Monday, 7 October 2019

Cần định vị lại sứ mệnh của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước (Bài đăng trên TBKTSG, 7/10/2019)

https://www.thesaigontimes.vn/td/294831/can-dinh-vi-lai-su-menh-cua-uy-ban-quan-ly-von-nha-nuoc.html


TBKTSG số ra tuần trước có bài “Định vị lại sứ mệnh của doanh nghiệp nhà nước”, trong đó kiến nghị doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chỉ nên có sứ mệnh là theo đuổi lợi nhuận và có quyền tự chủ trong việc này trong khuôn khổ pháp luật như đối với các doanh nghiệp tư nhân khác. 

Hiện tại, các DNNN được quản lý bởi Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) và/hoặc trực tiếp bởi Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp (Ủy ban) – là tổ chức có thể coi như công ty mẹ của SCIC.

Vẫn là mô hình bất cập

Điều không ổn với mô hình quản lý của SCIC trước đây và Ủy ban hiện nay là nhân sự vẫn chỉ là các công chức ngồi bàn giấy, rất ít hoặc không am tường về lĩnh vực hoạt động của DNNN mà họ quản lý; không hoặc rất ít kinh nghiệm điều hành doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp lớn; quyền tự chủ trong quản lý, điều hành doanh nghiệp vẫn bị hạn chế, vẫn phải xin phép, tham khảo ý kiến, trông chờ sự “chủ động phối hợp” của một ai đó, cơ quan nào đó (dù Ủy ban đã được gắn cái nhãn không chính thức là “siêu Ủy ban”).

Hãy hình dung như trước đây, các DNNN được quản lý bởi bộ chủ quản, theo ngành dọc, với cả một ban bệ đồ sộ nhiều tầng lớp, nhưng việc quản lý vẫn... chẳng ra sao! Nay gom tất cả các DNNN về một mối dưới SCIC và/hoặc Ủy ban với khoảng một vài trăm nhân sự gom nhặt từ các cơ quan quản lý với đủ loại trình độ nghề nghiệp và kinh nghiệm (background) thì khó lòng mà hy vọng sự vụ quản lý DNNN sẽ hanh thông hơn, trừ khi lại phải đẻ ra một bộ máy mới trong lòng Ủy ban gồm đầy đủ các ban bệ quản lý DNNN theo ngành dọc như trước đây để đảm bảo việc quản lý DNNN không là quá sức, quá tải với Ủy ban. Nhưng nếu làm như vậy thì tính hữu hiệu, hiệu quả của mô hình Ủy ban sẽ là lại là một câu hỏi lớn.

Điểm nghẽn trên là một trong những nguyên nhân chính mà SCIC trước đây và nay là Ủy ban – dù đã chính thức được thành lập gần 2 năm nay – vẫn “chính thức” không để lại dấu ấn gì, thành công nào, và cũng chưa chứng tỏ được đã có sự chuyển biến hay chiều hướng tích cực cho các DNNN mà họ quản lý. Minh chứng sinh động nhãn tiền nhất là vai trò mờ nhạt của Ủy ban ở các doanh nghiệp thua lỗ của Bộ Công thương bàn giao về Ủy ban.       

Định vị lại sứ mệnh

Với mô hình Ủy ban hay bất cứ mô hình đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tương tự, sự quá sức, quá tải về nhiệm vụ, chức năng, và năng lực quản lý buộc phải đi đến một giải pháp không thể khác mà có thể nói nôm na là “không làm được thì thuê”!

Theo cách này, Ủy ban sẽ đóng vai trò như một cổ đông (cổ đông lớn hoặc cổ đông duy nhất) đối với các DNNN. Là cổ đông, không nhất thiết Ủy ban cần phải am tường / “ôm” được nhiều thứ, nhiều lĩnh vực, hoặc phải tham gia vào mọi việc ở DNNN. Thay vào đó, cổ đông gián tiếp/trực tiếp thue người quản lý, điều hành doanh nghiệp. Khi đó, mối quan tâm duy nhất của cổ đông - Ủy ban – thông thường chỉ là làm sao cổ phần của mình trong doanh nghiệp liên tục gia tăng về giá trị. Nếu điều này không được thực hiện thì cổ đông cần thực hiện quyền hạn của mình để đảm bảo ban lãnh đạo của doanh nghiệp phải có những thay đổi cần thiết để hiện thực hóa mục tiêu này, hoặc không phải bị thay thế.

Nếu không thể cải thiện, thì cổ đông cần tính đến chuyện rút vốn khỏi doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp chỉ có duy nhất một cổ đông là Ủy ban thì sự rút vốn này đồng nghĩa với việc DNNN bị giải thể, sang nhượng (cổ phần hóa). Ở góc độ này, Ủy ban có vai trò, sứ mệnh tương tự như Temasek của Singapore.

Với “KPI” (chỉ tiêu đánh giá năng lực) này, DNNN nào không hiệu quả thì sẽ bị giải thể, tái cơ cấu, ban lãnh đạo DNNN đó phải ra đi, và sẽ đơn giản là như vậy. Đổi lại, DNNN sẽ được toàn quyền chủ động trong kinh doanh với sự can thiệp tối thiểu từ Ủy ban, chủ yếu mang tính hình thức như phê duyệt kế hoạch sản xuất, kinh doanh (hàng năm) như trong quan hệ giữa một doanh nghiệp cổ phần thông thường với các cổ đông của nó.

Nếu muốn kiểm tra giám sát để đảm bảo quyền lợi của cổ đông thì Ủy ban có thể thuê các tổ chức thứ ba, độc lập đảm trách viêc này mà không nhất thiết thiết phải thành lập riêng một tổ chức hữu cơ mà chất lượng và hiệu quả không có gì đảm bảo cũng bởi xuất phát từ phạm vi quản lý quá rộng của Ủy ban.

Tất nhiên là với sứ mệnh hoạt động được đơn giản hóa nói trên của Ủy ban thì hàng loạt (có thể nói là quá nhiều) trách nhiệm, nhiệm vụ hiện nay được giao cho Ủy ban (1) sẽ (nên) được rút gọn lại quanh mấy chữ “hiệu quả gia tăng vốn nhà nước” cũng như đảm bảo cho Ủy ban sự tự chủ, độc lập cần thiết với mọi cơ quan quản lý nhà nước khác trong việc thực hiện sứ mệnh này. Với thước đo này, bản thân Ủy ban và người lãnh đạo cũng sẽ bị chịu áp lực phải bị thay thế nếu không hoàn thành nhiệm vụ.

