Wednesday, 20 July 2016

“Siêu ủy ban” - lời giải lạc đề (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, 18/7/2016)


http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=375366

Mới đây Bộ Kế hoạch và Đầu tư mà trực tiếp là Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đã hoàn thành dự thảo thành lập Ủy ban quản lý, giám sát vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp. Theo dự thảo, Uỷ ban này là cơ quan trực thuộc Chính phủ, do Chính phủ thành lập, giúp Chính phủ quản lý giám sát toàn bộ danh mục tài sản, vốn của Nhà nước tại 30 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là các tập đoàn, tổng công ty, bao gồm cả Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC). Bên cạnh đó, cơ quan này còn trực tiếp hoặc chủ trì tham mưu, giúp Chính phủ và Thủ tướng về chính sách sở hữu Nhà nước, về tái cơ cấu, sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN. Ủy ban này cũng sẽ tập trung nguồn vốn nhà nước đang đầu tư tại doanh nghiệp để đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực chiến lược, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và nền kinh tế. 

Lý giải về sự cần thiết thành lập ủy ban này, ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng CIEM cho rằng, đại ý, Việt Nam có tình trạng sử dụng lãng phí, làm thất thoát lớn tài sản công mà không tìm thấy ai chịu trách nhiệm cả. Điều này được thể hiện qua hàng loạt dự án “đắp chiếu” như Xơ sợi Đình Vũ, Phân đạm Ninh Bình, Gang thép Thái Nguyên, Nhà máy ethanol… làm mất vốn Nhà nước rất lớn nhưng đến nay chưa ai bị xử lý. Ủy ban trên ra đời, theo kỳ vọng, sẽ ngăn được tình trạng vốn nhà nước đang bị hao mòn như hiện nay.

Đề đánh giá một cách khách quan vai trò và sự cần thiết của ủy ban này, trước tiên ta cần phân tích tại sao lại có tình trạng sử dụng lãng phí, làm thất thoát lớn tài sản nhà nước mà không ai chịu trách nhiệm, không ai bị xử lý. Khi đã rõ lý do thì ta sẽ tiếp tục phân tích xem liệu ủy ban trên có khắc phục được tình trạng không xử lý được ai đã gây thất thoát, lãng phí tài sản công, để rồi từ đó mới có thể kết luận thành lập ủy ban này có phải là một chủ trương đúng và hữu hiệu không.

Có lẽ không cần phải tốn thời gian để chỉ ra những nguyên nhân chính của việc có thất thoát, lãng phí lớn mà không quy trách nhiệm được cho ai. Đó chính là sự “đúng quy trình”, là “trách nhiệm tập thể”, là “thực hiện theo quy hoạch”, là “chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước”, là “phát huy tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm”, là “do cơ chế”…

Chẳng hạn, hầu như bất kể vụ việc lớn nhỏ, sai lè lè nào, người ta đều dễ dàng dùng đến “bùa hộ mệnh” là “đúng quy trình”, từ việc cấp dưới đề xuất chủ trương (đầu tư), và cấp trên thấy là cần thiết, cấp bách, hoặc “có ý nghĩa chính trị và xã hội” (chứ không nhất thiết là có ý nghĩa kinh tế) là mọi cá nhân và tập thể liên đới xem ra sẽ bình an tuyệt đối. Có ai đủ “gan” và thẩm quyền để lật đổ cái “đúng quy trình” này được? Mà có ai hiểu cụ thể cái “đúng quy trình” là cái gì để mà chống lại nó như chàng Don Quixote chiến đấu chống lại cối xay gió?

Về “trách nhiệm tập thể”, hầu như không có bất cứ một dự án đầu tư nào của nhà nước, hoặc DNNN, mà lại không là kết quả của một sự nhất trí và ủng hộ về chủ trương và thực thi giữa nhiều bên liên đới, từ ban giám đốc, đảng ủy, chính quyền, công đoàn…, và người đứng đầu ký tên vào dự án chỉ là người đại diện, ký thay cho tập thể này mà thôi, chứ không phải với tư cách cá nhân, “đứng mũi chịu sào”. Vậy khi xảy ra hậu quả, không nhẽ xử lý trách nhiệm của cả tập thể từng đó con người?

