Friday, 13 January 2017

Thúc đẩy thanh toán không sử dụng tiền mặt: Tốt cho tất cả các bên (Bài đăng trên CafeF, 13/1)


Thủ tướng chính phủ mới đây ban hành quyết định số 2545/QĐ-TT về Phê duyệt đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016- 2020, với những mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể đặt ra cho các bên liên quan.
Cụ thể, đến cuối năm 2020 tỷ trọng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán ở mức thấp hơn 10%; toàn thị trường có trên 300.000 thiết bị chấp nhận thẻ POS được lắp đặt; thực hiện mục tiêu của kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2016-2020 (100% các siêu thị, trung tâm mua sắm và các cơ sở phân phối hiện đại có thể chấp nhận thiết bị thẻ…); tập trung phát triển thanh toán không sử dụng tiền mặt tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa; nâng tỷ lệ người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản ngân hàng lên mức ít nhất 70% vào cuối năm 2020…
Thực tế, quyết định 2545 phần nào là một bước tiếp nối ở mức độ cao hơn của quyết định số 291/2006/QĐ ngày 29/12/2006 phê duyệt đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020. Ví dụ theo quyết định 291, đến năm 2020 phấn đấu đạt tỷ lệ tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán khoảng 15% (theo quyết định 2525 là thấp hơn 10%), và tỷ lệ các siêu thị trung tâm mua sắm, nhà hàng, khách sạn lắp đặt thiết bị chấp nhận thẻ khoảng 95% (theo quyết định 2525 là khoảng 100%). Điều này cho thấy quyết tâm của chính phủ trong việc thúc đẩy thanh toán không sử dụng tiền mặt ở Việt Nam.
Lợi ích của thanh toán không sử dụng tiền mặt
Thanh toán không sử dụng tiền mặt trước hết giúp giảm chi phí giao dịch. Riksbank, Ngân hàng trung ương Thụy Điển, nước đã hầu như không sử dụng tiền mặt, từng có một nghiên cứu vào năm 2012 cho thấy thẻ ghi nợ (debit card) là phương tiện thanh toán rẻ nhất so với thẻ tín dụng (credit card) và tiền mặt. Hơn thế, càng tăng cường sử dụng thẻ ghi nợ so với sử dụng tiền mặt thì hiệu quả của hệ thống thanh toán càng tăng lên, càng giúp giảm chi phí giao dịch bằng thẻ ghi nợ. Một số nghiên cứu ở các nước như Đan Mạch cũng cho kết quả tương tự.
Hình thức thanh toán qua thẻ ghi nợ là rẻ nhất bởi cơ cấu chi phí khác nhau giữa các thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng và tiền mặt. Với thẻ ghi nợ, chi phí gồm thực hiện giao dịch, công nghệ thông tin và viễn thông, dịch vụ khách hàng, ủy quyền thanh toán và sao kê/kiểm tra. Chi phí cho thẻ tín dụng gồm marketing, đánh giá tín nhiệm, dịch vụ khách hàng và các chương trình thưởng... Chi phí cho tiền mặt gồm in ấn, vận chuyển, gửi vào, rút ra, chi phí nhân lực liên quan đến kiểm đếm cuối ngày, quản lý… Ngoài ra thanh toán tiền mặt còn làm phát sinh thêm những chi phí gián tiếp như bảo hiểm cho giao dịch bằng tiền mặt, thiệt hại khi hệ thống thanh toán bằng tiền mặt bị trục trặc, ách tắc và thất thoát từ thu ngân, và khả năng bị cướp…
Khi hệ thống thanh toán bị chi phối chủ yếu bởi tiền mặt thì tất cả những chi phí liên quan nói trên sẽ được tính đầy đủ và rốt cuộc làm đội giá hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng phải trả, cao hơn mức đáng lẽ ra họ phải trả khi dùng thẻ, nhất là thẻ ghi nợ. Hơn nữa chuyển sang thanh toán không dùng tiền mặt thì không chỉ người tiêu dùng mà tất cả các bên liên quan đều có lợi.
Với người bán hàng hóa và dịch vụ, lợi ích này đến từ việc người tiêu dùng do mua hàng hóa, dịch vụ với giả rẻ hơn nên nhu cầu mua sẽ cao hơn, dẫn đến doanh số tiêu thụ lớn hơn, lợi nhuận cao hơn. Chấp nhận thanh toán không dùng tiền mặt làm cho việc giao dịch trở nên nhanh gọn, an toàn, và có chi phí tổng thể thấp hơn so với nhận thanh toán bằng tiền mặt, làm cho lợi nhuận người bán cũng vì thế mà tăng lên.
Với hệ thống ngân hàng, khối lượng giao dịch hưởng phí sẽ tăng tỷ lệ thuận với việc chuyển sang thanh toán không sử dụng tiền mặt. Mặc dù chi phí đầu tư cho cơ sở hạ tầng thiết yếu cho thanh toán không dùng tiền mặt sẽ là rất tốn kém, nhưng bù lại ngân hàng sẽ được hút thêm một nguồn tiền gửi thanh toán khổng lồ với chi phí thấp, đồng thời chi phí cho mỗi giao dịch sẽ giảm đi khi khối lượng giao dịch tăng lên, cũng giúp ngân hàng tăng lợi nhuận từ các dịch vụ thanh toán.
Với quốc gia, chi phí giao dịch giảm đi và lưu chuyển tiền tệ tăng lên sẽ giúp nền kinh tế cải thiện tính hiệu quả, tăng thêm sức cạnh tranh, thúc đẩy tiêu dùng xuất khẩu và gia tăng các hoạt động kinh tế, cải thiện tăng trưởng GDP, tạo thêm công ăn việc làm, tăng nguồn thu từ thuế. Thanh toán không dùng tiền mặt còn thúc đẩy sự ra đời của các công ty sáng tạo trong lĩnh vực thanh toán, tạo thêm những dịch vụ gia tăng như phân tích hành vi tiêu dùng qua dữ liệu chi tiêu bằng thẻ, đối thoại trực tiếp với khách hàng, từ đó xây dựng các chương trình bán hàng, khuyến mãi nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh nói chung. Quan trọng không kém, các hành vi như trốn thuế, rửa tiền và các hoạt động xã hội đen... cũng trở nên khó thực hiện hơn trong một xã hội không sử dụng tiền mặt, nhờ đó nhà nước có thể nâng cao hiu quả quản lý và thu thuế, đồng thời cũng tăng tính hấp dẫn với đầu tư nước ngoài.
Thách thức trong phát triển thanh toán không sử dụng tiền mặt
Tuy thanh toán không sử dụng tiền mặt có nhiều lợi ích như vậy nhưng không mấy xã hội cơ bản chuyển sang không sử dụng tiền mặt như Thụy Điển bởi việc này vấp phải một số thách thức và trở ngại lớn.
Thứ nhất, thanh toán không dùng tiền mặt đòi hỏi phải có hệ thống cung cấp điện ổn định và đáng tin cậy, một cơ sở hạ tầng kỹ thuật hoàn bị, sự ủng hộ, cổ vũ về văn hóa xã hội, và một khuôn khổ pháp luật hoàn chỉnh để đảm bảo một hệ thống thanh toán điện tử hiệu quả và thông suốt. Cũng vì thiếu vắng những yếu tố này mà ở những quốc gia như Nigeria, mặc dù Chính phủ đã nỗ lực đẩy mạnh thanh toán điện tử trong một chiến lược có tầm nhìn đến năm 2020 ít nhiều tương tự như ở Việt Nam, nhưng thực tế cho thấy mức độ sử dụng tiền mặt còn rất cao.
Thứ hai, thanh toán không dùng tiền mặt làm dấy lên lo ngại về tính an toàn và bảo mật của từng giao dịch, vì thông tin có thể bị “hack” và được sử dụng như các mục đích xấu.
Thứ ba, hầu như ở xã hội nào, phát triển đến đâu cũng còn một bộ phận không nhỏ không thể tiếp cận các dịch vụ ngân hàng. Ví dụ ở Mỹ, 20% hộ gia đình tuy có tài khoản ngân hàng nhưng lại được sử dụng cho các dịch vụ tài chính bên ngoài hệ thống ngân hàng, và 29% dân Mỹ không có thẻ tín dụng vào năm 2014. Do đó áp dụng triệt để ngay việc thanh toán không dùng tiền mặt sẽ tác động không nhỏ tới cuộc sống của những người như vậy.
Với những thách thức và trở ngại như trên, việc thúc đẩy phát triển từng bước với các đối tượng mang tính lựa chọn như trong đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của Việt Nam là điều thận trọng, cần thiết để đảm bảo khả năng thực thi của nó.