Nếu theo đúng phương châm hoạt động trên, thực ra không cần đến sự thành lập và tồn tại của Ủy ban, mà chỉ cần bàn giao các DNNN về SCIC và sửa đổi mô hình của SCIC để nó hoạt động tương tự như Temasek là đầy đủ, trọn vẹn và hợp lý trên mọi lẽ.
(1) http://cmsc.gov.vn/chuc-nang-nhiem-vu

Saturday, 21 September 2019

Định vị lại sứ mệnh của doanh nghiệp nhà nước (Bài đăng trên TBKTSG, 22/9/2019)

https://www.thesaigontimes.vn/td/294215/dinh-vi-lai-su-menh-cua-doanh-nghiep-nha-nuoc.html


Trong Hội nghị chuyên đề trực tuyến của Đảng ủy Khối doanh nghiệp Trung ương ngày 9/9 về tình hình triển khai, tổ chức thực hiện Nghị quyết số 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước (DNNN), Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình hỏi các lãnh đạo DNNN: "doanh nghiệp nhà nước là then chốt, có nhất trí thế không?". Theo báo chí tường thuật thì đáp lại câu hỏi này là sự im lặng. Phải gần 2 giờ sau mới có một người trả lời rằng “không phải đầu cũng phải tai”.

Cũng trong hội nghị, ông Bình khẳng định doanh nghiệp nhà nước là công cụ quan trọng để bảo đảm thực hiện có hiệu quả các chính sách ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đối phó với những biến động thị trường; tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước; đóng góp quan trọng trong xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và chính sách an sinh xã hội.

Sứ mệnh mâu thuẫn

Trích dẫn hai sự kiện trên để thấy trước hết về phần vai trò, sứ mệnh của DNNN, thực chất là gánh nặng trách nhiệm, nghĩa vụ mà DNNN phải đáp ứng, hoặc được kỳ vọng từ phía “trên”, là quá nhiều. Quan trọng hơn, các nghĩa vụ này có mâu thuẫn với nhau, khó có thể “chung sống hòa bình”.

Cụ thể, là công cụ để ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát thì thường sẽ có nghĩa là DNNN phải “mua đắt”, “bán rẻ”, ví dụ tăng giá thu mua nông sản để hỗ trợ nông dân nhưng lại phải bán giá rẻ hơn thị trường như kiểu cửa hàng “bình ổn giá”. Kinh doanh kiểu này tất nhiên lãnh đạo doanh nghiệp có tài đến mấy thì vẫn không tránh khỏi thua lỗ, trừ khi được Nhà nước bù đắp thua lỗ bằng cách này hay cách khác, trực tiếp hoặc gián tiếp sử dụng ngân sách. Nếu như vậy thì DNNN sẽ không thể thực hiện tròn vai nghĩa vụ thứ hai là tạo nguồn thu lớn cho ngân sách, bởi một mặt thì DNNN đang đối mặt với nguy cơ thua lỗ thì lấy đâu ra mà đóng góp cho ngân sách. Ngược lại, ngân sách lại phải bỏ ra để bù đắp cho DNNN khỏi thua lỗ.

Tương tự như vậy, một mặt DNNN phải đối mặt với thương trường, cạnh tranh khốc liệt trong và ngoài nước, nhưng mặt khác vẫn phải đóng góp vào các nhiệm vụ chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng...  Tức là cùng lúc phải căng mình làm nhiều việc mà việc nào cũng phải làm tốt thì không “vật vờ” mới là lạ.

Nói như vậy để thấy ngay việc xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của DNNN thôi đã có vấn đề, để rồi từ đó lại tiếp tục nảy ra nhiều vấn đề khác trên thực tế liên quan đến DNNN.

Quyền lợi, quyền hạn cũng mâu thuẫn

Về các loại quyền đối với DNNN, câu phát biểu “không phải đầu cũng phải tai” cũng đủ tóm tắt những sự “chéo ngoe”. DNNN bị hạn chế quyền tự chủ, nhiều thứ muốn quyết không được mà phải “xin ý kiến trên”. Nếu làm đúng theo tinh thần ông Bình giục giã trong hội nghị ("dồi dào niềm tin, cũng như ra trận, thiếu niềm tin thì không thể thắng. Phải có niềm tin để từng bước gây dựng lại hình ảnh tốt đẹp của doanh nghiệp nhà nước"), hay câu giục giã của một vị lãnh đạo trước đây đối với Vinashin (“phải táo bạo, táo bạo hơn nữa”) thì sự mạnh dạn, tự tin, táo bạo, dám nghĩ dám làm dễ trở thành họa không chỉ cho bản thân lãnh đạo doanh nghiệp, DNNN, mà còn cho cả nền kinh tế, kể cả khi sự táo bạo, tự tin này xuất phát từ động cơ trong sạch.

Sự ràng buộc về cơ chế, thể chế pháp luật, sự trì trệ, lạc hậu nhưng quá... thừa thãi của đội ngũ công chức quản lý DNNN là một số trong những yếu tố trói chân trói tay DNNN muốn “làm lớn” trong khi lại tạo ra những cơ hội béo bở cho lãnh đạo DNNN cấu kết với một bộ phận công chức quản lý trục lợi của công.

Lối thoát

Khi Tòa soạn báo đặt tác giả viết bài này có nêu câu hỏi là làm thế nào để nâng cao tính hiệu quả của DNNN. Với câu hỏi “đau đáu” này thì trước khi trả lời, cần phải hỏi lại là hiệu quả ở mặt nào? Nhưng e rằng hỏi thế thì làm khó quá nên xin trả lời hộ luôn vậy.

Như trên đã nêu, trước sự “đa nhiệm” đầy mâu thuẫn trong khi “nhất cử nhất động” đều phải xin phép ai đó trong một thời gian có khi bất định nếu không muốn bị truy tố tội cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng thì chẳng thể nào có phép mầu, lời giải nào để đạt hiệu quả trên bất cứ phương diện nào.

Nhận diện vấn đề rõ như vậy rồi thì cũng sẽ nhìn thấy lối thoát. Về mặt nghĩa vụ, phải xác định, định vị rõ DNNN có trách nhiệm, nghĩa vụ gì. Về mặt này, gợi ý cho câu trả lời nằm ở chữ “doanh nghiệp”. Đã là doanh nghiệp thì dứt khoát phải đặt chữ “lợi nhuận” lên hàng đầu, và cũng chỉ duy nhất chữ này mà thôi, chỉ có chữ này được lấy làm thước đo hiệu quả. Điều này có nghĩa là DNNN nắm vốn Nhà nước giao phó phải có trách nhiệm làm vốn này sinh sôi nảy nở, như mô hình của Temasek ở Singapore. Thực thể này ở Singapore chẳng có nghĩa vụ phải ổn định vĩ mô, đóng góp vào an ninh, quốc phòng, xã hội. Điều hành Temasek là một đội ngũ quản lý giàu kinh nghiệm quản lý các doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước chứ không phải là đội ngũ quan chức ngồi bàn giấy như ở ta. Kết quả quản lý được đánh giá qua các chỉ tiêu cụ thể (KPI) cứ theo đó đội ngũ quản lý sẽ biết ai được ở lại, ai phải ra đi.

