Wednesday, 7 August 2013

Bất ổn tỷ giá: Đừng đổ cho “tâm lý”! (Bài đăng trên TBKTSG 8/8/2013, bản gốc)

Sau khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) “điều chỉnh” tỷ giá đồng/đô la Mỹ liên ngân hàng cuối tháng 6, lập tức tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng thương mại và tỷ giá trên thị trường tự do đã tăng vọt. Có lúc, tỷ giá đạt gần 21.900 đồng/đô la trên thị trường tự do.

Như thường lệ, NHNN lặp lại bài trả lời quen thuộc, quy buộc việc tỷ giá tăng mạnh là do yếu tố tâm lý, do động cơ đầu cơ trục lợi của một số người v.v…, chứ còn cân đối ngoại tệ vẫn đảm bảo, vẫn có thặng dư cán cân thanh toán đến mấy tỷ đô la, trạng thái ngoại tệ tại các ngân hàng không có đột biến v.v..

Tuy nhiên, một số vấn đề xảy ra cho thấy vấn đề không đơn giản, không đúng như những gì NHNN tuyên bố, thuyết phục dân chúng.

Thứ nhất, có thể đúng như NHNN nói, các yếu tố thiết lập tỷ giá không có mấy thay đổi theo chiều hướng xấu gây áp lực lên tỷ giá, và do đó không cần phải “điều chỉnh” tỷ giá. Nhưng nếu đúng như vậy thì câu hỏi được đặt ra là tại sao NHNN lại quyết định “điều chỉnh” tỷ giá liên ngân hàng hồi tháng 6, dù chỉ là 1%, mặc dù họ có thể biết rõ hậu quả của việc “điều chỉnh” này sẽ như thế nào, căn cứ từ những vụ “điều chỉnh” trước đây? Có thể NHNN sẽ có câu trả lời nào đó nhưng chắc chắn sẽ không phải là, chẳng liên quan gì đến những yếu tố mà NHNN đã viện ra (cán cân ngoại tệ không mất cân đối, thặng dư cán cân thanh toán, trạng thái ngoại hối của các ngân hàng không biến động mạnh...). Suy ra tiếp, sự giải thích của NHNN về lý do biến động tỷ giá như vừa qua (do yếu tố tâm lý, do đầu cơ) là không chuẩn xác.

Thứ hai, và liên quan đến vấn đề trên, khi tác giả nói sự quy kết của NHNN nhằm vào yếu tố tâm lý, đầu cơ là không chuẩn xác vì tác giả cũng công nhận rằng sự biến động mạnh có phần thái quá của tỷ giá đúng là có phần của tâm lý và đầu cơ. Nhưng cần nhấn mạnh rằng đây là yếu tố đến sau, chứ không phải là yếu tố châm ngòi cho sự “điều chỉnh” tỷ giá liên ngân hàng của NHNN. Vào thời điểm NHNN “điều chỉnh” tỷ giá, không thấy họ đề cập gì đến yếu tố tâm lý mà vì nó NHNN phải “điều chỉnh. Đã không có “yếu tố tâm lý”, là cái lý do giải thích cho biến động mạnh của tỷ giá như vừa qua theo lời của NHNN, mà NHNN vẫn phải “điều chỉnh” thì phải chăng “yếu tố tâm lý” thực ra chẳng có vai trò to lớn gì cả? Và theo lẽ thông thường, khi NHNN “điều chỉnh” tỷ giá (nhấn mạnh thêm là trước đó NHNN vẫn khẳng định “không phá giá”), việc này đương nhiên kích hoạt tâm lý sợ hãi của dân chúng rằng tỷ giá sẽ còn tăng lên nữa (vốn đã quá quen thuộc với dân chúng, như đã thường xảy ra trong quá khứ, chứ không phải là lần đầu). Từ tâm lý sợ hãi đến hành động mua gom, găm giữ (tức “đầu cơ”) là một khoảng cách rất gần, dẫn đến hậu quả như đã biết.

