Tỷ giá tiền đồng/USD
đã biến động mạnh theo chiều hướng tăng cả ở trong hệ thống ngân hàng lẫn trên
thị trường tự do trong mấy tuần qua. Nhìn nhận chiều hướng tăng này, nhiều người
bày tỏ lo ngại ảnh hưởng tiêu cực của tỷ giá tăng lên thương mại, lạm phát và đầu
tư nước ngoài, đồng thời khuyến nghị Ngân hàng Nhà nước (NHNN) can thiệp để ổn
định tỷ giá.
Đáp lại, NHNN đã
lên tiếng trấn an dư luận, lập luận rằng sự tăng tỷ giá có yếu tố tâm lý trong
khi cung cầu không có biến động mạnh và hệ thống ngân hàng thương mại vẫn đáp ứng
đầy đủ nhu cầu chính đáng về ngoại tệ, còn NHNN thì có đủ công cụ để bình ổn tỷ
giá, gồm bán ngoại tệ để can thiệp. Hiện thực hóa tuyên bố này, hồi đầu tháng Sở
Giao dịch NHNN đã niêm yết giá bán ra 23.050 đồng/USD. Thị trường lập tức đã lắng
dịu, nhưng sự lắng dịu này chỉ kéo dài được một vài ngày, để rồi tỷ giá lại
khôi phục đà tăng trong những ngày gần đây và phá vỡ mốc mua, bán 23.000 đồng/USD.
Nhìn nhận tình
hình hiện tại và kết hợp với những gì rút ra được trong quá khứ diễn biến của tỷ
giá, điều có thể nói được trước tiên là tỷ giá đang diễn biến hết sức... bình
thường!
Sự bình thường
này đến một phần từ việc NHNN cho đến nay luôn chỉ tuyên bố sẽ ổn định tỷ giá
trong biên độ cho phép, chứ họ không nói là sẽ ổn định tỷ giá ở một mức cụ thể
nào đó. Nên sự tăng lên hay giảm đi (nếu có) của tỷ giá trong thời gian qua và
cả sắp tới là một điều tự nhiên (bình thường), tất nhiên là không được vượt quá
biên độ +/-3% xoay quanh tỷ giá trung tâm.
Sự thả lỏng cương
của NHNN với tỷ giá còn thể hiện ở việc họ đã thực sự có tăng, có giảm tỷ giá
trung tâm hàng ngày, mà theo định nghĩa của NHNN thì đã bao gồm cả các yếu tố
thị trường, chứ không hoàn toàn mang tính chủ quan, duy ý chí như đã xảy ra với
tỷ giá liên ngân hàng do NHNN công bố trước đây.
Bởi vậy, trên
giác độ NHNN đã tăng khá liên tục tỷ giá trong mấy tuần qua thì lẽ ra dư luận cần
hiểu rằng NHNN đang muốn, đang chấp nhận một đồng bản tệ yếu đi so với USD, để
không còn phải cứ tiếp tục “băn khoăn” mãi với những tiêu cực theo lý thuyết đến
từ việc giảm giá tiền đồng.
Sự bình thường
trong diễn biến của tỷ giá mấy tuần qua còn đến từ những yếu tố khách quan và
chủ quan khác. Nếu đặt mình vào vị trí của NHNN, người ta sẽ thấy có rất ít yếu
tố ủng hộ việc NHNN bán USD để can thiệp, ổn định tỷ giá như trước đây.
Về nguồn lực can
thiệp, đành rằng dự trữ ngoại hối đã tăng kỷ lục lên trên 63 tỷ USD, nhưng mức
này không thể coi là lớn nếu quy theo số tháng nhập khẩu, vốn cũng không “nhiều
nhặn” gì so với vài ba năm trước đây (vẫn chỉ loanh quanh 3 tháng nhập khẩu –
là mức tối thiểu theo khuyến nghị của thế giới).
Về khả năng can
thiệp thành công, quá khứ can thiệp vào tỷ giá của NHNN cho thấy kết quả là hầu
như chưa bao giờ NHNN chiến thắng được thị trường, bất chấp những trấn an, cam
kết mạnh mẽ và cả hành động cụ thể. Sự ổn định tỷ giá, nếu có, chỉ được tính
theo tuần. Đổi lại kết quả khá thất vọng này là sự sụt giảm sâu của dự trữ ngoại
hối dưới mức an toàn tối thiểu trong nhiều
thời kỳ.