Chắc chắn nhiều người sẽ sợ hãi trước viễn cảnh này và đặt câu hỏi, vậy thì lấy ai làm các nhiệm vụ thay cho các DNNN truyền thống đây? Xin nói luôn là việc nào ra việc đấy, ai làm việc người đó. Doanh nghiệp thì chỉ nên kinh doanh làm lãi. Chuyện ổn định vĩ mô thì đã có các chính sách quản lý vĩ mô, qua các công cụ thuế, chính sách phúc lợi, an sinh. Chuyện an ninh, quốc phòng thì là của ngành an ninh, quốc phòng với nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước.

Đối với những người chưa “yên tâm” thì xin lấy ví dụ như thế này. Nhà nước muốn làm một con đường đến vùng sâu, vùng xa mà theo nếp nghĩ thông thường thì chỉ có DNNN mới “xung phong” đảm nhận còn doanh nghiệp tư nhân thì “mất hút”. Nhưng tiền đâu để DNNN làm dự án này? Rõ ràng là dự án không thể “tự nó rán mỡ nó” vì doanh nghiệp tư nhân không muốn làm. Có nghĩa là để DNNN đứng ra làm con đường này thì Nhà nước phải rót vốn cho DNNN này bằng cách này hay cách khác. Lúc đó DNNN về bản chất trở thành nhà thầu công trình, tức xây thuê. Nếu vậy thì Nhà nước cũng hoàn toàn có thể thuê doanh nghiệp tư nhân thực hiện dự án, đồng nghĩa với “sứ mệnh” đóng góp phát triển cơ sở hạ tầng của DNNN trở nên vô nghĩa.

Trường hợp Nhà nước không có đủ tiền để thực hiện dự án với tư cách là chủ dự án thì cũng không có nghĩa là DNNN sẽ đứng ra nhận thay và nhận luôn phần lo vốn và trả nợ, bởi rốt cuộc tiền vào hay ra cũng đều cùng địa chỉ là ngân sách nhà nước. Trong những trường hợp này thì thường Nhà nước phải dùng đến các công cụ khác như đổi đất lấy hạ tầng, hoặc bằng chính sách ưu đãi nào đó để bù đắp thiệt hại cho doanh nghiệp “xung phong” làm thay Nhà nước. Lúc đó dù không có DNNN thì vẫn có nhiều doanh nghiệp tư nhân sẵn sàng muốn làm.
Tóm lại, muốn DNNN tồn tại và lớn mạnh thì buộc phải định vị lại trách nhiệm và quyền hạn của DNNN theo hướng biến DNNN thành doanh nghiệp đơn thuần theo đuổi lợi nhuận với nguồn vốn công cộng nhưng được quản lý theo những nguyên tắc thị trường bởi những con người am tường kinh doanh hoạt động trong khuôn khổ pháp luật như đối với các doanh nghiệp tư nhân khác.

Sunday, 15 September 2019

Giải ngân đầu tư công: Mục tiêu cuối cùng vẫn phải là hiệu quả (Bài đăng trên TBKTSG, 15/9/2019, bản gốc)

https://www.thesaigontimes.vn/td/293937/giai-ngan-dau-tu-cong-muc-tieu-cuoi-cung-van-phai-la-hieu-qua.html


Bộ Tài chính vừa báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình thanh toán vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách Nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ 8 tháng năm 2019. Theo bộ này, ước thanh toán vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách 8 tháng là hơn 161.286 tỷ đồng, đạt 37,92% so với kế hoạch Quốc hội giao và đạt 41,39% so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Kết quả giải ngân này thấp hơn so với cùng kỳ năm 2018, bởi cùng kỳ năm 2018, giải ngân 8 tháng đạt 44,24% kế hoạch Quốc hội giao và 45,57% kế hoạch Thủ tướng giao.

Lý do... kinh niên!

Đại diện Bộ Kế hoạch và Đầu tư mới đây đã tổng kết các lý do đằng sau chậm giải ngân đầu tư công, gồm: Sự chậm giao kế hoạch từ cấp các bộ, ngành, địa phương cho các dự án cụ thể; một số dự án mà các bộ, ngành, địa phương đề xuất chưa đủ thủ tục đầu tư theo quy định, chưa đủ cơ sở pháp lý; tại các cơ quan tổng hợp như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, công tác đôn đốc chưa kịp thời, quyết liệt, dẫn tới tình trạng chờ đợi lẫn nhau; do Luật Đầu tư cho phép giải ngân được kéo dài sang năm sau nên dẫn tới tâm lý không tích cực, tập trung trong việc giải ngân; giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn; năng lực nhà thầu hạn chế; một số bộ, ngành, địa phương chưa thực sự chủ động, quyết liệt trong việc chỉ đạo chủ đầu tư thực hiện các giải pháp đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, chưa tích cực trong việc hoàn chỉnh các thủ tục đấu thầu, lựa chọn nhà thầu, hoàn thiện hồ sơ...(1)

Có thể nói nhiều trong số những lý do cho sự chậm chễ trên là những lý do mang tính kinh niên thường xuyên đã được đưa ra nhiều năm qua và người dân không còn mấy ngạc nhiên hay quan tâm nữa. Ngay cả khi đã có liên tục nhiều chất vấn cũng như các loại công điện, công văn hết yêu cầu đến nhắc nhở “quyết liệt” và “nghiêm khắc” của từ Quốc hội, Thủ tướng và Phó Thủ tướng Chính phủ đến các bộ, ngành, địa phương thì sự chậm giải ngân đầu tư công – không chỉ chậm so với kế hoạch mà còn chậm so với năm trước theo kiểu “phú quý giật lùi” – vẫn tiếp diễn như không hề có gì xảy ra, bởi đơn giản là các yêu cầu và nhắc nhở này không giúp gì cho việc gỡ rối mớ bùng nhùng những lý do gây chậm chễ, vốn không thể lần ra đâu là đầu, đâu là cuối này. Do vậy, chuyện giải ngân đầu tư công chậm sẽ là chuyện thời sự kinh niên.

Cần xét lại vai trò của đầu tư công

Dường như đã có một quan niệm bám rễ trong tư duy của các nhà làm chính sách rằng đầu tư công, mà cụ thể là ở Việt Nam, là điều luôn tốt, luôn cần được đẩy mạnh tối đa có thể. Ngược lại, không tích cực đầu tư công thì sẽ gây hệ lụy lớn cho nền kinh tế. Quan niệm này cũng được nêu rõ bởi đại diện của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Theo đó, giải ngân chậm sẽ làm giảm ý nghĩa tác động của vốn đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế hàng quý (1).

