Tuesday, 13 September 2016

Không có lý do gì để dùng ngân sách nhà nước xử lý nợ xấu! (Bài đăng trên CafeF, 13/9/2016, bản gốc)


http://cafef.vn/khong-co-ly-do-gi-de-dung-ngan-sach-nha-nuoc-xu-ly-no-xau-20160913110058088.chn

Theo dự thảo kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) đã đề suất dùng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Bộ Tài chính được giao soạn thảo đề án nghiên cứu khả năng bố trí nguồn lực ngân sách nhà nước để xử lý một phần nợ xấu, dự kiến trình Quốc hội thông qua.


Lý do biện minh cho dùng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu


Qua thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, có thể tóm gọn lý do được các cơ quan chức năng cũng như một số chuyên gia đưa ra để biện minh cho việc dùng ngân sách nhà nước xử lý nợ xấu là bởi nợ xấu tuy đã giảm nhưng vẫn còn đáng kể, tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với an toàn, hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng.


Trong khi đó, việc xử lý nợ xấu đã mua của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) còn chậm chủ yếu do cơ chế, chính sách về xử lý tài sản bảo đảm còn bất cập, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xử lý nợ xấu. Do đó, để cắt giảm nhanh chóng tỉ lệ nợ xấu vào năm 2020 một cách bền vững, tiến đến xóa hoàn toàn nợ xấu khỏi bảng cân đối kế toán của các ngân hàng thương mại (NHTM), đặc biệt các ngân hàng được kiểm soát đặc biệt, thì cần phải có quyết tâm chính trị trong vấn đề xử lý nợ xấu, mà ở đây chính là dùng ngân sách nhà nước.


Vì hệ thống NHTM trong 4 năm vừa qua đã phải hy sinh rất nhiều, khi phải tự xử lý 55% nợ xấu, còn 45% bán cho VAMC, vì thế mà lợi nhuận giảm mạnh (và đến nay, 55% nợ xấu ở ngân hàng cũng đã được cơ bản xử lý), (nên ý nói) bây giờ là lúc cần phải có sự tham gia gánh vác của nhà nước bằng cách dùng ngân sách xử lý nợ xấu.


Con số ngân sách cụ thể sẽ tùy vào khả năng cần đối ngân sách của chính phủ, nhưng sẽ rơi vào khoảng 5.000 đến 10.000 tỷ đồng. Số tiền này gấp 3 đến 5 lần số tiền 2.000 tỷ trước đây ngân sách đã từng bỏ ra để đầu tư cho VAMC mua nợ xấu. Tuy vậy, số tiền này sẽ chỉ là vốn mồi để VAMC mua nợ xấu với giá thị trường, sau đó quay vòng vốn. Nghĩa là khi đã bán được nợ xấu ra thị trường thì lại dùng tiền đó để mua nợ xấu vào. Cùng với đó, có thể phát hành thêm trái phiếu nợ xấu để bán ra thị trường. Tuy nhiên, trái phiếu này không giống trái phiếu đặc biệt của VAMC hiện nay, mà nó sẽ được chính phủ bảo lãnh để tăng tính thanh khoản.


Nhưng lý do trên là không thỏa đáng


1. Bởi việc xử lý nợ xấu sau khi mua về của VAMC nếu vẫn còn chậm thì phải khắc phục, đẩy nhanh nó lên. Nếu những bế tắc về cơ chế, chính sách hoạt động của VAMC vẫn không được khắc phục thì dù có dùng đến ngân sách nhà nước để rót cho VAMC mua nợ xấu, về nguyên tắc, nợ xấu lại càng thêm “chất đống” ở VAMC mà không thể giải phóng được, do đầu ra vẫn bị tắc nghẽn như cũ.


2. Bởi việc xử lý nợ xấu tại các NHTM vẫn còn chậm chạp là do NHNN cho phép các NHTM tái cơ cấu, “ém” nợ xấu, với mục đích là “mua thời gian”, hy vọng một ngày nào đó, bằng phép mầu nào đó, thị trường các tài sản thế chấp sẽ sáng sủa, hoặc con nợ sẽ sống lại, mạnh khỏe, tự nguyện trả nợ v.v… Nhưng điều này là viển vông vì nhiều con nợ đã thực sự hoặc trên danh nghĩa chết lâm sàng như Vinashin. Nhiều khoản nợ xấu là hậu quả của những hành động gian lận, vụ lợi của nhân viên đến sếp cao nhất của nhiều NHTM nên chúng mãi mãi là nợ cực xấu, chỉ tồn tại trên sổ sách chứ không có khả năng phục hồi giá trị, dù chỉ là một phần nhỏ. Nếu các NHTM bị buộc phải ghi nhận đúng bản chất các khoản nợ xấu này và trích lập dự phòng đầy đủ cho chúng thì tốc độ xử lý nợ xấu sẽ tăng đột biến, và tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống NHTM cũng sẽ giảm đột biến mà chẳng cần phải dùng đến ngân sách nhà nước.


