Thursday, 14 November 2013

Quản lý giá: Không phải cứ muốn “bình” là “ổn” (Bài đăng trên TBKTSG, ngày 14/11/2013, bản gốc)

Thị trường đã nhiều phen chứng kiến một số mặt hàng nào đó lên cơn sốt giá. Những mặt hàng này bao gồm đủ loại, từ những thứ thiết yếu như mớ rau, cân thịt lợn, hộp sữa cái đinh, lá tôn lợp đến những thứ cao cấp và giá trị hơn nhiều như vàng, ngoại tệ.

Một trong những phản ứng chính sách thường thấy là cơ quan chủ quả (thuộc Bộ Tài chính, và/hoặc các bộ quản lý ngành chức năng), nói một cách nôm na, dùng mệnh lệnh hành chính cấm người cung những mặt hàng này trên thị trường tăng giá, tại thời điểm hiện tại. Những biện pháp quản lý giá cụ thể trong những trường hợp này là buộc người bán theo giá niêm yết, giá quy định; đưa (một số) những mặt hàng này vào diện hàng hóa được bình ổn về giá; thanh tra, điều tra, phát hiện và xử phạt những ai vi phạm các quy định về giá cả đã đăng ký và/hoặc trong diện được bình ổn; khi muốn tăng giá phải giải trình với cơ quan chủ quản và không được tăng liên tục trong vòng một thời gian nào đó v.v...

Vụ việc lùm xùm mới đây nhất là chuyện giá sữa trẻ em dưới 6 tuổi liên tục tăng trong thời gian ngắn (mà không vì lý do gì!?). Nguyên nhân cuối cùng được cho té ra là do các mặt hàng sữa trước đây đã bị thay tên đổi họ thành sản phẩm dinh dưỡng theo quy định của Bộ Y tế, và, do đó, “thoát” bị nằm trong danh mục hàng hóa phải bình ổn giá do Bộ Tài chính quản lý.

Và như một giải pháp xử lý để giá sữa trẻ em không tăng nữa, người ta đã nhanh chóng đưa sữa trẻ em vào lại danh mục hàng hóa phải bình ổn giá của Bộ Tài chính. Và rồi dư luận thở phào một cái, với những tờ báo giật tít lớn đại loại giá sữa từ này hết “cửa” tăng với hành động chính sách này! Tìm ra nguyên nhân và xử lý vấn đề xem ra thật rõ ràng và đơn giản.

Thế nhưng, có thể nhìn thấy trước tương lai tiếp tục bất ổn của những mặt hàng thuộc diện bình ổn giá nói chung và của sữa nói riêng. Có không ít những mặt hàng thuộc diện bình ổn mà giá của chúng nhiều khi và ở nhiều nơi còn cao hơn cả ngoài thị trường. Có nhiều mặt hàng bình ổn mà lượng cung như muối bỏ bể và tiểu thương đổ xô đến để mua rồi bán lại với giá cao hơn, để rồi rốt cuộc giá tăng vẫn cứ tăng. Có nhiều mặt hàng mà giá niêm yết một đằng, bán một nẻo mà người mua vẫn cứ phải lẳng lặng chấp nhận và móc túi trả tiền vì nhiều chiêu lách luật của người bán mà nếu có phát hiện thì cơ quan chủ quản chẳng thể làm gì, và người mua thấy chỗ nào cũng vậy v.v... Trong khi đó, có nhiều mặt hàng mà để giá của chúng được bình ổn, hàng loạt ưu đãi tài chính phải được đưa ra để rồi phí tổn liên quan đến bình ổn trở nên phi lý và tạo động cơ cho những hành động trục lợi của những doanh nghiệp tham gia bình ổn.

Mấu chốt của vấn đề, rất tiếc, lại rất đơn giản. Do cung và cầu chênh lệch nhau, chính xác hơn, cung nhỏ hơn cầu. Để khắc phục quy luật cơ bản này của thị trường, người ta phải tăng cung và/hoặc giảm cầu, và/hoặc bù giá. Tăng cung có thể bằng cách tăng sản xuất trong nước, tăng/nới lỏng điều kiện nhập khẩu. Giảm cầu có thể bằng cách “bóp mồm bóp miệng”, hoặc tìm loại hàng hóa thay thế được. Bù giá là lấy ngân sách nhà nước ra để bù vào phần chênh lệch giữa giá do thị trường quyết định và mức giá mà nhà nước thấy có thể chấp nhận được, làm cho tất cả nhu cầu hiện tại vẫn được thỏa mãn. Cứ dựa vào những yếu tố này sẽ thấy có nhiều vấn đề liên quan đến giá đã bị bỏ qua ở Việt Nam.