Trên thực tế, tác động của đầu tư công đối với nền kinh tế không nhất thiết diễn ra một chiều như vậy, và cũng không nên nhìn nhận vấn đề một cách ngắn hạn, phiến diện như vậy. Đầu tư công trước hết phải tính đến hiệu quả, đặc biệt là khi đầu tư công được tài trợ chủ yếu bằng vay nợ như ở Việt Nam. Chắc chắn không ai phủ định việc Mobifone mua AVG không phải là một khoản đầu tư công. Và cũng chắc chắn không ai phủ nhận đầu tư vào 12 dự án thua lỗ, “đắp chiếu” của Bộ Công thương không phải là đầu tư công. Khoản trái phiếu 700 triệu đô la Chính phủ phát hành cho Vinashin chắc chắn cũng không nằm ngoài khái niệm đầu tư công. Vậy nhưng kết quả của các khoản đầu tư công này như thế nào thì có lẽ thôi không nên lặp lại ở đây cho thêm đau xót và... bẽ bàng! Mà cũng quên chưa kể thêm những con đường, những đường sắt xây bằng vốn ngân sách chưa bàn giao đã lở lói, hoặc thời điểm được bàn giao... không thể xác định!

Vấn đề càng trở nên nghiêm trọng hơn khi số tiền ngân sách đổ ra sông ra biển trên đa phần là đi vay, từ đủ nguồn trong và ngoài nước, ưu đãi có mà theo “giá chợ” cũng có, tiền lãi cộng dồn tăng dập hàng năm nghe mà thất kinh. Với kiểu đầu tư công như vậy thì nền kinh tế và ngân sách cùng lúc chịu hai cú đấm tận mạng, nên hiển nhiên là không đầu tư công có khi còn tốt hơn!

Rốt cuộc phải làm gì?

Như đã nói ở trên, trong mớ bòng bong rối rắm những lý do gây ra chậm chễ không hoặc chưa thấy lối thoát, trước tiên phải xét lại năng lực lập kế hoạch và đặt mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ. Ở phía giao tiền, không năm nào giải ngân đầu tư công không tụt xa so với kế hoạch và mục tiêu mà vẫn cứ đặt mục tiêu năm sau đầu tư phải cao hơn năm trước là điều cần phải thay đổi, nếu không chắc chắn chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề.

Ngược lại, ở phía tiêu tiền, cũng như đã nói, đầu tư công không phải luôn là tốt, nhất là trong cơ chế hiện không có gì đảm bảo đầu tư công là tốt, thì cần phải được thắt chặt, cắt giảm, giới hạn tối đa ở những dự án mà tính hiệu quả là điều không bị ai phản đối. Làm được như vậy và kết hợp với sự tiết giảm ở phía giao tiền như nêu trên thì tự khắc tỷ lệ giải ngân đầu tư công sẽ tăng vọt.

Chưa hết, liên quan đến lý do nêu ra rằng giải ngân đầu tư công chậm còn do các bộ, ngành, địa  phương không chủ động, quyết liệt, tích cực..., lưu ý các bộ, ngành, địa phương là nơi có/thực hiện các dự án đầu tư công. Theo quan niệm đầu tư công là tốt thì lẽ ra họ phải chủ động và tích cực thực hiện đầu tư công vì có thế thì mới đem lại thành tích cho mình. Nay họ không “mặn mà” với giải ngân đầu tư công có khác chi họ không cần, không muốn, không thấy lợi ích của, không có năng lực thực hiện đầu tư công? Với “đối tượng thụ hưởng” như vậy mà cứ bắt ép phải tiêu tiền thì càng dễ có nguy cơ ném tiền qua cửa sổ. Nên giải pháp tốt nhất là phải “trông mặt trao tiền”! Làm được như vậy thì tự khắc vấn đề đầu tư công trở nên thông suốt mà chẳng cần phải đôn đốc, nhắc nhở với đe dọa nữa.

(1) https://baodautu.vn/giai-ngan-von-dau-tu-cong-se-duoc-cai-thien-d106710.html

Saturday, 14 September 2019

Quyết định hạ lãi suất của NHNN sẽ tác động thế nào đến các ngân hàng thương mại và nền kinh tế? (Bài đăng trên CafeF, 14/9/2019)

http://cafef.vn/quyet-dinh-ha-lai-suat-cua-nhnn-se-tac-dong-the-nao-den-cac-ngan-hang-thuong-mai-va-nen-kinh-te-20190914112941968.chn

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã quyết định giảm lãi suất tái cấp vốn từ 6,25% xuống 6%/năm, lãi suất tái chiết khấu giảm từ 4,25% xuống 4%/năm; Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng giảm từ 7,25%/năm xuống 7,0%/năm. Lãi suất chào mua giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở giảm từ 4,75%/năm xuống 4,5%/năm.
Các quyết định nói trên có hiệu lực từ ngày 16/9/2019. Như vậy đây là lần đầu tiên kể từ tháng 10/2017 NHNN mới lại can thiệp trực tiếp đến lãi suất điều hành.

Trước đó hồi trung tuần tháng 8, nhiều chuyên gia cho rằng NHNN sẽ giữ nguyên chính sách lãi suất trong năm nay mặc dù có rất nhiều các ngân hàng trung ương trên thế giới cắt giảm lãi suất. Lãnh đạo cấp Vụ của NHNN khi trả lời phỏng vấn trên chính tờ báo của NHNN cũng khẳng định sẽ không hạ lãi suất. 

Bởi vậy, động thái ngày 13/9 vừa qua của NHNN đã làm không ít người cảm thấy bất ngờ, nhưng cũng nhiều ý kiến cho rằng quyết định của NHNN là hết sức hợp lý, phù hợp với diễn biến cả trong và ngoài nước. 

Xoay quan động thái trên, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với TS. Phan Minh Ngọc, hiện công tác tại một ngân hàng của Nhật có trụ sở ở Singapore. 

PV: Thưa ông, vì sao NHNN lại đưa ra quyết định giảm lãi suất ở thời điểm này? 

TS. Phan Minh Ngọc: Đã có một số ý kiến được đưa ra giải thích cho động thái này như việc hạ lãi suất của NHNN là theo chiều hướng chung của các ngân hàng trung ương trên thế giới; lạm phát của Việt Nam vẫn đang ở mức tương đối thấp nên hạ lãi suất cũng không ảnh hưởng gì nhiều đến lạm phát; và giảm lãi suất sẽ giúp giảm áp lực lên lãi suất cho vay v.v... 

Nhưng câu hỏi mà có lẽ nhiều người quan tâm nhất là tại sao việc hạ lãi suất lại xảy ra vào thời điểm này chứ không phải thời điểm một, hai tháng trước đây. Bởi những yếu tố trên đều xuất hiện một thời gian đáng kể chứ không phải vào thời điểm này, tháng này. 

Bởi vậy, cần nhìn sự việc trong một bối cảnh rộng hơn chuyện lạm phát và lãi suất cho vay hay xu hướng hạ lãi suất trên thế giới. Ở thời điểm này, điều tỏ ra khác hẳn với những tháng trước đây là xu hướng ổn định, thậm chí lên giá của VND so với USD và tức là với nhiều đồng tiền khác, trái ngược với lo ngại và nhận định của giới chuyên gia cũng như diễn biến thông thường trước đây. 

Trong khi đó, như đã thấy, lạm phát tiếp tục ổn định ở mức thấp, lãi suất cả huy động và cho vay có xu hướng tăng. Việc để VND lên giá so với nhiều đồng tiền khác gồm thậm chí cả USD hiển nhiên là điều không có lợi cho nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh nhiều nước hạ lãi suất mà mục đích cũng là nhằm làm yếu đồng tiền của mình đi. 

