Wednesday, 4 March 2015

Một số vấn đề liên quan đến đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP) (Bài đăng trên CafeF, ngày 4/3/2015)

http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/mot-so-van-de-lien-quan-den-dau-tu-theo-hinh-thuc-doi-tac-cong-tu-ppp-20150304151956768.chn

Tiếp theo bài “Luật mới về đối tác công – tư PPP: cơ hội và trở ngại”, tác giả nhận được một số câu hỏi liên quan từ độc giả. Trong bài này, tác giả tập hợp lại những câu hỏi của độc giả và cố gắng giải đáp trong chừng mực hiểu biết của mình.

Vì sao nhà nước lại mở rộng đối tượng tham gia đầu tư vào các lĩnh vực xưa nay vẫn độc quyền?

Như đã biết, Nghị định 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP) cho phép và khuyến khích đầu tư tư nhân theo hình thức PPP trong hàng loạt lĩnh vực như hạ tầng giao thông vận tải, điện, nước, y tế, môi trường, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, văn hóa, thể thao, công trình kết cấu hạ tầng thương mại, khoa học và công nghệ, khu kinh tế, khu công nghiệp và ứng dụng công nghệ thông tin v.v… Nhiều trong số này, ví dụ như hạ tầng giao thông vận tải, gồm đường cao tốc, cảng biển, hàng không…, vốn thuộc độc quyền xây dựng, quản lý, điều hành và khai thác của nhà nước.

Bởi vậy, câu hỏi liên quan đầu tiên của không ít người là, tại sao nhà nước lại phải mở rộng đối tượng tham gia đầu tư vào lĩnh vực xưa nay nhà nước độc quyền?

Câu trả lời cho câu hỏi này có thể tóm gọn ở mấy chữ: Nhà nước không đủ nguồn lực, không đủ khả năng, năng lực để “ôm” hết các lĩnh vực độc quyền “béo bở” này.
Về nguồn lực, như đã thấy, mỗi năm theo kế hoạch phát triển, Việt Nam cần đầu tư hàng nhiều tỷ USD vào các công trình, dự án mới, đồng thời vẫn phải chi thường xuyên cho duy tu, bảo trì các công trình, dự án hiện tại. Trong khi đó, với tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm trong khoảng từ 5% - 7%/năm cho một quy mô GDP chưa đến 200 tỷ USD, hàng năm Việt Nam chỉ có thể tự tài trợ một phần rất khiêm tốn cho nhu cầu đầu tư khổng lồ này từ nguồn tiết kiệm và tích lũy nội tại. (Lưu ý rằng một tỷ trọng áp đảo trong ngân sách nhà nước hàng năm là dành cho chi tiêu thường xuyên (tức chi trả lương cho đội ngũ công chức, viên chức)). Bởi vậy, phần lớn nguồn tài chính dùng cho đầu tư và duy tu nói trên là từ nguồn đi vay trong và ngoài nước, tính vào nợ công. Và cũng bởi thế, không có gì lạ khi nợ công đã tăng nhanh và Chính phủ phải tăng cường đi vay để đảo nợ.

Về khả năng, năng lực, ngoài yếu tố hiển nhiên là sự yếu kém về năng lực dẫn đến yếu kém về chất lượng hoạt động của các dự án hạ tầng và dịch vụ công, tình trạng độc quyền (của nhà nước) không có cạnh tranh còn làm cho doanh nghiệp nhà nước quản lý, khai thác hạ tầng và cung cấp các dịch vụ công không có động lực gì để cải thiện chất lượng và hiệu quả hoạt động của chúng.

Lời giải tất yếu cho tình trạng thiếu hụt nguồn lực tài chính và năng lực hoạt động của khu vực nhà nước trong các lĩnh vực độc quyền là tư nhân hóa, một phần hoặc toàn bộ, các cơ sở hạ tầng và dịch vụ công. Nhưng tư nhân hóa không phải tự nhiên diễn ra. Nhà đầu tư tư nhân luôn đặt bài toán lợi nhuận lên trên hết, nên buộc nhà nước phải có hình thức đảm bảo, bảo lãnh, cam kết chia sẻ rủi ro, đặc biệt trong các dự án có vòng đời khai thác lâu dài, để nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn đầu tư. Vì vậy hình thức PPP đã được hình thành, trong đó nhà nước đóng vai một đối tác trong dự án, như là một giải pháp hữu hiệu cho việc khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào các lĩnh vực xưa nay vẫn thuộc độc quyền (của các doanh nghiệp nhà nước).

Vì sao phải tìm vốn tư nhân?

Câu hỏi thứ hai liên quan đến PPP, mà thực ra cũng đã được trả lời một phần ở trên, là, vì sao tư nhân huy động được vốn mà nhà nước lại không.

Chính xác ra thì nhà nước vẫn luôn có thể huy động (tức đi vay) được vốn. Nhưng đi vay cho đến một lúc/ngưỡng nào đó thì việc đi vay trở nên rất đắt đỏ và có nguy cơ không trả được nợ. Vậy việc đầu tư mới chỉ còn có thể trông chờ chủ yếu vào nguồn vốn tư nhân mà thôi.

Giải quyết vấn đề vốn cho các dự án ra sao?

Câu hỏi thứ ba liên quan đến việc thu xếp của nhà đầu tư tư nhân. Theo các hiểu của nhiều người, vốn đầu tư cho các dự án theo PPP thì cần phải là vốn dài hạn; doanh nghiệp lại phải vay ngân hàng nhưng ngân hàng và doanh nghiệp chưa tìm được tiếng nói chung (ý nói ngân hàng chủ yếu chỉ cho vay ngắn hạn, còn doanh nghiệp thì cần vay dài hạn cho dự án của mình). Vậy vấn đề này sẽ được giải quyết thế nào?

Thực ra vẫn có nhiều ngân hàng thương mại sẵn sàng cung cấp các khoản vay cho các dự án lớn, trong dài hạn, 5 năm, hoặc thậm chí 10 năm. Ngoài ra, các doanh nghiệp không chỉ vay từ một ngân hàng, mà còn vay từ nhiều ngân hàng ở nhiều thời điểm khác nhau. Bởi vậy, họ có thể vay từ ngân hàng này để trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng kia khi các nghĩa vụ nợ đến hạn thanh toán. Như thế, không nhất thiết các doanh nghiệp phải thu xếp ngay được một khoản vay ngân hàng dài hạn (hết cả vòng đời dự án) thì mới bắt tay vào đầu tư. Thêm nữa, bên cạnh nguồn vốn vay ngân hàng, các doanh nghiệp còn có thể phát hành trái phiếu, cổ phiếu để huy động vốn dài hạn.

Tuesday, 3 March 2015

Xử lý ngân hàng yếu kém: Đến lúc mạnh dạn hơn (Bài đăng trên Doanh nhân Sài Gòn, ngày 3/3/2015, bản gốc)

http://www.doanhnhansaigon.vn/van-de/xu-ly-ngan-hang-yeu-kem-den-luc-manh-dan-hon/1087086/

Sau vụ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mua lại bắt buộc Ngân hàng Xây dựng (VNCB) với cái giá 0 đồng hồi tháng trước, thị trường ngân hàng tỏ ra khá bình lặng, ngoài chút xáo động ban đầu chủ yếu do một số vấn đề liên quan đến cơ sở của cái giá mua bắt buộc 0 đồng. Theo đúng kỳ vọng, đã không có một cơn hoảng sợ đổ xô rút tiền gửi nào từ VNCB hay từ bất cứ một ngân hàng nào khác trong hệ thống, chí ít có thể là vì NHNN đã tuyên bố rõ sẽ đảm bảo hoàn toàn quyền lợi của người gửi tiền sau khi mua lại.

