Tuesday, 5 February 2013

Cần nhìn nhận lại chính sách tăng trưởng hiện nay

(Bài viết chơi, chẳng để đăng ở đâu cả)

Bất chấp nền kinh tế kết thúc năm 2012 với những kết quả được ca ngợi là thành công, Việt Nam vẫn phải đang đối mặt với thâm hụt ngân sách đáng kể, nợ nước ngoài tiếp tục tăng, đầu tư giảm sút, và VND thậm chí còn lên giá so với USD (kể cả danh nghĩa) trong khi lạm phát vẫn ở mức cao, mặc dù đã giảm mạnh so với năm 2011.
Ở cấp độ vi mô, các doanh nghiệp Việt Nam được/tự báo cáo những khó khăn chồng chất như lãi suất đi vay vẫn ở mức cao quá sức chịu đựng của doanh nghiệp, trong khi tồn kho tiếp tục ở mức cao và nhu cầu nước ngoài không mấy khả quan trong cơn suy thoái toàn cầu, đã đẩy nhiều doanh nghiệp đến bước đường cùng.

Trong bối cảnh vĩ mô và vi mô như trên, Việt Nam vẫn tham vọng đặt ra mục tiêu tăng trưởng lớn hơn trong năm 2013 với lạm phát thấp hơn. Tiếc là, căn cứ vào những phát biểu của các quan chức liên đới, dường như những mục tiêu này mang tính duy ý chí, mang ý đồ chính trị nhiều hơn là có cơ sở thực tế. Thay vì nhìn nhận và xác định rõ đầu tư từ khu vực kinh tế tư nhân là động cơ tăng trưởng bền vững, và cần tập trung vào kích thích tăng trưởng đầu tư tư nhân thông qua cải thiện thị trường và môi trường kinh doanh thì Chính phủ lại tiếp tục lệ thuộc vào chính sách tiền tệ và tài khóa nới lỏng để đạt được mục đích tham vọng và mâu thuẫn này.
Tăng trưởng tương đối nhanh của Việt Nam trong nhiều năm qua vốn đạt được nhờ vào sự can thiệp sâu rộng của nhà nước, nhờ vào sự nới lỏng quá mức của chính sách tiền tệ và chi tiêu công. Nhưng sự tăng trưởng này đi kèm với cái giá phải trả là các vấn đề mang tính cơ cấu ngày càng trầm trọng hơn, bao gồm tính bất hiệu quả của nền kinh tế (thể hiện ở tỷ trọng đầu tư trên GDP lớn), nợ công của chính quyền trung ương và địa phương tăng nhanh, tỷ lệ nợ xấu cao trong hệ thống ngân hàng, sự chèn lấn đầu tư tư nhân bởi đầu tư công, tín hiệu thị trường trong việc phân bổ các nguồn lực khan hiếm của nền kinh tế bị bóp méo nhờ các biện pháp ưu đãi, trợ giá, trợ cấp, và bàn tay can thiệp ngày càng thô bạo và quyết liệt của nhà nước vào nhiều mặt của nền kinh tế.

Mặc dù cuối cùng nhà nước cũng đã xác định được “tái cấu trúc” nền kinh tế là điều sống còn cho sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Việt Nam trong những năm tới, nhưng những biện pháp cải cách thể chế có ảnh hưởng đến sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân để biến khu vực này thành động lực tăng trưởng xem ra vẫn còn hời hợt, hình thức. Trọng tâm tái cấu trúc nền kinh tế được tập trung vào 3 trụ cột, doanh nghiệp nhà nước (DNNN), đầu tư công, và hệ thống ngân hàng. Nhưng nhìn chung, thực chất “tái cấu trúc” ở đây chủ yếu được hiểu khá đơn giản và ấu trĩ là sự sắp xếp lại mang tính cơ học, bỏ cái này, sát nhập cái kia. DNNN vẫn đã và đang được lăm le tiếp tục coi là xương sống của, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, và mọi biện pháp “tái cấu trúc”, nếu có, chỉ cốt nhằm củng cố được vai trò này, và tất nhiên là gây tổn hại cho khu vực kinh tế tư nhân.
Công bằng mà nói, “tái cấu trúc” DNNN trước đây và (lặp lại) gần đây cũng bao gồm một yếu tố tích cực cho sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân. Đó là việc cổ phần hóa DNNN, biến chúng thành doanh nghiệp mà nhà nước chỉ sở hữu một phần. Nhưng vì nhiều lý do nên quá trình cổ phần hóa đã và đang diễn ra rất chậm chạp với, và góp phần dẫn đến, nhiều nhiệm vụ dang dở, trong đó có việc giải quyết mối liên hệ nhằng nhịt và quyền lợi đan xen giữa nhà nước và DNNN, sự độc quyền, sự lũng đoạn của các nhóm lợi ích, tính phi cạnh tranh của DNNN, nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp, cải cách tài chính và luật lệ doanh nghiệp, cải cách hệ thống luật pháp và thực thi luật pháp vốn là điều thiết yếu cho một nền kinh tế thị trường hoạt động trơn tru.

Các nhóm lợi ích, phi đối xứng thông tin, lạm quyền, coi thường pháp luật vẫn còn tràn lan trong nền kinh tế Việt Nam, ảnh hưởng tiêu cực thêm nữa đến sự hoạt động của nền kinh tế thị trường và các quyết định của Chính phủ cũng như chi tiêu công.
Để tiếp tục con đường tăng trưởng một cách bền vững, Việt Nam cần phải thiết lập một khuôn khổ thể chế mang tính thị trường, mang lại cơ hội bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực tài chính và kỹ thuật cho các doanh nghiệp tư nhân như đối với các DNNN, tạo dựng một nền văn hóa khuyến khích và tôn trọng kinh thương. Song song đó, DNNN cần phải được rút khỏi càng nhiều càng tốt từ các lĩnh vực lẽ ra mang tính cạnh tranh nhưng lại thuộc độc quyền của chúng (kể cả các lĩnh vực dịch vụ). Mặc dù bước đầu đã có chủ trương giảm sự lũng đoạn của DNNN trong các lĩnh vực của nền kinh tế nhưng trên thực tế vẫn còn tồn tại rất nhiều rào cản hạn chế đầu tư tư nhân thâm nhập vào các lĩnh vực độc quyền của DNNN. Do đó, một trong những chính sách cần cho thời gian này và sắp tới là thúc đẩy vốn tư nhân tham gia sâu hơn, rộng hơn vào quá trình tái cấu trúc DNNN, đồng nghĩa với việc chấp nhận đánh mất vai trò “chủ đạo” của DNNN trong nền kinh tế  – một cải cách quan trọng về mặt nhận thức và tư tưởng mà chính quyền dường như đang cố gắng né tránh. Chính sách này cần thực hiện cả trong lĩnh vực ngân hàng, nơi cũng bị chi phối bởi các ngân hàng quốc doanh, và là nơi mà, rất tiếc, công cuộc “tái cơ cấu” lại đang đi ngược lại, với việc hình thành các ngân hàng quốc doanh lớn hơn nhiều, mang tầm vóc khu vực và thế giới về quy mô.

No comments:

Post a Comment

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2014, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam" forthcoming in "Emerging Markets Finance and Trade".

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).