Thursday, 18 September 2014

Nói một chút về bài về năng suất lao động thấp của VN trên TBKTSG

Bài này trên TBKTSG xuất hiện hôm nay. Đọc bài, các đồng chí trước tiên thấy có một số điểm thống nhất như trong bài về năng suất lao động của tớ mấy tháng trước mà nhiều đồng chí phang tới tấp.

Cụ thể, năng suất lao động (NSLD) được đo bằng GDP/tổng số (giờ) lao động nên đồng chí tác giả cũng tính/chỉ ra được tại sao NSLD của VN lại thảm hại đến thế.

Đồng chí tác giả dựa vào mô hình Slow để lập luận NSLD thấp là do:

(1) mật độ vốn thấp, mà theo tác giả là do nước đang phát triển. Bởi vậy, tớ cũng có thể suy ra NSLD thấp là vì nghèo, không có tiền mua máy móc, thiết bị. Đây cũng là lý luận của tớ.

(2) TFP thấp, mà theo tác giả là do (i) mức độ công nghệ và (ii) các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của nền kinh tế (luật pháp, thể chế kinh tế, khả năng phối thuộc, môi trường kinh doanh, ổn định vĩ mô, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đô thị hóa. Bởi vậy, lại có thể suy ra (i) là do nghèo. Còn (ii) thì chính là những cái tớ nói đến khi đề cập đến các giải pháp tăng GDP growth.

Để nâng cao NSLD, tác giả đề xuất:
(1) Doanh nghiệp quyết liệt nâng cấp công nghệ. Tớ hỏi ngược lại là nâng kiểu gì, tiền đâu ra? Nói thế thì ai cũng biết, nhưng vấn đề là nghèo thì lấy đâu ra tiền để nâng cấp công nghệ? Và tớ lại suy ra tiếp rằng NSLD thấp là vì nghèo, nghèo lại làm/trói NSLD thấp.
(2) Cải thiện hệ thống quản lý và dây chuyền sản xuất để hoạt động ngày một hiệu quả hơn; chú trọng nâng cao tay nghề cho người lao động; dịch chuyển sang ngành nghề mang lại giá trị gia tăng cao hơn. Trong khi đó, Nhà nước đóng vai trò then chốt trong nhiều vấn đề cơ bản: kinh tế vĩ mô ổn định, pháp luật có hiệu quả, môi trường kinh doanh thông thoáng, cạnh tranh, chính sách giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ hiệu quả...

Tớ bình luận rằng đây cũng chính là những biện pháp để nâng GDP growth mà tớ đã nói trong bài, chẳng có gì mới mẻ. Và tệ hơn, như tớ đã trả lời các đồng chí phang tớ, rằng nghèo và ngu (ít cái đầu nghĩ ra đươc, nhiều cái đầu phá), cộng với số phận đen đủi (trót theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chẳng hạn) thì lấy đâu tiền mà cải thiện hệ thống quản lý, mà dịch chuyển sang ngành nghề mang lại giá trị thặng dư cao, mà đảm bảo pháp luật hiệu quả và kinh doanh thông thoáng (làm sao được khi mà nhà nước ví dụ, muốn kiểm soát tất cả vì "theo định hướng"...), mà nâng cao giáo dục đào tạo và công nghệ được cơ chứ (muốn làm cái này thì phải có tiền)?

Tóm lại, bài này có mấy cái được, thứ nhất là nêu nguồn gốc NSLD thấp là do đo bằng GDP/người hoặc GDP/giờ lao động, thứ hai là gián tiếp cho biết vì thiếu tiền, giống như tớ nói. Nhưng bài này lại yếu ở cái chỗ là lặp lại luận điệu của các đồng chí khác khi chỉ nhìn vào bề nổi của sự việc, chẳng hạn NSLD thấp thì phải nâng cao đào tạo, giáo dục, cải thiện công nghệ, cải thiện môi trường vĩ mô v.v... mà không nhận thức được rằng đây là những điều ai cũng biết, ai cũng nói được (chính là những biện pháp tăng GDP growth mà tớ đã chỉ nói qua, do không muốn lặp lại như con vẹt), vì chỉ là trên bề mặt, nhưng quan trọng là để làm được thì lại không dễ (đã "đổi mới" 30 năm rồi) vì rốt cuộc, như tớ nói gọn, tại mấy chữ NGHÈO, NGU, SỐ PHẬN ĐEN ĐỦI. 

Và nhân tiện có bài này nên tớ phải một lần nữa khuyến cáo các đồng chí vẫn ấm ức, vẫn còn muốn phang tớ, nhất là về chuyện NSLD thì phải nghĩ lại 2 lần trước khi phang nhé!

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).