Và mới đây, ngày 28/2, báo chí dẫn lời của NHNN tuyên bố có thêm 2 ngân hàng khác, GPBank và Oceanbank, đã được xác định có thể là đối tượng tiếp theo để NHNN có động thái tương tự như với VNCB. Lý do là vì GPBank là 1 trong 9 ngân hàng yếu kém buộc phải tái cơ cấu từ năm 2012. Trong thời gian qua, 8 trong số 9 nhà băng đã tái cơ cấu thành công, chỉ còn duy nhất GPBank vẫn chưa có phương án khả thi. Tuy có tin GPBank sẽ được bán đứt/sáp nhập với một số ngân hàng trong và ngoài nước khác nhưng rốt cuộc đều không thành. Còn với Oceanbank, NHNN cho rằng ngân hàng này bộc lộ yếu kém sau khi một số lãnh đạo vướng vòng lao lý. Như vậy có thể hiểu rằng Ocean bank là một ngân hàng yếu kém mới xuất hiện bên cạnh danh sách 9 ngân hàng yếu kém đã từng được xác định trước đây. Suy ra tiếp, ít nhất là cho đến thời điểm hiện tại, trong hệ thống ngân hàng chỉ còn lại 2 ngân hàng này thuộc loại yếu kém, (đến mức độ) cần xử lý ngay để không gây tổn hại cho toàn hệ thống.
Đến đây nổi lên một vấn đề. NHNN phải mua lại bắt buộc GPBank và Oceanbank của NHNN chắc chắn là vì hiện tại vẫn còn nhiều người gửi tiền và với nhiều khoản tiền gửi trên 50 triệu VND là mức tối đa được bồi thường từ cơ quan Bảo hiểm tiền gửi trong trường hợp ngân hàng bị phá sản. Điều này cũng có nghĩa là người gửi tiền đã biết rõ rằng 2 ngân hàng này có vấn đề, và thuộc diện cần phải tái cơ cấu nhưng những người gửi tiền này đã không rút ngay, không rút đến gần hết số tiền gửi của mình trong 2 ngân hàng này (với số dư vẫn vượt quá 50 triệu VND), chắc chắn vì tin rằng NHNN bằng cách này hay cách khác sẽ cứu giúp ngân hàng, cứu giúp họ, xuất phát từ nỗi sợ cố hữu của các cơ quan chủ quản là nếu để cho 2 ngân hàng yếu kém này phá sản thì sẽ có thể châm ngòi cho một làn sóng hoảng loạn rút tiền tại, và gây ra đổ vỡ cho các ngân hàng lành mạnh khác. Đây là một rủi ro đạo đức thường được đề cập đến trong kinh tế học, khi mà các chủ thể của thị trường cứ mặc nhiên theo đuổi những quyền lợi riêng của mình mà không đếm xỉa gì đến những rủi ro thua lỗ cho họ do những hành vi của chính họ tạo nên, vì chi phí cho những rủi ro này đã được nhà nước gánh hộ.

Bởi vậy, đã đến lúc NHNN cần chấm dứt việc tiếp tục nuôi dưỡng rủi ro đạo đức này, bằng cách mạnh dạn thêm bước nữa là cho phá sản, giải thể GPBank và Oceanbank, cũng như các ngân hàng yếu kém phát sinh, phát hiện ra sau này, để trừng phạt không chỉ cổ đông hiện hữu mà còn cả người gửi tiền vì đã bất chấp rủi ro báo/biết trước.
Tất nhiên, nỗi lo bao trùm vẫn là nếu để phá sản như vậy thì sẽ gây ra đổ vỡ mang tính dây chuyền trong hệ thống. Nhưng xét cụ thể trong bối cảnh hiện nay, có thể thấy rằng người gửi tiền ở các ngân hàng khác đã biết/tin rằng cả hệ thống nay chỉ còn lại 2 ngân hàng này là yếu kém, không phải là ngân hàng mà họ đang gửi tiền. Cộng thêm với thực tế là quy mô nợ tại 2 ngân hàng này không phải là lớn lắm, và nếu có thêm cam kết của NHNN không để các ngân hàng lành mạnh hơn bị phá sản dây chuyền, thì cho dù người gửi tiền tại 2 ngân hàng này có đổ xô đi rút tiền về khi biết tin ngân hàng bị phá sản, sự việc này cũng không kích thích gây ra một làn sóng rút tiền tại các ngân hàng khác vốn được coi là đang lành mạnh. Nói cách khác, có hoảng sợ, có chịu thiệt hại chăng nữa thì chủ yếu chỉ diễn ra trong phạm vi những người gửi tiền tại GPBank và Oceanbank mà thôi.

Tóm lại, sau hành động mua lại bắt buộc cổ phần VNCB, hiện tại là thời điểm thích hợp và thuận lợi để NHNN cần tiếp tục tỏ rõ cho thị trường thấy lập trường cứng rắn hơn nữa của mình, bằng cách cho phá sản (bắt buộc) các ngân hàng yếu kém, để làm lành mạnh hóa thêm một bước thị trường ngân hàng. Và để làm được như vậy thì tất nhiên NHNN cần phải công khai hóa, minh bạch hóa thông tin hơn nữa về tình trạng sức khỏe của hệ thống ngân hàng nói chung và từng ngân hàng nói riêng để các chủ thể trên thị trường có cơ sở đúng đắn cho các quyết định đầu tư của mình.

Luật mới về đối tác công - tư PPP: Cơ hội và trở ngại (Bài đăng trên CafeF, 3/3/2015)

http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/luat-moi-ve-doi-tac-cong-tu-ppp-co-hoi-va-tro-ngai-2015030313370363.chn


Ngày 14/02/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/2015/NĐ về đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP), thay thế cho các quy định pháp lý hiện hành để tạo 1 khuôn khổ pháp lý thống nhất và rõ ràng nhằm dọn đường thúc đẩy đầu tư khu vực tư nhân và các dự án hạ tầng và dịch vụ công tại Việt Nam.
Một trong những khác biệt lớn giữa nghị định 15 với các quy định hiện hành liên quan đến PPP, gồm Quyết định số 71/2010/QĐ – TTg ban hành quy chế thí điểm về đầu tư theo hình thức PPP và Nghị định 108/2009/NĐ – CP (và các Nghị định sửa đổi Nghị định này, số 24/2011) về đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT, BTO và BT, là việc Nghị định 15 đã mở rộng thêm nhiều lĩnh vực đầu tư dành cho PPP, không chỉ hạn chế trong hạ tầng giao thông vận tải, điện, nước, y tế, môi trường, mà còn trong các lĩnh vực như giáo dục, đào tạo, dạy nghề, văn hóa, thể thao, công trình kết cấu hạ tầng thương mại, khoa học và công nghệ, khu kinh tế, khu công nghiệp, và đáp ứng công nghệ thông tin…

Cũng trong Nghị định 15, các hình thức hợp đồng đầu tư dự án như BOT, BTO và BT, vốn ở nhiều nơi, nhiều lúc trước đây được coi là những hình thức đầu tư riêng biệt song với hình thức PPP ( đang trong giai đoạnh thí điểm) nay đã được chính thức coi là các dạng thức của hợp đồng đầu tư theo hình thức PPP và chịu sự điều chỉnh thống nhất bởi cùng một luật định, Nghị định 15.

Nghị định 15 ra đời và được kỳ vọng khắc phục được một trong những trở ngại lớn nhất trong việc hấp thụ đầu tư của khu vực tư nhân, và các dự án PPP; đó là chuyện chia sẻ rủi ro mà các nhà đầu tư tư nhân sẽ phải đối mặt, cũng như các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Ví dụ trong các dự án giao thông vận tải có thu phí, theo quy định trước đây thì nhà đầu tư phải bỏ ra tối đa 70% vốn cho dự án trong khi không được quyết định thu phí và mức phí. Bởi vậy, với nhà đầu tư đây là rủi ro quá lớn trong việc thu hồi vốn đầu tư của họ. Nay, Nghị định 15 đã bỏ qua điều khoản hạn chế mức góp vốn tối đa của nhà nước, không quá 30% tổng mức đầu tư của dự án, đồng thời chỉ quy định tối thiểu về tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư không thấp hơn 15% tổng mức đầu tư dự án, và không thấp hơn 10%, nếu dự án có quy mô trên 15 nghìn tỷ đồng.

Bên cạnh đó, Nghị định 15 có nhiều điều khoản quy định rõ các chính sách ưu đãi, đảm bảo đầu tư, bao gồm bảo lãnh vốn vay và nghĩa vụ của nhà đầu tư, thế chấp tài sản và quyền kinh doanh dự án, đảm bảo cân đối ngoại tệ, và tạo thuận lợi cho nhà đầu tư thu đúng và thu đủ và phí dịch vụ, cũng như quy định rõ trách nhiệm tài chính và quản lý của nhà nước… Như vậy, Nghị định 15 đã tạo ra 1 cơ chế rõ ràng, thống nhất, hợp lý và minh bạch hơn về việc nhà nước chia sẻ rủi ro, và tạo thêm thuận lợi và ưu đãi cho nhà đầu tư tư nhân.

Một trở ngại khác cho việc triển khai PPP trước đây là việc nhà đầu tư yêu cầu được chủ động đưa ra danh mục dự án nhưng không được chấp thuận rộng rãi. Trong Nghị định 15 đã có thêm một quy định chi tiết các dự án do nhà đầu tư đề xuất, ngoài các dự án do nhà nước đưa ra. Tương tự như vậy, trở ngại liên quan đến đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư cũng đã được khắc phục bằng các điều khoản rõ ràng và minh bạch hơn trong Nghị định 15.