Wednesday, 11 January 2017

Sắp xếp DNNN: Sao vẫn cứ dùng dằng? (Bài đăng trên TBKTSG, 11/1/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/155945/Sap-xep-DNNN-sao-van-cu-dung-dang.html

Chính phủ vừa ban hành Quyết định về Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước (DNNN), doanh nghiệp có vốn nhà nước và Danh mục DNNN thực hiện sắp xếp giai đoạn 2016-2020 thay thế Quyết định 37/2014/QĐ-TTg.

Quyết định này có một số điểm đáng chú ý như sau:

Thứ nhất, trong số 103 DNNN mà Nhà nước sẽ nắm giữ 100% vốn điều lệ, có một số doanh nghiệp mà nếu căn cứ theo tên gọi thì khó có thể hiểu tại sao Nhà nước phải nhất thiết nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Những doanh nghiệp này gồm 13 doanh nghiệp trong ngành xuất bản, Công ty TNHH một thành viên Quản lý và Kinh doanh nhà Hải Phòng, Công ty TNHH một thành viên Quản lý và Phát triển nhà Hà Nội, Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ hải sản Biển Đông, và Công ty TNHH một thành viên Yến Sào Khánh Hòa.

Nếu nói là vì mục đích đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trong lĩnh vực văn hóa, xã hội... thì Nhà nước có thể giữ lại một vài trong số 13 nhà xuất bản này là quá đủ. Nhưng, trên hết, tất cả nhà xuất bản này đều đã và đang phải hoạt động theo các định hướng chỉ đạo chặt chẽ, sát sao của các cơ quan chức năng, khó có chuyện “chệch hướng”, nên việc Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ cho mục đích này là không thỏa đáng.