Thứ ba, lý giải cho hành động “điều chỉnh” tỷ giá của mình, NHNN chỉ giải thích một cách chung chung, mơ hồ rằng là để phản ánh đúng hơn quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Như vậy, bản thân lý do này cũng cho thấy quả thực quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường đã bị bóp méo (mất cân đối) ở một mức độ nào đó, gây sức ép lên tỷ giá. Nói cách khác, đây mới chính là nguyên nhân làm cho tỷ giá biến động mạnh, bắt đầu với việc “điều chỉnh” tỷ giá của NHNN và theo sau là tâm lý đầu cơ càng làm cho tỷ giá biến động mạnh hơn mức cần có.

Vậy điều gì dẫn đến quan hệ cung cầu ngoại tệ bị mất cân đối? Tin tức trên báo chí gần đây giúp ta trả lời được câu hỏi này. Luồn tin thứ nhất liên quan đến chuyện dư thừa tiền đồng, mà vì nó NHNN đã phải tung tín phiếu ra để hút về đến 21 nghìn tỷ đồng chỉ riêng trong 2 tuần đầu tháng 7, trong khi theo báo chí cho biết thì hành động hút tiền về đã bị sao nhãng trong tháng 6. Luồng tin thứ hai cho biết lãi suất tiền đồng liên ngân hàng ở mức thấp cho đến gần đây khi NHNN tung tín phiếu để giảm thanh khoản trong hệ thống. Lãi suất tiền đồng thấp đương nhiên sẽ làm tăng sức hấp dẫn của việc nắm giữ đô la. Luồng tin thứ ba liên quan đến tín dụng tiền đồng tăng trưởng mạnh trong tháng 6. Từ 3 luồng tin này, có thể tổng hợp để đưa ra một bức tranh cho thấy NHNN đã bơm mạnh tiền đồng vào hệ thống nói riêng và nền kinh tế nói chung trong suốt thời gian qua cho đến tháng 6, làm cho tiền đồng trở nên dư thừa so với đô la, từ đó tạo ra áp lực lên tỷ giá danh nghĩa. Trong khi đó, lạm phát ở Việt Nam tiếp tục tăng, càng làm cho tiền đồng tăng giá thực so với đô la, càng tác động tiêu cực đến xuất khẩu và cán cân thương mại, cũng tức là tăng áp lực lên tỷ giá danh nghĩa (chính là áp lực phá giá tiền đồng). Vì lý do này hay lý do khác mà NHNN đã chọn thời điểm tháng 6 để “điều chỉnh” tỷ giá (thực chất là phá giá), nhưng cần phải hiểu rằng hành động này không sớm thì muộn cũng sẽ phải xảy ra, chứ không thể nói khác đi được.

Điều liên quan còn lại cần nói trong bài này là tại sao NHNN đã chủ động “điều chỉnh” tỷ giá (có thể nói ở mức độ thăm dò, như một số người nhận định) mà NHNN rốt cuộc lại can thiệp kìm hãm đà tăng tỷ giá bằng cả biện pháp bán ngoại tệ cho hệ thống ngân hàng? Chẳng phải làm vậy chứng tỏ họ đang vừa lãng phí nguồn lực (tung dự trữ ngoại hối ra để chặn đà tăng tỷ giá), vừa lúng túng trong mục tiêu và biện pháp điều hành hay sao (cần phá giá nhưng phá giá nửa vời, không đủ liều lượng, thậm chí để tỷ giá quay trở lại gần vạch xuất phát)? Hay phải chăng họ sợ yếu tố tâm lý, như đã nói, làm mọi việc vượt quá tầm kiểm soát của họ?

Cuối cùng là vài lời về cách PR cho NHNN mỗi khi cần tuyên bố gì đó liên quan đến tỷ giá. Qua phân tích trên có thể thấy những tuyên bố với giải thích của NHNN là không chuẩn xác, máy móc, thậm chí là (vô tình hay hữu ý) sai lạc so với thực tế, là điều mà chính vì thế mới làm cho tâm lý của dân chúng càng tiêu cực với mỗi bước đi về chính sách của NHNN. Có lẽ NHNN cần thay đổi cách và nội dung PR của mình ở những lần sau mới mong đạt được hiệu quả như mong muốn.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).