Với một cơ chế pháp lý theo hướng tăng tính hấp dẫn cho nhà đầu tư, có thể kỳ vọng sau khi Nghị Định 15 có hiệu lực vào ngày 10/4/2015 sự tham gia của khu vực tư nhân dưới hình thức PPP vào các dự án hạ tầng và dịch vụ công trong rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, mà bình thường không có tính hấp dẫn (vì rủi ro cao và khả năng sinh lợi kém), sẽ được đẩy mạnh hơn, với hiệu quả cao hơn, phạm vi mở rộng, và bền vững hơn.

Tuy vậy, để Nghị định 15 phát huy được tác dụng trên thực tế, cần khẩn trương ban hàng thông tư hướng dẫn cụ thể. Nếu việc này kéo dài như đã từng xảy ra với nhiều luật định mới thì sẽ không thể có được khung pháp lý về PPP, mặc dù đã có luật tiến bộ và thông thoáng về nó (Nghị Định 15). Ngoài ra, cần có biện pháp khắc phục yếu kém về nhân sự, chủ yếu do cán bộ thực hiện chưa được đào tạo bài bản về lĩnh vực PPP và chưa có kinh nghiệm về triển khai các mô hình đầu tư này. Yếu kém về nhân sự cũng sẽ làm hạn chế việc đề xuất và đàm phán hợp đồng PPP.

Cũng cần phải nói thêm rằng tuy mô hình PPP trong việc đầu tư nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công được coi là hướng đi đúng và cần thiết của Việt Nam hiện nay nhưng nó không phải và không nên được coi là liều thuốc vạn năng. Một trong những hạn chế chủ yếu của mô hình PPP là nhà nước vẫn phải bố trí vốn tham gia vào các dự án PPP. Nhưng với vấn đề nợ công đã và đang tăng mạnh tiếp cận ngưỡng trần cho phép, khả năng thu xếp vốn của nhà nước chỉ dựa vào các nguồn vay nợ, dù là từ vốn ODA hay vay ưu đãi… sẽ tiếp tục còn bị hạn chế trong thời gian tới. Điều này cũng có nghĩa mức độ phổ cập của mô hình PPP ở Việt Nam sẽ bị hạn chế.

Để khắc phục được sự phụ thuộc quá lớn vào khả năng thu xếp vốn từ vay nợ, Chính phủ cần chủ động các nguồn tài chính phi vay nợ khác như nguồn thu từ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, bán/nhượng quyền vận hành, khai thác các cơ sở hạ tầng có thu phí như đường cao tốc, bến cảng, sân bay, song song với các biện pháp cắt giảm chi tiêu công bao gồm cắt giảm biên chế và hạn chế đầu tư trực tiếp (và toàn bộ) từ ngân sách và các dự án và các tổ chức kinh tế xã hội.

Saturday, 21 February 2015

7 khúc mắc quanh việc quốc hữu hóa VNCB (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, 14/2/2015, bản gốc)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=341620

(Mãi hôm nay tớ mới update bài này lên blog được, vì về đến VN tớ mới biết blog mình bị chặn thế nào đó mà không vào được từ notebook, mà chỉ vào được từ mobile device, chịu chẳng hiểu tại sao, vì tớ toàn nói chuyện phải quấy thế cơ mà?!

Bài này là để phang bài của đồng chí Luật sư Trương Thanh Đức trên CafeF, ở đây. CafeF từ chối đăng để giữ quan hệ nên tớ phải đăng ở báo khác, hơi trái luật chút :). Trong bài cũng có câu trả lời cho một đồng chí giấu mặt ất ơ nào đó hôm trước vặn vẹo tớ, đại loại nếu có ai sẵn sàng mua cổ phần VNCB với giá 10 VND thì sao?)


Sự kiện Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tuyên bố mua lại bắt buộc toàn bộ cổ phần của Ngân hàng Xây dựng với giá 0 đồng đã thu hút được sự chú ý của đông đảo dư luận và đặt ra một số vấn đề khúc mắc.


Khúc mắc đầu tiên là chuyện mua lại bắt buộc toàn bộ cổ phần này của NHNN có thể coi là quốc hữu hóa hay không. Có người viện dẫn các điều luật trong Hiến pháp năm 1992 và 2013 về việc pháp luật bảo hộ, không quốc hữu hóa tài sản hợp pháp của cá nhân và tổ chức để nói rằng không còn hình thức quốc hữu hóa trong chế độ hiện tại.
Đương nhiên, trên danh nghĩa, hành động mua lại bắt buộc của NHNN không được chính NHNN hay các cơ quan có thẩm quyền gọi là quốc hữu hóa (phải chăng là họ cũng đã tham khảo các điều luật trên trong Hiến pháp?). Nhưng trên thực tế, bất kể hành động nào của chính phủ dùng tiền công quỹ mua lại tài sản của một cá nhân hay tổ chức nào đó, để biến tài sản tư hữu đó thành công sản, thì về bản chất đều phải được hiểu là hành động quốc hữu hóa. Các hành động mua lại tương tự ở các nước tư bản khác, như Mỹ, nơi mà quyền tư hữu tài sản là bất khả xâm phạm và còn được bảo vệ chặt chẽ hơn nhiều so với Việt Nam, cũng đều được gọi là quốc hữu hóa (nationalization).


Trong trường hợp VNCB, rõ ràng NHNN đã tuyên bố mua lại cổ phần với giá 0 đồng, chứ không phải là chiếm đoạt như dưới thời cải cách ruộng đất (còn tại sao lại là 0 đồng mà không phải là một con số dương nào khác thì sẽ nói thêm ở dưới đây), nên hành động này cũng cần phải được hiểu đích danh là quốc hữu hóa, biến VNCB thành ngân hàng quốc doanh (do nhà nước làm chủ, và tự hoặc thuê người đại diện cho nhà nước điều hành kinh doanh).
Khúc mắc thứ hai là liệu việc mua bắt buộc này của NHNN có phải hình thức trưng thu tài sản không, và nếu là trưng thu thì phải mua theo giá thị trường (theo Điều 149 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010), mà hiện tại thì chưa thấy cơ sở pháp lý nào khẳng định rằng, giá thị trường của cổ phần VNCB là bằng 0.

Đương nhiên, hình thức trên không phải là trưng thu, mà là quốc hữu hóa như đã nói ở trên (hoặc là “mua cổ phần bắt buộc” theo ngôn từ của NHNN hay của Quyết định 48/2013/QĐ-TTg) . Vì thế, vận dụng Điều 149 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 để yêu cầu NHNN phải xác định/chứng minh “giá thị trường” của cổ phần VNCB bằng 0 đồng là không thích hợp.
Khúc mắc thứ ba, tại sao giá mua bắt buộc cổ phần của VNCB lại là 0 đồng mà không phải là một con số nào đó như 10 đồng, 10.000 đồng, hay 100.000 đồng? Và nhỡ có ai đó sẵn sàng mua cổ phần VNCB với giá 10.000 thì sao?

Tuy Quyết định 48 không có điều khoản nào đề cập đến chuyện xác định giá mua bắt buộc cổ phần mà NHNN phải trả cho các cổ đông hiện hữu của ngân hàng bị kiểm soát đặc biệt, nhưng Điều 5 của Quyết định này trao quyền cho Thống đốc NHNN quyết định giá trị thực của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ của ngân hàng đó. Trường hợp sau khi có kết quả kiểm toán độc lập và Thống đốc NHNN quyết định rằng giá trị thực của vốn điều lệ của VNCB đã tụt giảm xuống 0 (không còn giá trị), kết hợp với tính chất “mua bắt buộc” thì việc NHNN mua cổ phần của VNCB với giá 0 đồng/cổ phần là hoàn toàn đúng luật và không có gì là bất công cho cổ đông hiện hữu của VNCB.
Còn nếu có ai đó sẵn sàng mua cổ phần VNCB với giá cao hơn thì, với quyết định mua bắt buộc của NHNN căn cứ Quyết định 48, các cổ đông VNCB cũng không được quyền bán cho họ, và chỉ có NHNN được mua với giá mà NHNN xác định là hợp lý (trong trường hợp của VNCB là 0 đồng/cổ phần). Cần luôn nhớ rằng trường hợp VNCB là trường hợp đã bị đặt vào diện kiểm soát đặc biệt nên nhất cử nhất động của ngân hàng đều phải được sự giám sát và đồng ý của NHNN, chứ không thể tự tung tự tác như những ngân hàng bình thường khác.

