Monday, 15 July 2013

Khổ như người Nhật

Tớ sống và làm việc với người Nhật cũng khá lâu rồi nên thấy làm người Nhật cũng không sung sướng gì như người khác vẫn nhìn vào. Ngoài chuyện làm việc quên chết, coi sếp và cơ quan hơn cả bố, người Nhật còn khổ ở chuyện lấy vợ, lấy chồng, đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh tế.

Hôm lâu lâu, có dịp hàn huyên với một cô đồng nghiệp người Nhật, lứa tuổi 40s. Tự nhiên câu chuyện xoay qua chuyện lấy vợ lấy chồng của người Nhật. Cô này nói rằng hiện nay có rất nhiều phụ nữ Nhật ở tuổi 30s, 40s không lấy chồng. Bạn cô ta sống ở Sing cũng có mấy người chưa có chồng. Hỏi nguyên nhân thì được giải thích rằng đàn bà Nhật khi đã lấy chồng thì chỉ muốn, có xu hướng, ở nhà nội trợ, đẻ và nuôi dạy con, phó mặc việc kiếm tiền cho chồng. Học cao bao nhiêu chăng nữa thì rốt cuộc nhiều người cũng dừng lại ở đó. Nhiều người chưa tìm được chồng tương lai thì tìm cách giết thời gian và đợi chờ cơ hội trong những việc vô bổ (đối với tớ) như học cắm hoa, trà đạo, mặc kimono, học cái này cái kia. Nhà khá giả thì bố mẹ sẵn sang bỏ tiền cho con học đủ thứ để đợi thời/chồng. Nhà nào yếu quá thì mới để con gái đi làm một thời gian (rồi cũng sẽ bỏ khi lấy chồng, đẻ con).

Nhưng cái khổ là hiện nay nhiều đàn ông Nhật không kiếm được nhiều tiền, do kinh tế suy thoái. Nên các chị, các cô nhìn vào mấy anh/ông này mà không dám tiến gần, thà ở vậy, tìm cơ hội khác, vì lấy chồng mà chẳng được nhờ cậy gì mấy (về tiền nong). Đàn ông trong hoàn cảnh này có cố gắng tiếp cận đến mấy, như cách ta thường nói là tán tỉnh thì cũng thường chỉ được con số 0, nên rốt cuộc cũng đành từ bỏ ý định và ở vậy.

Tớ ngạc nhiên, hỏi lại, tưởng xã hội Nhật giờ cũng đã biến chuyển rồi chứ, rằng đàn bà ngày càng thích tự chủ, độc lập, nên thích ra ngoài xã hội, đi làm, phấn đấu v.v... như mấy chị, cô người Việt ta. Cô đồng nghiệp mới cười và bảo rằng không có chuyện đó đâu, mọi việc vẫn thế.

Tớ mới lăn tăn hỏi đại ý rằng, như ở Việt Nam ta vẫn thường có câu, "nồi méo úp vung méo", với những phụ nữ Nhật hấp dẫn thì đi một nhẽ, nhưng còn với những chị/cô "méo" thì chắc cũng phải hạ tiêu chuẩn, vớ lấy một anh không "méo" cái nọ thì cũng "méo" cái kia, đặc biệt là khoản kiếm tiền, để mà có một tấm chồng tạm gọi là chồng chứ? Cô đồng nghiệp lại cả cười, bảo không có đâu. Phụ nữ Nhật đa phần vẫn và luôn luôn có cái "pride", thà không có chồng còn hơn vớ lấy một anh/ông không kiếm đủ tiền cho mình và gia đình, cho dù mình có "méo" đến đâu.

Ngẫm ra, thế mới thấy đàn ông Việt Nam còn sướng chán, kiểu gì thì cũng (hầu như) lấy được vợ, thậm chí còn được vợ nuôi. Ngược lại, làm đàn bà ở Việt Nam cũng không thú vị gì lắm khi cứ phải cố kiếm tấm chồng bằng mọi giá.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).