Tất nhiên là để điều chỉnh giá trị của VND thì có cách trực tiếp là NHNN mua vào USD như họ bắt đầu thực hiện lại trong thời gian gần đây. Nhưng cách làm này sẽ dễ gây ra chỉ trích từ Mỹ rằng Việt Nam đang thao túng tiền tệ để trục lợi. Nên cách làm này cũng chỉ có, chỉ được dùng giới hạn. Thêm nữa, việc mua vào này mặc dù đã xảy ra, nhưng tác động xem ra chưa đạt mục đích, có thể một phần vì lượng mua vào không thực sự lớn. 

Cách thứ hai "an toàn" hơn và cuối cùng vẫn đạt mục đích giảm giá VND là hạ lãi suất cho vay từ các nguồn cung tiền đồng từ NHNN để từ đó chuyển tải tác dụng nới lỏng có mức độ trong chính sách tiền tệ của NHNN đến thị trường tín dụng thứ cấp. 

Nếu đúng như cách lý giải trên thì việc NHNN hạ lãi suất là hợp lý, dù có lẽ đây chỉ là bước thăm dò phản ứng thị trường bởi mức giảm khá nhỏ, 0,25 điểm phần trăm so với các mức lãi suất chính sách hiện hành. 

Việc hạ lãi suất này có đồng nghĩa với việc sẽ có thêm một khối lượng tiền nhất định được bơm vào nền kinh tế không thưa ông? 

Điều này còn tùy NHNN hành động trên thực tế như thế nào. Nếu việc giảm lãi suất chỉ diễn ra trên giấy mà không đi kèm với hành động thực tế của NHNN là sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu vay phù hợp của thị trường đối với các nguồn cho vay của mình thì tác động của nới lỏng chính sách tiền tệ, hay nôm na là bơm tiền vào nền kinh tế, không thực sự diễn ra như lẽ thông thường. Để kiểm định điều này thì cần quan sát diễn biến lãi suất thông dụng như liên ngân hàng, thậm chí lãi suất trái phiếu Kho bạc Nhà nước, xem có tiếp tục đứng vững kéo dài hay không. 

Thông thường hạ lãi suất sẽ có tác động ngược lên lạm phát, còn bối cảnh hiện nay của Việt Nam thì sao? 

Như đã nói ở trên, ở giai đoạn thăm dò này thì việc hạ lãi suất của NHNN chưa thể gây ra áp lực gia tăng mạnh lên lạm phát, chưa kể nếu NHNN không hành động tích cực trên thực tế (tức sẽ giới hạn cho vay theo lãi suất mới) thì tác động của việc nới lỏng tiền tệ này càng hữu hạn. Tất nhiên ở đây phải đặt giả định rằng mọi yếu tố khác có tác động lên lạm phát (như giá cả thế giới) không biến động đáng kể. 

Đối với các thành viên trên thị trường là ngân hàng thương mại, quyết định hạ lãi suất của NHNN sẽ có những tác động gì thưa ông? 

Cũng vẫn là câu trả lời "còn tùy". Nếu NHNN sẵn sàng cho vay bất cứ ngân hàng thương mại nào có nhu cầu (hợp pháp) thì đương nhiên là tình hình sẽ "dễ thở" hơn với các ngân hàng thương mại, bởi lãi suất đầu vào giảm (dù nhẹ), còn lãi suất đầu ra vẫn thuộc sự kiểm soát của ngân hàng thương mại (ngân hàng thương mại vẫn là người làm giá chứ không phải doanh nghiệp, người đi vay, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế vẫn tích cực, nhu cầu vay vốn của nền kinh tế vẫn tăng). 

Và ngược lại, khi NHNN chỉ hạ lãi suất trên giấy theo kiểu tùy cơ ứng biến thì rõ ràng là tác động của hạ lãi suất lên các ngân hàng thương mại không đáng kể. 

Thế còn tác động đến các doanh nghiệp và nền kinh tế thì sao? 

Câu trả lời "còn tùy" sẽ được lặp lại vài lần. Ví von tương tự như tưới nước cho cái cây, nếu lượng nước tưới chỉ có một bình con con thì có lẽ xuống được đến cành cuối cùng, hoặc gốc cây chỉ là một vài giọt nước. Lượng tiền sẵn sàng cho vay từ NHNN (với giả thiết là các ngân hàng thương mại xếp hàng để được vay) mà không đáng kể thì nó sẽ đọng lại trước tiên trong hệ thống ngân hàng để giải quyết các vấn đề nội tại của ngân hàng như thanh khoản eo hẹp, dự trữ tụt giảm. Sau đó, lượng tiền còn dư sẽ tiếp tục chảy qua những chỗ ưu tiên của ngân hàng thương mại, không nhất thiết là các doanh nghiệp trong các lĩnh vực "ưu tiên" theo quy định của NHNN. Nói cách khác, nếu liều lượng nới lỏng tiền tệ nhỏ thì tác động thực sự lên nền kinh tế thực cũng sẽ vì thế mà nhỏ đi hơn nữa.  

Wednesday, 11 September 2019

Tính lại GDP: Những hệ quả gián tiếp (Bài đăng trên TBKTSG, 11/9/2019, tiêu đề do báo đặt lại)

https://www.thesaigontimes.vn/293616/tinh-lai-gdp-nhung-he-qua-gian-tiep-.html


Tổng cục Thống kê (TCTK) đã tiến hành đánh giá lại quy mô GDP của Việt Nam. TCTK cho biết, đánh giá lại quy mô GDP là nhiệm vụ thường xuyên và định kỳ của bất kỳ một cơ quan thống kê quốc gia nào trên thế giới. Đánh giá lại quy mô GDP được thực hiện theo phương pháp sản xuất, vì vậy không phải là cách tính mới. Đây không phải là lần đầu tiên TCTK tiến hành đánh giá lại quy mô GDP của Việt Nam. Trước đó, năm 2013, TCTK đã thực hiện đánh giá lại quy mô GDP cho giai đoạn 2008-2012 (1).

Lý giải cho sự  cần thiết phải đánh giá lại quy mô GDP, TCTK nêu mấy lý do, trong đó có nhằm đảm bảo theo thông lệ quốc tế và nguồn thông tin đầu vào phục vụ biên soạn chỉ tiêu GDP hàng năm (trước đây?) chưa đầy đủ. Kết quả rà soát, đánh giá lại quy mô GDP, TCTK nhận diện 5 nhóm nguyên nhân chủ yếu làm tăng quy mô GDP, gồm: bổ sung thông tin điều tra; bổ sung thông tin từ hồ sơ hành chính; cập nhật lý luận mới hệ thống tài khoản quốc gia 2008; rà soát, cập nhật lại phân ngành kinh tế; và cập nhật cơ cấu kinh tế làm thay đổi hệ số chi phí trung gian và chỉ số giá của cả nước.