Khúc mắc thứ tư, căn cứ vào tuyên bố mua lại của NHNN thì dường như NHNN mua lại cổ phần từ ngân hàng VNCB. Có người viện dẫn Điều 149 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 để lập luận rằng NHNN nếu muốn mua lại cổ phần của các cổ đông VNCB  (để loại bỏ họ với tư cách là cổ đông) thì  phải mua lại toàn bộ số cổ phần thuộc quyền sở hữu của tất cả cổ đông, chứ không thể mua từ ngân hàng.
Trên thực tế, NHNN chỉ tuyên bố “mua lại bắt buộc toàn bộ vốn cổ phần của VNCB”, chứ không nói là mua số cổ phần này từ ngân hàng VNCB. Hơn nữa, trong trường hợp này, hoàn toàn có thể công nhận/hiểu rằng NHNN đã mua toàn bộ số cổ phần trực tiếp từ các cổ đông; đơn giản vì cho dù họ không muốn bán với cái giá 0 đồng thì NHNN vẫn “mua bắt buộc” số cổ phần này từ tay họ với đúng cái giá đó, không hơn, không kém. Cần nhắc lại, điều quan trọng ở đây là VNCB rơi vào tình huống bị kiểm soát đặc biệt và vì thế phải vận dụng các điều luật liên quan, có trong Quyết định 48, chứ không phải là các điều luật cho một hoàn cảnh chung chung nào khác.    

Khúc mắc thứ năm, nhiều người cho rằng việc cổ đông bỗng chốc không còn nghĩa vụ và quyền lợi gì là điều rất không thoả đáng. Trên thực tế trong nước cũng như thế giới, đã từng có rất nhiều doanh nghiệp và ngân hàng lỗ lớn quá mức vốn điều lệ, đứng trên bờ vực phá sản, nhưng sau đó vẫn phục hồi trở lại.
Nhưng cần lưu ý lại rằng cổ đông VNCB đã không thông qua phương án bổ sung vốn điều lệ để đảm bảo giá trị thực vốn điều lệ tối thiểu của ngân hàng bằng mức vốn pháp định. Như thế có nghĩa là VNCB (và/hoặc cổ đông của nó) không những đã vi phạm quy định căn bản để được phép tồn tại và hoạt động (vì giá trị thực của vốn điều lệ tối thiểu nhỏ hơn vốn pháp định) mà còn tự từ chối cơ hội để phục hồi trở lại (thông qua nghị quyết không góp thêm vốn). Trong bối cảnh này thì không thể nói được rằng việc các cổ đông VNCB “trắng tay” là không thỏa đáng.

Khúc mắc thứ sáu, có ý kiến cho rằng không có quy định nào của pháp luật cho phép chuyển đổi một công ty cổ phần thành công ty TNHH 1 thành viên (ý nói đến việc biến VNCB từ hình thức một công ty cổ phần thành công ty một chủ sở hữu duy nhất là NHNN).
Tuy nhiên, vì VNCB đã rơi vào tình trạng bị giám sát đặc biệt nên NHNN hành động căn cứ vào Quyết định 48 và vì thế hành động của NHNN hoàn toàn hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Khúc mắc thứ bảy, có ý kiến tỏ rõ sự ngạc nhiên, tại sao một ngân hàng thương mại lại có thể chuyển đổi sang một hình thức khác để tiếp tục duy trì hoạt động với số vốn điều lệ bằng 0 hoặc là âm trong khi vốn thực có tối thiếu phải là 3.000 tỷ đồng?
Ở đây có một sự nhầm lẫn lớn. NHNN mua lại toàn bộ cổ phần với giá 0 đồng, nhưng điều này không có nghĩa là vốn điều lệ của VNCB sau khi NHNN mua lại chỉ là 0 đồng. Cũng giống như những hành động mua lại tượng trưng một doanh nghiệp nào đó với cái giá 1 USD như báo chí đã nhiều lần đưa tin, chủ sở hữu mới còn phải/có nghĩa vụ bỏ ra nhiều tiền để bơm vốn cho doanh nghiệp hoạt động trở lại, để thanh toán nợ nần với chủ nợ hiện hữu v.v...; NHNN trong trường hợp này cũng sẽ phải tái cấp vốn cho VNCB để nó hoạt động lành mạnh trở lại. Tuy không rõ là NHNN đã và sẽ tái cấp vốn bao nhiêu cho VNCB nhưng hoàn toàn có thể giả định rằng mức này sẽ đủ lớn để VNCB đáp ứng được yêu cầu về vốn tối thiểu, vì bản thân NHNN là cơ quan chủ quản nên biết rõ cần phải có bao nhiêu vốn mới đảm bảo được hoạt động lành mạnh.

Wednesday, 4 February 2015

Quốc hữu hóa VNCB – ném chuột không để vỡ bình (Bài đăng trên CafeF, 4/2/2015)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/quoc-huu-hoa-vncb-nem-chuot-khong-de-vo-binh-2015020408382286.chn

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tuyên bố quyết định sẽ mua lại bắt buộc toàn bộ vốn cổ phần của Ngân hàng Xây dựng (VNCB) với giá bằng 0 đồng/cổ phần. Như vậy, VNCB đã bị quốc hữu hóa, và NHNN đại diện cho Nhà nước Việt Nam trở thành chủ sở hữu hoàn toàn VNCB (100% vốn điều lệ), chấm dứt toàn bộ quyền, lợi ích và tư cách cổ đông đối với các cổ đông hiện hữu của ngân hàng này.

Lý do sâu xa đằng sau việc quốc hữu hóa này có lẽ nằm ở chỗ VNCB được cho là đã mất sạch vốn chủ sở hữu do kết quả hoạt động yếu kém và không có khả năng tự tái cấu để tồn tại và đáp ứng được các tiêu chuẩn hoạt động an toàn trong ngành.

NHNN cũng tuyên bố rằng khi họ nắm quyền sở hữu toàn bộ, và Vietcombank tham gia quản trị, điều hành VNCB, thì ngân hàng này sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc triển khai thành công phương án tái cơ cấu được duyệt và phát triển hoạt động kinh doanh theo hướng an toàn, hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, cần nhớ lại rằng hồi tháng 8 năm ngoái, cũng chính Vietcombank đã được NHNN giao tham gia tái cơ cấu VNCB theo đề án tái cơ cấu được NHNN phê duyệt, với tư cách là đầu mối hỗ trợ toàn diện, từ tài chính cho đến nhân lực, cho ngân hàng này. Vậy hành động quốc hữu hóa của NHNN với VNCB lần này cho thấy dường như một mình Vietcombank đã không thể đảm nhận tốt được vai trò hỗ trợ này.

Lý do có thể là VNCB là một “ca” quá nặng, và hậu quả do nó gây ra sẽ là quá lớn với một ngân hàng tuy lớn như Vietcombank nhưng lại là một ngân hàng cổ phần, không chỉ có nhà nước là cổ đông, nên không thể tự do hành động theo chỉ đạo của NHNN. Và vì NHNN với tư cách là chủ sở hữu mới của VNCB, nhưng không cử người tham gia điều hành, quản trị VNCB, nên có thể suy ra thêm rằng nguyên nhân làm VNCB, rồi VNCB với sự tham gia của Vietcombank, đã và vẫn thất bại trong việc tái cơ cấu và vực dậy VNCB là do thiếu trầm trọng một nguồn lực tài chính mạnh, là cái mà NHNN – chủ sở hữu mới – có thể cung cấp một cách dồi dào theo nhu cầu.

Lật ngược lại vấn đề, tại sao NHNN không để VNCB phá sản, theo chủ trương đã được cả Thủ tướng từng tuyên bố rõ, để vừa trừng phạt cổ đông các ngân hàng yếu kém, vừa chấm dứt được một sự mặc định bấy lâu nay rằng cứ làm ẩu cũng không sao vì nhà nước rốt cuộc sẽ cứu vớt?

Một trong những khúc mắc chính là chuyện đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền. Theo quy định hiện hành về chi trả bảo hiểm tiền gửi ban hàn từ năm 2005, khi một ngân hàng phá sản thì người gửi tiền chỉ được bồi thường ở mức tối đa là 50 triệu đồng bất kể gửi bao nhiêu tiền. Trong bối cảnh hiện nay, rõ ràng mức bảo hiểm tối đa này là quá ít, gây thiệt hại lớn cho không ít người gửi tiền khi VNCB bị cho phá sản.

Quan trọng hơn, VNCB nếu bị cho phá sản sẽ là một tiền lệ để dân chúng thấy rằng những ngân hàng yếu kém khác cũng có thể theo vết xe đổ đó, để rồi một nỗi sợ hãi mang tính dây chuyền sẽ được kích hoạt trong cộng đồng những người đang gửi tiền vào hệ thống ngân hàng và thúc giục họ đổ xô rút tiền ra sớm để bảo toàn tài sản của mình. Nếu không kiểm soát kịp thời thì nạn dịch đổ xô rút tiền sẽ lây lan rộng, kéo theo nhiều ngân hàng khác vốn đang khỏe mạnh cũng lâm vào khủng hoảng thanh khoản, đe dọa đến tính ổn định của toàn hệ thống ngân hàng.

