt hạng xuống mức “3” trong năm 2017 đã bị rò rỉ trên các phương tiện thông tin đại chúng, mặc dù việc tiết lộ thông tin trái quy định này là một vi phạm hình sự(3). Khả năng đặt ra là sự rò rỉ bắt nguồn từ báo cáo của cơ quan chức năng về việc giám sát Wells Fargo lên Quốc hội Mỹ và người trong Quốc hội muốn công chúng có cái nhìn xấu đi về ngân hàng này.

Như vậy, nhìn chung việc công bố kết quả xếp hạng vẫn có thể là cần thiết trong một số trường hợp và hoàn cảnh cụ thể. Do đó, có lẽ NHNN cần có những sửa đổi phù hợp theo hướng này trong Thông tư 52 để mở đường cho những trường hợp cần phải công bố kết quả đánh giá, xếp hạng ngân hàng nhằm mục đích chung là cải thiện sức khỏe của TCTD yếu kém và duy trì ổn định hệ thống. 
(1) https://www.bis.org/bcbs/publ/d330.pdf
(2) https://www.federalreserve.gov/boarddocs/press/general/1996/19961224/
(3) https://www.vedderbanking.com/2018/01/wells-fargos-camels-rating-leaked/
(4) https://www.bankingsupervision.europa.eu/banking/comprehensive/html/index.en.html
(5) https://www.fsa.go.jp/inter/bis/bj_20020404.pdf

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).