3. Bởi hiện tại, theo công bố của NHNN thì tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống NHTM chỉ ở dưới mức 3%. Tỷ lệ này nếu đúng là vậy thì chẳng có lý do gì mà phải lo ngại cho sức khỏe và tính ổn định, an toàn của hệ thống ngân hàng. Kể cả tính kèm vào đó nợ xấu nằm tại VAMC thì từ mấy năm nay, các NHTM vẫn trích lập dự phòng đầy đủ theo quy định nên cũng không thể cho rằng tình hình sẽ đột nhiên xấu đi, thoát khỏi tầm kiểm soát, nếu VAMC hay các bản thân các NHTM không xử lý thêm được nợ xấu. Nếu vẫn cứ lo lắng với quan ngại thì có nghĩa là tỷ lệ nợ xấu thực sự phải cao hơn con số này rất nhiều. Mà như vậy thì việc cần làm trước tiên là phải thanh tra và công bố một tỷ lệ nợ xấu thực sự từ đó mới có thể đưa ra “đơn thuốc” điều trị được. Nếu còn che giấu, làm đẹp nợ xấu thì mọi giải pháp chữa chạy đều vô ích.


4. Bởi nợ xấu phát sinh trong hệ thống NHTM chủ yếu là do lỗi của bản thân NHTM và xuất phát từ việc bảo lãnh, hay chỉ đạo của chính quyền và các cơ quan chức năng trung ương và địa phương với các doanh nghiệp nhà nước. Người nộp thuế chẳng có tội tình gì ở đây mà phải chịu nhìn đồng tiền thuế của mình được tiêu vào những hố đen do người khác tạo ra.


Nên xử lý nợ xấu trước tiên phải là từ phía NHTM, dùng toàn bộ lợi nhuận của NHTM (kèm thêm vốn cổ đông, nếu cần). Chừng nào NHTM vẫn còn báo lãi, dù ít hơn trước, hoặc các cổ đông chưa bị trừng phạt vì đã (trực tiếp, gián tiếp) để nợ xấu phát sinh thì chẳng có lý do gì nhà nước phải bỏ tiền ra xử lý nợ xấu thay cho họ.


Chính quyền trung ương và địa phương nếu đứng đằng sau những khoản vay của các doanh nghiệp nhà nước mất khả năng chi trả thì cũng phải chịu trách nhiệm thu xếp thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình một cách sòng phẳng. Rốt cuộc thì tiền vẫn có thể chảy ra từ ngân sách, nhưng khoản nào ra khoản đó, và phải có ai đó chịu trách nhiệm, chứ không thể nhập nhằng nhân danh xử lý dứt điểm giải quyết nợ xấu để rồi tiêu tốn ngân sách vào việc vô nghĩa là mua nợ xấu thông qua VAMC mà chẳng biết tương lai của những khoản nợ này sẽ ra sao.  


5. Bởi việc xử lý nợ xấu dùng ngân sách nhà nước đã được thử nghiệm với con số 2.000 tỷ đồng rót cho VAMC (cùng với những lời bàn vào hết sức thuyết phục về sự cần thiết và tính hiệu quả của 2.000 tỷ đồng này). Nhưng kết quả ra sao thì nay đã rõ. Nên nếu dù có tăng lên thêm 5.000-10.000 tỷ đồng thì về bản chất nó cũng chẳng khác con số 2.000 tỷ trước kia là mấy, đặc biệt khi so với con số nợ xấu tuyệt đối vài trăm nghìn tỷ đồng “tồn kho” tại VAMC. Còn kết quả mang lại (của việc bơm thêm 5.000-10.000 tỷ đồn) cũng sẽ hầu như là vậy.


Hơn nữa, như đã nói ở trên, vấn đề xử lý nợ xấu không hiệu quả tại Việt Nam là do có một VAMC có cơ chế xử lý nợ xấu theo kiểu “chẳng giống ai” trong một môi trường không tương thích, và tại các ngân hàng không có động cơ quyết liệt xử lý nợ xấu, chứ không phải là VAMC không có “tiền tươi thóc thật” để mua nợ xấu (theo giá thị trường). Nếu đề xuất dùng ngân sách như hiện nay được chấp nhận thì có thể nhìn ra một viễn cảnh sau độ một năm nữa, sẽ lại có tiếng nói yêu cầu ngân sách rót ra 100.000-150.000 tỷ đồng làm “vốn mồi” vì VAMC vẫn xử lý nợ xấu chậm!


Cuối cùng, lưu ý thêm, những phân tích ở trên không chỉ vạch ra sự vô lý, vô nghĩa của đề xuất dùng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu mà còn đồng thời vạch ra đường hướng để xử lý nợ xấu một cách hữu hiệu hơn ở Việt Nam.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).