Do đó, trong chừng mực luật lệ hiện hành về bảo hiểm tiền gửi chưa được sửa đổi và cho đến nay ở Việt Nam chưa từng có một tiền lệ công khai về việc cho ngân hàng phá sản, giải pháp đỡ xấu hơn là NHNN đứng ra quốc hữu hóa VNCB, để nó tiếp tục tồn tại dưới cái bóng của NHNN làm yên tâm người gửi tiền. Quốc hữu hóa cũng còn là một cách trừng phạt các cổ đông của những ngân hàng yếu kém một cách hòa bình mà không sợ “ném chuyện vỡ bình” như trong trường hợp để cho chúng phá sản. Trong trường hợp VNCB, cổ đông của ngân hàng này trở nên tay trắng ngay sau hành động tuyên bố mua lại VNCB với giá 0 đồng của NHNN, và cả hệ thống vẫn hầu như không bị ảnh hưởng gì.


Cần lưu ý rằng giải pháp quốc hữu hóa ngân hàng có vấn đề không phải là hiếm trên thế giới, vì nó là một giải pháp có hiệu quả tức thì trong việc ổn định tâm lý thị trường và ngăn chặn cơn hoảng loạn đổ xô rút tiền của dân chúng. Trong cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, chính phủ Anh đã phải mua lại ngân hàng Northen Rock, Bradford & Bingley và Royal Bank of Scotland. Cũng thời gian này, Mỹ đã thực hiện một chương trình mua lại các tài sản và cổ phần của các ngân hàng có vấn đề ở nước này với trị giá ban đầu tới 700 tỷ USD. Sau một thời gian khá ngắn, phần lớn những ngân hàng có vấn đề này đã hồi phục và mua lại cổ phần của họ do chính phủ Mỹ nắm giữ, và chính phủ Mỹ cũng đã thu được lợi nhuận từ những thương vụ này.

Tuy vậy, đương nhiên phí tổn của việc quốc hữu hóa này là tổn thất tiền thuế của dân chúng góp để nuôi những “con nợ”, là những ngân hàng có vấn đề này, trong đó có VNCB. Nếu may mắn thì các ngân hàng này sẽ có một ngày nào đó phục hồi lại được sức khỏe và làm ra lãi để trả nợ lại NHNN, dưới hình thức NHNN bán lại những ngân hàng này cho các nhà đầu tư – các cổ đông mới – thu về một khoản lãi như trong trường hợp của Mỹ. Còn nếu không may mắn thì có lẽ NHNN sẽ để chúng “tan biến” vào các ngân hàng khác với cái giá như cho không, còn hơn là để chúng tồn tại như một cái gai trong hệ thống ngân hàng.

Friday, 30 January 2015

Giảm phát cũng có dăm bảy đường! (Bài đăng trên CafeF, 31/1/2015)

http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/giam-phat-cung-co-dam-bay-duong-20150131081625925.chn

Lạm phát đã diễn ra với nhiều bất ngờ, bắt đầu với 2 tháng liên tục rơi xuống mức âm trong cuối năm 2014, và càng bất ngờ vào tháng 1 năm nay, tháng cận Tết Nguyên đán, mà vẫn giảm tiếp 0,2% so với tháng 12/2014.

Đây là lần đầu tiên trong nhiều năm qua, lạm phát tháng cận Tết tụt xuống mức âm. Bởi vậy, không ngạc nhiên khi có nhiều ý kiến cho rằng đây là biểu hiện rõ nét của giảm phát, do sức cầu giảm, tổng cầu yếu.

Trong một bài trả lời phỏng vấn thấu đáo và xác đáng mới đây, Tổng cục Thống kê (TCTK) đã đưa ra nhiều luận cứ và số liệu cho thấy một cách thuyết phục lạm phát tụt giảm như vừa qua không phải là do tổng cầu yếu.

Trong bài này, xin được bổ sung thêm một số yếu tố để bác bỏ mối lo ngại của nhiều người về lạm phát âm (giảm phát) ở Việt Nam, đặc biệt khi gắn nó một cách khiên cưỡng với chuyện tổng cầu yếu.

Thứ nhất, điều khác biệt cơ bản giữa Việt Nam với một số nước trên thế giới hiện đang phải đối mặt với nạn/nguy cơ giảm phát như EU hay Nhật là tăng trưởng GDP của Việt Nam ở mức cao hơn nhiều (6% năm 2014), và còn được dự đoán sẽ cao hơn nữa trong năm nay, đối nghịch với tình trạng tăng trưởng thấp, cận 0 hoặc thậm chí là âm của những nước và khu vực này, phản ánh tình trạng cầu trì trệ hoặc tiếp tục sụt giảm đi kèm với nạn thất nghiệp gia tăng và đứng ở mức cao.

Bởi vậy, tuy có thể là Việt Nam đang có dấu hiệu giảm phát – thuần túy nhìn từ con số thống kê, tức chỉ số CPI – nhưng cái giảm phát ở Việt Nam không phải là điều quan ngại vì nó không phải là biểu hiện của, không kéo theo suy giảm tổng cầu, không làm gia tăng thất nghiệp và tụt giảm thu nhập người lao động. Vì thế, không thể hễ cứ thấy có hiện tượng giảm phát là lại gióng lên hồi chuông báo động về những hậu quả theo lý thuyết của nó, để rồi khuyến nghị những chính sách chống giảm phát (tức làm tăng lạm phát) đầy rủi ro và nguy hại.

Thứ hai, giảm phát ở Việt Nam chỉ là hiện tượng mới xảy ra trong những tháng gần đây, chứ không nhất thiết sẽ là một xu hướng kéo dài trong cả năm nay. Quan trọng hơn, giảm phát ở Việt Nam là do yếu tố (tích cực) từ bên ngoài tác động đến, mà chủ yếu là do giá dầu thô thế giới tụt giảm. Như TCTK đã phân tích cho thấy, hầu như chỉ có nhóm hàng hóa dịch vụ vận tải, nhà ở và vật liệu xây dựng là nhóm chủ yếu trong rổ hàng hóa tính CPI có chỉ số giảm đi, song hành với sự sụt giảm của giá dầu thô thế giới. Các nhóm hàng hóa còn lại trong rổ hàng hóa tính CPI đều tăng lên so với tháng 12/2014. Điều này chứng tỏ rằng giảm phát ở Việt Nam không phải do những yếu kém nội tại như cầu yếu, thất nghiệp cao, thu nhập dân cư sụt giảm hoặc trì trệ, không dám chi tiêu v.v...

Ngược lại, ở nhiều nơi so sánh khác như EU và Nhật, sự giảm phát là hậu quả của những yếu kém nội tại, là sản phẩm “cây nhà lá vườn” và sự tụt giảm giá dầu chỉ “đổ thêm dầu vào lửa” mà thôi. Ở những nơi này, những câu chuyện về con số thất nghiệp gia tăng kỷ lục hay người dân phải bóp bụng chi tiêu, còn chính phủ thì hết ra gói kích thích này đến biện pháp hỗ trợ khác chỉ cốt để cho người dân mạnh dạn chi tiêu nhiều hơn... là những câu chuyện thời sự hàng ngày, liên tục trong nhiều ngày, nhiều tháng qua.

Cũng có liên quan với điểm này là khả năng kéo dài của tình trạng giảm phát ở Việt Nam. Như đã phân tích, lạm phát tụt giảm mạnh chủ yếu là do giá dầu thô, một yếu tố bên ngoài không thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam. Bởi thế, tình trạng giảm phát rất có khả năng sẽ đảo chiều nhanh chóng khi giá dầu thô phục hồi trở lại từ mức đáy như hiện nay, dù chỉ là ở mức thấp hơn nhiều so với nửa năm trước đây. Nên, chớ có vội lo lắng thái quá cho cái gọi là “giảm phát” ở Việt Nam.

Thứ ba, giảm phát ở Việt Nam xảy ra còn có sự góp mặt của những biện pháp bình ổn và quản lý giá hành chính mà nếu không có chúng thì giảm phát đã không xảy ra mà thay vào đó là lạm phát. Một ví dụ là chuyện giá cước giao thông vận tải đã và đang được các cơ quan hữu quan cố gắng kéo xuống. Nếu giá cả của nhóm này không giảm mạnh thì, như phân tích của TCTK, thậm chí CPI của các tháng vừa rồi còn có khả năng tăng lên, chứ không phải là ở mức âm như trên thực tế hiện nay.

