Wednesday, 23 April 2014

Tăng vốn đường sắt Cát Linh-Hà Đông: Vào thế đã rồi!? (Bài đăng trên TBKTSG Online 24/4/2014)

http://www.thesaigontimes.vn/113990/Tang-von-duong-sat-Cat-Linh-Ha-Dong-Vao-the-da-roi!?.html

(TBKTSG Online) - Đọc giải trình của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) về những nguyên nhân đội vốn đường sắt Cát Linh – Hà Đông, người ta có cảm tưởng như Bộ này hoặc những người liên quan đến lập và thực thi dự án cố tình đặt ra một cái bẫy để bắt cả quốc gia Việt Nam làm con tin, bị dồn vào thế đã rồi, buộc phải chấp nhận tiếp tục “cuộc chơi” của họ đặt ra với vô số thiệt hại.

Về lý do thứ nhất mà Bộ này đưa ra, thay đổi phương án nhà ga từ 2 tầng thành 3 tầng với chi phí phát sinh thêm trên 84,2 triệu đô la Mỹ nữa. Thật không thể hiểu nổi những người lập và duyệt dự án nghĩ gì khi một điểm mấu chốt, thiết yếu nhất như vậy trong dự án lại có thể thay đổi một cách dễ dàng như thế. Dù họ có thể đưa ra lý giải này kia để biện hộ cho việc cần thiết phải thay đổi thiết kế, việc này đâu có khác gì làm lại một dự án khác?
Người ta có quyền nghi ngờ, đặt ra câu hỏi, phải chăng dự án ban đầu chỉ là làm để cho có, đơn giản nhất có thể với chi phí thấp hơn thực tế nhiều để dễ được thông qua?
 
Tương tự như vậy, nguyên nhân thứ 2 được Bộ GTVT xác định là việc bổ sung hạng mục xử lý nền đất yếu khu Depot, với chi phí cho việc xử lý nền đất yếu là 13,54 triệu đô la. Thật kỳ lạ, và cũng không thể hiểu nổi! Thiết tưởng khi lập dự án xây dựng, dù là dân sinh, người ta luôn phải khảo sát, tìm hiểu để biết nền đất mà mình định xây công trình có yếu hay không (chẳng hạn khi xây nhà ở, người chủ nhà phải tìm hiểu xem nền đất của mình trước đây có phải là ao đầm bị lấp đi hay không...). Nay thì dự án này mới “bổ sung hạng mục xử lý nền đất yếu khu Depot” có nghĩa là trước đó những người thiết kế và thực thi dự án “quên” không nghĩ ra việc phải khảo sát nền đất? Hoặc giả người ta có khảo sát, nhưng làm chiếu lệ nên không biết; hoặc đã biết nền đất yếu, sẽ phải xử lý nhưng cố tình lờ đi miễn là dự án được thông qua? Khả năng nào đi nữa thì cũng không thể tha thứ được cho những người liên đới này.
 
Rồi cũng chung một vấn đề như thế cho các nguyên nhân thứ 3, do dự án cần bổ sung hạng mục đường tránh Quốc lộ 6; nguyên nhân thứ 4, do điều chỉnh vật liệu vỏ tàu từ thép chịu khí hậu sang thép inox; và nguyên nhân thứ 5, là việc bổ sung chi phí đào tạo, chuyển giao công nghệ (theo dự án đầu tư ban đầu, chí phí đào tạo chưa bao gồm chi phí ăn ở, đi lại của học viên). Những nguyên nhân này chỉ cho thấy một sự (cố tình) “ngây thơ” không tài nào hiểu nổi của những người liên đới khi “quên” không tính đến những yếu tố, những chi phí này lúc lập dự toán, làm dự án bị “đội” chi phí mà người dân nộp thuế bị dồn vào thế không thể “thoát” được, buộc phải chi tiếp nếu không muốn bỏ dở dự án.
 
Một nguyên nhân nữa xuyên suốt trong giải trình của Bộ GTVT là yếu tố trượt giá và chi phí giải phóng mặt bằng bị đội lên. Chỉ riêng “trượt giá” trong việc điều chỉnh xây dựng nhà ga từ 2 tầng thành 3 tầng đã là 43,5 triệu đô la trên tổng số 133,3 triệu đô la chi phí cần có để xây nhà ga 3 tầng (tăng từ 49,1 triệu đô la dự trù cho xây nhà ga 2 tầng). Giá gì mà “trượt” ghê thế?

Với chi phí giải phóng mặt bằng bị đội lên, đành rằng việc giải phóng mặt bằng luôn là một vấn đề đau đầu ở Việt Nam, nhưng nếu đã biết thế thì sao lại cố tình dự trù một mức chi phí giải phóng mặt bằng thấp hơn nhiều mức dự tính hiện nay thế? Phải chăng những người lập dự án có phương châm xuyên suốt trong đầu khi lập dự án cơ sở là mọi chi phí phải được dự tính ở mức càng thấp càng tốt thì mới dễ được thông qua?
 
Tóm lại, ngoài sự choáng váng với những con số chi phí phát sinh “khủng” của dự án, ấn tượng chính còn đọng lại trong đầu những người có quan tâm đến dự án này khi đọc giải trình của Bộ GTVT là dường như Bộ GTVT đang nói đến 2 dự án khác biệt nhau hoàn toàn, dù đều là dự án xây dựng nhà ga đường sắt đô thị, tại cùng một địa điểm. Mọi chuyện nghe cứ như là một trò đùa trêu ngươi và lố bịch. Nếu Bộ GTVT khẳng định chúng là một, mà chỉ có chi phí bị “điều chỉnh lên” thì Bộ này trước tiên cũng rất nên và phải sa thải những người liên quan đến thiết kế và phê duyệt dự án vì sự yếu kém và “ngây thơ”, hoặc cố tình gian trá của họ. Còn Bộ GTVT thì cũng nên cải tổ lại (kèm sa thải, bãi nhiệm) để giảm thiểu chuyện luôn phải “điều chỉnh” khủng xảy ra ở các dự án đầu tư công tương tự.
 
 
Box: Dự án đường sắt đô thị Cát Linh-Hà Đông đã bị chậm tiến độ hơn 2 năm đồng thời bị đội vốn hơn 61% (339 triệu đô la Mỹ) so với tổng mức đầu tư ban đầu khiến Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải yêu cầu Bộ GTVT phải chỉ đạo kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của các tập thể cá nhân liên quan.
 
Dự án này có tổng mức đầu tư hơn 552 triệu USD, trong đó vốn ODA Trung Quốc là 419 triệu USD; thời gian triển khai ban đầu dự kiến từ tháng 8/2008 đến tháng 11/2013. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân, Bộ GTVT đã kiến nghị Thủ tướng điều chỉnh mức đầu tư từ 552 triệu USD lên tới 891 triệu USD và thời điểm hoàn thành dự kiến vào tháng 12/2015, chậm 2 năm so với kế hoạch ban đầu.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).