Về điều kiện thị
trường, sự nới lỏng chính sách tiền tệ thể hiện qua dư thừa thanh khoản và sự
đi xuống của lãi suất liên ngân hàng tiền đồng trong thời gian qua là một trong
những yếu tố quyết định sự suy yếu của tiền đồng so với USD. Có thể đây là một
chủ ý của NHNN khi vừa muốn tạo điều kiện cho lãi suất cho vay ở Việt Nam giảm
đi, vừa muốn một đồng bản tệ yếu hơn để hỗ trợ xuất khẩu. Nếu đúng là vậy thì
chủ ý này không có gì sai trái, thậm chí còn là một lựa chọn chính sách tối ưu.
Từ bên ngoài, điều
kiện cũng tỏ ra bất lợi cho NHNN nếu muốn ổn định tỷ giá. Chiến tranh thương mại
Mỹ - Trung (và chiến tranh tiền tệ đang manh nha hình thành với sự suy yếu của
đồng yuan), và sự mạnh lên của kinh tế Mỹ kéo theo sự mạnh lên của USD làm cho
nhiều nước muốn và/hoặc buộc phải thi hành một chính sách đồng tiền yếu, lấy đó
làm hậu thuẫn duy trì cho xuất khẩu của mình, đồng thời giúp sức bảo vệ thị trường
trong nước trong bối cảnh có rất ít công cụ và giải pháp có thể có để đối phó với
những diễn biến bất lợi từ bên trong và bên ngoài như hiện nay. Việc “quyết liệt”
ổn định tỷ giá trong bối cảnh như vậy chắc chắn sẽ chỉ thu được mỗi cái danh hiệu
là “đồng tiền ổn định nhất” hoặc tương tự, trong khi những cái hại (trực tiếp
và gián tiếp) thì nhiều và lớn, một phần như đã được phân tích ở trên.
Đến đây, điều
“băn khoăn” từ nhiều người sẽ là nếu NHNN muốn/bắt buộc phải theo đuổi chính
sách tiền đồng yếu hơn, đâu sẽ là điểm dừng? Nói cách khác, tiền đồng cần/nên yếu
đi bao nhiêu thì được coi là đủ?
Câu trả lời phụ
thuộc phần lớn vào diễn biến của tỷ giá trung tâm. Nếu NHNN không lạm dụng yếu
tố chủ quan trong cơ chế xác định tỷ giá trung tâm (gồm các cân nhắc về chính
sách) mà dựa nhiều hơn vào các yếu tố khách quan như diễn biến tỷ giá của một rổ
8 đồng tiền quốc tế, thì sẽ có được một tỷ giá trung tâm, và do đó một biên độ
tỷ giá linh động hơn, phản ánh sát hơn tình hình biến động của các đồng tiền
tham chiếu trong rỏ tiền tệ.
Nếu tỷ giá biến động
mạnh, có nguy cơ làm tăng lạm phát trong ngắn hạn, NHNN có thể cân nhắc áp dụng
giải pháp nâng lãi suất để giảm áp lực lạm phát tại Việt Nam, mà không cần phải
rút lại chính sách tiền đồng yếu nếu thực sự thị trường đòi hỏi phải như vậy. Theo
cơ chế can thiệp kiểu này, một mặt NHNN vẫn ở tư thế sẵn sàng mua USD với giá
cao (hơn thị trường) để làm tăng tỷ giá theo ý đồ và tính toán dựa trên các yếu
tố thị trường, một mặt thì tăng cường hoạt động trên thị trường mở để hút tiền
đồng về nhằm làm tăng lãi suất.
Lãi suất tăng như
trên sẽ không nhất thiết gây tổn hại cho tăng trưởng kinh tế bởi tăng trưởng kinh
tế sẽ được hỗ trợ bởi xuất khẩu ròng được duy trì, hoặc tăng lên (xuất khẩu
tăng, nhập khẩu giảm) do tiền đồng yếu đi so với USD và/hoặc các bản tệ khác.
Kinh tế vĩ mô ổn
định với lạm phát được kiềm chế, cán cân thương mại và vãng lai thặng dư, tăng
trưởng kinh tế được duy trì sẽ chính là các yếu tố hấp dẫn và níu chân nhà đầu
tư nước ngoài, bất chấp việc tiền đồng có yếu đi hay không.
No comments:
Post a Comment