Monday, 20 August 2018

Tránh bất hợp lý trong quản lý thuế (Bài đăng trên TBKTSG, 20/8/2018)

https://www.thesaigontimes.vn/td/277108/tranh-bat-hop-ly-trong-quan-ly-thue-.html


Dự thảo Luật quản lý thuế do Bộ Tài chính soạn thảo có một số quy định liên quan đến việc khoanh nợ, xóa nợ thuế, tiền chậm nộp và tiền phạt. Bài viết này sẽ phân tích một số bất hợp lý liên quan đến những điều khoản này trong dự thảo luật.

Điều 83 của dự thảo luật quy định các trường hợp được khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp. Theo đó, người nộp thuế là cá nhân đã chết hoặc được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự sẽ được khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp.

Đồng thời, điều 69 quy định việc hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế của người được pháp luật coi là đã chết do người được thừa kế thực hiện trong phần tài sản của người đã chết để lại hoặc phần tài sản người thừa kế được chia tại thời điểm nhận thừa kế.

Như vậy, dù được khoanh nợ nhưng khoản nợ thuế của người đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự vẫn sẽ phải được trả bởi người thừa kế của người này. Nhưng do điều 83 không quy định thời hạn được khoanh nợ và trong thời hạn đó thì người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế (sau thời hạn đó nếu không thực hiện sẽ bị chế tài, ví dụ, bị đóng băng mọi giao dịch sang tên tài sản, quyền thừa kế; tài sản thừa kế bị tịch thu, đấu giá để thực hiện nghĩa vụ thuế…) nên sẽ có trường hợp người thừa kế sẽ cố tình chây ì, không hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho những khoản được khoanh nợ.

Do đó, điều 83 hoặc các điều khoản liên quan khác cần bổ sung thêm thời hạn khoanh nợ tiền thuế và chế tài áp dụng khi quy định này bị vi phạm.

Cũng điều 83 (khoản 4) quy định người nộp thuế không còn hoạt động kinh doanh tại địa chỉ kinh doanh đã đăng ký, không hiện diện tại địa bàn… thì sẽ được khoanh nợ thuế. Về điều khoản này, cần bổ sung thêm cho rõ rằng chỉ được phép khoanh nợ khi cơ quan thuế đã làm rõ, nắm chắc được rằng người nộp thuế không còn kinh doanh ở một địa điểm khác, hoặc không kinh doanh online (sử dụng giấy phép kinh doanh hiện tại...). Nếu không làm rõ được như vậy thì  không được khoanh nợ thuế, và vẫn phải tính lãi và phí phạt chậm nộp thuế như bình thường.

Điều 85 (khoản 2) quy định chủ doanh nghiệp tư nhân, cá nhân đã chết hoặc được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không có tài sản để nộp tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt còn nợ thì sẽ được xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt.

Quy định như trên là một lỗ hổng, tạo điều kiện cho, ví dụ, sự thông đồng gian lận hoặc vô trách nhiệm của cán bộ thuế. Chẳng hạn, trước lúc người có nghĩa vụ nộp thuế chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, người này vẫn đang nợ thuế, vẫn đang có thu nhập, có tài sản nhưng không chịu nộp thuế và nhận được sự “bỏ qua” hay thờ ơ của cán bộ thuế trong việc cưỡng chế nộp thuế đúng và đủ. Việc để nợ đọng thuế phát sinh cho đến lúc người có nghĩa vụ nộp thuế được pháp luật xác định không trả được như vậy là có trách nhiệm của cơ quan thuế địa phương.

Do đó, nếu muốn xóa nợ thuế trong trường hợp này thì cần quy định thêm rằng: “Chỉ được xóa nợ tiền thuế và tiền chậm nộp, tiền phạt thuế khi có đủ căn cứ cho thấy trước đó cơ quan thuế đã thực hiện đầy đủ và đúng các biện pháp cưỡng chế nộp thuế theo quy định của pháp luật mà vẫn không thu hồi được thuế và tiền chậm nộp, tiền phạt”.

Khoản 3 điều 85 quy định được phép xóa các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của người nộp thuế không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 điều này mà cơ quan quản lý thuế đã áp dụng biện pháp cưỡng chế cuối cùng quy định tại khoản 1 Điều 127 của Luật này, và các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt này đã quá mười năm kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế nhưng không có khả năng thu hồi.

Điều khoản trên bất hợp lý vì nếu đã áp dụng tất cả các biện pháp cưỡng chế mà không có khả năng thu hồi thì không cần phải đợi đến 10 năm mới được xóa nợ thuế, mà cần xóa nợ sớm nhất có thể để tránh gáng nặng hành chính, nhân lực cho ngành thuế. Tuy nhiên, cần có thêm điều kiện là chỉ được áp dụng điều khoản này với những khoản nợ thuế và tiền chậm nộp, tiền phạt phát sinh sau ngày Luật này có hiệu lực. Điều này là để tránh chuyện hợp pháp hóa hậu quả của, ví dụ, sự vô trách nhiệm và/hoặc thông đồng của cán bộ thuế với người nộp thuế, dẫn đến nợ đọng thuế kéo dài từ nhiều năm trước đây dồn lại cho đến tận bây giờ để rồi được đề nghị xóa nợ cho… nhẹ nợ!

Điều 87 quy định thẩm quyền xoá nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt cho các cấp lãnh đạo từ Thủ tướng xuống đến cấp cục của Tổng cục thuế, hải quan.

Việc trao thẩm quyền xóa nợ ở các mức tương ứng với cấp bậc lãnh đạo là điều bất hợp lý. Mặc dù logic của việc này có thể là những vị lãnh đạo liên quan này chắc chắn sẽ trong sáng, công tâm, và có trách nhiệm; họ chỉ phê duyệt xóa nợ thuế theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nếu vậy thì logic này đòi hỏi các vị lãnh đạo này phải đọc từng hồ sơ xóa nợ thuế để biết chắc chắn rằng quyết định của mình là đúng đắn, phù hợp với quy dịnh của pháp luật.

Đương nhiên là với hàng ngàn cho đến cả hàng vạn hồ sơ xin xóa nợ thuế nằm trên bàn làm việc của từng vị lãnh đạo này (càng xuống dưới thì càng nhiều hơn) thì việc xem xét toàn diện và cẩn thận từng hồ sơ là điều không tưởng. Như thế có nghĩa là những vị lãnh đạo này sẽ lại phải dựa vào, “ủy thác” cho đội ngũ trợ lý, giúp việc “ký nháy” trình lên để họ chỉ việc ký (mà thậm chí cũng chẳng có thời gian làm chuyện này nữa). Nói cách khác, việc phân cấp thẩm quyền xóa nợ theo độ lớn của khoản nợ như đề xuất chỉ là hình thức mà rốt cuộc lại tùy thuộc vào đề xuất của cán bộ thuế từ cấp cơ sở.

Vậy thì nếu không thể đặt lòng tin vào trách nhiệm và sự công tâm, trong sáng và ngay thẳng của cán bộ thuế cơ sở trong việc xóa nợ thuế thì tốt nhất là không quy định việc/thẩm quyền xóa nợ thuế mà hãy để cho khoản nợ thuế tự động bị xóa bỏ sau một thời gian nhất định, sau khi cơ quan thuế đã thực hiện mọi biện pháp cưỡng chế thuế, như tác giả đề xuất liên quan đến khoản 3 điều 85 ở trên.

Nếu muốn làm chắc hơn thì có thể quy định thêm rằng khoản nợ thuế sẽ bị xóa bỏ sau X tháng/năm, sau khi cơ quan thuế đã thực hiện mọi biện pháp cưỡng chế thuế, và được xác nhận bởi khi cơ quan thanh tra thuế (hoặc một cơ quan thanh tra, giám sát độc lập nào đó của Chính phủ); và/hoặc việc xóa nợ thuế này sẽ được thanh tra/kiểm toán định kỳ hàng quý/năm…

Dự thảo Luật quản lý thuế: Nhiều nhiệm vụ giao nhầm đối tượng (Bài đăng trên TBKTSG, 20/8/2018)

https://www.thesaigontimes.vn/td/277106/du-thao-luat-quan-ly-thue-nhieu-nhiem-vu-giao-nham-doi-tuong-.html


Bộ Tài chính đã xây dựng và đang đưa ra lấy ý kiến góp ý cho dự thảo Luật quản lý thuế (sửa đổi) để chuẩn bị trình Chính phủ. Bài viết này chọn và nêu một số điểm chưa hợp lý trong dự thảo liên quan đến nhiệm vụ được giao cho một số đối tượng phi nhà nước, cần được xem xét, sửa đổi để phù hợp hơn.