Lập luận ngược lại, cứ theo như ý kiến của những người lo ngại về giảm phát ở Việt Nam, không lẽ các cơ quan chức năng nên thôi ngay các biện pháp quản lý và bình ổn giá hiện đang được nỗ lực và “quyết liệt” thực hiện để cho lạm phát Việt Nam quay trở lại ngưỡng đủ cao (vài điểm phần trăm), thoát khỏi ám ảnh “giảm phát” thì mới là tốt hay sao? Hoặc Việt Nam nên tìm cách “thúc” cho giá cả những hàng hóa và dịch vụ khác tăng lên cốt sao để cho CPI tăng trở lại mới là tốt hay sao?

Tóm lại, với 3 yếu tố nói trên, có thể kết luận rằng giảm phát, nếu có, ở Việt Nam thì cũng không phải là điều lạ lùng, bất ngờ, và quan trọng hơn, không phải là một điều tiêu cực mà vì thế phải bằng mọi giá để ngăn chặn nó xảy ra. Nói cách khác, không phải giảm phát ở đâu cũng giống nhau, nguy hại như nhau!

Thursday, 29 January 2015

Giá cước vận tải nhìn từ góc độ kinh tế học (Bài đăng trên CafeF, 29/1/2015)

http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/gia-cuoc-van-tai-nhin-tu-goc-do-kinh-te-hoc-20150129105858276.chn

Cùng với các đợt giảm giá xăng dầu liên tục và ở mức lớn gần đây, dư luận lại thêm bất bình vì cho rằng các doanh nghiệp vận tải không chịu giảm giá cước hoặc chỉ giảm lấy lệ so với mức giảm sâu của xăng dầu đến 30%-40% qua 17 đợt giảm giá suốt từ tháng 7/2014 đến nay.

Sự bất bình xem ra đã đến đỉnh điểm khi Bộ Tài chính cùng Bộ Giao thông vận tải mới đây cùng bày tỏ quyết tâm sẽ “quyết liệt” xử lý nghiêm các doanh nghiệp vận tải không chịu giảm giá cước trước Tết.

Trong bài này, trước tiên hãy cùng xem có thật là giá cước vận tải không giảm hoặc giảm không đáng kể như báo cáo không. Theo số liệu CPI của Tổng cục Thống kê thì bắt đầu từ tháng 8/2014, chỉ số giá dịch vụ vận tải đã bắt đầu giảm với nhịp độ lớn dần theo nhịp giảm giá xăng dầu (tháng 8: -0,06%, tháng 9/2014:  -1,85%, tháng 10/2014: -1,02%, tháng 11/2014: -2,75%, tháng 12/2014: -3,09%, và tháng 1/2015: -3,96%).

Từ những con số về CPI do Tổng cục Thống  kê công bố rút ra được 2 điều: (1) giá cước vận tải đã thật sự giảm và giảm mạnh trong những tháng cuối năm trước và đầu năm nay theo đà giảm lũy kế của giá xăng dầu; (2) giá cước vận tải là nguyên nhân chính (bên cạnh việc giảm giá nhóm hàng chất đốt và vật liệu xây dựng) làm CPI tăng thấp và thậm chí là âm trong những tháng qua, trong khi nhiều (đa số) chỉ số giá cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác trong rổ hàng hóa và dịch vụ để tính CPI vẫn tăng lên.

Điều (1) bên trên cho thấy cái “tội” buộc cho các doanh nghiệp vận tải là hơi bị phóng đại trong con mắt của dư luận. Điều (2) cho thấy tuy chi phí xăng dầu đầu vào cho doanh nghiệp vận tải đã giảm đi và giảm mạnh nhưng đây chỉ là một bộ phận cấu thành trong chi phí vận tải. Các loại chi phí liên quan khác có nhiều khả năng vẫn đã và đang tăng lên nên đã và đang tiếp tục gây áp lực buộc các doanh nghiệp vận tải phải hoặc giữ nguyên, hoặc chỉ giảm giá cước vận tải một cách lấy lệ vì không thể giảm hơn được nếu không muốn bị thua lỗ. Do đó, không thể nhìn vào chuyện giá xăng dầu đã giảm 30%-40% (và lưu ý lại rằng đây là mức giảm lũy kế, qua suốt 17 đợt giảm giá, chứ không phải ngay từ những đợt đầu) để cho rằng giá cước vận tải chỉ giảm vài điểm phần trăm như thể hiện trong cấu thành CPI những tháng qua là không thỏa đáng.

Tiếp theo, hãy thử phân tích hiện tượng giá cước vận tải không giảm mạnh (như kỳ vọng) từ góc độ cung cầu. Khi giá cả của một hàng hóa nào đó không chịu giảm mạnh dù chi phí đầu vào đã giảm mạnh, cần phải hình dung tối thiểu 3 khả năng: (a) cầu về hàng hóa đó đã tăng mạnh; (b) cung hàng hóa đó suy giảm (hoặc giữ nguyên/tăng chậm trong trường hợp cầu đã tăng mạnh); (c) đã có sự cấu kết giữa các nhà sản xuất “làm giá” hàng hóa đó.

Với khả năng (a), rất tiếc là dư luận và kể cả các cơ quan chức năng đã không hề có một lời bình, một động thái phân tích dù là sơ bộ để chứng minh rằng cầu về giao thông vận tải không có gì đột biến, không tăng (mạnh). Trên thực tế, hoàn toàn có lý để tin rằng cầu về giao thông vận tải đã tăng lên đáng kể cùng với đà tăng của, ví dụ, GDP, chỉ số bán lẻ, chỉ số công nghiệp v.v... Và như vậy thì đây chính là một nguyên nhân “giữ giá” cước giao thông vận tải theo đúng quy luật cung cầu của thị trường trong kinh tế học. Nguyên nhân này càng trở nên hiển nhiên vào dịp Tết sắp tới đây khi nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa tăng vọt.

Với khả năng (b), tương tự như vậy, các cơ quan chức năng cũng đã bỏ qua, đã không đưa ra được bất kỳ một thống kê nào về biến động về năng lực vận tải ở Việt Nam trong thời gian qua. Ngược lại, có những dẫn chứng, ví dụ như chuyện “xiết” xe chở quá tải, giám sát và xử phạt nặng về chất lượng xe, để buộc người ta nghĩ rằng năng lực vận tải có lẽ không tăng kịp với đà tăng của nhu cầu vận tải ở Việt Nam.

Với khả năng (c), điều này xem ra khó xảy ra, tuy không thể hoàn toàn phủ nhận, vì thị trường giao thông vận tải ở Việt Nam ít ra là trên bề mặt, là một thị trường khá cạnh tranh. Ví dụ, theo báo chí, thì ở các bến xe như Giáp Bát và Mỹ Đình đã có hàng trăm doanh nghiệp vận tải cùng tham gia hoạt động. Tuy có thể con số doanh nghiệp cho mỗi tuyến đường chỉ là một phần nhỏ của con số này nhưng ít ra nó cũng cho thấy rằng ngành giao thông vận tải không phải là ngành độc quyền hay gần như độc quyền, nằm gọn trong tay của một (vài) doanh nghiệp nào đó. Hơn nữa, cũng theo báo cáo, đã có đến non nửa số doanh nghiệp này đã giảm giá cước theo nhiều mức độ. Điều này càng cho thấy khó có một bàn tay nào đó sau hậu trường điều khiển và thống nhất hành động của tất cả các doanh nghiệp vận tải theo hướng có lợi cho họ được.

Nói như trên không có nghĩa là các cơ quan hữu trách không nên thanh tra, khám phá xem liệu có một sự bắt tay ngầm giữa (một số) các doanh nghiệp vận tải hay không. Và nếu quả là có như vậy thì đây mới là một trong những phương hướng xử lý chính, bằng cách, ví dụ, xử phạt các doanh nghiệp này và người tổ chức theo các tội danh lũng đoạn thị trường để phá vỡ sự cấu kết này, trả lại sự cạnh tranh tự do trên thị trường, dẫn đến giảm giá cước vận tải.

Cuối cùng, ta thử xem xét cách xử lý vấn đề của các cơ quan chức năng. Trong khi chưa hề có một sự thanh tra, phân tích xác đáng nào theo các hướng như nói trên mà các cơ quan này đã đe “xử lý nghiêm” các doanh nghiệp này vì cái tội không chịu hạ giá cước. Vậy họ định xử lý thế nào? Ở Hà Nội, họ định “yêu cầu các doanh nghiệp giảm giá cước”, một biện pháp nghe rất... không được việc (thực tế là có nhiều doanh nghiệp kê khai giảm giá cước nhưng vẫn tìm cách vi phạm giá kê khai này).