Với lá bùa “thực hiện theo quy hoạch”, quy hoạch được xây dựng cho tầm nhìn cả 20-30 năm, không tránh khỏi sẽ có lúc sai lầm, gây thừa thãi hoặc không có hiệu quả khi mà các biến số đầu vào thay đổi chóng mặt hàng năm. Nhưng quy hoạch là cái nôi cho các dự án đầu tư công, đầu tư bằng tiền vay, cấp phát của nhà nước nên sau này nếu các dự án tỏ ra không có hiệu quả, lãng phí thì đó là do lỗi của quy hoạch chứ chẳng phải là lỗi của ai cả, kể cả tập thể. Mà lỗi của quy hoạch thì không quy trách nhiệm cho người thực hiện dự án được, cùng lắm chỉ sửa lại là đủ.

Với những dự án ra đời bắt nguồn từ “chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước” thì vấn đề không phải là có hiệu quả, lãng phí hay không, mà là phải thực hiện, quyết tâm và quyết liệt thực hiện. Với những dự án loại này, nếu không có hiệu quả thương mại thì sẽ có hiệu quả về chính trị, xã hội, hoặc hiệu quả về một cái gì gì đó, và nếu cần thì sẽ được tạo điều kiện tối đa để trở nên hiệu quả.

Còn với “phát huy tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm”, “đi tắt đón đầu”, mới đó chưa lâu người ta còn được nghe những câu khích lệ, động viên lớn này từ một số lãnh đạo cao cấp để rồi ra đời những “xác sống” như Vinashin. Sự việc đã xảy ra rồi, nếu có muốn truy trách nhiệm đến cùng e rằng cũng khó.

Về nguyên nhân do “do cơ chế”, cũng tương tự như nguyên nhân “đúng quy trình”, “cơ chế” cho phép DNNN, các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước được hình thành và hoạt động trong môi trường ít cạnh tranh; “cơ chế” cho phép người quản lý ít chịu sức ép cải cách, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp… Vậy để thay đổi những tồn tại của DNNN, ngăn cản sự ra đời của các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước thì phải thay đổi “cơ chế”. Mà “cơ chế” cụ thể là cái gì, ai thay đổi được “cơ chế” xem ra không dễ có câu trả lời.

Chuyển sang câu hỏi, liệu Ủy ban nêu trên có khắc phục được các nguyên nhân gây ra thất thoát, lãng phí lớn hay không. Ủy ban này chắc chắn không xóa bỏ được lối làm việc “đúng quy trình”, vì bản thân nó cũng phải làm việc theo “đúng quy trình” được quy định trong quyết định thành lập nó. Nó cũng không thể có chức năng như quan tòa, xóa bỏ “trách nhiệm tập thể” để vạch ra trách nhiệm của một vài “con sâu” nào đó trong cái tập thể đó, hay đủ thẩm quyền để xóa bỏ chế độ “trách nhiệm tập thể” hiện nay. Bản thân Ủy ban này cũng là một tập thể, ra quyết định mang tính tập thể chứ không phải của một cá nhân nào đó.

Ủy ban trên cũng không có tác dụng gì trong việc làm thay đổi cách đầu tư “theo quy hoạch”, “theo chủ trương của Đảng và Nhà nước”, và cũng không cấm được một vị nào đó một ngày đẹp trời nổi hứng tiếp tục khích lệ tinh thần “dám nghĩ, dám làm (liều)” của các nhà quản lý hiện tại và sau này ở các DNNN, các dự án sử dụng vốn nhà nước.

Vậy thì Ủy ban trên nếu có được cho ra đời thì bất quá chỉ như là một sự phóng to SCIC lên một quy mô mới lớn hơn nhiều. Vì các nguyên nhân để xảy ra những dự án “đắp chiếu” vẫn còn nguyên đó khi Ủy ban này ra đời, nên Ủy ban này sẽ lại na ná như một VAMC (Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam), trở thành nơi quản lý gom về một mối các dự án “đắp chiếu” này, thay vì để chúng nằm lại ở các bộ.