Thứ nhất, điều 25 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp trong việc quản lý thuế. Theo đó, các tổ chức này phổi hợp với cơ quan quản lý thuế trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thuế, cung cấp thông tin liên quan đến việc quản lý thuế.

Mặc dù điều khoản trên không nói rõ là các tổ chức này phải thực hiện những nội dung tuyên truyền và cung cấp thông tin trên nhưng vì điều khoản này đề cập đến nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức này nên có thể hiểu rằng họ có nhiệm vụ tuyên truyền và cung cấp thông tin về thuế. Quy định như thế này là không thỏa đáng, ít nhất với những tổ chức tự chủ về kinh phí, không nhận kinh phí hoạt động từ ngân sách. Nói cách khác, nếu có tổ chức nào đó phải thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền này thì cùng lắm chỉ là những tổ chức do nhà nước lập ra, thụ hưởng ngân sách nên phải thực hiện những công việc, nhiệm vụ mà nhà nước giao mà thôi.

Có phần tương đồng như vậy là điều 26 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thông tin, báo chí trong việc quản lý thuế. Mặc dù hiện nay chưa có cơ quan thông tin, báo chí tư nhân nhưng, ngược lại, cũng không hoàn toàn chỉ có báo chí nhà nước, “sống nhờ” (hoàn toàn) vào ngân sách. Do có cả mục đích kinh doanh, theo đuổi lợi nhuận, nên báo chí không có nghĩa vụ, nhiệm vụ phải đăng cái gì đó không đem lại hiệu quả kinh tế cho họ. Như vậy, trừ khi cơ quan thuế ký hợp đồng hợp tác tuyên truyền (và trả phí), nhiều tờ báo có quyền từ chối tuyên truyền, cung cấp thông tin về quản lý thuế, nếu muốn. Nên quy định như điều 26 là sự trói buộc bất hợp lý, trái luật với cơ quan thông tin, báo chí nói chung.

Điều 27 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của ngân hàng thương mại (NHTM) trong quản lý thuế có tiến bộ hơn điều khoản 25 và 26 ở góc độ là nó chỉ rõ phạm vi đối tượng thực thi điều khoản này – các NHTM “khi tham gia phối hợp” (với cơ quan thuế). Điều này cũng có nghĩa là các ngân hàng khác không thuộc đối tượng này ((khi) không phối hợp với cơ quan thuế) thì không phải thực hiện những nội dung trong điều khoản này. Nhưng như vậy thì dự thảo phải có thêm quy định NHTM như thế nào thì sẽ được/phải “phối hợp” với cơ quan thuế trong việc quản lý thuế, và nếu “phối hợp” như vậy thì sẽ được lợi ích cụ thể gì để “trả công” cho sự “phối hợp” này. Bởi, xin lưu ý, NHTM không phải là cánh tay nối dài của cơ quan thuế, không thụ hưởng ngân sách, nên không có nghĩa vụ phải phối hợp với cơ quan thuế làm nhiều việc về quản lý thuế.

Mặt khác, điều 27 đề ra khá nhiều công việc cho NHTM mà thực chất là những công việc, là nhiệm vụ của mạng lưới Kho bạc, của cơ quan thuế. Tuy, như trên đã nói, NHTM có thể được trả công cho sự thực hiện những công việc của Kho bạc, của cơ quan thuế, nhưng câu hỏi nảy sinh là vậy thì hệ thống Kho bạc, hệ thống của cơ quan thuế tồn tại để làm gì, ngân sách trả tiền cho họ để làm gì, tại sao cơ quan thuế không làm những công việc hiển nhiên thuộc trách nhiệm của mình, ví dụ hỗ trợ người nộp thuế điện tử, mà lại muốn giao cho NHTM? Nếu vì lý do là cơ quan thuế, Kho bạc bị quá tải, không đảm đương hết được những công việc này nên phải thuê NHTM giúp thêm thì điều này là thuộc phạm trù khác, không được phép đưa vào luật.

Trên hết, nên nhớ rằng NHTM chỉ là trung gian thực hiện các giao dịch, nếu có, giữa người nộp thuế và cơ quan thuế (chẳng hạn như thực hiện lệnh chuyển tiền (để nộp thuế) của chủ tài khoản đến một tài khoản chỉ định bởi cơ quan thuế), chứ chúng không thể, không có tư cách pháp lý đại diện cho cơ quan thuế để làm những công việc của cơ quan thuế.

Sẽ càng là phi lý nếu NHTM (phải tự động) “khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp theo quy định pháp luật về thuế của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử có phát sinh thu nhập từ Việt Nam theo hướng dẫn của Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”. Bởi, rõ ràng là trách nhiệm và thẩm quyền tính thuế, bắt nộp thuế là của cơ quan thuế (và cơ quan chức năng liên quan) chứ không phải là của NHTM. Cùng lắm thì chỉ có thể quy định khi có yêu cầu bằng văn bản của cơ quan chức năng (cơ quan thuế, hoặc tòa án…), NHTM phải (và được quyền) thực hiện việc này (trong từng trường hợp cụ thể).
Việc yêu cầu NHTM định kỳ cung cấp thông tin tài khoản của người nộp thuế mở tại ngân hàng cho cơ quan quản lý thuế cũng là một điều bất hợp lý. Vì ít nhất thì nó cũng là một gánh nặng cho NHTM khi phải định kỳ cung cấp số liệu có trong hàng triệu tài khoản của cá nhân, tổ chức. Nếu muốn theo dõi các giao dịch bất thường thì đã có quy định riêng cho NHTM phải báo cáo các giao dịch loại này cho cơ quan chức năng. Tất nhiên, cùng lắm thì có thể quy định NHTM phải cung cấp thông tin của những tài khoản thuộc diện nghi ngờ, bị theo dõi bởi cơ quan chức năng, chứ không phải của các tài khoản khác.

Wednesday, 15 August 2018

Từ vụ Ba Huân chia tay VinaCapital: Hiểu đúng, quyết định đúng (Bài đăng trên TBKTSG, 16/8/2018)

https://www.thesaigontimes.vn/277114/tu-vu-ba-huan-chia-tay-vinacapital-hieu-dung-quyet-dinh-dung.html

Tuần qua, VinaCapital và Công ty cổ phần Ba Huân đã thông báo chấm dứt việc hợp tác đầu tư sau khi Ba Huân có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ đề nghị hỗ trợ chấm dứt hợp đồng với VinaCapital. Lý do là vì Ba Huân nhận thấy thỏa thuận hợp tác giữa bản tiếng Anh mà hai bên đã ký với bản tiếng Việt nhận được sau đó không thống nhất, có một số điểm được cho là bất lợi cho Ba Huân...