Ngoài ra, họ sẽ “yêu cầu các doanh nghiệp xuất trình Báo cáo quyết toán tài chính năm 2013 và 6 tháng năm 2014 cũng như  toàn bộ hồ sơ niêm yết giá, kê khai giá với cơ quan quản lý nhà nước nhất là giai đoạn từ tháng 7/2014 đến nay, để xem việc doanh nghiệp kê khai giá đã hợp lý chưa. Trong trường hợp doanh nghiệp cố tình không hạ giá hoặc cố tình đưa các chi phí bất hợp lý vào giá thành để đẩy chi phí giá thành lên cao, đoàn kiểm tra sẽ bóc tách, yêu cầu hạch toán lợi nhuận, cần thiết sẽ chuyển cơ quan thuế để xác định thuế thu nhập bổ sung. Nếu có lợi nhuận bất hợp lý thì sẽ đề xuất Bộ Tài chính có biện pháp xử lý các khoản thu nhập bất hợp lý cho phù hợp.”

Cách xử lý như trên, cứ cho là sẽ vạch ra được một vài khoản chi phí và lợi nhuận bất hợp lý, nhưng đâu có giúp gì cho việc giảm giá cước vận tải, vì khoản lợi nhuận “bất hợp lý” mà các doanh nghiệp vận tải thu được nhờ giữ giá cước một cách “bất hợp lý” lại được trưng thu và chuyển vào ngân khố Bộ tài chính chứ đâu có được khấu trừ vào giá cước vận tải? Rồi nữa, cứ cho là các doanh nghiệp này sẽ bị truy thu thuế thu nhập bổ sung thì họ vẫn còn có lợi hơn vì dù có bị đánh thuế thu nhập bổ sung  cũng không thể nào lấy đi 100% lợi nhuận phụ trội này của họ được. Như thế thì các doanh nghiệp vẫn còn động cơ giữ giá cước cao để “trục lợi” chứ?

Tóm lại, trong bối cảnh giá xăng dầu giảm, nếu muốn hạ cước giao thông vận tải thì cần bám sát các nguyên lý thị trường để phân tích, đánh giá và đưa ra được cách giải quyết hữu hiệu nhất. Trong trường hợp không giải quyết được các khúc mắc của thị trường (ví dụ cầu tăng mạnh mà cung không tăng kịp) thì buộc phải chấp nhận một mặt bằng giá cước cao hơn kỳ vọng, theo cái lẽ khó chấp nhận nhưng lại là hiển nhiên của thị trường.

Wednesday, 21 January 2015

Đôi điều cần biết về phát hành trái phiếu bằng đồng Yen (Bài đăng trên CafeF, 21/1/2015)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/doi-dieu-can-biet-ve-phat-hanh-trai-phieu-bang-dong-yen-20150121091056772.chn

Bộ Tài chính cho biết hiện đang tiến hành xây dựng lộ trình chủ động tiếp cận thị trường vốn quốc tế dưới hình thức phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ ở nước ngoài. Ngoài trái phiếu phát hành bằng USD phát hành tại các thị trường vốn lớn trên thế giới như đã được thực hiện cuối năm 2014, trái phiếu bằng đồng Yen phát hành tại Nhật cũng đang được chính phủ xem xét. 

Trái phiếu bằng đồng Yen phát hành tại Nhật theo các luật lệ và quy định của Nhật bởi một công ty hoặc tổ chức nước ngoài còn được gọi là trái phiếu samurai (samurai bond). Việc phát hành trái phiếu samurai sẽ mang lại một số lợi ích sau cho nhà phát hành.

Lợi ích thứ nhất, trái phiếu samurai sẽ mang đến cho nhà phát hành một khoản vốn bằng Yen cần thiết giúp họ đầu tư hay thâm nhập vào thị trường Nhật, thay vì phải đi vay từ các ngân hàng thương mại. Đây cũng là một kênh huy động để đa dạng hóa nguồn vốn ngoại tệ, tránh phụ thuộc quá lớn vào (sự biến động của) một nền kinh tế, một đối tác nào đó. Đồng thời, với những khác biệt nhất định giữa thị trường Nhật với thị trường Mỹ hoặc EU, nguồn vốn từ Nhật sẽ đảm bảo cho nhà phát hành có một nguồn tài chính dự phòng khi thị trường Mỹ và EU chao đảo.

Lợi ích thứ hai gắn liền với đặc thù lãi suất rất thấp của đồng Yen trên thị trường vốn Nhật. Lợi dụng ưu thế lãi suất thấp nói chung khi vay bằng đồng Yen, nhà phát hành trái phiếu samurai có thể chuyển đổi lượng vốn thu được sau phát hành sang các loại tiền tệ khác theo nhu cầu của, hoặc tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại của nhà phát hành ở nước sở tại (ngoài Nhật), mà bình thường ra thì sẽ phải huy động và trả lãi cao hơn khá nhiều để có được khoản vốn bằng bản tệ cần thiết này.

Lợi ích thứ ba, trái phiếu samurai đôi khi còn được dùng để phòng chống rủi ro (hedging) ngoại hối. Ví dụ, nhà phát hành có sẵn một hợp đồng mua hàng bằng Yen có thời điểm thanh toán trong kỳ tới, trong khi doanh thu của họ lại chủ yếu bằng USD. Để tránh rủi ro đến thời hạn thanh toán thì đột nhiên Yen mạnh lên so với USD gây thiệt hại, nhà phát hành sẽ qua kênh trái phiếu samurai để dự trữ sẵn một lượng Yen cần thiết dành cho việc thanh toán này, mà không còn phải bận tâm đến rủi ro tỷ giá USD/Yen nữa. Ngược lại, nhà phát hành có thể lợi dụng chính lãi suất thấp của các khoản vay bằng Yen để thực hiện kinh doanh chênh lệch lãi suất (carry trade), ví dụ như đổi nguồn vốn Yen “giá rẻ” này ra đô la Úc (AUD) rồi đem gửi vào ngân hàng tại Úc để hưởng lãi suất cao hơn.

Đặt 3 lợi ích chính bên trên vào hoàn cảnh Việt Nam, nhất là trong bối cảnh quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Nhật đang ngày càng sâu sắc, sẽ thấy sự hiện diện của cả 3 lợi ích này ở quy mô đáng kể.

Tuy vậy, cần lưu ý rằng không phải là vô cớ mà một số tổ chức và nhà đầu tư Nhật mong muốn Việt Nam phát hành trái phiếu samurai, và việc phát hành này cũng không phải là không mang đến rủi ro cho Việt Nam.

Với các nhà đầu tư Nhật, trái phiếu samurai là một “món ngon” để đầu tư vì trái phiếu này được phát hành tại Nhật, theo các luật lệ của Nhật, và như là “cây nhà lá vườn”, rất quen thuộc với họ và đặc biệt phù hợp với khẩu vị đầu tư cẩn trọng của người Nhật. Ngoài ra, trong bối cảnh nền kinh tế Nhật chật vật trong thiểu phát, đầu ra các sản phẩm và kênh đầu tư sinh lời cho các ngân hàng, công ty bảo hiểm và các quỹ hưu trí Nhật rất bị hạn chế nên các ngân hàng, công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí Nhật có xu hướng ngày càng nắm giữ một lượng lớn trái phiếu phát hành nội địa, bằng đồng Yen như là một kênh đầu tư sinh lời phù hợp và ưa thích.

Về phía chính phủ Nhật, không phải vô cớ mà Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) đứng ra nhận bảo lãnh cho các nhà phát hành, đặc biệt là các nước đang phát triển có xếp hạng tín dụng thấp, trong việc trả nợ trái phiếu samurai, vì Nhật cũng đang muốn đẩy mạnh việc sử dụng Yen như một đồng tiền quốc tế.

Bởi vậy, nếu Việt Nam phát hành trái phiếu samurai thì sẽ tạo ra thêm hàng hóa được nhiệt tình đón nhận bởi các nhà đầu tư Nhật. Ví dụ, trong nhiều đợt phát hành trái phiếu samurai của các tổ chức tài chính quốc tế như ADB và WB trước đây, các ngân hàng Nhật đã mua vào với tỷ trọng lớn (có đợt lên tới 80% tổng giá trị phát hành).

Về phía nhà phát hành là chính phủ Việt Nam, ngoài các lợi ích nêu trên, phát hành trái phiếu bằng Yên sẽ phải đối mặt với một rủi ro lớn và chủ yếu, đó là biến động tỷ giá. Tùy thuộc vào mục đích sử dụng nguồn vốn huy động từ trái phiếu samurai của chính phủ Việt Nam mà người sử dụng cuối cùng sẽ gặp bất lợi khi tỷ giá VND/Yen, USD/Yen và tỷ giá giữa Yen với một số ngoại tệ khác biến động mạnh như thời gian qua.