Còn nếu vì mục đích lợi nhuận thì cũng không thuyết phục lắm. Ngoại trừ một số nhà xuất bản có thể được hưởng lợi từ độc quyền in ấn một số loại sách nào đó (ví dụ như Nhà Xuất bản Giáo dục Việt Nam in sách giáo khoa) và Nhà nước cần thiết phải giữ lấy để đảm bảo lợi nhuận độc quyền không chảy vào “túi” của các ông chủ tư nhân, các nhà xuất bản còn lại cũng phải cạnh tranh gay gắt với nhau và với cả các nhà xuất bản nước ngoài (qua hoạt động nhập khẩu các ấn phẩm), dẫn đến chỉ có một số rất nhỏ nhà xuất bản báo lãi (1). Bởi vậy, việc Nhà nước tiếp tục nắm giữ hoàn toàn các nhà xuất bản trên suy cho cùng sẽ cản trở họ trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua cổ phần hóa.
Hơn nữa, kể cả với mục đích nắm giữ lợi nhuận độc quyền, Nhà nước cũng không nhất thiết phải sở hữu 100% các nhà xuất bản vì Nhà nước có thể tổ chức đấu thầu và đặt hàng nhà xuất bản với giá thành cạnh tranh nhất, tức là đem lại chi phí thấp nhất cho ngân sách. Ngoài ra, về logic, cả nước hiện có nhiều hơn 13 nhà xuất bản nhà nước nêu trên, nên sẽ là điều bất hợp lý nếu giữ 100% sở hữu nhà nước với 13 nhà xuất bản này mà không phải là những nhà xuất bản nhà nước khác.
 

Với hai công ty quản lý và phát triển nhà ở Hà Nội và Hải Phòng, công ty hải sản và công ty yến sào, cũng khó đưa ra lý do thuyết phục tại sao lại chỉ giữ 100% sở hữu nhà nước trong những công ty này mà không phải là các công ty tương tự ở các tỉnh thành trên cả nước. Trên hết, cần làm rõ hơn lợi ích thiết thực của việc sở hữu nhà nước 100% trong những công ty này khi mà sự tham gia của khu vực tư nhân chắc chắn sẽ đem lại nhiều cải thiện về hiệu quả và chất lượng hoạt động hơn.

Điểm đáng chú ý thứ hai trong quyết định về phân loại DNNN nêu trên là việc Nhà nước nắm giữ từ 50% đến dưới 65% vốn điều lệ của 27 doanh nghiệp. Trong số 27 doanh nghiệp này có hai doanh nghiệp bán buôn lương thực (Tổng công ty Lương thực miền Bắc và miền Nam), một doanh nghiệp cà phê (Tổng công ty Cà phê Việt Nam), chín doanh nghiệp khác trong các lĩnh vực như môi trường, thoát nước, công viên, thủy sản...

Với hai doanh nghiệp trong ngành bán buôn lương thực, cần lưu ý rằng ngành này đã được tự do hóa khá nhiều. Bằng chứng là mới đây Bộ Công Thương đã bãi bỏ quy hoạch thương nhân kinh doanh và xuất khẩu gạo với nhiều quy định bị phàn nàn là gây khó doanh nghiệp. Nói cách khác, vai trò quản lý và can thiệp của Nhà nước trực tiếp thông qua các DNNN trong ngành này ngày càng được tiết giảm. Bởi vậy, việc Nhà nước tiếp tục nắm giữ sở hữu chi phối trong hai doanh nghiệp bán buôn lương thực này xem ra là không cần thiết.
Quan trọng hơn, hiệu quả và chất lượng hoạt động của hai doanh nghiệp này là điều đáng bàn. Ví dụ, Tổng công ty Lương thực miền Nam được chỉ ra là một trong những DNNN làm ăn kém hiệu quả và gặp khá nhiều bê bối thời gian qua với con số thua lỗ ghi nhận lên tới hàng ngàn tỉ đồng (2). Do đó, việc Nhà nước tiếp tục nắm giữ cổ phần chi phối trong những doanh nghiệp như thế này vừa không mang lại luồng sinh khí mới cần thiết để vực dậy doanh nghiệp, vừa tiếp tục nguy cơ làm thâm thủng thêm ngân sách khi vẫn phải rót vốn hoặc chịu lỗ với tư cách là một cổ đông (chi phối) sau cổ phần hóa.

Với Tổng công ty Cà phê Việt Nam và chín doanh nghiệp còn lại, cũng là khó hiểu khi tại sao Nhà nước lại nắm giữ cổ phần chi phối như vậy, trong khi nhiều doanh nghiệp cùng ngành khác, nhất là trong lĩnh vực môi trường, đô thị, cấp thoát nước, công viên... Nhà nước lại chỉ giữ dưới 50% vốn điều lệ (trong số 106 doanh nghiệp nhà nước sẽ nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ, theo quyết định về phân loại DNNN nêu trên).

Tất nhiên, trên đây chỉ là những ví dụ về sự bất hợp lý về phân loại DNNN và danh mục DNNN sắp xếp giai đoạn 2016-2020. Nếu phân tích kỹ hơn từng trường hợp thì có thể sẽ thấy vấn đề tương tự với một số DNNN khác.

Điểm đáng chú ý thứ ba là ba ngân hàng thương mại được Ngân hàng Nhà nước mua lại với giá 0 đồng, gồm Ngân hàng Dầu khí toàn cầu, Ngân hàng Xây dựng Việt Nam, và Ngân hàng Đại Dương nằm trong số 103 doanh nghiệp mà Nhà nước sẽ nắm giữ 100% vốn điều lệ, ít nhất là trong giai đoạn 2016-2020. Điều này chứng tỏ các cơ quan chức năng chưa có kỳ vọng sẽ sớm “trả lại” cho thị trường ba ngân hàng này, ít nhất là trong vòng mấy năm tới. Nói cách khác, quá trình tái cơ cấu và vực dậy các ngân hàng này dường như vẫn sẽ còn khó khăn, trắc trở, có khả năng kéo dài trong nhiều năm nữa. Cũng không loại trừ khả năng nhà chức trách đang tính đến những phương án tái cơ cấu “đau đớn” khác với các ngân hàng này, ví dụ như cho phá sản, giải thể, chấm dứt hoạt động hoặc tiếp tục sáp nhập...

