Saturday, 11 July 2015

“Soi” chuyện cho bán khống chứng khoán ở Việt Nam từ kinh nghiệm nước ngoài (Bài đăng trên CafeF, 12/7/2015)

http://cafef.vn/thi-truong-chung-khoan/soi-chuyen-cho-ban-khong-chung-khoan-o-viet-nam-tu-kinh-nghiem-nuoc-ngoai-20150710223521045.chn
(Bản trên báo có nhiều lỗi chính tả do báo phải gõ lại từ bản chụp, chứ không phải bản word, do tớ cung cấp)
Hồi tháng trước, Ủy ban Chứng khoán nhà nước (UBCKNN) công bố lấy ý kiến về Thông tư thay thế Thông tư 74/2011/TT-BTC ngày 1/6/2011 hướng dẫn về giao dịch chứng khoán. Với những quy định mới về giao dịch trong ngày và cho vay chứng khoán, thực chất dự thảo Thông tư này đã mở đường cho hoạt động bán khống (ở mức độ thấp).

Dự thảo Thông tư trên đã được đón nhận một cách tích cực bởi các chủ thể liên quan. Nếu được ban hành, Thông tư trên sẽ mang đến những lợi ích lớn dễ thấy như tăng tính thanh khoản trên thị trường, để giá cả phản ánh chính xác hơn điều kiện thị trường, đồng thời thúc đẩy quy mô cũng như tần suất giao dịch của các nhà đầu tư, qua đó làm tăng doanh thu của các công ty chứng khoán. Ngoài ra, bằng việc quy định những điều kiện chặt chẽ cho các công ty chứng khoán nếu muốn tham gia cung cấp dịch vụ giao dịch trong ngày, Thông tư mới cũng được kỳ vọng là sẽ đẩy mạnh quá trình cạnh tranh, tái cơ cấu các công ty chứng khoán theo hướng lành mạnh hơn.
 
Về tác động tiêu cực của dự thảo Thông tư trên, nhìn chung các ý kiến phản biện thường khá sơ sài, mới chủ yếu chỉ dừng lại ở việc chỉ ra rằng tác động tiêu cực, nếu có, chỉ là rủi ro về phía công ty chứng khoán khi cho khách hàng thực hiện các giao dịch bán khống mà các cổ phiếu được cho vay lại giảm giá sâu, gây thiệt hại lớn cho các công ty chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ này.
 
Chuyện lợi hại của việc cho bán khống dường như chỉ có thể và đơn giản như thế nếu như không có sự kiện thị trường chứng khoán Trung Quốc chao đảo mạnh từ mấy tuần nay nhắc nhở chúng ta về “tử huyệt” của một thị trường chứng khoán cho phép bán khống không có một cơ chế kiểm soát thích hợp.
 
Như đã biết, một trong những nguyên nhân quan trọng như có tác dụng “đổ thêm dầu vào lửa” trong mỗi cuộc khủng hoảng tài chính nào đó trên thế giới là chuyện bán khống. Bán khống một tài sản tài chính nào như chứng khoán, ngoại tệ… là việc bán tài sản đó khi người bán không thực sự sở hữa nó vào thời điểm thực hiện giao dịch bán. Người bán với mục đích đầu cơ và nhận định thị trường sẽ đi xuống trong thời gian tới nên vay mượn tài sản đó từ các cá nhân hay tổ chức nào đó như công ty chứng khoán hoặc ngân hàng thương mại rồi bán ra với hy vọng trong thời gian tới sẽ mua lại chính những tài sản đó nhưng với giá thấp hơn để hoàn trả cho người mình vay nhằm thu lợi.
 
Khi một thị trường sản phẩm tài chính trên đà hoặc có chiều hướng giảm sút, lập tức sẽ có nhiều nhà đầu tư lao vào thực hiện các giao dịch bán khống, làm thị trường càng bị ngập lụt bởi một nguồn cung sản phẩm tài chính bổ sung khổng lồ. Xu hướng lao dốc của giá sản phẩm tài chính đó ngày càng trở nên rõ nét hơn với làn sóng bán khống này, đến lượt nó lại càng kích thích quy mô bán khống gia tăng. Kết cục là có những thị trường tài chính lẽ ra đã có thể hồi phục ngay từ những chao đảo do những bất cân đối ngắn hạn và không mạng tính cơ cấu nhưng rốt cuộc lại bị nhấn chìm trong đổ vỡ bởi những làn sóng bán khống.
 
Chính vì lý do trên bên cạnh những lý do khác mà thị trường chứng khoán Trung Quốc đã chao đảo mạnh và nhà cầm quyền nước này buộc phải áp dụng nhiều biện pháp can thiệp quyết liệt, trong đó có các biện pháp cấm bán khống chứng khoán.
 
Từ trường hợp của thị trường chứng khoán Trung Quốc, bài học rút ra cho Việt Nam không phải là rút ngay lại quy định cho phép bán khống chứng khoán đang được thai nghén cho ra đời để ngăn ngừa khả năng nó sẽ châm ngòi cho sự sụp đổ thị trường chứng khoán Việt Nam. Thay vào đó, song song với việc cho phép bán khống chứng khoán cần phải ban hành những quy định để khống chế bán khống một chứng khoán nào đó đang chịu áp lực mất giá mạnh, nhờ đó ổn định thị trường và duy trì lòng tin của nhà đầu tư.
 
Việc khống chế bán khống đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Chẳng hạn, ở Mỹ, có quy định rằng việc bán khống sẽ bị hạn chế với một chứng nào đó (cả trong và ngoài sở giao dịch chứng khoán) nếu chứng khoán đó đã mất hơn 10% giá trị trong vòng 1 ngày so với giá cuối ngày giao dịch trước đó. Quy định này tạo điều kiện cho các “long seller” (mua trước – bán sau?) được xếp hàng trước những người bán khống để bán chứng khoán đó một khi điểm giới hạn bán khống được kích hoạt. Khi đó, bán khống chỉ được cho phép nếu giá của chứng khoán đó cao hơn giá chào mua hiện hành cao nhất trên toàn quốc.
 
Ủy ban chứng khoán Mỹ cho biết thêm rằng họ quy định vậy vì họ nhận thức được tác động hai mặt của bán khống (và vì thế hạn chế có điều kiện việc bán khống). Giải pháp này được nhìn nhận là đã tạo ra một cơ chế tự ổn định cho thị trường trong những giai đoạn đi xuống hoặc biến động mạnh.
 
Tóm lại, bên cạnh các quy định liên quan đến việc bán khống như hiện tại đang được đề xuất, UBCKNN nên cân nhắc và đưa thêm vào dự thảo Thông tư mới về hướng dẫn giao dịch chứng khoán với những điều khoản liên quan đến cơ chế kiểm soát bán khống chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam khi có những biến động bất lợi xảy ra nhằm ngăn chặn từ xa một trong những yếu tố có khả năng gây đổ vỡ cho thị trường trong tương lai.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).