Từ vụ việc trên và sự bàn luận đa chiều của dư luận, có thể thấy dường như việc các quỹ tư nhân mua (một phần) cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp tư nhân, nhỏ và vừa, chưa được hiểu đúng. 
Hiểu rõ hơn về bản chất của quỹ đầu tư
Người chủ một doanh nghiệp ở Việt Nam rất có thể vào một ngày đẹp trời sẽ nhận được những cú điện thoại hay lá thư từ quỹ đầu tư (nước ngoài) với những lời “có cánh”, ca ngợi doanh nghiệp và bày tỏ nguyện vọng được mua (một phần) doanh nghiệp này.
Mặc dù những lời ca ngợi này sẽ làm người chủ doanh nghiệp hân hoan, tự hào về thành tựu của mình, nhưng thực sự chúng chỉ là ngôn từ marketing không hơn không kém, phục vụ cho mục đích tối thượng là mua rẻ bán đắt cổ phần của doanh nghiệp này.
Quỹ đầu tư tư nhân về bản chất chỉ là một quỹ huy động tiền từ các nhà đầu tư (thường là trong một thời hạn nào đó). Những nhà đầu tư này có thể là những cá nhân giàu có, những quỹ hưu trí, và công ty bảo hiểm tìm kiếm cơ hội đầu tư mang lợi lợi suất lớn hơn mức trung bình thu được từ đầu tư chứng khoán.
Để có thể sản sinh ra một lợi suất lớn như vậy thì các quỹ đầu tư phải luôn tìm kiếm các công ty có ban lãnh đạo tốt, hoạt động trong ngành đang tăng trưởng, có nhiều tiềm năng tăng giá, và tất nhiên là cần có vốn để nắm bắt những cơ hội phát triển - là điều mà quỹ đầu tư có thể mang đến cho họ.
Lợi hại của việc bán cho quỹ đầu tư
Bỏ tiền đầu tư vào các công ty này, các quỹ đầu tư sẽ nắm quyền sở hữu một phần công ty - cổ phần chi phối hay không chi phối. Sau đó khoảng vài năm, quỹ đầu tư sẽ hiện thực hóa lợi nhuận thông qua bán toàn bộ công ty hoặc cổ phần của mình cho nhà đầu tư chiến lược hay tài chính khác, tất nhiên ở giá kỳ vọng cao hơn nhiều so với giá lúc mua.
Khi bán cổ phần cho quỹ đầu tư, người chủ doanh nghiệp đương nhiên là sẽ có thêm tiền để hiện thực hóa các kế hoạch đầu tư kinh doanh mới, mang lại lợi nhuận lớn hơn.
Tuy nhiên, cần lưu ý là quỹ đầu tư hiếm khi mua toàn bộ 100% công ty mục tiêu, để người chủ của nó ôm một cục tiền bỏ đi và xây dựng một công ty khác. Thay vào đó, quỹ đầu tư chỉ mua một phần đáng kể cổ phần của công ty này, giữ người chủ hiện tại của công ty lại và để người đó làm lớn mạnh công ty và tăng giá trị của nó lên bằng cách theo đuổi các cơ hội làm ăn mà trước đây người này không thực hiện được vì không có đủ vốn.
Bán cổ phần cho quỹ đầu tư còn có nghĩa là mang đến cho chủ doanh nghiệp một đối tác làm ăn mới. Quỹ đầu tư sẽ có sự gắn bó hay kiểm soát ở một mức độ nhất định với doanh nghiệp, thông qua việc cử người vào ban điều hành, hay chấp thuận các quyết định kinh doanh lớn. Những việc này sẽ giúp quỹ đầu tư theo dõi sát sao số phận của khoản đầu tư của họ vào doanh nghiệp.
Bởi vậy, khi có những vụ việc nổ ra như kiểu Ba Huân với VinaCapital, dư luận và bản thân doanh nghiệp Việt thường có suy nghĩ rằng các quỹ đầu tư chỉ là loài kền kền, luôn muốn tìm cách chi phối, thâu tóm doanh nghiệp theo ý đồ có lợi cho mình, trong khi thực ra thì bản chất và mục đích của sự kiểm soát, chi phối này (được quy định trong hợp đồng mua bán cổ phần) chỉ là để cho chắc rằng tiền đầu tư của quỹ phải được sử dụng đúng mục đích - làm tăng giá trị của doanh nghiệp. Trên hết, cần chấp nhận thực tế rằng đồng tiền không có cảm xúc, và cũng như vậy là các điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng mua bán cổ phần!
Và do quỹ đầu tư cũng là một đối tác kinh doanh nên với doanh nghiệp muốn bán mình, điều cần làm là chọn đúng nhà đầu tư. Tốt nhất là nên chọn nhà đầu tư nào có kinh nghiệm trong lĩnh vực của mình, và có ứng xử tốt trong cả những thời điểm tốt và xấu. Nhưng cũng nên lưu ý rằng nhà đầu tư lý tưởng như vậy thường không phải lúc nào cũng có, cũng sẵn lòng mua cổ phần doanh nghiệp (với giá cao). Nên trên thực tế doanh nghiệp Việt cần phải có sự thỏa hiệp, chọn ra mục đích ưu tiên của mình (chẳng hạn chỉ là vốn để phát triển) để từ đó tiếp cận được với quỹ, nhà đầu tư phù hợp, với những điều khoản thỏa thuận phù hợp với nhu cầu của mình.
Bán mình không phải là việc xấu
Có một số doanh nghiệp kiêng kỵ chuyện bán cổ phần cho quỹ đầu tư. Lý do có thể là họ e ngại việc phải bán mình có nghĩa là gián tiếp thừa nhận với thị trường, với dư luận là mình đang khó khăn, thiếu khả năng chèo chống, đương đầu với thách thức và cơ hội của thị trường.
Suy nghĩ trên không hoàn toàn thỏa đáng bởi chẳng có quỹ đầu tư nào lại “dại dột” đi đầu tư vào những doanh nghiệp yếu kém, triển vọng mù mờ, dễ làm mất tiền của họ. Và để giảm thiểu những lựa chọn sai, quỹ đầu tư vì thế thường chỉ chọn ra các doanh nghiệp nào có ban lãnh đạo tốt, có năng lực điều hành doanh nghiệp hướng đến tăng trưởng và biết tận dụng mọi cơ hội gia tăng giá trị cho doanh nghiệp. Trên ý nghĩa này, việc muốn hoặc phải bán mình cho một quỹ đầu tư (và chốt được thương vụ với giá cao) lại là một cơ hội tốt để quảng bá giá trị doanh nghiệp.
Bán khi nào?
Đương nhiên là không cần bán “đứa con tinh thần” của mình, dù chỉ làm một phần, nếu doanh nghiệp của người chủ đang làm ăn phát đạt; người chủ đang hài lòng và hạnh phúc với doanh nghiệp của mình; và người chủ có nguồn tiền dồi dào để theo đuổi các cơ hội.
Nhưng chắc chắn đó sẽ là một lựa chọn đúng nếu người chủ có ý định thoát ra hoàn toàn khỏi lĩnh vực đang kinh doanh. Khi đó, người chủ sẽ phải tìm đến các quỹ đầu tư và các lựa chọn khác để cuối cùng thoái toàn bộ cổ phần của mình tại doanh nghiệp. Điều cần chú ý trong trường hợp này là người chủ sẽ phải thuyết phục được quỹ đầu tư hay các nhà đầu tư khác chấp nhận triển vọng mình sẽ thoái hết cổ phần của mình trong tương lai gần. Nếu không, người chủ sẽ bị “trói” với điều khoản ràng buộc rất có thể có trong hợp đồng mua cổ phần của nhà đầu tư rằng người chủ sẽ phải duy trì tối thiểu một tỷ lệ sở hữu nào đó, nếu không sẽ bị phạt.
Tương tự, bán mình sẽ là một lựa chọn đúng nếu người chủ nhìn thấy nhiều cơ hội tăng trưởng vốn sẽ không nắm bắt được nếu chỉ dựa vào nguồn lực của bản thân. Đặc biệt là với những người muốn nghĩ lớn làm lớn, điều không thể thiếu được là phải tiếp cận được với một nguồn vốn lớn, tùy thuộc vào lĩnh vực kinh doanh.
Song song đó, việc bán cổ phần của doanh nghiệp cũng có ý nghĩa nếu người chủ muốn có được một khoản tiền, một phần để ra cho mục đích chi tiêu riêng, một phần khác dùng để làm gia tăng giá trị của số cổ phần còn lại trong doanh nghiệp. Trường hợp bán mình này là tốt cho cả hai bên, chủ doanh nghiệp và nhà đầu tư.   
Tóm lại, trong tương lai sẽ tiếp tục còn nhiều vụ việc thâu tóm cổ phần của nhà đầu tư (nước ngoài) với các doanh nghiệp trong nước nhỏ và vừa, và đây cần được nhìn nhận là một xu hướng cần thiết và tất yếu. Điều cần lưu ý chỉ là các chủ doanh nghiệp trong nước cần phải xác định rõ mình muốn gì, muốn làm gì với doanh nghiệp của mình và muốn nó trở thành như thế nào trong tương lai... để quyết định bán mình hay không, bán cho ai và như thế nào.

Monday, 13 August 2018

Không thể tùy cơ ứng biến (Bài đăng trên TBKTSG, 13/8/2018, bản gốc, tiêu đề do báo đặt)

https://www.thesaigontimes.vn/276690/khong-the-tuy-co-ung-bien.html


Không như kỳ vọng của nhiều người, chiến tranh thương mại Mỹ-Trung ngày càng leo thang lên những nấc nguy hiểm mới và hai bên xem ra đều không chịu ngồi vào bàn đàm phán và nhượng bộ nhau.

Chắc chắn trong tương lai sẽ có một thời điểm mà Mỹ và Trung Quốc sẽ phải đạt được một thỏa thuận “đình chiến” và bình thường hóa quan hệ thương mại với nhau. Có điều, thời điểm tương lai đó không thể sớm xảy đến. Bởi, hiện cuộc chiến thương mại đã phát triển sang một giai đoạn có thể nói là không có đường rút cho cả hai bên.