(1) http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Van-hoa/813882/hoat-dong-xuat-ban-tu-nhan-chiem-san
(2) http://tinnhanhchungkhoan.vn/doanh-nghiep/nha-nuoc-giu-51-von-sau-co-phan-hoa-vinafood-2-174645.html

Saturday, 7 January 2017

Một tuần giảm gần 1%, tỉ giá hạ nhiệt do đâu? (Bài đăng trên CafeF, 7/1/2017)

http://cafef.vn/mot-tuan-giam-gan-1-ti-gia-ha-nhiet-do-dau-20170107135058347.chn

Tỉ giá VND/USD đã liên tục hạ nhiệt (VND mạnh lên so với USD) mấy ngày qua làm cho nhiều người cảm thấy khó hiểu lý do thực sự đằng sau đó là gì.

Có người đã cho rằng đây là một xu thế khi trong vòng 3 năm nay tỉ giá có xu hướng điều chỉnh (đi xuống) ngay đầu năm. Đồng thời, họ cũng liệt kê nhiều nguyên nhân để củng cố cho nhận định của mình như, hiện tại, thị trường đã bước qua kỳ cao điểm thanh toán hàng nhập khẩu cuối năm, cầu ngoại tệ giảm bớt hoặc bớt tập trung vào đầu năm mới. Song song đó, trước thềm Tết Nguyên đán nhiều năm gần đây cho thấy, nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ sang VND phục vụ hoạt động thanh toán, chi trả lương thưởng… thường tăng cao, kích thích thêm cung ngoại tệ thương mại và tỷ giá giảm nhanh.

Ngoài ra, trong chính sách điều hành những năm trước, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thường có điều chỉnh tỷ giá vào thời điểm cuối năm, hoặc thị trường có tâm lý kỳ vọng có điều chỉnh vào cuối năm, dẫn đến có biểu hiện đầu cơ, găm giữ ngoại tệ. Sau điều chỉnh, “điểm hẹn” tâm lý này được hóa giải và tỷ giá hạ nhiệt vào đầu năm mới. Năm nay, với cơ chế tỷ giá trung tâm, tỷ giá không dồn lại bằng những “điểm hẹn” chủ động điều chỉnh từ nhà điều hành, mà linh hoạt hàng ngày.

Trong đợt biến động tỷ giá cuối 2016, Ngân hàng Nhà nước cũng đã củng cố thông điệp giữ ổn định, cụ thể bằng việc bán ra ngoại tệ thấp hơn trần biên độ. Điều này góp phần tạo thêm niềm tin trên thị trường. Về yếu tố cung nói chung, như Ngân hàng Nhà nước khẳng định vừa qua, cung - cầu ngoại tệ trên thị trường vẫn đảm bảo. Điều này được khẳng định thêm từ dự báo cán cân tổng thể năm qua có thể thặng dư ở mức cao, lên tới 8,5 tỷ USD, theo ước tính vừa công bố của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia.


Biểu 1: Diễn biến tỉ giá VND/USD 1 tháng qua (nguồn tác giả tổng hợp)
Biểu 1: Diễn biến tỉ giá VND/USD 1 tháng qua (nguồn tác giả tổng hợp)

Các nguyên nhân trên có thể đúng phần nào, nhưng chắc chắn chúng không thể giải thích được sự sụt giảm nhanh chóng, đột ngột của tỉ giá trong mấy ngày đầu năm 2017 này. Cụ thể hơn, về nguyên nhân thị trường đã bước qua kỳ cao điểm thanh toán hàng nhập khẩu cuối năm, nếu đúng vậy thì tỉ giá phải giảm mạnh càng về gần cuối năm và đặc biệt là ngay từ ngày đầu năm mới. Nhưng như biểu đồ trên cho thấy, tỉ giá chỉ thực sự giảm đáng kể kể từ ngày 3/1/2017 và đã giảm tổng cộng gần 200 đồng tương đương khoảng 0,8% trên thị trường chính thức.

Với nguyên nhân nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ sang VND phục vụ hoạt động thanh toán, chi trả lương thưởng… thường tăng cao trước thềm Tết Nguyên đán, kích thích thêm cung ngoại tệ thương mại và tỷ giá giảm nhanh cũng không hoàn toàn đúng. Vì nếu đúng là như vậy thì cũng khó giải thích một cách thuyết phục tại sao tỉ giá lại giảm nhanh đột ngột từ ngày 3/1 chứ không phải là những ngày trong tuần trước đó, vì những ngày đó cũng đều là trước Tết Nguyên đán cả, không quá xa mấy ngày gần đây.

Về nguyên nhân có sự điều hành linh hoạt tỉ giá hàng ngày cùng với cam kết bán ngoại tệ can thiệp để ổn định tỉ giá của NHNN, điều này cũng không hoàn toàn đúng. Sự linh hoạt về điều hành tỉ giá chỉ có tác dụng không để tỉ giá nhảy “giật cục” trong những thời điểm có áp lực biến động mạnh như mọi năm mà thay vào đó là “trườn” lên từ từ mỗi ngày (VND mất giá so với USD từ từ). Tâm lý kỳ vọng chỉ được hóa giải khi VND đã bị mất giá đủ lớn khi thị trường kỳ vọng là thế, chứ không phải phụ thuộc vào cơ chế tỉ giá là cố định hay linh hoạt.
Sự củng cố thông điệp bán USD để ổn định tỉ giá cũng không phải là nguyên nhân làm hạt nhiệt tỉ giá, bởi nếu đúng vậy thì tỉ giá phải hạ nhiệt ngay từ những ngày có sự khẳng định về thông điệp này (từ thượng tuần tháng 12/2016) chứ không phải đợi đến đầu tháng 1/2017. Nhìn xa hơn, trong quá khứ, dù có sự cam kết ổn định tỉ giá của NHNN bằng mọi công cụ, kể cả xuất dự trữ ngoại hối để can thiệp vào thị trường, thì cuối cùng VND vẫn bị phá giá.

