Friday, 23 September 2016

Yếu tố chính chi phối biến động tỷ giá trong thời gian tới (Bài đăng trên CafeF, 23/9/2016)

http://cafef.vn/yeu-to-chinh-chi-phoi-bien-dong-ty-gia-trong-thoi-gian-toi-la-gi-20160923084603325.chn


Yếu tố chính chi phối biến động tỷ giá trong thời gian tới

Mấy ngày gần đây tỷ giá tiền đồng có xu hướng tăng (tiền đồng giảm giá), tuy nhiên ở mức độ không đáng kể như trong những đợt biến động tỷ giá trước đây. Bình luận về sự ổn định tương đối của tỷ giá trong suốt thời gian dài từ đầu năm đến nay, nhiều người cho rằng sự ổn định tương đối này là kết quả của nhiều yếu tố tích cực như: (i) Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mở rộng phát hành tín phiếu ngắn hạn để hút bớt tiền đồng được tung ra mua USD bổ sung vào quỹ dự trữ ngoại hối (theo báo chí thì NHNN đã mua 10-12 tỷ USD), (ii) thặng dư thương mại, (iii) FDI tăng khá, và (iv) kiều hối tăng mạnh v.v...


Nhưng có một yếu tố rất quan trọng mà nhiều người đã bỏ qua khi phân tích các yếu tố có tác động lên chiều hướng của tỷ giá trong thời gian qua và sắp tới. Đó là chuyện Fed tăng lãi suất.


Nhìn lại diễn biến của USD trong tương quan với một rổ ngoại tệ (gọi là chỉ số dollar, hay dollar index) như dưới đây ta sẽ rõ hơn lý do tại sao tiền đồng lại chịu áp lực mất giá mạnh suốt giữa năm 2014 cho đến cuối năm 2015.



Về khái niệm, dollar index là một chỉ số phản ánh giá trị tương đối của USD so với một rổ ngoại tệ là các đồng bản tệ của các nước đối tác thương mại của Mỹ. Rổ ngoại tệ này gồm euro, yen, bảng Anh, dollar Canada, krona Thụy Điển, và franc Thụy Sĩ. Nếu chỉ số này đi lên có nghĩa là USD có giá hơn (tăng giá) so với các ngoại tệ này.


Trở lại với đồ thị về chỉ số dollar giao ngay ở trên, ta thấy USD bắt đầu “ngóc đầu” tăng giá mạnh một mạch kể từ tháng 7 năm 2014, đạt đỉnh điểm trong suốt 11 năm trước đó vào tháng 3 năm 2015, được hậu thuẫn chủ yếu bởi nền kinh tế Mỹ đã tăng trưởng khả quan hơn phần lớn các nước và khu vực kinh tế chủ chốt khác, cũng như lãi suất ở Mỹ cũng cao hơn tương đối so với ở các nước phát triển khác.   


Sau đó, USD lại có bước nhảy vọt về giá trị so với các ngoại tệ khác trong quý 4 năm 2015 khi Fed rục rịch chuẩn bị tăng lãi suất ở Mỹ và cuối cùng là quyết định tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm vào giữa tháng 12/2015 sau gần 1 thập kỷ không tăng lãi suất.


Không hề ngẫu nhiên, trong cùng thời gian biến động mạnh về giá trị của USD so với các ngoại tệ chủ chốt trên thế giới, tiền đồng cũng chao đảo mạnh theo hướng mất giá so với USD, như được thể hiện trong biểu đồ tỷ giá VND/USD dưới đây.


 

 Theo đồ thị trên, VND cũng mất giá mạnh và liên tục so với USD bắt đầu kể từ gần giữa năm 2014 trước khi tìm được điểm tạm ngừng rơi vào đầu năm 2016. Sau đó, tiền đồng đạt được sự ổn định tương đối so với USD cho đến hiện nay. Nhưng điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi đối chiếu với đồ thị về chỉ số dollar ở trên, theo đó USD cũng có xu hướng suy yếu dần so với các ngoại tệ khác kể từ sau khi đạt đỉnh vào tháng 12/2015 và chạm đáy vào tháng 5 năm nay. Và tuy USD có “gượng dậy” đôi phần kể từ sau tháng 5 cho đến hiện tại thì nó vẫn đứng ở mức thấp so với trước đây.


Như thế, có thể nói rằng một trong những yếu tố quan trọng nhất giúp cho tỷ giá VND/USD tương đối ổn định từ đầu năm đến nay là sự “hụt hơi” của USD so với các ngoại tệ chủ chốt, từ đó làm giảm áp lực phá giá, mất giá của tiền đồng.


Về mối liên hệ giữa việc suy yếu của USD so với các ngoại tệ khác và sự ổn định tương đối của tỷ giá, có thể giải thích như sau. Do VND có xu hướng được neo vào USD (biến động trong phạm vi hẹp, kể cả sau khi NHNN áp dụng cơ chế tỷ giá trung tâm), nên khi USD mất giá so với các ngoại tệ khác thì VND cũng bị suy yếu tương ứng. Do VND suy yếu so với các ngoại tệ khác nên không bị áp lực phải phá giá VND để thúc đẩy xuất khẩu và bảo vệ thị trường trong nước trước hàng nhập khẩu, trái ngược với bối cảnh khi USD lên giá và VND cũng lên giá “ăn theo” so với các đồng bản tệ khác, làm suy yếu tính cạnh tranh của hàng hóa của Việt Nam.  


Từ phân tích trên, điều rút ra là diễn biến của tỷ giá VND/USD từ nay đến hết năm và sang năm sau nữa là như thế nào thì sẽ phụ thuộc nhiều vào động thái với lãi suất ở Mỹ của Fed. Nếu Fed quyết định tăng lãi suất ngay trong tháng này, quý này thì chắc chắn tỷ giá VND sẽ không còn được ổn định như hiện giờ, bất chấp những yếu tố tích cực mà nhiều người đã liệt kê như ở phần đầu bài đã nêu. Có chăng, những yếu tố tích cực đó chỉ giúp làm giảm phần nào cơn sốc lên tỷ giá VND/USD từ việc Fed quyết định tăng lãi suất ở Mỹ mà thôi!

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).