Cuộc chiến không có đường lùi

Về phía Mỹ, sự “cứng đầu” của Trung Quốc – sẵn sàng “ăn miếng trả miếng” với Mỹ, trong khi tìm cách vô hiệu hóa một phần sự tấn công của Mỹ bằng biện pháp tiền tệ vốn càng chọc tức Mỹ - buộc Mỹ phải tiếp tục cứng rắn hơn và sẽ cứng rắn tối đa đến mức có thể, tức là đánh thuế toàn bộ lên hàng nhập khẩu từ Trung Quốc (trị giá 500 tỷ đô la Mỹ) với mức thuế cao đến mức gần như “cấm cửa” hàng Trung Quốc.  

Tất nhiên là việc ông Trump quyết trừng phạt Trung Quốc vì lý do an ninh và bảo vệ lợi ích của Mỹ phần nào đó là có thật, nhưng sâu xa sau đó chắc chắn có cả động cơ chính trị, muốn chứng tỏ mình là người “nói được, làm được”, làm như những gì đã hứa với cử tri trong cuộc bầu cử chọn ra ông làm Tổng thống. Ông Trump đương nhiên cũng muốn mình có thêm nhiệm kỳ làm Tổng thống nữa. Mà để làm được những việc này thì đòi hỏi phải có những dấu ấn sâu đậm để lại cho nền kinh tế Mỹ, cho xã hội Mỹ. Vậy thì còn dấu ấn nào sâu đậm hơn dấu ấn buộc Trung Quốc – nước có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới – phải “quỳ gối”, hứa hẹn và thực hiện hàng loạt cam kết mang tính nhượng bộ với yêu cầu của Mỹ như mở cửa thị trường nội địa cho đầu tư cho xuất khẩu từ Mỹ, giảm thặng dư thương mại với Mỹ, giảm thiểu can thiệp của nhà nước vào các hoạt động kinh tế, ngừng các cuộc tấn công mạng, ăn cắp công nghệ cao của Mỹ?  

Và cũng đương nhiên là ông Trump sẽ không chịu đơn phương xuống nước nếu mục tiêu với Trung Quốc nêu trên chưa đạt bởi điều đó sẽ làm ông mất mặt. Quan trọng không kém, ông vẫn còn một số vũ khí được tin rằng cuối cùng sẽ mang lại phần thắng cho ông, cho nước Mỹ. Đó là mức nhập siêu khổng lồ của Mỹ với Trung Quốc làm cho Trung Quốc cần Mỹ hơn, “sợ” Mỹ hơn. Đó cũng là khả năng in đô la bất tận để tài trợ, trang trải cho mọi tổn thất kinh tế, nếu có, gây ra bởi sự trả đũa của Bắc Kinh lên, ví dụ, nông nghiệp của Mỹ, giúp những đối tượng bị thiệt hại ở Mỹ tiếp tục ủng hộ ông Trump. 

Về phía Trung Quốc, một khi mà họ đã phải nói đến chuyện bảo vệ phẩm giá quốc gia một cách thẳng thừng và công khai như vừa qua thì có nghĩa là cuộc chiến thương mại do Mỹ gây ra không còn đơn thuần là cuộc chiến thương mại nữa mà đã trở thành một cái gì đó tương tự như cuộc chiến bảo vệ chủ quyền quốc gia, chống ách áp bức ngoại xâm. Bởi thế, không chỉ dừng lại với việc “ăn miếng trả miếng” từng đô la, từng phần trăm thuế xuất nhập khẩu với Mỹ, Bắc Kinh sẽ không được phép lùi, không có đường lùi trong thế nhượng bộ.

Hơn thế nữa, việc cúi đầu trước Mỹ không khác gì một hành động hạ nhục lãnh đạo tối cao Trung Quốc, người đã (cổ súy) đặt niềm tin vào hệ thống chính quyền do Đảng Cộng sản lãnh đạo để đương đầu với cuộc chiến hiện nay. Trung Quốc cũng không được phép nhượng bộ Mỹ bởi điều đó có nghĩa là họ phải giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước vào phát triển kinh tế, là điều không thể chấp nhận được trong cơ chế đảng cầm quyền như hiện nay.

Ảnh hưởng lên Việt Nam

Cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung không có đường lùi cho đến khi một trong hai bên tổn thất nặng, không gắng gượng được sẽ có ảnh hưởng tiêu cực nhiều hơn tích cực lên Việt Nam.

Đối mặt với mức thuế lên tới 25% hoặc hơn nữa lên một phần đáng kể xuất khẩu vào Mỹ, Trung Quốc có khả năng buộc phải phá giá nhân dân tệ (CNY) đến hàng chục phần trăm hoặc hơn, tùy theo diễn biến leo thang của cuộc chiến. Đã có một số ước tính rằng nếu Mỹ đánh thuế 25% lên hàng nhập khẩu từ Trung Quốc thì nước này phải phá giá CNY thêm ít nhất 12%, dìm nó xuống mức 7,2 CNY/đô la Mỹ từ mức dưới 6,9 CNY/đô la như hiện nay để hóa giải tác động của thuế nhập khẩu vào Mỹ tăng. Đó là chưa kể nếu Mỹ coi hành động phá giá này là thao túng tiền tệ và lấy đó làm cớ để nâng mức thuế nhập khẩu cao hơn nữa thì Trung Quốc thậm chí còn phải phá giá mạnh hơn nữa.

Do cơ chế điều hành tỷ giá hiện nay của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là dựa một phần trên rổ tiền tệ nên khi CNY mất giá (kéo theo nhiều bản tệ khác có trong rổ tiền tệ tham chiếu của NHNN) nên, về cả kỹ thuật lẫn ý nghĩa kinh tế, chắc chắn tiền đồng sẽ phải để yếu đi theo rỏ tiền này. Lưu ý là sự yếu đi này của tiền đồng mới chỉ là đảm bảo sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam không bị suy giảm thêm (giả sử mọi điều kiện khác giữ nguyên), chứ không dám nói là giúp cải thiện nó hơn.

Rủi ro liên quan ở đây là vì một lý do nào đó mà tỷ giá tiền đồng được can thiệp, bảo vệ bằng, ví dụ, tung dự trữ ngoại hối ra can thiệp, điều này không chỉ làm suy giảm trầm trọng tính cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam mà còn tạo ra “quả bom” tỷ giá chờ chực nổ khi sự can thiệp của NHNN buộc phải dừng lại.

Về chuyện hàng hóa Việt Nam sẽ thế chân hàng hóa Trung Quốc để xuất khẩu vào Mỹ, đây là chuyện xảy ra theo kịch bản tối ưu, nên tốt nhất là đừng kỳ vọng như vậy. Trước hết, cũng như Trung Quốc, kinh tế Việt Nam không được công nhận là kinh tế thị trường bởi Mỹ, nên bất cứ sự tăng vọt lên về nhập khẩu từ Việt Nam vào Mỹ sẽ dẫn đến hậu quả là Mỹ áp đặt các biện pháp ngăn chặn như thuế chống bán phá giá, lẩn tránh thuế, gian lận thương mại v.v…

Xuất khẩu sang các nước khác để lấp chỗ trống cũng không hề khả quan hơn, bởi, như đã thấy, đã có một số nước tiến hành xem xét và áp thuế chống bán phá giá lên hàng xuất khẩu của Việt Nam như mới đây có Canada, Thái Lan, Indonesia, EU áp thuế lên thép, Thổ Nhĩ Kỳ áp thuế lên vải sợi…

Chưa kể, khi Mỹ đánh thuế cao lên hàng hóa Trung Quốc, họ đã và sẽ phần nào tạo dựng ra nguồn cung nội địa thay thế cho hàng Trung Quốc nên hàng hóa Việt Nam tương đồng với Trung Quốc cũng khó lọt vào Mỹ. Điều này càng đúng nếu cuộc chiến thương mại kéo dài, đủ giúp sức cho ngành kinh tế nội địa Mỹ phục hồi và lớn mạnh, cạnh tranh ngang ngửa với hàng nhập khẩu. Khi đó, thậm chí xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ còn giảm hơn so với trước khi có chiến tranh thương mại.

Tóm lại, trong bối cảnh cuộc chiến thương mại rất có khả năng kéo dài cần xây dựng một chiến lược bài bản đối phó với những hậu quả tiêu cực của nó lên nền kinh tế Việt Nam. Không nên và không thể theo đuổi chiến lược “tùy cơ ứng biến”, được đến đâu hay đến đó như hiện nay.