Như vậy, việc tỉ giá giảm nhanh và đột ngột kể từ 3/1 không phải do những nguyên nhân trên gây ra, mà là do những nguyên nhân nào đó khác. Một trong số những nguyên nhân đó có thể là từ sự suy yếu đột ngột của USD so với các đồng tiền chủ chốt khác.


Biểu 2: Diễn biến dollar index 1 tháng qua
Biểu 2: Diễn biến dollar index 1 tháng qua

Như biểu đồ này cho thấy, ngoài bước điều chỉnh giảm vừa phải cuối tháng 12 (cũng kéo theo sự chững lại và giảm nhẹ của tỉ giá VND), USD lại bắt đầu một đợt điều chỉnh mạnh khác trong giai đoạn từ 3/1 đến 5/1 khi Mỹ công bố những số liệu không mấy khả quan về tình hình kinh tế trước khi hồi phục lại ở mức yếu hôm 6/1 nhờ số liệu mới cho thấy tốc độ tăng lương của Mỹ nhanh hơn kỳ vọng.

Sự điều chỉnh mạnh của USD từ ngày 3/1 trùng khớp với thời điểm tỉ giá VND/USD cũng điều chỉnh mạnh, như biểu 1cho thấy. Kết hợp với quan sát trực quan và tính toán thực tế về hệ số tương liên (correlation coeffcient) rất cao giữa diễn biến của tỉ giá VND/USD với diễn biến của dollar index trong 1 tháng gần đây hoặc kể từ vài năm trước, có thể kết luận rằng tỉ giá VND/USD gần như hoàn toàn bị chi phối bởi sự mạnh lên hay yếu đi của USD so với các đông bản tệ chủ chốt khác trên thế giới.

Nói cách khác, sức mạnh của USD là một yếu tố không thể bỏ qua hay coi nhẹ khi phân tích và dự báo về biến động tỉ giá VND/USD. Những yếu tố mà các nhà phân tích ở Việt Nam từ trước đến nay hay viện dẫn như cung cầu ngoại tệ, cán cân thương mại hay thanh toán, chính sách tỉ giá v.v… để làm lý do không điều chỉnh tỉ giá hay chỉ cần điều chỉnh ở mức nhỏ trên thực tế thường không có mấy sức nặng và sự phù hợp, và thường không chống đỡ được sức ép của thị trường.

Monday, 2 January 2017

Người Việt trời Âu – những ghi chép vụn vặt (Bài đăng trên TBKTSG, 2/1/2017)

http://mobile.thesaigontimes.vn/tinbaichitiet/155434/

Đầu tháng 12 năm 2016, khởi hành một chuyến đi dài  hơn 3 tuần lần lượt đến Cộng hòa Séc, Áo và Đức. Đích đến không phải là ngẫu nhiên lựa chọn. Bạn bè, người thân, vài người đang sống ở những nước này.

Trên đường bay quá cảnh từ Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ đến Praha, thủ đô Cộng hòa Séc, ngồi cạnh một chàng sinh viên Séc. Sau khi biết mình là người Việt, chàng trai chia sẻ rằng người Việt ở Séc rất nhiều, cần mẫn làm những công việc mà người Séc lười không muốn làm như mở hàng ăn, quầy thực phẩm và tạp hóa hay làm móng tay v.v... Máy bay hạ cánh, làm xong thủ tục hải quan, bước ra ngoài sảnh đợi taxi, lập tức được đón chào bởi tiết trời đông lạnh buốt, cắt da cắt thịt. Bên đường, những hàng cây trụi lá, thảm cỏ úa vàng được ướp một lớp băng giá mỏng trắng toát. Mới 3, 4 giờ chiều mà trời đã xẩm tối, trên đường không mấy bóng người, chỉ lác đác một vài chiếc xe chạy trên đường.
Dọc đường loanh quanh đi tìm hàng đổi tiền, quả là thấy khá nhiều quầy tạp hóa, hàng ăn, và tiệm làm móng với những khuôn mặt châu Á mà dường như là người Việt. Vào đại một cửa hàng tạp hóa bên đường, hỏi mua một chai nước lọc bằng tiếng Anh với cô nhân viên bán hàng da vàng tóc đen đang bắc thang xếp đồ lên giá, được cô trả lời một cái giá cũng bằng tiếng Anh, mà sau này mới biết là đắt gấp 4 lần giá mua trong siêu thị.
Sau hai hôm đi “tua” trong và ngoài Praha, anh bạn cùng lớp phổ thông đã ngót nghét hai chục năm không gặp tay bắt mặt mừng đến đón về nơi làm việc của mình là văn phòng dịch vụ tài chính và tư vấn tại chợ Sapa. Nơi này, theo anh bạn, vốn là một nhà máy chế biến thịt của Séc nhưng bị phá sản sau “Cách mạng nhung”, được người Việt mua lại, tổ chức thành một cái chợ khá lớn, lấy tên là chợ Sapa. Bầu không khí nơi đây là một góc thu nhỏ của Việt Nam, với  người Việt khắp nơi, cặm cụi bán hàng, bốc dỡ đồ, í ới gọi nhau.  Lác đác đây đó một vài “ông Tây”, người thì xì xụp bên bát phở trong quán bên này đường, người thì đẩy xe mua hàng trong siêu thị ở bên kia đường, tạo ra một liên tưởng như họ đang đi du lịch trên đất Việt Nam. Cửa hàng cửa hiệu toàn tiếng Việt. Văng vẳng đây đó những giai điệu nhạc “vàng”, nhạc “đỏ” và tiếng nói của MC trên các chương trình truyền hình VTV phát ra từ các quán cắt tóc, gội đầu và quán ăn.
Giờ ăn trưa, vợ chồng anh bạn đãi phở Hà Nội, khá ngon, có lẽ vì lâu lâu mới được ăn bát phở tử tế, đúng vị. Có chuyện đáng nhớ hơn là cảnh một phụ nữ trung niên xách một mẹt bánh rán vào quán rao bán. Mới thấy thêm rằng người Việt không nề hà bất cứ công việc gì, nhặt nhạnh từng đồng bạc lẻ trên đất người.

