Saturday, 13 September 2014

Nỗi hoài nghi về GDP ở Việt Nam (viết lại)

Về chủ đề này, tớ đã post trong một entry ở đây
http://phan-minh-ngoc.blogspot.sg/2014/08/noi-hoai-nghi-ve-gdp-o-viet-nam-bai-ang.html
vì tớ tưởng Tuổi trẻ cuối tuần đăng vào ngày 23/8 như họ đã lên lịch. Nhưng rốt cuộc họ lại hoãn, và yêu cầu tớ viết thêm cho đủ dài từ 1.800 đến 2.000 từ. Thế là tớ đã viết lại như dưới đây, và bài được dự định đăng hôm qua, 13/9. Nhưng rồi họ thấy có mấy trang mạng sử dụng entry trên (tớ quên không gỡ xuống) nên quyết định không đăng nữa! Đại loại chuyện nó dài dòng như vậy, và tớ thấy cần thiết phải giải thích một chút không thì có ai đó tìm đọc Tuổi trẻ cuối tuân hôm 23/8 và không thấy bài của tớ thì lại nói tớ bốc phét.

---------------------------------
Trong năm nay nhiều lần Tổng cục Thống kê (TCTK) đã phải đăng đàn giải thích tính khả tín của chỉ số GDP mà họ tính toán và công bố hàng quý, hàng năm trước nghi vấn của dư luận về chỉ số này.

Mới đây nhất, TS Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng TCTK cũng một lần nữa phủ nhận nỗi hoài nghi về chỉ tiêu GDP khi cho rằng TCTK đã áp dụng các khái niệm, nguyên tắc, nguồn thông tin và phương pháp tính GDP theo đúng quy định trong hệ thống tài khoản quốc gia của thống kê Liên hợp quốc. Ông cũng cho biết thêm rằng trước đây những năm 90, hàng năm Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) đến Việt Nam kiểm tra nguồn thông tin và phương pháp tính chỉ tiêu GDP do TCTK thực hiện và các tổ chức này đều khẳng định phương pháp tính của thống kê Việt Nam theo đúng phương pháp của thống kê Liên hợp quốc. Hiện nay họ không đặt vấn đề kiểm tra đối với thống kê Việt Nam mà hoàn toàn tin tưởng, sử dụng số liệu GDP do TCTK tính toán và công bố.

Khách quan mà nói, lý giải như trên vẫn sẽ là chưa đủ để thuyết phục dư luận. Việc có phương pháp và quy trình đúng, và “làm đúng quy trình” cũng không luôn đảm bảo cho kết quả đúng, như kỳ vọng! Có lẽ dư luận hoài nghi về tính chính xác trong tính toán GDP của TCTK không phải xuất phát chủ yếu từ sự hoài nghi vào phương pháp và quy trình tính toán mà TCTK đang sử dụng hiện nay. Họ hoài nghi về khả năng đã có sự sai lệch hay “bẻ cong” số liệu vì một số lý do khách quan hoặc chủ quan nào đó.

Minh họa dễ thấy nhất về chất lượng tính toán GDP là ở con số GDP do các tỉnh tự tính toán, mà TCKT gọi là tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP). Rất thường xuyên là nếu cộng dồn GRDP của tất cả các địa phương trong cả nước thì con số GDP gộp này sẽ lớn hơn nhiều con số GDP cả nước do TCTK công bố, vì nhìn chung tỉnh nào cũng báo cáo một con số GRDP cao hơn con số GDP chung cho cả nước tới một vài điểm phần trăm. Ví dụ, đầu tháng 12/2013, Hà Nội đã báo cáo tốc độ tăng trưởng GDP của thành phố đạt trung bình 8,25% trong năm 2013. Thành phố Hồ Chí Minh còn tự hào hơn khi báo cáo tốc độ tăng trưởng GDP trên địa bàn thành phố lên tới 9,3% năm 2013. Tương tự, cứ điểm qua tất cả các tỉnh thành trong cả nước thì có lẽ không có tỉnh/thành nào đạt tốc độ tăng trưởng GDP trên địa bàn thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước chỉ là 5,42% trong năm 2013 cả!