Tỷ giá biến động mạnh, NHNN cần siết chặt hơn nữa việc cho vay ngoại tệ (Bài đăng trên CafeF, 12/8/2018)

http://cafef.vn/chuyen-gia-ty-gia-bien-dong-manh-nhnn-can-siet-chat-hon-nua-viec-cho-vay-ngoai-te-20180812200101291.chn

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong mấy năm nay đã theo đuổi chủ trương giảm đô la hóa nền kinh tế, theo đó giảm thiểu việc cho vay mượn bằng ngoại tệ giữa khách hàng – ngân hàng – doanh nghiệp. Đây là một chính sách hoàn toàn đúng và cần được ủng hộ, đặc biệt trong bối cảnh tỷ giá đang chịu sức ép liên tục tăng lên làm NHNN phải chật vật chống đỡ. 

Lý do duy trì việc vay mượn bằng ngoại tệ
Về phía người dân, doanh nghiệp có ngoại tệ từ kiều hối, xuất khẩu, để khuyến khích họ gửi tiền vào hệ thống ngân hàng thì người ta cho rằng cần phải trả lãi thỏa đáng cho họ. Nếu không, họ sẽ giữ tiền ở nhà, trong két sắt, hoặc cho vay mượn lẫn nhau với lãi suất cao, nhất là trong bối cảnh tỷ giá luôn có xu hướng tăng và tăng mạnh trong nhiều giai đoạn.
Về phía ngân hàng, nhận tiền gửi và cho vay bằng USD là có thêm một nghiệp vụ sinh lợi, đặc biệt khi lãi suất tiền gửi USD ở mức thấp (xuống đến 0%), lãi suất cho vay USD không bị khống chế trần.
Về phía khách hàng vay USD (theo luật hiện tại chỉ là doanh nghiệp), vay USD thì sẽ được hưởng lãi suất thấp hơn đáng kể so với vay bằng VND, nên sẽ là có lợi khi tỷ giá VND/USD ổn định.
Hơn nữa, với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, vì họ cần phải có USD để nhập khẩu hàng hóa, nguyên phụ liệu nên sẽ là tốt nhất nếu họ được vay bằng USD để nhập khẩu, tránh được công đoạn phải (vay VND) mua USD mà đôi khi rất khó mua, dù trong hệ thống ngân hàng, do khan hiếm, cung cầu bất cân đối.
Với tất cả những lý lẽ trên, dễ hiểu là người ta muốn có một tỷ giá ổn định, mà tốt nhất là cố định để tiếp tục hưởng lợi từ cho vay mượn lẫn nhau bằng USD mà không bị rủi ro về tỷ giá. Và cũng vì thế mà trần lãi suất tiền gửi USD ở mức 0% như hiện nay của NHNN được coi là bất hợp lý, được kiến nghị nâng lên, chẳng hạn, 0,5%/năm để hấp thu hơn nữa lượng USD chảy vào hệ thống ngân hàng dưới dạng tiền gửi.
Nguy hại của việc vay mượn bằng ngoại tệ
Duy trì (và mở rộng) vay mượn bằng ngoại tệ là duy trì (và làm trầm trọng thêm) nạn đô la hóa. Nói đô la hóa thì hơi trừu tượng, khó hiểu, nên nhiều người, kể cả giới chuyên gia, coi nhẹ chuyện này, chỉ hình dung nó làm "mất thể diện quốc gia" vì trên lãnh thổ Việt Nam lại cho phép lưu hành và phổ biến USD.
Đô la hóa nguy hiểm ở chỗ nó làm cho USD hay ngoại tệ thay thế tiền đồng trong nhiều giao dịch, làm giảm, mất hiệu lực của chính sách tiền tệ của NHNN. Thử hình dung, khi lạm phát lên cao, NHNN muốn nâng lãi suất tiền đồng để chống lạm phát. Nhưng vì nạn đô la hóa trầm trọng, nên khi lãi suất VND tăng lên người ta càng chuyển sang vay mượn và sử dụng USD (với lãi suất thấp hơn, ổn định hơn) thay cho tiền đồng.
Sự ly khai tiền đồng càng lớn (người dân càng chuyển sang sử dụng USD) thì việc nâng lãi suất tiền đồng của NHNN càng ít tác dụng trong việc kiềm chế lạm phát (đo đạc bằng mức tăng giá cả niêm yết bằng tiền đồng). Điều này lại càng buộc NHNN phải tiếp tục nâng lãi suất hơn nữa. Cơ chế vòng xoáy này giải thích tại sao ở những quốc gia siêu lạm phát USD đã thay thế bản tệ, còn ngân hàng trung ương thì bất lực ngồi nhìn mọi việc thoát khỏi tầm kiểm soát của mình.
Do đó, ưu tiên trong chính sách tiền tệ, tỷ giá của ngân hàng trung ương trên thế giới nói chung và của NHNN nói riêng là giảm thiểu nạn đô la hóa, giảm thiểu việc vay mượn bằng USD/ngoại tệ.
Ngoài cái giá phải trả về tính hiệu lực của chính sách tiền tệ, đô la hóa và việc vay mượn tràn lan bằng USD làm cho hầu như bất cứ ai, từ người dân, đến ngân hàng và doanh nghiệp, thậm chí cả Chính phủ đều đòi hỏi NHNN phải ổn định/cố định tỷ giá để việc vay mượn diễn ra suôn sẻ, các chủ thể vay, mượn không bị rủi ro tỷ giá, đặc biệt là phía đi vay.
Khi nạn vay mượn bằng ngoại tệ càng phổ biến, càng lớn thì NHNN càng bị ràng buộc, càng phải hành động để bảo vệ tỷ giá nếu không muốn hàng loạt con nợ bằng ngoại tệ bị vỡ nợ, làm nguy khốn quốc gia. Trên thực tế, dư luận yêu cầu NHNN ổn định tỷ giá trong quá khứ và như hiện nay cũng chính là xuất phát từ lo ngại làm tăng gánh nặng nợ nước ngoài (bằng USD).
Để ổn định/cố định tỷ giá, nhất là trong những thời điểm bất lợi như, ví dụ, có cú sốc bên ngoài là chiến tranh thương mại, tiền tệ như hiện nay, NHNN buộc phải tăng lãi suất hoặc bán USD can thiệp. Cả hai biện pháp đều có giới hạn và để lại hậu quả. Việc nâng lãi suất, như đã phân tích ở trên, sẽ không có mấy tác dụng bởi nạn đô la hóa, trong khi bản thân việc này gây hại lớn cho tăng trưởng kinh tế, tăng các vụ mất khả năng chi trả, phá sản v.v… Việc bán USD can thiệp thì chỉ kéo dài được vài tuần là cùng, tùy theo quy mô cần can thiệp, trước khi chẳng còn đâu USD để mang ra can thiệp.
Như vậy, cái lợi cho các chủ thể khi vay mượn bằng USD chính là cái hại cho cả nền kinh tế, cho sự điều hành của nhà nước. Do đó, việc chống đô la hóa, chống vay mượn bằng USD càng trở nên cần thiết, cấp bách.
Cũng nên lưu ý rằng có chuyên gia thậm chí còn cho rằng nếu siết vay mượn bằng USD thì NHNN phải tăng cung tiền đồng thay thế, dẫn đến tăng áp lực lạm phát, vì thế nên duy trì cho vay bằng USD.
Lập luận trên đã hiểu ngược vấn đề. Cũng như phân tích bên trên đã chỉ ra, chính vì nạn đô la hóa, vì có sự tồn tại của vay mượn bằng USD nên chính sách tiền tệ của NHNN bị mất hoặc bớt hiệu lực. Khi không có nạn đô la hóa, NHNN chỉ cần cung ứng ra nền kinh tế, giả sử là 100 đơn vị tiền tệ cũng đủ để lãi suất ổn định ở mức ví dụ là 7%/năm, còn lạm phát ổn định ở mức 4%/năm. Ngược lại, khi nền kinh tế bị đô la hóa, các chủ thể kinh tế ly khai tiền đồng, làm cho cầu tiền đồng giảm mạnh. Cùng một lượng cung tiền 100 đơn vị, nhưng do cầu yếu đi nên tiền đồng trở nên quá dư thừa, tạo áp lực lạm phát lên trên 4%/năm. Để đối phó, NHNN buộc phải rút bớt cung tiền xuống dưới 100 đơn vị, và hậu quả là làm tăng lãi suất tiền đồng lên trên 7%/năm, càng gây khó khăn cho doanh nghiệp vay bằng tiền đồng, rốt cuộc càng đẩy mạnh vòng xoáy đô la hóa và sự bất lực của NHNN.
Siết cho vay mượn bằng USD
Như vậy, siết cho vay mượn bằng USD là cần thiết. Tất nhiên, việc này trước mắt sẽ gây khó khăn chủ yếu cho doanh nghiệp trên nghĩa là họ sẽ phải vay bằng tiền đồng với lãi suất cao hơn. Nhưng như đã phân tích ở trên, đảm bảo quyền lợi cho người vay mượn bằng USD tức là làm hại cho cả nền kinh tế, cho những chủ thể khác, nên không có lý gì phải hy sinh lợi ích quốc gia cho một nhóm đối tượng như vậy.
Theo hướng siết lại thì, về nguyên tắc, kể cả những doanh nghiệp xuất khẩu có nguồn thu bằng USD cũng không nên được phép vay bằng USD nữa. Để đảm bảo công bằng vì họ phải bán USD thu được từ xuất khẩu cho ngân hàng, NHNN quy định rõ ràng và sẵn sàng cung ứng đủ USD (qua hệ thống ngân hàng thương mại) đáp ứng nhu cầu USD dùng cho nhập khẩu chính đáng của họ khi có yêu cầu.
Đối với những doanh nghiệp khác không có nguồn thu hoặc nguồn thu bằng USD không đáng kể, nhìn chung không những cần dừng hoàn toàn việc cho vay bằng USD mà ngay cả việc bán USD cũng phải được xem xét tùy từng trường hợp, căn cứ trên tính thiết yếu của việc nhập khẩu của họ với nền kinh tế.
Tóm lại, NHNN nên khẩn trương siết chặt thêm các đối tượng và điều kiện được vay ngoại tệ, đặc biệt trong bối cảnh tỷ giá đang căng thẳng và được dự đoán còn chịu áp lực gia tăng hơn nữa. 