Anh bạn kể rằng đôi khi ở chợ Sapa cũng bị cảnh sát Séc bố ráp, nội bất xuất, ngoại bất nhập để kiểm tra các việc trốn thuế của các chủ hàng người Việt trong chợ. Người Việt làm ăn nhỏ, thường chỉ có lãi nhờ trốn thuế, khai thấp thuế nên cũng không thể tránh khỏi là đối tượng nghi vấn của cảnh sát Séc.
Tạm biệt Praha, theo xe của một người anh thân thiết cũng đã hai chục năm không gặp đến nơi anh ở Brno, một thành phố nhỏ của Séc cách Praha 200 km về phía Đông Nam. Anh có lẽ cũng là một trong những trường hợp điển hình của người Việt bươn trải và trụ lại được ở Séc nói riêng và Đông Âu nói chung sau nhiều biến cố xảy ra với bản thân và gia đình. Đặt chân đến Séc ban đầu bằng visa du lịch, tìm cách ở lại, khởi nghiệp bằng nhiều công việc ở nhiều địa phương như bán quần áo, mở hàng ăn, và cuối cùng trụ lại với một vài cửa hàng thực phẩm và tạp hóa nhỏ. Dù không tham gia một khóa học tiếng nào nhưng anh cũng nỗ lực tìm nhiều cách và nhiều cơ hội để học tiếng Séc, một thứ tiếng mà theo nhiều người còn khó về phát âm và phức tạp về ngữ pháp hơn cả những thứ tiếng khó như Nga và Pháp, để rồi cũng đủ vốn liếng ngôn ngữ mà làm ăn và xin được quốc tịch Séc.

Vợ anh bụng mang dạ chửa sang Séc qua một đường dây đưa người lậu qua Nga, bị tắc lại ở một nơi nào đó ngoài biên giới Séc, trễ đến gần 2 ngày so với ngày hẹn làm anh kiên nhẫn ngồi đợi ở điểm tập kết mà gần như phát điên, chút nữa thì rút súng gí vào đầu người liên lạc chỉ để bắt hắn khai thật rằng vợ anh đã chết hay vẫn còn sống sót. Dồn nén đến nỗi khi đã gặp và trên đường chở vợ về nơi ở, anh phải dừng ô tô lại giữa đường, ngồi ôm vợ và cả 2 cùng khóc nghẹn ngào vì đã vượt qua hiểm nguy để vợ chồng đoàn tụ.
Hai đứa con anh sinh ra trên đất Séc, mang quốc tịch Séc, được học hành đầy đủ, tuy nói tiếng Việt không được sõi, cũng giống như bao đứa trẻ con người Việt trên đất khách khác. Có lúc trong những bữa ăn có người Séc, chúng tỏ vẻ xấu hổ vì anh nói tiếng Séc không chuẩn. Anh buộc phải nói lại với chúng rằng thứ tiếng Séc không chuẩn đó của bố chúng đã nuôi chúng ăn học nên người. Bọn trẻ biết lỗi, nói vớt vát rằng tiếng Séc của bố chúng vẫn là tốt nhất trong số những người Việt chúng biết. Quả thật, có không ít người như bạn làm ăn của anh đã lưu lạc qua nhiều nước, từ Slovakia, qua Đức, vào trại tị nạn ở đó rồi lại “bật” về Séc, trải qua hơn hai chục năm làm ăn xứ người mà hầu như không nói được thứ tiếng nào, chưa kể đến thứ tiếng phổ thông hơn là tiếng Anh. Cũng chính vì lý do này mà có nhiều người Việt mở các công ty và sống khỏe nhờ làm dịch vụ từ phiên dịch, tư vấn thủ tục, giấy tờ cho người Việt.

Sau mấy ngày ở Áo không có nhiều chuyện đáng nói vì không gặp người Việt, điểm đặt chân kế tiếp là Hamburg, một thành phố cảng sầm uất phía Bắc của Đức, được một anh bạn hồi học phổ thông của vợ đón tiếp chu đáo, nhiệt tình. Anh bạn này là chủ của một vài tiệm ăn bán đồ châu Á khá thành công nên cuộc sống rất dễ chịu. Anh chở đi chơi một vòng quanh Hamburg, qua Berlin rồi đi Posdam, thăm một anh bạn khác cũng là chủ một tiệm ăn châu Á rất đắt khách, với lợi nhuận “khủng”, tương đương hàng chục tỉ đồng một năm. Anh bạn sống ở Hamburg nói vui rằng sushi là món ăn của người Việt vì hầu như quán nào của người Việt cũng bán sushi do người Việt làm, trong khi quán Nhật khá hiếm hoi ở đất Đức.