TCTK đã phải thừa nhận tình trạng này, và quy cho rằng do bệnh thành tích của các địa phương, hoặc do khó khăn khi áp dụng nguyên tắc “đơn vị cơ sở thường trú” (tức là nguyên tắc theo đó mỗi địa phương chỉ được thống kê giá trị thặng dư được tạo ra bởi các đơn vị kinh tế đóng tại địa phương đó), hoặc do vấn đề về số liệu ở cấp doanh nghiệp. Điều đáng nói là ông Lâm cũng khẳng định rằng các địa phương đã áp dụng thống nhất cách tính chỉ tiêu GRDP theo hướng dẫn của TCTK. Nhưng thực tế trên đã cho thấy dù phương pháp và quy trình có đúng mấy thì vẫn kết quả vẫn có thể sai như thường! Thêm nữa, con số tăng trưởng GDP địa phương này do chính Cục thống kê các tỉnh thành trực tiếp đảm trách, chứ không phải là một cơ quan không chuyên nào tập hợp, tính toán và công bố để mà còn có thể đổ lỗi rằng họ không có chuyên môn.

Ngay cả lý do khó khăn khi áp dụng nguyên tắc “đơn vị cơ sở thường trú” mà TCTK viện dẫn ra như nói ở trên, thì chính TCTK lại tự phủ nhận nó, khi cho biết và khẳng định là “đã biên soạn tài liệu hướng dẫn và triển khai tập huấn để áp dụng thống nhất cho tất cả các Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong thu thập thông tin, biên soạn chỉ tiêu tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP). Vì vậy không thể nói các địa phương tính GRDP mỗi nơi một kiểu”!

Bởi những lý do không thuyết phục nói trên nên có thể suy ngược ra, ngay bản thân con số GDP cả nước do TCTK công bố cũng vẫn có khả năng không chính xác, không bởi vì phương pháp và quy trình sai, mà có thể bởi chất lượng công tác thu thập và xử lý dữ liệu ngay từ địa phương. Ông Lâm cho biết rằng hiện nay, TCTK trực tiếp tính chỉ tiêu GDP của toàn bộ nền kinh tế chứ không dựa trên cơ sở cộng đơn thuần số liệu GRDP của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Như vậy điều này cũng có nghĩa là trước đây TCTK rất có thể đã tính GDP cả nước dựa trên GRDP vốn là cái đã bị bóp méo (hoặc ít ra thì cũng dựa vào số liệu thu thập bởi các cơ quan thống kê địa phương). Bởi thế, suy diễn về khả năng không chính xác của GDP do TCTK tính toán không phải là không có cơ sở.

Một lý do nữa càng làm tăng tính hoài nghi vào chất lượng tính toán GDP của TCTK đến từ việc TCTK hồi năm ngoái điều chỉnh tăng quy mô giá trị tăng thêm của hoạt động ngân hàng và dịch vụ nhà ở tự có của dân cư. Câu hỏi đặt ra là nếu đúng như TCTK nói, rằng đã áp dụng thống nhất khái niệm, nội dung, phương pháp tính của Liên hợp quốc để biên soạn số liệu GDP, thì tại sao TCTK lại phải “điều chỉnh” như vậy?

TCTK lúc đó có lý giải rằng trong quá trình điều tra thu thập thông tin, xử lý, biên soạn và phân tích số liệu GDP từ phương pháp sản xuất và phương pháp sử dụng, họ nhận thấy hoạt động ngân hàng và dịch vụ nhà tự có tự ở của dân cư chưa được phản ánh đầy đủ trong GDP. Điều này có nghĩa là mặc dù đã có quy trình và “làm đúng quy trình” nhưng từ trước đến năm 2012 hóa ra TCTK vẫn tính sai GDP (vì trước đó họ đã chưa “nhận thấy” và, do đó, “chưa phản ánh đầy đủ” các hoạt động này trong GDP)!