Sống khác biệt trong cao ốc ở Singapore, Nhật Bản (Bài đăng trên Zing, tiêu đề do báo đặt lại)

https://news.zing.vn/song-khac-biet-trong-cao-oc-o-singapore-nhat-ban-post854585.html


Trong một dịp sang Singapore thăm gia đình tôi, bố tôi  bị ốm và phải nhập viện cấp cứu. Trên đường từ viện về, xe đi qua những con phố sát nách khu trung tâm thương mại, san sát chung cư (của tư nhân, không phải của Chính phủ xây) với những hàng cây xanh cổ thụ hai bên đường, trông rất vắng vẻ, thoáng đãng. Tôi vẫn nhớ bố tôi đã so sánh với tôi rằng ở Singapore, tuy mang tiếng là nơi đất chật, người đông, nhưng vẫn còn nhiều “chỗ trống để thở” ngay ở những nơi trung tâm như thế này, chẳng bù cho Hà Nội hay Sài Gòn.

Quả thật, hẳn không ít người đặt chân đến Singapore, đi mua sắm ở những con phố trung tâm đông đúc như Orchard lại bất ngờ phát hiện có những vạt cây rậm rạp, um tùm như rừng. Đây đó có những công viên to, nhỏ, không gian công cộng xen kẽ, “chung sống” với rừng cao ốc, cửa hàng cửa hiệu sầm uất, dòng người đi lại như nước, sôi động.

Càng rời xa trung tâm, chung cư của cả Chính phủ và tư nhân xây càng nhiều nhưng sự thoáng đãng và màu xanh thì tất nhiên còn nhiều hơn thế. Đi trên các lối đi nhỏ giữa các khối chung cư san sát, cao cả đến vài chục tầng nhưng người ta vẫn không cảm thấy ngột ngạt, bức bí như hình ảnh thường thấy ở Việt Nam.

Ngược lại thời gian nhiều năm về trước, tôi cũng đã từng sống chục năm có lẻ tại các thành phố của Nhật, đã trải nghiệm đủ với cuộc sống chung cư ở những khu dân cư lớn. Nhưng cũng như, thậm chí còn hơn ở Singapore, chẳng bao giờ tôi cảm thấy bị “ngộp thở” bởi rừng chung cư, cao ốc ở những nơi mình đã qua, đã sống. Ai cũng sẽ tìm thấy cho mình khoảng lặng, không gian riêng, thư giãn, không chen lấn, ồn ào ở một khoảng công viên, bãi cỏ, ghế nghỉ dưới tán cây bên đường trong khi xe cộ vẫn nườm nượp đi lại trong trật tự, ngay hàng thẳng lối, không một tiếng còi.

Bởi vậy, với đâu đó thì chung cư, cao ốc là tội đồ gây tắc nghẽn giao thông, quá tải hạ tầng, bất an do nguy cơ cháy nổ cao, nhưng ở những nơi đất chật người đông như Singapore và Nhật thì chung cư, cao ốc là lời giải bắt buộc. Bắt buộc nhưng không nhất thiết phải kèm theo những điều xấu xí.

Tất cả đến trước tiên từ chuyện quy hoạch, đó là theo con mắt của tôi, một người không có chuyên môn về quy hoạch. Trong cả mấy chục năm sống ở Nhật và Singapore tôi chỉ thấy, nhớ được có vài vụ đếm trên đầu ngón tay về việc mở đường mới, hay giải tỏa để nới rộng đường cũ. Từ chục năm về trước đã có những mảnh đất được san lấp ngay ngắn, trồng cỏ rồi… để đấy một cách có chủ ý, để rồi sau đó dần dần mọc lên những cao ốc, chung cư, nhà cửa và cơ sở hạ tầng khác như nhà ga tầu điện ngầm, bên cạnh những căn nhà cũ. Cứ như thể người ta đã hoàn thành quy hoạch cho các thành phố hiện tại từ cả vài chục năm trước, cứ thế mà triển khai theo thời gian những việc cần làm, những hạng mục cần xây dựng, cải tạo, không có cái gì chồng lên cái gì, chèn lấn, tranh chỗ của cái gì khác.

Đương nhiên là khi người đông lên, mật độ dân cư tăng cao, giao thông và hạ tầng trở thành vấn đề, thành gánh nặng. Nhưng dường như vấn đề này cũng đã được dự tính từ trước, trong quy hoạch của các thành phố này. Những đường tầu điện ngầm tiếp tục được xây mới, được nối dài. Những bãi đất trống từ hàng chục năm trước đây bỗng một ngày hóa thành ga tầu điện ngầm, san sẻ đắc lực gánh nặng với hệ thống giao thông mặt đất.    

Tiếp theo, góp phần vào sự tồn tại thành công của chung cư, cao ốc ở các nước là ý thức. Tôi nghĩ là nếu nói về lòng tham thì lòng tham của chủ đầu tư ở Singapore, Nhật hay Việt Nam chắc cũng không khác nhau là mấy. Nhưng tôi không thể tưởng tượng ra được có nhà đầu tư nào đó ở Nhật và Singapore lại dám ngang nhiên phá quy hoạch, xây trái phép thêm tầng, thêm block, chuyển đổi công năng các nhà công năng trong các chung cư, cao ốc khác với thiết kế đã được cấp phép để thu thêm lợi về mình. Tôi cũng không thể tưởng tượng có vụ việc nào đó chính quyền làm ngơ, tiếp tay, thông đồng với chủ đầu tư để trục lợi, bắt quy hoạch chung phải trả giá.

Ở góc độ của người sống tại các chung cư, cao ốc, chuyện sống bầy hầy, mất vệ sinh, ồn ào, không coi trọng các quy định an ninh, trật tự, phòng chống cháy nổ, lấn chiếm, sử dụng trái phép các không gian công cộng làm cho việc sống ở các chung ở Việt Nam trở thành cơn ác mộng, vỡ mộng với nhiều người. Nhưng những chuyện này là hiếm gặp ở Singapore và Nhật.

Thẳng thắn mà nói, ý thức của người dân không phải tự nhiên mà được như vậy hoặc chỉ sau một ngày là có. Ngay cả ở Nhật, nơi người dân nổi tiếng là sống ngăn nắp, sạch sẽ, tự giác tuân thủ luật lệ thì vẫn cứ có lác đác đây đó một vài vụ việc vi phạm luật, chẳng hạn như vất rác không đúng quy định. Và ở Singapore, một quốc đảo nổi tiếng xanh và sạch, cũng vẫn có chuyện ném cả túi rác từ trên tầng cao xuống đất tại các chung cư. Như vậy, trong góc tối của nhiều người vẫn còn đây đó thứ bản năng sống hoang dã. Để “nhốt” nhiều ngàn người sống hòa bình, tôn trọng người khác trong các khu chung cư cần phải có những công cụ hữu hiệu để khắc chế thứ bản năng xấu này. Giáo dục và chế tài pháp luật là những công cụ như vậy. Chẳng hạn, vất rác sai quy định từ lâu đã được coi là một hành động phạm pháp, không chỉ bị phạt tiền mà còn bị phạt tù ở Nhật. Ở Singapore, đây đó người ta vẫn thấy những cảnh báo tương tự tại một số “điểm nóng” có nhiều vi phạm.