Tuy vậy, cả hai anh bạn đều chia sẻ rằng có đến hơn phân nửa người Việt ở Đức rất vất vả, cực nhọc để kiếm ăn, làm từ nghề giúp việc đến chạy bàn, sang đây nhờ kết hôn giả, con cái bỏ bê, không thể chăm sóc được. Bản thân các anh bạn này cũng đã từng trải qua nhiều nghề kể từ khi Đức thống nhất, như buôn thuốc lá lậu, quần áo, và cuối cùng mới trụ lại và thành công với nghề nhà hàng. Nghe kể lại cảnh người Việt ăn mặc như phi công, với chân phải lót giấy báo, quấn nilon rồi đi ủng lông, cả ngày đứng bán thuốc lá lậu trên giải phân cách giữa hai làn đường giữa trời đông băng giá mà rùng mình vì sức chịu đựng của con người. 

Tiếp tục hành trình xuống Dresden thăm một anh bạn khác đã không gặp lại kể từ khi tốt nghiệp cấp 3. Anh bạn này “cắm chốt” ở Dresden đã gần 3 chục năm, bắt đầu từ trường học nghề, đương đầu với biến cố thống nhất nước Đức bằng nghề bán thuốc lá lậu, lấy vợ rồi làm việc cho hãng, nhưng cuối cùng cũng trụ lại và khấm khá nhờ mở quán sushi. Anh tâm sự rất thật lòng rằng tuy đã ở Đức lâu, mang quốc tịch Đức nhưng cuộc sống của anh khá buồn tẻ, quanh năm suốt tháng không dứt ra được với công việc ở quán nên bạn người Đức có mấy người thì cũng rơi rụng dần vì không có điểm chung. Nhưng anh rất tự hào vì cô con gái xinh đẹp, học giỏi, tốt nghiệp Thạc sĩ loại xuất sắc nên được cấp học bổng nghiên cứu bậc Tiến sĩ nghiên cứu về pin điện thoại di động, ngoài tiếng Đức, tiếng Anh cũng làu làu.
Mừng cho bạn và cũng mong cho người Việt thế hệ thứ hai có được nhiều người thành công không chỉ về tài chính mà còn về học vấn và hòa nhập tốt với xã hội bản địa như con gái anh. 

Sunday, 1 January 2017

Dự cảm kinh tế Việt Nam 2017 (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, 1/1/2017, bản gốc)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=384008

