Thursday, 24 November 2011

Tái cấu trúc ngân hàng - Một số công việc cụ thể cần làm (dang tren Dai bieu Nhan dan)

07:11 | 24/11/2011

Trong bài viết “Thực chất của tái cấu trúc kinh tế” đăng trong số trước, chúng ta đã đề cập đến khái niệm tái cấu trúc nhìn dưới góc độ cải cách và đổi mới. Trong bài viết này chúng ta sẽ chỉ ra cụ thể những công việc cần làm trong quá trình “tái cấu trúc”, hay bao quát và quen thuộc hơn là, cải cách và đổi mới hệ thống ngân hàng, vốn được xác định là một trong ba trọng tâm chính của tái cấu trúc kinh tế trong thời gian tới.


Lưu ý rằng ngay cả Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng chỉ mới đưa ra được một số chủ trương chung chung về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, vẫn chưa trả lời được những câu hỏi bắt đầu từ đâu, làm gì, như thế nào v.v…

Chúng ta sẽ bắt đầu từ việc chỉ ra những nguyên nhân làm cho hệ thống ngân hàng Việt Nam lâm vào tình trạng khó khăn hiện thời và kèm theo đó là những biện pháp xử lý và cải cách.

Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến sự hình thành và tích tụ các rủi ro gây đổ vỡ mang tính hệ thống cho hệ thống ngân hàng là sự mở rộng nhanh chóng của hệ thống ngân hàng trong những năm gần đây, NHƯNG không đi kèm với sự tăng cường và hoàn thiện công tác quản lý và phòng ngừa rủi ro, quản trị ngân hàng (như không áp dụng các chuẩn mực quốc tế về phân loại vốn vay, trích lập dự phòng, tính toán mức độ rủi ro của các khoản vay, và công bố thông tin), cũng như công tác thanh tra giám sát của NHNN.

Việc cần làm ở đây không phải là sự sắp xếp lại mang tính cơ học để giảm bớt số lượng ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng nhỏ như nhiều người ở Việt Nam đang cổ xúy. Hệ thống ngân hàng không tự động trở nên khỏe mạnh hơn khi có ít ngân hàng hơn. Chất lượng và phạm vi dịch vụ cũng không được tự động cải thiện khi số lượng ngân hàng được giảm đi, nếu không muốn nói là ngược lại.

Vậy công việc cần làm là buộc các ngân hàng thương mại phải xây dựng được các quy trình quản lý và phòng ngừa rủi ro theo chuẩn mực chung của NHNN (và tiệm cận được với các chuẩn mực quốc tế), và NHNN phải có chế tài để buộc các ngân hàng thương mại áp dụng nghiêm túc các quy trình này. NHNN đóng một vai trò trọng yếu trong việc thắt chặt công tác quản lý và phòng ngừa rủi ro trong hệ thống, thông qua công tác thanh tra giám sát thường xuyên với đội ngũ cán bộ lành nghề giỏi chuyên môn. Những điều này không hề dễ thực hiện như trên thực tế đã cho thấy, khi các ngân hàng thương mại có các động cơ khuyến khích họ coi nhẹ rủi ro, khuyến khích họ làm càn, còn NHNN thì bị trói tay bởi thiếu cán bộ giỏi và không hiếm khi bị qua mặt bởi nạn hối lộ. Nói cách khác, điều quan trọng không chỉ là việc xây dựng và ban hành các quy trình, quy định, luật lệ mà còn phải xóa bỏ các động cơ khuyến khích các ngân hàng thương mại và kể cả NHNN làm sai, làm càn.