TCTK nêu ra 3 nguyên tắc đánh giá lại quy mô GDP gồm đảm bảo tính toàn diện, đảm bảo tính thống nhất quy trình và phương pháp tính, và đảm bảo tính lịch sử và tính so sánh.

Ngoài ra, để biện minh cho việc đánh giá lại quy mô GDP, TCTK cho biết đã làm việc với chuyên gia IMF, tham vấn ý kiến của chuyên gia thống kê Liên hợp quốc. Kết quả có thể tóm tắt là... cần thiết, phù hợp, tốt hơn...!

Số liệu cũ hóa ra... để cho có?

Ước tính GDP đầu người sau khi tính lại đạt 3.000 đô la Mỹ/năm so với mức tính hiện tại là 2.590. Như vậy quy mô GDP sau tính lại tăng lên rất đáng kể, khoảng 16% (với giả thiết chắc là đúng là thống kê về dân số của chính TCTK không bị điều chỉnh lại trước và sau khi TCTK tính lại quy mô GDP). So với một số nước trên thế giới có sự đánh giá lại GDP mà TCTK nêu ra làm ví dụ thì mức điều chỉnh của Việt Nam không phải là ngoại lệ, dù vẫn ở mức lớn nếu so với Trung Quốc, Mỹ, Đức, Ý (có GDP mới tăng với tỷ lệ một chữ số so với GDP cũ), và chỉ “thua” Nga, Bulgari, Rumani và Croatia.

Điều đáng nói là với 5 nhóm nguyên nhân được TCTK nhận diện và 3 nguyên tắc đánh giá lại quy mô nêu trên, điều cho thấy là các con số thông kê trước đây của TCTK có chất lượng thấp, dựa trên phương pháp, tiêu chí không được cập nhật, nguồn thông tin, dữ liệu đầu vào không hoàn chỉnh, toàn diện, thống nhất, tin cậy... Việc bổ sung thêm 76.000 doanh nghiệp đang hoạt động (2) (chiếm đến gần 11% tổng số 715 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam, cũng theo số liệu của TCTK (3)), cho thấy, ngoài những vấn đề nêu ở phần sau, việc điều tra, thống kê trước đây phải dựa rất nhiều vào điều tra mẫu và ước tính, suy đoán. Chưa hết, mặc dù hệ thống tài khoản quốc gia SNA 2008 đã ra đời trước đợt điều chỉnh quy mô GDP của TCTK năm 2013 nhưng điều rất lạ là TCTK dường như đã không áp dụng hệ thống này trong lần điều chỉnh đó mà đợi cho đến lần điều chỉnh này, mặc dù TCTK luôn nhấn mạnh sự phù hợp với chuẩn mực/thông lệ quốc tế của mình cả trước đây và hiện nay.

TCTK cũng biện minh cho việc tính lại GDP là không có sự thay đổi về phương pháp tính, vẫn theo phương pháp sản xuất nên không phải là cách tính mới. Tuy nhiên, cũng giống như khi làm toán số học, cùng phép tính cộng (tức cùng phương pháp tính), điều làm kết quả khác biệt là một đại lượng nào đó đã được định nghĩa lại và trở nên phình to hay nhỏ đi. Nên tuy TCTK áp dụng cùng một cái gọi là phương pháp sản xuất nhưng nếu trong phép tính GDP của họ có nhiều đại lượng đã được điều chỉnh theo các phương pháp/định nghĩa/phạm vi mới thì về bản chất TCTK đã tính GDP theo cách tính mới.

Nói cách khác, việc điều chỉnh quy mô GDP lần này của TCTK nếu được coi là tất yếu, hợp lý, đúng đắn (cũng giống các lần tính lại trước đây) thì cũng đồng nghĩa với việc những con số thống kê liên quan trước đây cho đến tận thời điểm này chỉ là để cho có, mang tính tham khảo mà thôi. Và do những khiếm khuyết trên, việc đảm bảo tính lịch sử và tính so sánh như TCTK sẽ không được... đảm bảo, bởi việc điều chỉnh lại các con số cũ sẽ lại phải dựa trên ước tính, suy đoán mà về bản chất có khác chi “nhào nặn” số liệu?

Thêm nhiều vấn đề

Việc bỏ sót tới 76 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động, hay gần 11% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động xảy ra bất chấp TCTK đã tiến hành các cuộc tổng điều tra, khảo sát qua các năm trước đây. Lưu ý thêm mức 11% này với mức 16% tăng lên về GDP theo cách tính mới, xem ra đã có một mối liên hệ mật thiết. Như vậy, có thể nói một bộ phận lớn doanh nghiệp đã bị/được “bỏ quên”, không kiểm soát được, dẫn đến không chỉ làm “thất thoát” một lượng lớn GDP mà còn làm cho một nguồn thu thuế tiềm năng lớn đã bị bỏ ngoài sổ sách, không chảy về ngân sách nhà nước. Do TCTK và Tổng cục Thuế đều trực thuộc Bộ Tài chính nên bộ này cần có trách nhiệm giải trình và có biện pháp khắc phục ngay.

Vấn đề khác là cái hầu như ai cũng hiểu và nhiều người đã đề cập. Sự tăng lên của GDP theo cách tính mới không những không có ý nghĩa với người dân thường (bởi thu nhập của họ đâu có tăng tương ứng qua một đêm theo sự điều chỉnh này), mà còn có hại trực tiếp ở khía cạnh là, cũng như TCTK đề cập, sẽ làm tăng đóng góp của Việt Nam cho các tổ chức quốc tế mà Việt Nam đang là thành viên. Câu hỏi được đặt ra là tại sao cứ phải tính lại GDP?

Mặc dù TCTK thừa nhận rằng (số liệu GDP mới): “phản ánh số liệu thấp hơn đối với nhiều chỉ tiêu tài chính/tài khóa: tỷ lệ thu ngân sách nhà nước so với GDP; tỷ lệ thuế so với GDP; tỷ lệ chi ngân sách nhà nước so với GDP; tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước so với GDP; tỷ lệ nợ công, nợ chính phủ và nợ nước ngoài so với GDP. Sự thay đổi có thể cho thấy khả năng mở rộng dư địa cho thu ngân sách và thuế, cũng như chi tiêu và vay của Chính phủ”, nhưng TCTK có hướng xem nhẹ hậu quả này bằng lập luận không mấy thuyết phục rằng: “khả năng tác động là thấp vì trong thực tế thu ngân sách và thuế dựa trên thu thuế/phí, các tỷ lệ thu liên quan và được quy định bởi các văn bản pháp luật”.

Điều tai hại/tệ hại sẽ xảy ra khi các cơ quan chức năng không “đơn giản” như lập luận của TCTK, mà lại sốt sắng chẳng hạn như so sánh mức nộp thuế trên GDP của Việt Nam với thế giới, vốn đã tụt giảm chỉ sau một đêm để “phát hiện” ra vẫn còn rất nhiều dư địa tăng thuế ở Việt Nam và kiến nghị cần tăng thuế ngay và luôn cho “phù hợp với thông lệ quốc tế”!