Chẳng hạn, nếu chính phủ cho vay lại nguồn vốn này cho một số doanh nghiệp nhà nước để họ đổi ra USD và dùng vào nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu sản xuất hàng hóa tiêu thụ trong nước (tức có nguồn thu chủ yếu bằng VND). Bình thường, nếu tỷ giá VND/USD và USD/Yen không biến động mạnh thì Việt Nam nhìn chung là có lợi lớn vì lãi suất trái phiếu samurai thường rất thấp, kể cả với nhà phát hành có mức độ xếp hạng tín nhiệm thấp (theo một nghiên cứu của Bank of America thì lợi suất trái phiếu samurai phát hành bởi một công ty được xếp hạng ở mức “đầu tư” chỉ bằng phân nửa so với lợi suất trung bình trên các thị trường vốn ngoài Nhật).

Nhưng sẽ là thảm họa lớn cho những doanh nghiệp nhà nước này, và rốt cục là ngân sách nhà nước, khi không những VND mất giá so với USD mà đến lượt nó, USD cũng lại mất giá so với Yen.

Huy động vàng trong dân: 5 lý do cần cân nhắc (Bài đăng trên Doanh nhân Sài Gòn, 20/1/2015)

http://www.doanhnhansaigon.vn/van-de/huy-dong-vang-trong-dan-5-ly-do-can-can-nhac/1086323/

Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam, có khoảng 300-500 tấn vàng, tương đương 20 tỷ USD, đang nằm trong dân - một số vốn "nhàn rỗi" khổng lồ.

Mới đây NHNN đã chính thức được giao nghiên cứu thực hiện các giải pháp huy động vàng trong dân. Tuy nhiên, chủ trương này đã và đang gặp bế tắc ở việc huy động như thế nào và làm gì với số vàng huy động được từ dân.

Một giải pháp huy động và sử dụng hay được đề cập nhất và xem ra khả thi nhất là NHNN phát hành chứng chỉ huy động vàng và trả lãi cho số vàng huy động được này. Về phương án sử dụng, NHNN sẽ giao (hoặc cho vay) số vàng này cho Bộ Tài chính để bộ này đem làm tài sản thế chấp vay nước ngoài lấy ngoại tệ về phục vụ cho các dự án phát triển kinh tế xã hội.

Theo người viết, giải pháp trên không có tính thực tiễn và không có lợi, vì các lý do sau:
Thứ nhất, khi đã phải huy động bằng chứng chỉ vàng, tức có trả lãi, điều này vô hình trung lại kích hoạt thêm việc đầu cơ nắm giữ vàng trong dân vì họ vừa có thêm công cụ để đầu cơ, bảo toàn tài sản của mình, lại vừa được hưởng lãi, cũng tương tự như việc nắm giữ ngoại tệ. Điều này sẽ làm cho dân chúng càng có xu hướng ly khai mạnh hơn nữa việc nắm giữ tiền đồng, một hậu quả tương tự như nạn “đô la hóa”, và ở đây tạm gọi là nạn “vàng hóa”.

Đô la hóa và nay thêm vàng hóa chắc chắn sẽ càng làm suy yếu thêm tính hữu hiệu của chính sách tiền tệ của NHNN, vì nay VND chỉ là một cấu thành trong tổng phương tiện thanh toán bên cạnh đô la (ngoại tệ) và vàng hoặc chứng chỉ vàng.

Thứ hai, nếu như để ở dạng vàng vật chất thì giá trị sử dụng của nó còn bị hạn chế. Chẳng hạn, khi thực hiện giao dịch lớn thì số vàng phải vận chuyển sẽ nhiều - một yếu tố mang tính rủi ro cao. Nay, với việc hợp pháp hóa sự tồn tại của vàng vật chất thông qua chứng chỉ vàng, việc giao dịch, thanh toán, và cất trữ tài sản vàng này trong dân chúng lại trở nên thuận lợi, dễ dàng hơn bao giờ hết.

Trên nhiều phương diện, chứng chỉ vàng sẽ có giá trị và được chấp nhận rộng rãi như tiền mặt, tín phiếu, trái phiếu, séc, và các loại giấy tờ có giá khác (chí ít thì trong phạm vi ngoài hệ thống ngân hàng). Bởi vậy, chủ trương phát hành chứng chỉ vàng sẽ mang đến một tác dụng không mong muốn là làm trầm trọng thêm nạn vàng hóa.

Thứ ba, về mặt tổ chức, NHNN không thể, không có chức năng tổ chức cả một mạng lưới huy động và chi trả vàng từ tất cả các tỉnh thành xuống đến ít nhất là cấp quận, huyện. Nếu được làm, và muốn làm, NHNN sẽ phải bỏ ra một chi phí khổng lồ (và cuối cùng lại tính vào ngân sách nhà nước) để xây dựng cơ sở vật chất và nhân lực cho công việc này. Nên có nhiều khả năng là NHNN sẽ phải dựa vào hệ thống ngân hàng và đại lý ủy quyền để thực hiện việc huy động và chi trả vàng/chứng chỉ vàng.

Đương nhiên, ngoài việc vẫn phải tốn chi phí để trả cho hệ thống thu gom và chi trả vàng như thế này, NHNN còn hợp pháp hóa lại sự hiện diện của vàng trong hệ thống ngân hàng và các chân rết đại lý, là điều mà NHNN đã cố gắng chấm dứt, xóa sổ không lâu trước đây.
Thứ tư, do huy động vàng bằng chứng chỉ vàng nên vàng huy động phải được chuẩn hóa. Nhưng hiện nay, lượng vàng tiêu chuẩn đóng dấu thương hiệu do NHNN phê duyệt chỉ là một phần (nhỏ) trong tổng số vàng có trong dân.

Để việc huy động vàng đạt đến quy mô có ý nghĩa, NHNN cần phải buộc dân chúng chuyển đổi số vàng vật chất phi quy chuẩn này thành vàng quy chuẩn. Vậy những chi phí liên quan này ai sẽ gánh chịu? Nếu NHNN không trực tiếp gánh chịu thì cuối cùng NHNN (và rốt cuộc là ngân sách) cũng sẽ phải gánh chịu, nếu muốn huy động được, vì dân chúng có vàng sẽ tính hết những loại chi phí này vào lãi suất họ đòi hỏi NHNN phải đáp ứng nếu muốn “mượn” vàng của họ. Chưa kể, chuyện chuyển đổi vàng này sẽ tạo ra nhiều rủi ro, bất ổn như vốn đã từng xảy ra trước đây.

Thứ năm, khi NHNN huy động vàng, họ phải trả lãi cho số lượng vàng huy động này. Dưới góc độ là một tài sản đầu tư, người sở hữu vàng sẽ đòi hỏi một lãi suất đủ lớn để hấp dẫn họ. Nên không thể hy vọng phí tổn lên ngân sách từ kênh huy động này sẽ thấp, rẻ được.
Số vàng này, sau đó, nếu theo đúng kế hoạch, sẽ được Bộ Tài chính dùng làm tài sản thế chấp để vay nước ngoài. Cứ cho là vì đã dùng vàng làm thế chấp thì lãi suất vay nước ngoài sẽ thấp hơn là vay chỉ bằng uy tín của Chính phủ Việt Nam, nhưng lãi suất này sẽ không thể thấp hơn lãi suất cho vay các chính phủ phương Tây, đồng thời sẽ phải cộng thêm các chi phí vận chuyển, bảo quản vàng vật chất đến các kho được chỉ định làm nơi giữ tài sản bảo đảm này, cũng như các chi phí thanh lý, phòng ngừa rủi ro, nếu Chính phủ Việt Nam không đáp ứng được nghĩa vụ nợ của mình.

Với lãi suất phải trả cho người có vàng trong nước, lãi suất trả cho khoản vay nước ngoài, cộng thêm vô số chi phí liên quan như kể trên, khó có thể nói rằng Chính phủ Việt Nam sẽ có lợi hơn nếu huy động vàng trong dân để làm thế chấp vay nước ngoài, thay vì đi vay trực tiếp nước ngoài.

Chừng nào không tính được rõ ràng bằng con số cụ thể bài toán lãi suất và chi phí khi huy động vàng rồi mang đi vay nước ngoài so với khi đi vay nước ngoài trực tiếp thì chừng đó chủ trương huy động vàng này còn là vô nghĩa, hoặc sẽ là một điều có hại nếu nó được thực hiện.

Các lý do trên cho thấy cần cân nhắc hết sức thận trọng trước khi hiện thực hóa chủ trương này.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2014, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam" forthcoming in "Emerging Markets Finance and Trade".

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).