Những ngân hàng nào không đáp ứng được các chỉ tiêu hoạt động an toàn và lành mạnh theo các tiêu chí của NHNN đặt ra thì có thể và cần thiết phải xử lý như đối với một doanh nghiệp vi phạm pháp luật thông qua thu hồi giấy phép hoạt động. Đừng vì “cái bình quý” – sự ổn định của hệ thống – mà không dám động đến những “con mèo hư” – những ngân hàng không lành mạnh, không an toàn, để rồi vấn đề rủi ro đạo đức lại tiếp tục làm hư thêm những con mèo khác, cho đến lúc cả hệ thống sụp đổ thì đến mấy NHNN cũng đành bó tay. Việc công khai xử lý các con mèo hư có thể bước đầu gây ra một xáo trộn nào đó trong hệ thống thông qua những phản ứng dây chuyền, nhưng chắc chắn công luận sẽ đồng cảm và hoan nghênh những động thái tăng cường minh bạch, mang tính xây dựng của NHNN. Một lần chịu đau để giảm thiểu nguy cơ tái phát bệnh tật sau này luôn là điều nên làm.

Nguyên nhân thứ hai gây ra rủi ro đổ vỡ hệ thống liên quan đến sự thống trị của các tập đoàn kinh tế và các nhóm lợi ích đối với các ngân hàng thương mại, biến chúng thành nguồn cung cấp vốn cho các hoạt động mạo hiểm, rủi ro của mình (ví dụ như đầu tư và bất động sản và chứng khoán), vốn sẽ dẫn đến nguy cơ suy sụp cả hệ thống ngân hàng khi các thị trường này suy sụp.

Mặc dù NHNN đã có các quy định về tỷ lệ cho vay tối đa với một khách hàng nào đó, nhưng trên thực tế các quy định này thường bị lờ đi, đa phần bởi NHNN khó có khả năng phát hiện ra những mánh lới qua mặt mình (hoặc có khi cán bộ thanh tra NHNN cố tình bỏ qua).

Vậy việc cần làm, cũng giống như ở trên, là phải xóa bỏ các động cơ khuyến khích các ngân hàng thương mại và kể cả NHNN làm sai, làm càn. Với từng ngân hàng, cơ chế theo dõi của các cổ đông sẽ là một công cụ hữu hiệu để cho giới quản lý của ngân hàng nào đó không thể hành động vì quyền lợi của một số cổ đông chính hy sinh các cổ đông thiểu số. Với NHNN, đương nhiên công tác cán bộ (thanh tra, giám sát) có tầm quan trọng đặc biệt và cần áp dụng những cơ chế khuyến khích tập trung được cán bộ giỏi, liêm chính, đồng thời kịp thời phát hiện và trừng phạt những hành vi sai trái.

Nguyên nhân thứ ba góp mặt làm suy yếu hệ thống ngân hàng là sự thiếu hụt nguồn nhân lực ngân hàng lành nghề (nhất là nhân lực liên quan đến công tác đánh giá rủi ro, gồm cả nhân lực cung cấp cho công tác thanh tra, giám sát của NHNN) gây ra bởi sự tăng trưởng quá nhanh của hệ thống ngân hàng. Việc cần làm ở đây là điều hiển nhiên, không cần phải bàn thêm.

Về nguyên nhân thứ tư, mặc dù số lượng ngân hàng đã tăng lên nhanh chóng gần đây, có thể nói hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn bị chi phối bởi một số ông lớn ngân hàng thương mại nhà nước vốn chiếm thị phần đa số trong thị trường ngân hàng. Điều đáng nói là chính phủ và các nhóm lợi ích thường áp đặt các mệnh lệnh hành chính lên các ngân hàng thương mại nhà nước để chỉ định cho vay hoặc can thiệp quá trình thẩm định và cho vay các dự án, các doanh nghiệp, tạo ra rủi ro đạo đức lớn khi các ngân hàng cho vay mà không cần bận tâm đến tính khả thi của dự án, khả năng sống còn của doanh nghiệp. Theo đó là cho vay quá mức, lợi nhuận thấp, dòng tiền hạn chế, và kết cục phát sinh các khoản nợ xấu. Vinashin là một ví dụ đau đớn và sống động cho thực tế này.