Một vấn đề lớn khác nữa cũng có liên quan là chuyện Chính phủ “được dịp” tăng nợ công, tăng chi ngân sách, cũng với lý do mọi thứ còn thấp xa ngưỡng an toàn áp dụng trên thế giới (dù chuyện này cũng xảy ra chỉ sau một đêm). Riêng quan ngại này thì không thấy TCTK giải trình gì trong lập luận nói trên (họ chỉ nói đến thuế và thu ngân sách).

Dù khả năng tăng nợ công, tăng chi ngân sách với cái cớ là vẫn còn nhiều dư địa vẫn đang được bỏ ngỏ bởi các cơ quan chức năng sẽ là bình thường, hợp lý nếu họ tăng chi, tăng nợ song hành với dư địa nguồn thu cũng tăng lên tương ứng. Tuy nhiên, như đã thấy, GDP theo thống kê mới có tăng lên, một phần lớn nhờ “tính thêm” 76 nghìn doanh nghiệp bị bỏ sót, ngoài vòng kiểm soát trước đó. Nên dư địa thu thêm cho ngân sách từ việc tính thêm này không có gì đảm bảo sẽ tăng tương ứng bởi đơn giản là không có gì đảm bảo là các cơ quan chức năng sẽ kiểm soát (và thu thuế) được 76 nghìn doanh nghiệp này. Nói cách khác, chỉ có bánh vẽ là to lên mà thôi.

Tóm lại, chủ trương tính lại GDP đã bộc lộ thêm nhiều vấn đề và động cơ thực sự của nó. Mọi thủ thuật không xuất phát từ thực chất chỉ làm tăng thêm sự bất tín.

(1) https://www.gso.gov.vn/Default.aspx?tabid=382&ItemID=19325

(2) http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/thoi-su/2019-08-16/danh-gia-lai-quy-mo-gdp-chua-tinh-khu-vuc-kinh-te-ngam-75216.aspx

(3) https://www.gso.gov.vn/Default.aspx?tabid=382&ItemID=19273

Tuesday, 10 September 2019

Có bất ngờ về xu hướng "lạ" của tiền gửi tiết kiệm? (Bài đăng trên TBKTSG, 10/9/2019)

https://www.thesaigontimes.vn/293604/co-bat-ngo-ve-xu-huong-la-cua-tien-gui-tiet-kiem-.html


Phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chi nhánh TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hoàng Minh mới đây cho biết một xu hướng “lạ” của tiền gửi tiết kiệm trong nhiều năm. Cụ thể, trong 8 tháng đầu năm, tốc độ tăng trưởng tín dụng trên địa bàn thành phố ước đạt 8,3% so với đầu năm, trong khi huy động vốn tăng tới 8,6%, tức tốc độ tăng tiền gửi tiết kiệm đã vượt tốc độ tăng tín dụng (1).

Lý giải hiện tượng trên, ông Minh cho rằng do các ngân hàng thương mại liên tục tăng lãi suất huy động, nhất là các kỳ hạn dài, với nhiều sản phẩm đa dạng, nên dòng vốn “nhàn rỗi” đã tích cực đổ vào ngân hàng dưới dạng tiền gửi. Mặc dù thanh khoản ngân hàng rất dồi dào nhưng ngân hàng thương mại vẫn tăng lãi suất huy động để khắc phục tình trạng mất cân đối kỳ hạn theo yêu cầu Thông tư 41 của NHNN đảm bảo an toàn hoạt động vốn ngân hàng. Lãnh đạo một số ngân hàng cũng nói với báo chí rằng động thái tăng lãi suất không phải vì thiếu thanh khoản, nên không gây áp lực lên lãi suất cho vay, trừ các lĩnh vực không được ưu tiên.

Như vậy, phải chăng điều trên ngụ ý rằng ngân hàng đang “tích cốc phòng cơ” là chủ yếu, hạn chế cho vay hơn so với huy động nhằm đáp ứng yêu cầu của Thông tư 41? Hoặc tệ hơn, có thể cho vay đang không thuận lợi như huy động đối với các ngân hàng?

Thực ra, nếu xâu chuỗi lại một số diễn biến gần đây thì có thể thấy xu hướng tiền gửi tăng nhanh hơn cho vay như nói trên không có gì là bất ngờ, lạ lùng nữa. Điều đầu tiên cần lưu ý là hiện tượng tăng trưởng mạnh của trái phiếu doanh nghiệp, nhất là của các doanh nghiệp bất động sản phát hành. Nhưng theo bài viết “Tiền đâu mua trái phiếu doanh nghiệp” đăng trên TBKTSG số trước thì tiền mua trái phiếu vẫn chủ yếu là tiền có nguồn gốc từ ngân hàng. Nếu ngân hàng thương mại mua trái phiếu doanh nghiệp thì không chỉ phải báo cáo với NHNN mà lượng mua này sẽ bị tính vào dư nợ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng và tức là ảnh hưởng đến dư địa tăng trưởng tín dụng còn lại của ngân hàng thương mại, nên ngân hàng có xu hướng lách luật bằng cách đầu tư gián tiếp thông qua các công ty “sân sau”.

Kết cục là mặc dù tăng trưởng tín dụng có thể quan sát hoặc được báo cáo cho NHNN có tăng chậm lại so với tăng trưởng tiền gửi, nhưng đây chỉ là sự bình yên giả tạo bởi thực tế rất có thể một lượng tiền lớn đã đi vòng vèo từ ngân hàng đến các doanh nghiệp thông qua các công ty bình phong mà không được báo cáo hoặc tính vào tăng trưởng tín dụng chính thức của ngân hàng, và NHNN cũng hề, không thể hay biết. Lý do này cho thấy tăng trưởng cho vay mà NHNN nắm bắt được thực ra không hoàn toàn chính xác, đúng hơn là đã bị báo cáo thấp đi so với thực tế.

Một vấn đề liên quan là chuyện thanh khoản có thực sự dồi dào hay không. Đúng là nhiều ngân hàng đã tăng cường huy động vốn với kỳ hạn dài thông qua việc tăng mạnh lãi suất huy động để đáp ứng nhu cầu theo như nhận định của ông Minh. Nhưng cũng có một thực tế hiển nhiên là các ngân hàng cũng tăng cường huy động cả kỳ hạn ngắn; lãi suất huy động các kỳ hạn ngắn cũng có xu hướng gia tăng đáng kể song song với của kỳ hạn dài. Như vậy, rõ ràng là việc cho vay, hay nói đúng hơn là nhu cầu về vốn được cung ứng bởi ngân hàng thương mại vẫn đang tăng lên mạnh trên tất cả các kỳ hạn, buộc ngân hàng phải tích cực cạnh tranh với nhau huy động đủ vốn để cho vay trực tiếp hoặc bằng cách lách luật như nói trên.