Cụ thể với mặt hàng sữa, việc tăng cung xem ra không phải là vấn đề khi, theo một số báo cáo, có tới hơn 200 nhà nhập khẩu sữa vào Việt Nam, chưa kể nguồn cung từ “hàng xách tay”. Sản xuất trong nước dường như không bị chịu một cơn sốc nào, vẫn không ngừng tiếp tục tăng trưởng, khó mà tạo thành cơn sốt giá đột ngột. Nhưng có điều, vẫn chưa thấy có phân tích nào, kể cả từ cơ quan chức năng, chỉ ra rằng chi phí và giá nhập khẩu sữa, và nguyên vật liệu vào Việt Nam để sản xuất sữa, có tăng lên không. Thay vào đó, một ví dụ cụ thể, cái mà người ta vẫn hay viện dẫn ra là một cái bảng giá sữa nhập khẩu vào Việt Nam của nhiều hãng sữa chỉ bằng một phần của giá bán hiện tại trong nước, để rồi kết luận rằng giá sữa tăng lên ở Việt Nam là vô lý. Nhưng phân tích theo kiểu này là vô nghĩa vì người ta không chỉ ra rằng giá nhập khẩu đó đã có thay đổi hay không so với trước khi các hãng sữa tăng giá. Nếu quả thật đã có sự thay đổi (tăng lên) thì đương nhiên giá sữa trong nước cũng phải thay đổi (tăng lên), bất chấp chênh lệch giá trong nước và giá nhập khẩu là bao lần. (Chuyện chênh lệch này lại thuộc một chủ đề khác).

Về phía cầu, cũng có một vài yếu tố bị bỏ qua. Chẳng hạn, người ta không chịu xem xét xem trong thời gian qua đã có sự chuyển dịch về lượng và cơ cấu của cầu về sữa làm thay đổi giá sữa hay không. Từ ngoài nhìn vào, có thể chỉ ra ngay một yếu tố có thể đã có ảnh hưởng đến cầu về sữa ở Việt Nam. Đó là việc mua vét sữa của dân Trung Quốc xảy ra trên phạm vi toàn cầu, từ Âu sang Mỹ xuống Úc và New Zealand rồi lên Á do người dân Trung Quốc lo ngại với chất lượng sữa sản xuất trong nước họ. Với nhu cầu mua vét khổng lồ này, việc tăng giá sữa trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam, nếu có, là điều không khó hiểu và bất ngờ. Ngược lại, việc Trung Quốc vơ vét sữa “ngoại” thế này đương nhiên cũng đẩy giá sữa và nguyên liệu sữa nhập khẩu lên, làm giá sữa sản xuất ở Việt Nam cũng phải tăng lên (xét về phía cung).

Về việc bù giá. Một khi cung cầu đã có biến động theo hướng bất cân đối như vậy thì giá sẽ chịu áp lực tăng lên. Để mọi người tiêu dùng vẫn tiếp cận được mức giá không đổi thì nhà nước phải bù giá. Nhưng ở Việt Nam hình như cho đến nay vẫn chưa nghe thấy chuyện ngân sách đã bỏ ra từng này đồng hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhập khẩu sữa hoặc nhập khẩu nguyên liệu sữa để sản xuất sữa với giá bán rẻ hơn so với không có hỗ trợ. Và cũng chưa nghe thấy chuyện nhà nước trợ cấp mỗi hộp sữa cụ thể là từng này đồng để người mua chỉ phải bỏ ra một số tiền không đổi so với trước cho cùng một hộp sữa. Chuyện thiếu vắng sự hỗ trợ và bù giá thế này xem ra vẫn tiếp tục trong thời gian tới. Ở đây ta chưa nói đến quy mô hỗ trợ cần thiết để đảm bảo mọi nhu cầu được thỏa mãn tại mức giá hiện tại (không tăng) và những tổn hại to lớn đi kèm với việc hỗ trợ, mà vì thế mà nhiều nước đang có trợ giá cho mặt hàng nào đó (xăng dầu, lương thực, thực phẩm v.v...) đã và đang phải cân nhắc thu hẹp hoặc xóa bỏ tài trợ do ngân sách của họ không thể kham nổi.

Tóm lại, việc quản lý giá hàng hóa nói chung và giá sữa nói riêng đang có nhiều bất ổn, từ chuyện phân tích và tìm ra nguyên nhân, cách tư duy và biện pháp xử lý, công cụ xử lý, năng lực và nguồn lực xử lý, và kể cả việc giám sát công tác xử lý. Bởi vậy, có thể thấy trước (và thực tế cũng cho thấy vậy) rằng giá cả các mặt hàng được bình ổn sẽ tiếp tục bất ổn và/hoặc đi kèm với những tổn thất lớn cho ngân sách.


Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).