Việc cần làm ở đây là phải kiên quyết xóa bỏ cung cách hành động phi thị trường này, có thể hoặc trực tiếp thông qua các quy định luật thành văn cấm các cơ quan, quan chức chính phủ dính líu đến các hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại, hoặc gián tiếp thông qua việc tiếp tục và tăng cường quá trình cổ phần hóa các tổ chức tài chính và ngân hàng thương mại nhà nước, biến nhà nước thành cổ đông không chi phối hoặc không còn nắm giữ cổ phần nữa.

Nguyên nhân thứ năm liên quan đến những biến động kinh tế vĩ mô, trong đó có phần đóng góp của NHNN. Trong những năm trước, nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế, chính sách tiền tệ và tài khóa được nới lỏng tối đa, và tín dụng vì thế tràn ngập nền kinh tế, không những làm tăng áp lực lạm phát mà còn chảy vào các lĩnh vực đầu cơ đầy rủi ro như chứng khoán và bất động sản, kéo theo sự tăng nóng về giá cả của những mặt hàng này, lại kích thích thêm nữa tín dụng ngân hàng chảy vào đó.

Sang năm nay, khi lạm phát đã có dấu hiệu nguy hiểm thì gánh nặng kiềm chế lạm phát lại bị dồn lên vai chính sách tiền tệ. Lãi suất tăng cao, còn tín dụng cho chứng khoán và bất động sản bị thắt lại. Giá chứng khoán và bất động sản sụt giảm làm cho giá trị các khoản thế chấp cũng sụt giảm tương ứng. Đi kèm với đó là tình trạng nhiều nhà đầu cơ mất khả năng thanh toán đã làm tăng tỷ lệ nợ xấu trong lĩnh vực này và làm xấu đi nghiêm trọng bảng cân đối tài sản của nhiều ngân hàng.

Lãi suất VND cao còn dẫn đến chênh lệch lãi suất cho vay bằng VND và USD tăng lên trong khi NHNN tuyên bố là sẽ giữ ổn định tỷ giá. Trong môi trường đó, các doanh nghiệp và ngân hàng được khuyến khích vay nước ngoài, vay bằng ngoại tệ thay vì nội tệ (trong khi nguồn thu trả nợ lại bằng nội tệ) và không bận tâm đến việc phòng ngừa rủi ro (hedging) biến động tỷ giá.

Trong bối cảnh này, biện pháp xử lý phải xuất phát từ NHNN và nói rộng hơn là Chính phủ, theo hướng giảm thiểu chính sách điều hành giật cục, chạy từ thái cực nọ sang thái cực kia trong khoảng thời gian ngắn, dùng chủ yếu là các biện pháp hành chính. Họ cũng phải tự hoàn thiện khả năng hoạch định và lập chính sách, tiên liệu được hậu quả của các chính sách của mình lên nền kinh tế nói chung và lên hệ thống ngân hàng nói riêng. Có thể nói không quá rằng các cơ quan hữu trách đa phần đã không nhận thức và đánh giá được đầy đủ phạm vi tác động của các chính sách của mình.

Thay cho kết luận, với một số việc cần phải làm ngay như nêu ở trên (bên cạnh những công việc khác không được nêu ở đây), tái cấu trúc hệ thống ngân hàng trở thành điều thiết thực hơn, dễ hiểu hơn và, nếu được thực hiện tốt, sẽ mang lại luồng sinh khí mới cho quá trình tái cấu trúc nền kinh tế (thực chất là cải cách và đổi mới) để mang lại sự tăng trưởng bền vững cho Việt Nam. Tuy vậy, sự thay đổi có tầm ảnh hưởng quyết định đến sự thành bại của tái cấu trúc hệ thống ngân hàng lại nằm ở phía Chính phủ nói chung và NHNN nói riêng, mà đôi khi việc thực hiện sao cho đúng đắn mang lại kết quả như mong muốn lại không hề đơn giản khi phải vượt qua chính cái bóng của mình, quá tầm cho phép của nhận thức và tư duy của mình.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).