Ngoài ra, người dân ở những nơi này giám sát lẫn nhau và sẽ lập tức báo cáo với chính quyền sở tại nếu thấy có những vụ việc vi phạm, từ việc nhà hàng xóm hút thuốc lá vất đầu mẩu thuốc xuống dưới đất, hoặc cãi nhau buổi đêm gây ồn ào, đến chuyện ban công nhà ai đó để các đồ vật dễ gây cháy. Còn chính quyền thì có trách nhiệm nhắc nhở, xử phạt nghiêm khắc các hành vi vi phạm quy định sống tại chung cư, cao ốc.    

Như vậy, theo xu hướng chung đô thị hóa, các thành phố ở Việt Nam sẽ ngày càng phải phát triển theo chiều cao nhiều hơn và phải chấp nhận sự xuất hiện ngày càng nhiều hơn các chung cư và cao ốc. Để giảm thiểu mặt trái của xu hướng này, buộc phải có quy hoạch tốt với tầm nhìn xa nhiều chục năm, thực hiện nghiêm minh, đi kèm với giáo dục và hướng dẫn, uốn nắn ý thức người dân bằng nhiều biện pháp khác nhau.

Thursday, 9 August 2018

Tác động của tỷ giá lên doanh nghiệp xuất khẩu – nhìn từ ngành dệt may (Bài đăng trên CafeF, 10/8/2018)

http://cafef.vn/tac-dong-cua-ty-gia-len-doanh-nghiep-xuat-khau-nhin-tu-nganh-det-may-20180810084543924.chn

Kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm nay của các doanh nghiệp dệt may cho thấy rõ một số tác động của sự biến động tỷ giá lên kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu nói chung trong nền kinh tế.

Trước tiên, có 11 trên 14 doanh nghiệp dệt may niêm yết báo cáo có tăng trưởng doanh thu, với nhiều doanh nghiệp có mức tăng trưởng rất mạnh so với cùng kỳ năm trước như TNG (49%), ADS (38%), và STK (30%). Chỉ có 3 doanh nghiệp ghi nhận tăng trưởng doanh thu âm (nhưng ở mức 1 con số) là TVT (-6%), M10 (-8%), và X20 (-1%).
Sự cải thiện mạnh doanh thu trên là một điểm rất tích cực, bất chấp chi phí nguyên vật liệu có thể đã tăng lên mạnh, dù là tính bằng USD hay VND. Biểu dưới đây cho thấy giá bông đã tăng mạnh trong nửa đầu năm 2018 so với năm 2017, trung bình vào khoảng 0,85 USD/pound nửa đầu năm 2018 so với khoảng 0,72 USD/pound năm 2017 (+18%).
Tác động của tỷ giá lên doanh nghiệp xuất khẩu – nhìn từ ngành dệt may - Ảnh 1.
Ngoài chuyện đơn hàng có thể đã gia tăng mạnh trong kỳ kèm với sự cung cấp ổn định nguyên liệu từ khách hàng và sự điều chỉnh tăng giá bán, sự tăng lên 1% về tỷ giá VND/USD trong 6 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm trước (từ mức 22.731,5 đồng ngày 30/6/2017 lên 22.961,5 ngày 30/6/2018, theo xe.com) chắc chắn đã góp một phần vào sự cải thiện doanh thu của các doanh nghiệp dệt may có nguồn thu từ xuất khẩu, bằng ngoại tệ khi quy đổi ra VND để lập báo cáo kế toán.
Ngược lại, nếu xét đến các doanh nghiệp có doanh thu tụt giảm so với kỳ trước, ví dụ như M10 (-8%), tỷ giá tăng chắc chắn không phải là nguyên nhân, nếu có, khi so với mức tụt giảm mạnh hơn về doanh thu của doanh nghiệp này. Ngoài ra, nếu so sánh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp này trong quý 4/2017 với quý 4/2016 thì thấy doanh thu vẫn giảm (-6%), mặc dù tỷ giá lại giảm đi 0,3% (từ 22.769 ngày 31/12/2016 xuống 22.706 ngày 31/12/2017). Điều này có nghĩa là việc tụt giảm doanh thu là do các nguyên nhân khác chứ không phải là do tỷ giá tăng lên (tức VND yếu đi).
Tiếp đến, về lợi nhuận trước thuế, chỉ có 2 trên 14 doanh nghiệp báo cáo tăng trưởng lợi nhuận giảm trong kỳ là M10 và X20, giảm lần lượt là 1 tỷ (-5%) và 7 tỷ đồng (-38%). Các doanh nghiệp còn lại đều báo cáo mức tăng trưởng lợi nhuận trước thuế, trong đó có đến 9 doanh nghiệp báo cáo tăng trưởng lợi nhuận lên trên 2 con số, thậm chí là 3 con số như HTG (+330%).
Lại lấy trường hợp M10 để phân tích sâu thêm về ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên lợi nhuận trước thuế. Trong nửa đầu năm 2018, M10 ghi nhận lãi chênh lệch tỷ giá 6,8 tỷ đồng (làm tròn), lỗ chênh lệch tỷ giá là 6,9 tỷ đồng. Như vậy, sự sụt giảm lợi nhuận trước thuế của M10 (1 tỷ đồng, từ 31 tỷ xuống 30 tỷ) chắc chắn không phải là do sự tăng lên về tỷ giá, mà có thể là do tụt giảm doanh thu trong khi chi phí không giảm theo tương ứng.
Tuy phải thừa nhận rằng kể cả 12 doanh nghiệp có lợi nhuận trước thuế tăng trong 6 tháng đầu năm nay, vẫn có nhiều doanh nghiệp ghi nhận mức lỗ chênh lệch tỷ giá lớn so với lãi chênh lệch tỷ giá. Ví dụ như VGT, lỗ chênh lệch tỷ giá là 51 tỷ so với lãi chênh lệch tỷ giá là 22 tỷ đồng. Điều này có nghĩa là lợi nhuận trước thuế của VGT đã bị giảm mất 29 tỷ đồng trong kỳ do chênh lệch tỷ giá, một con số đáng kể so với tổng lợi nhuận trước thuế của nó là 524 tỷ đồng (tương đương làm giảm khoảng 5% lợi nhuận trước thuế).
Tuy nhiên, cần phải nhìn rộng ra ngoài chuyện biến động tỷ giá. Thứ nhất, hãy đặt câu hỏi tại sao các doanh nghiệp xuất khẩu có nguồn thu bằng ngoại tệ (USD) lại vẫn có lỗ chênh lệch tỷ giá (lớn)? Lý do cho điều này chắc chắn là do doanh nghiệp đã đi vay một phần tín dụng bằng ngoại tệ (từ ngân hàng hoặc từ khách hàng). Giả sử nếu không có các khoản vay ngoại tệ này thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ không bị lỗ tỷ giá, và, do đó, lợi nhuận trước thuế sẽ còn lớn hơn đáng kể.
Câu hỏi thứ hai liên quan đến câu hỏi trên là tại sao doanh nghiệp dệt may có nguồn thu bằng ngoại tệ lại phải/muốn đi vay bằng ngoại tệ, dù họ biết rõ ảnh hưởng của biến động tỷ giá? Câu trả lời đơn giản là vì họ muốn vay với lãi suất thấp. Quả thật, nếu so với lãi suất đi vay bằng tiền đồng thì vay bằng USD sẽ có lợi đến vài điểm phần trăm/năm, làm cho chi phí tài chính của doanh nghiệp trong kỳ giảm đáng kể.
Do đó, nếu so với mức tăng tỷ giá VND/USD nửa đầu năm nay so với cùng kỳ năm trước hoặc cuối năm trước (1% hoặc hơn một chút), rõ ràng là với doanh nghiệp đi vay thì vay bằng USD có lợi hơn nhiều nếu tính về chi phí lãi vay. Vì thế, tuy biến động tỷ giá VND/USD như vừa qua và hiện nay đã làm doanh nghiệp dệt may phải "trả giá", dưới dạng chịu lỗ chênh lệch tỷ giá lớn hơn, nhưng cái giá phải trả của họ vẫn còn là quá nhỏ so với cái lợi thu được từ sự tiết kiệm được đáng kể chi phí tài chính (vốn vay và lãi). Điều này càng đúng nếu doanh nghiệp có các động thái bảo hiểm tỷ giá, phòng ngừa rủi ro tỷ giá.
Tóm lại, qua phân tích một cách bao quát hơn như trên, điều rút ra được là biến động tỷ giá (mạnh) không gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến doanh nghiệp xuất khẩu.