Có một khía cạnh khác về tính bất thường của con số GDP ở Việt Nam mà không mấy người để ý. Đó là chuyện Cục thống kê các tỉnh, thành và TCTK thường công bố GDP trên địa bàn tỉnh, thành và cả nước vào tháng cuối của hàng quý, hàng năm. Nếu cứ chiểu theo lời khẳng định chắc nịch của TCTK về chuyện họ làm đúng quy trình và quy định thống kê của Liên hợp quốc, nói nôm na tức là theo chuẩn mực quốc tế, trong công tác thống kê GDP ở Việt Nam, thì TCTK sẽ lý giải ra sao khi mà thông thường, theo thông lệ quốc tế, phải sau đúng 1 quý thì các nước mới công bố tăng trưởng GDP của quý trước đó (chẳng hạn, tăng trưởng GDP trong quý 1, từ tháng 1 đến tháng 3, sẽ được công bố vào khoảng tháng 6 hàng năm)? Có lẽ chỉ có Việt Nam là “độc đáo” khi công bố tăng trưởng GDP của mỗi quý ngay vào tháng cuối của quý đó (còn GDP của cả năm thì công bố ngay vào tháng 12 của năm đó). Đã thế, các con số chỉnh sửa sau này, nếu có, hầu như không chênh lệch là bao so với con số đã công bố trước đó. Tự bản thân điều này đã cho thấy hoặc TCTK quá giỏi (so với tiêu chuẩn quốc tế) vì luôn nắm rõ từng ngõ ngách, từng đơn vị kinh tế trong cả nền kinh tế như biết rõ có bao tiền trong ví của mình, hoặc công tác thống kê ở Việt Nam chỉ là “đại khái”, thậm chí có thể chỉ dựa trên điều tra chọn mẫu, tức lựa chọn ra một số đối tượng nào đó rồi theo dõi trong một thời gian và ngoại suy ra cho cả nền kinh tế. Khả năng nào đúng hơn thì có lẽ ai cũng có thể nhìn ra được.

Và cuối cùng, một lần nữa TCTK gián tiếp thừa nhận vấn đề chất lượng tính toán GDP của mình khi trả lời câu hỏi làm gì để nâng cao chất lượng các chỉ tiêu thống kê. TCTK cho biết sẽ nâng cao chất lượng thu thập, xử lý, tổng hợp số liệu thống kê; “đề nghị” các đơn vị sản xuất kinh doanh, các đơn vị hành chính sự nghiệp và hộ dân cư cung cấp thông tin đúng thực trạng sản xuất kinh doanh, đảm bảo thời gian; kêu gọi các bộ ngành cần quan tâm hơn nữa đến chia sẻ thông tin cho TCTK; tiếp tục hoàn thiện bộ tổ chức bộ máy thống kê từ Trung ương xuống địa phương; nâng cao năng lực chuyên môn, tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ công chức làm công tác thống kê; và đặc biệt, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để nâng cao chất lượng trong từng công đoạn của hoạt động thống kê v.v...

Với một loạt đầu công việc cần phải làm được liệt kê ra như trên thì có thể suy ra hiện đang có rất nhiều vấn đề trong công tác thống kê nói chung và tính toán GDP nói riêng! Và nói cách gì đi chăng nữa có lẽ cũng sẽ không hiệu quả bằng lời nhận xét thẳng thắn và không thể rõ ràng hơn của người trong cuộc, mà cụ thể ở đây là của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, rằng cách tính tổng sản phẩm quốc nội GDP của Việt Nam không giống bất kỳ quốc gia nào trên thế  giới. Bởi vậy, Thủ tướng chỉ thị TCKT phải sửa đổi cách tính GDP cho phù hợp với thông lệ chung của quốc tế.

Tóm lại, với một bộ máy khổng lồ lan từ trung ương xuống tất cả các tỉnh thành và đã được nhà nước đầu tư không ít tiền của để hoàn thiện và nâng cấp công tác thống kê trong nhiều năm qua, nhưng có thể nói rằng sản phẩm của TCTK chưa đáp ứng được kỳ vọng của đất nước. Vì thế, thay vì đi tìm một cái cớ khách quan nào đó để đổ lỗi cho sự yếu kém của mình hoặc, tệ hơn, cho rằng mình vẫn đúng, điều TCTK cần làm ngay là thẳng thắn nhìn nhận những điểm yếu và sự chưa làm tròn trách nhiệm của mình trong công tác thống kê để thực hiện cho được nhiệm vụ mà Thủ tướng đã thẳng thắn chỉ ra.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).