Còn với các 30 tập đoàn và tổng công ty đang hoạt động, cũng khó hy vọng Ủy ban trên, về mặt nghiệp vụ, hoạt động tốt hơn SCIC hoặc các vụ tại các bộ. Cũng vẫn những nhân sự đó – những người làm viên chức giỏi hơn là làm nhà quản lý doanh nghiệp, nhà đầu tư chuyên nghiệp, những lối tư duy đó, những ràng buộc về “cơ chế” hiện tại, và vẫn “tinh thần tập thể” theo kiểu “cha chung không ai khóc” đó thì khó hy vọng Ủy ban này sẽ tạo ra được một chuyển biến căn bản trong việc giảm thất thoát, lãng phí, nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN được nó quản lý.

Tương tự như vậy, nếu Ủy ban trên trực tiếp quyết định sử dụng vốn đầu tư tại DNNN để đầu tư vào đâu, ngành nào, phân bổ bao nhiêu vốn… như dự thảo hiện nay thì về bản chất cũng chỉ là tương tự như việc thực hiện bởi SCIC hoặc các bộ hiện nay.

Nói cách khác, giải pháp cho ra đời Ủy ban trên là lời giải lạc đề cho chuyện thất thoát, lãng phí, hoạt động không có hiệu quả của DNNN, của đầu tư từ vốn nhà nước mà không quy trách nhiệm cho ai được!

Box: hình Temasek Holdings, Singapore

Temasek Holdings là cỗ máy đầu tư cho Chính phủ Singapore, với Chính phủ là cổ đông chi phối. Nó chịu trách nhiệm trực tiếp với Tổng thống nên phản ánh thuộc tính sở hữu nhà nước. Đồng thời, nó có chức năng như một công ty mẹ của nhiều công ty có ít nhất 20% cổ phần nắm giữ bởi Chính phủ (governmnet-linked companies, GLC). 

Tuy nhiên, Temasek về danh nghĩa là một công ty tư nhân trách nhiệm hữu hạn, được thành lập năm 1974 để nắm giữ cổ phần trong các công ty mà trước đó được nắm giữ trực tiếp bởi Chính phủ Singapore. Xét về cơ cấu chủ sở hữu và mục đích kinh tế khi thành lập, Temasek thực chất là một tổ chức đầu tư tư nhân.

Tư cách là một công ty tư nhân của Temasek là để đảm bảo việc quản lý vốn nhà nước tại các công ty thuần túy dựa trên góc độ thương mại, chỉ theo đuổi lợi nhuận và tạo giá trị gia tăng tối đa cho các cổ đông, trong đó có Chính phủ, nhờ đó giúp Chính phủ tách biệt chức năng quản lý nhà nước, điều tiết thị trường với chức năng làm kinh tế.

Tuy là một công ty đầu tư tư nhân, thuộc tính sở hữu nhà nước của Temasek được thể hiện dưới 3 khía cạnh: (1) Tổng thống phê chuẩn bổ nhiệm các vị trí chủ chốt như thành viên Hội đồng quản trị hoặc Tổng giám đốc; (2) ngân quỹ cho hoạt động và các giao dịch không được lấy từ nguồn dự trữ có từ trước khi thành lập Chính phủ nhiệm kỳ hiện tại, trừ trường hợp được Tổng thống phê duyệt; và (3) Các công ty và tổ chức Chính phủ phải thực thi các chuẩn mực quản trị tài chính để bảo đảm sự quản trị đúng đắn và quản lý hữu hiệu danh mục tài sản. Ngoài 3 khía cạnh này, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc Temasek có toàn quyền và chịu trách nhiệm hoàn toàn trong quyết định đầu tư và kinh doanh, phản ánh thuộc tính sở hữu tư nhân.

Tuy vậy, để mô hình Temasek hoạt động hiệu quả, không chỉ cần thỏa mãn 3 điều kiện trên, mà còn phải có cả một hệ thống quản trị trong sạch và đúng đắn, từ thượng tầng là Chính phủ và các bộ ngành quản lý chức năng đến hạ tầng là các doanh nghiệp.

 


Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).