Friday, 3 August 2018

Vietnam Airlines: cổ phần hóa xong nhưng Nhà nước vẫn cứ ôm (Bài đăng trên TBKTSG, 4/8/2018)

https://www.thesaigontimes.vn/276350/vietnam-airlines-co-phan-hoa-xong-nhung-nha-nuoc-van-cu-om-.html

Theo thông báo mới đây của Tổng công ty Hàng không Việt Nam (VNA), sau đợt phát hành cổ phiếu mới với tỷ lệ 1:0,1558 của VNA cho cổ đông hiện hữu, Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) đã đăng ký mua 164.730.291 cổ phiếu VNA mới với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, tương đương 15,58% tổng số cổ phiếu VNA mà bộ đang nắm giữ, qua đó duy trì tỷ lệ cổ phần tại VNA ở mức 86,16%.
Còn theo VnEconomy dẫn nguồn từ Công ty Chứng khoán Bản Việt (VCSC), bộ sẽ trả VNA 578,4 tỉ đồng tiền mặt để mua 57,8 triệu cổ phiếu mới, trong khi 106,9 triệu cổ phiếu mới còn lại sẽ được mua lại bằng nguồn quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp trên bảng cân đối kế toán của VNA thuộc sở hữu của Bộ GTVT.
Trước đó, theo kế hoạch, Bộ GTVT được phân bổ hơn 1,057 triệu quyền mua và đã quyết định đưa 371.533.127 quyền mua ra bán đấu giá với giá khởi điểm 6.026 đồng/quyền mua vào ngày 12-4-2018. Tuy nhiên, hết thời gian đăng ký, chỉ 10 cá nhân đăng ký mua 272.000 quyền mua. Vào ngày đấu giá (22-5), chỉ còn 9 nhà đầu tư mua tổng cộng 262.000 quyền mua HVN với giá trúng bình quân là 6.026 đồng/quyền mua. Nhưng, đến hạn chót không có nhà đầu tư nào đến nộp tiền mua và cũng không có ai đến nhận lại tiền đặt cọc. Do vậy, toàn bộ hơn 371 triệu quyền mua dự kiến chuyển nhượng đã không bán được.
Ngày 5-7, Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam cũng đã thông báo điều chỉnh thời gian thực hiện quyền mua cổ phiếu của VNA từ 7-5 đến 2-7 thành 7-5 đến 31-7. Tuy nhiên, kết cục thì như đã thấy ở trên.

Sự ế ẩm quyền mua cổ phiếu VNA trong đợt này trước hết đặt ra câu hỏi về trách nhiệm cho Bộ GTVT. Khi đã thấy tình hình không thuận lợi từ đợt đăng ký và đấu giá quyền mua vào tháng 5, lẽ ra bộ này nên hạ giá khởi điểm quyền mua nhằm bán được tối đa số quyền mua được phân bổ. Nhưng rõ ràng là bộ đã không (muốn) làm vậy.
Cũng có thể là Bộ GTVT thấy “tiếc” khi phải bán quyền mua với giá rẻ, bởi tại thời điểm chào bán thì giá cổ phiếu trung bình của VNA cũng trên 30.000 đồng/cổ phiếu, trong khi giá mua cổ phiếu mới chỉ là 10.000 đồng/cổ phiếu. Nếu mức giá thị trường này tiếp tục tồn tại trong thời gian tới, sau khi VNA chuyển sang niêm yết trên sàn HOSE (hiện đang ở sàn UpCom) trong quí 3 theo kế hoạch, thì việc Bộ GTVT nắm giữ toàn bộ số cổ phiếu mới này sẽ là có lợi.
Nếu đúng là có lý do “tiếc” như trên thì người ta lại có thể đặt dấu hỏi, tại sao một khoản đầu tư (mua quyền mua cổ phiếu) có lời như vậy mà lại có rất ít nhà đầu tư quan tâm? Liệu có nguyên nhân nào đó từ phía bộ “làm khó” cho việc đăng ký quyền mua không, cũng tương tự như cách mà nhiều dự án mời thầu BOT lại chỉ có duy nhất một nhà thầu đăng ký, dù là cơ quan mời thầu luôn khẳng định đã làm đúng quy trình?
Và dù có tiếc không (muốn) bán bởi tính toán có lợi như trên, nhưng mối lợi trên có thành sự thật hay không lại phụ thuộc vào chữ “nếu”. Giá cổ phiếu của VNA đã giảm mạnh kể từ đầu năm đến nay. Vậy nên sẽ chẳng có gì chắc chắn là sau khi chuyển sàn, giá cổ phiếu VNA lại không tiếp tục xuống, làm cho dự tính của Bộ GTVT thành “đếm cua trong lỗ”.
Trong khi đó, với số tiền phải bỏ ra thêm lên đến hàng ngàn tỉ đồng để mua cổ phiếu mới cộng với số tiền dự kiến thu được khi bán quyền mua cổ phiếu, Bộ GTVT (chính xác hơn là ngân sách nhà nước) rõ ràng có nhiều địa chỉ sử dụng cần thiết hơn, ý nghĩa hơn và hiệu quả hơn (so với số thu cổ tức từ VNA - năm 2018 VNA đặt mục tiêu lợi nhuận giảm mạnh so với năm 2017).
Hơn thế, mục tiêu cổ phần hóa VNA là để giảm tỷ lệ sở hữu của Nhà nước sau cổ phần hóa (theo kế hoạch ban đầu) xuống 75% (và tiếp tục xuống còn 51% năm 2020). Đành rằng sự ế ẩm quyền mua cổ phiếu mới là trở ngại với Bộ GTVT khi thoái vốn khỏi VNA, nhưng một lần nữa mục tiêu giảm sở hữu nhà nước sau cổ phần hóa tại doanh nghiệp lại thất bại một cách vô tình hay hữu ý.
Quan trọng hơn, trong tương lai, rất có thể Bộ GTVT lấy những lý do tương tự để khước từ việc thoái vốn nhà nước. Việc này không chỉ tiếp tục tạo ra những tiền lệ, những tấm gương xấu cho các doanh nghiệp nhà nước, đại diện chủ sở hữu nhà nước khác làm theo, mà còn làm cho mục tiêu chính yếu của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - tăng cường hiệu quả hoạt động - trở thành viển vông.
Sự trù trừ, níu kéo thoái vốn nhà nước như của Bộ GTVT cho thấy nhận thức về cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước trong nhiều cơ quan quản lý không đặt nặng tác dụng cải thiện hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, mà coi trọng hơn vai trò kinh doanh vốn - bán vốn nhà nước sao cho có lãi nhất.
Điều này cũng sẽ tạo nên một vòng luẩn quẩn: Nhà nước không (chịu) thoái vốn, giảm cổ phần làm cho nhà đầu tư trong và ngoài nước ngần ngại, không mặn mà tham gia mua cổ phần, cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; doanh nghiệp vì thế càng trở nên không hấp dẫn trong con mắt nhà đầu tư, làm cho nhà nước càng chật vật thoái vốn.
Thực tế giá cổ phiếu VNA sụt giảm, hiệu quả kinh doanh kém so với những hãng bay nội địa khác, mặc dù nó đã nhận được nhiều ưu ái về chính sách trước và sau khi cổ phần hóa, cũng là một minh chứng cho sự hiện diện quá mức của đại diện chủ sở hữu nhà nước ảnh hưởng xấu đến chất lượng và hiệu quả kinh doanh của hãng này.  
Trong thời gian tới, do tình hình trong và ngoài nước có nhiều biến động và bất trắc nên có khả năng chứng khoán sẽ bị ảnh hưởng. Khi đó, nếu ưu tiên trong cổ phần hóa, thoái vốn và IPO vẫn là tối đa hóa nguồn thu cho Nhà nước thì e rằng những việc này sẽ phải bị gác lại trong một thời gian bất định. Do đó, Chính phủ cần có những phương án khác nhau cho các hoàn cảnh khác nhau và cần nhấn mạnh đến việc giảm thiểu sự hiện diện diện của Nhà nước trong các doanh nghiệp. 

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).