Điều trên cho thấy thanh khoản ngân hàng nhìn chung không dồi dào hay thừa thãi như nhận định. Cộng với việc hạn mức tăng trưởng tín dụng không được nới rộng với nhiều ngân hàng, trong khi nhu cầu vay vốn bất tận của các doanh nghiệp không được đáp ứng trực tiếp từ ngân hàng buộc họ phải huy động qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp với sự “tiếp tay” của ngân hàng thương mại, nếu lãi suất cho vay không tăng lên trên diện rộng, kể cả trong các lĩnh vực ưu tiên, mới là lạ.

Tóm lại, bất cứ khi nào nền kinh tế phải trải qua tình trạng tăng trưởng tín dụng bị siết từ nguồn là NHNN, còn giữa các ngân hàng thương mại là một cuộc chạy đua lãi suất đến mức NHNN mới đây đã phải lên tiếng đe dọa trừng phạt ngân hàng nào chạy đua quá đà, trong khi nền kinh tế vẫn khát vốn như và hơn thường lệ (một phần bởi tăng trưởng kinh tế vẫn đang rất khả quan, phần nữa bởi cơn sốt bất động sản vẫn tiếp diễn) thì sẽ không bao giờ có chuyện thanh khoản dồi dào và huy động tăng nhanh hơn cho vay. Nếu có những hiện tượng này thì đó chỉ là hiện tượng ngắn hạn, trong ngày một ngày hai, chứ không thể thành xu hướng được.

(1) http://cafef.vn/bat-ngo-xu-huong-tien-gui-tiet-kiem-2019090117590889.chn

Sunday, 8 September 2019

Xét lại với... VAMC (Bài đăng trên TBKTSG báo giấy, ngày 29/8/2019, bản gốc, tiêu đề do báo đặt lại)


Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC ) cho biết với nhiệm vụ xử lý nợ xấu tập trung, hỗ trợ các tổ chức tín dụng trong xử lý nợ xấu, họ đã chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm xử lý nhanh, dứt điểm, có hiệu quả nợ xấu, từng bước khẳng định vai trò quan trọng trong hoạt động xử lý nợ gắn với tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng. (1) VAMC cũng cho biết vẫn còn gặp nhiều khó khăn, trong đó có nguồn lực tài chính.

Theo lộ trình như trong Quyết định 1058 của Thủ tướng Chính phủ, VAMC sẽ được cấp 5.000 tỷ vốn điều lệ vào năm 2018 và 10.000 tỷ vào năm 2020, nhưng hiện tại vốn điều lệ của VAMC mới chỉ có 2.000 tỷ đồng. Thế nên VAMC đã nhiều lần yêu cầu, thông qua cơ quan chủ quản là Ngân hàng Nhà nước, được tăng vốn điều lệ để có nguồn lực xử lý nợ xấu. Một yêu cầu rất chính đáng và hợp lý!

Thế nhưng, gần đây dư luận mới được phen “té ngửa” khi Kiểm toán Nhà nước kết luận: “VAMC chưa thực hiện vai trò trong việc mua và xử lý nợ xấu” .(1) Cụ thể, VAMC đã không thực hiện hàng loạt công việc mà họ đương nhiên phải làm như chức năng của mình đòi hỏi, gồm: không thẩm định giá mua (giá mua bằng nợ xấu trừ dự phòng rủi ro tổ chức tín dụng tự xác định); không kiểm tra, đánh giá khách hàng vay, tính trung thực, chính xác của hồ sơ, tài liệu và tài sản đảm bảo của khoản nơ; xử lý nợ xấu sau khi mua chủ yếu thông qua việc ủy quyền lại cho các tổ chức tín dụng bán nợ...

Lưu ý là những công việc trên không nhất thiết đòi hỏi phải có vốn (điều lệ) nhiều hơn. Chẳng hạn, với việc thẩm định giá mua, rõ ràng là VAMC đã có đủ nguồn lực để mua khoản nợ xấu nên việc cần làm chỉ là thẩm định giá mua có hợp lý hay không mà thôi. Tương tự, việc kiểm tra, đánh giá khách hàng vay, tính trung thực, chính xác của hồ sơ, tài liệu và tài sản đảm bảo của khoản nợ thì chỉ cùng lắm là cần nhân viên thẩm định (hưởng lương công chức) rời ghế văn phòng lạnh do Nhà nước cấp đi ô tô cũng do Nhà nước cấp cho VAMC đến gặp những đối tượng cần gặp, kiểm tra những thứ cần kiểm tra..., hoàn toàn không có khó khăn, trở ngại gì nhưng VAMC cũng không làm. Ngay cả việc “vất vả” nhất là xử lý nợ xấu sau khi mua thì VAMC cũng giải quyết rất “ổn thỏa” bằng cách “ủy quyền”, tức phó mặc cho các tổ chức tín dụng bán nợ cho họ tự giải quyết.

Nói cách khác, với một VAMC được dựng nên với chức năng và sứ mệnh hoành tráng, thiết yếu như vậy nhưng thực tế không một chức năng nào được họ thực hiện thì điều các cơ quan chức năng cần đặt ra ngay với VAMC là có nên để một tổ chức hưởng ngân sách nhà nước như thế tồn tại hay không, phải xử lý, kỷ luật ban lãnh đạo VAMC như thế nào, chứ không phải là đề xuất và phê duyệt tăng thêm vốn điều lệ cho VAMC.

Ngược lại, nếu vẫn muốn tiếp tục để VAMC tồn tại, thậm chí tăng thêm vốn cho họ (mặc dù thực tế đã cho thấy vai trò của tổ chức này như thế nào) thì cơ quan chức năng phải trả lời thỏa đáng mấy câu hỏi sau: (i) điều gì và ai đã làm cho VAMC không thực hiện được vai trò của mình như kết luận của Kiểm toán Nhà nước? (ii) mua nợ xấu bằng tiền “tươi” liệu sẽ thật sự hiệu quả hơn khi VAMC mua bằng trái phiếu đặc biệt không, và cụ thể là như thế nào? và (iii) khi được rót vốn thêm, cần làm thế nào để đảm bảo VAMC không tái lập việc cứ “mua đại” nợ xấu, bê về “chất kho”, hoặc cùng lắm thì tiếp tục “ủy thác” cho tổ chức tín dụng tự xử...

Nếu không trả lời thỏa đáng được các câu hỏi trên thì cần dừng ngay việc xem xét tăng vốn cho VAMC, sau đó xem xét đến kế hoạch cải cách, trấn chỉnh toàn diện tổ chức này nếu vẫn tiếp tục muốn để nó tồn tại. Nếu không thì sẽ tiếp tục có một nguồn lực lớn cả về con người lẫn ngân sách trả lương và kinh phí hoạt động bị quăng qua cửa sổ.
(1) https://vietnamfinance.vn/kiem-toan-nha-nuoc-vamc-chua-thuc-hien-vai-tro-trong-viec-mua-va-xu-ly-no-xau-20180504224225884.htm

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).