Cứ đến thời điểm cuối mỗi năm, như thường lệ, một câu hỏi thu hút sự quan tâm của nhiều người là tương lai nền kinh tế năm mới sẽ như thế nào. Tuy không thể “nhìn” được tương lai của nền kinh tế nhưng người ta có thể dựa trên tình hình của năm cũ để dự cảm diễn biến của năm kế tiếp.
Trong năm 2016, kinh tế vĩ mô đã có một số điểm tích cực. Lạm phát năm 2016 có khả năng nằm trong giới hạn 5% mà Quốc hội đề ra. Tỉ giá cũng đã có gần cả một năm 2016 biến động rất nhỏ, hầu như đứng yên, không còn gây sóng gió như những năm trước cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nói riêng. Ngoài nguồn cung ngoại tệ dồi dào đến từ luồng vốn FDI tiếp tục tăng trưởng khả quan, nguồn kiều hối  Việt Nam cũng là một nguồn ngoại tệ lớn với nền kinh tế Việt Nam.
Chưa cần nói đến những số liệu thống kê chính thức, tiếp xúc của người viết với cộng đồng người Việt tại Đức và Séc trong chuyến đi hồi tháng 12 cho thấy người Việt kiếm được đồng nào thì việc đầu tiên họ nghĩ đến là tìm cách chuyển tiền về Việt Nam cho họ hàng hoặc để đầu tư, chủ yếu là bất động sản. Có những người làm chủ một vài quán ăn châu Á thành công đến nỗi cứ một vài tháng họ lại mua thêm một căn hộ hoặc thỉnh thoảng lại dồn tiền mua cả một mảnh đất trị giá hàng chục tỉ đồng tại Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh. Chuyện một gia đình người Việt ở châu Âu sở hữu vài mảnh đất ở Việt Nam đã trở thành chuyện bình thường.
Ngoài ra, Việt Nam cũng đã xuất siêu 2,5 tỉ USD năm 2016, thay vì nhập siêu như một vài năm về trước. Tất cả những yếu tố này đã tác động tích cực đến sự ổn định của tỉ giá và giúp cho NHNN tăng cường quy mô dự trữ ngoại hối lên 40 tỉ USD, cao nhất về mặt tuyệt đối từ trước đến nay.
Ổn định kinh tế vĩ mô đã phần nào tạo dựng niềm tin vào đầu tư và tiêu dùng, với chỉ số bán lẻ luôn tăng ròng cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ đô la hóa đã giảm đáng kể vì người dân đã tích cực đầu tư vào các tài sản tiền đồng nhiều hơn.
Tuy vậy, nền kinh tế trong năm 2016 cũng đã bộc lộ một số khiếm khuyết và yếu kém. Chỉ không lâu sau khi Quốc hội chất vấn Chính phủ về  5 nhà máy, dự án nghìn tỷ thua lỗ, hoạt động kém hiệu quả, mới đây lại có thêm 7 dự án lớn ngành công thương thua lỗ nặng phải xử lý, có khả năng làm tan thành mây khói nhiều chục nghìn tỷ đồng tiền thuế của dân.
Rồi nữa, bên ngoài thì có những tin tức không mấy tốt lành khác với Việt Nam như ông Trump trúng cử Tổng thống Mỹ. Vì ông Trump là người kịch liệt chống lại Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, TPP, nên hầu như chắc chắn rằng TPP sẽ không được Mỹ thông qua, đồng nghĩa nó sẽ bị chết yểu bởi sự vắng mặt của Mỹ. Nếu không có TPP thì tương lai của nhiều ngành xuất khẩu của Việt Nam sang 11 nước thành viên TPP, một thị trường khổng lồ chiếm đến hơn 40% GDP của thế giới, sẽ chững lại mà không thể có bước đột phá, điển hình là ngành dệt may. Ngành này hiện đang chật vật tăng trưởng, với dự báo chỉ tăng 5% trong năm 2016 so với năm 2015 bởi thiếu đơn hàng và giảm giá xuất khẩu. Quan trọng không kém, sự thất bại của TPP cũng có khả năng làm chững lại những nỗ lực cải cách và mở cửa nền kinh tế Việt Nam tuân thủ những cam kết của Việt Nam với các nước thành viên khác trong khuôn khổ TPP.
Cũng đáng lo ngại là những điểm tích cực nêu trên cũng đang có những chuyển biến không thuận. Lạm phát tương đối thấp, trong hạn mức cho phép 5% trong năm 2016 là kết quả một số yếu tố phối hợp mà chủ yếu là tỉ giá ổn định, giá xăng dầu và hàng hóa thấp do nhiều nước trên thế giới đang phải đối mặt với thiểu phát hoặc tăng trưởng trì trệ nên cầu thấp. Nhưng giá nguyên liệu, hàng hóa thế giới hiện đã tăng mạnh so với hồi đầu năm 2016 do cầu từ Trung Quốc đột ngột tăng mạnh trong nửa sau của năm 2016.
Tỉ giá kể từ tháng 12 đã không còn ổn định nữa mà liên tục chịu sức ép do Mỹ đã tăng lãi suất mới đây, dẫn đến sự mất giá của nhiều đồng tiền lớn trên thế giới. VND suy yếu sẽ làm tăng áp lực lạm phát, buộc NHNN phải thắt chặt cung tiền VND để giữ ổn định tỉ giá. Kết cục là lãi suất đã tăng mạnh trong thời gian gần đây, làm vô hiệu hóa nỗ lực hạ lãi suất cho vay của NHNN để thúc đẩy tăng trưởng GDP như yêu cầu của Chính phủ.
Về xuất siêu, đúng là tính từ đầu năm 2016 đến nay, cán cân thương mại đạt mức thặng dư. Nhưng nhìn vào tình hình từng tháng thì nhập siêu đã xuất hiện trở lại trong mấy tháng gần đây hơn. Tình hình nhập siêu có thể sẽ kéo dài sang năm 2017, một phần do nỗ lực ổn định tỉ giá của NHNN sẽ làm tiền đồng lên giá thực, ảnh hưởng bất lợi đến sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.
Điểm qua những vấn đề chính về vĩ mô của nền kinh tế Việt Nam như trên để thấy rằng kinh tế Việt Nam sẽ vẫn phải đối mặt với một số rủi ro đáng kể trong năm 2017. Do đó, để đạt được mục tiêu tham vọng tăng trưởng năm 2017 cao hơn đáng kể so với năm 2016, việc hết sức cần thiết mà Chính phủ phải đảm bảo được thực thi thành công các yếu tố “mềm” như cải cách thể chế và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.
Về cải cách thể chế, chuyện nay đã được nhắc đến nhiều và quán triệt như một nhiệm vụ cấp thiết của Chính phủ. Tuy vậy, hiện Chính phủ vẫn đang phải đối mặt với nhiều rào cản đến từ sự trì trệ, yếu kém, tư duy cục bộ, vụ lợi… có hệ thống từ trung ương, các bộ, ngành xuống đến các doanh nghiệp và địa phương. Những vấn đề này không dễ khắc phục một sớm một chiều, bất chấp việc Chính phủ nhiều lần bầy tỏ rõ quyết tâm thực hiện.
Về nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, điều này cũng đã được đưa vào trong nhiều văn kiện và nghị quyết của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, trên thực tế cũng chưa có những chuyển biến đáng kể. Một minh họa cho vấn đề này là người viết khi đến uống cà phê trong một quán cà phê cổ của thành phố Hamburg, Đức, vốn là một đầu mối buôn bán, rang xay, chế biến cà phê để phân phối đi khắp châu Âu trước đây, đã nhìn thấy vài chục loại cà phê đến từ khắp nơi trên thế giới như Đông Nam Á, gồm Papua New Guinea và Indonesia, châu Phi gồm Ethiopia, châu Mỹ gồm Colombia, Costa Rica, Guatemala và Brazil v.v… nhưng tuyệt nhiên không có một loại cà phê nào của Việt Nam hay mang tên Việt Nam được bày bán ở đó, dù Việt Nam cũng thuộc trong số những nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới.
Tương tự, vào siêu thị ở châu Âu, tuyệt nhiên không thấy có nhãn hiệu gạo Việt Nam nào được bày bán, bất chấp Việt Nam là nước xuất khẩu thuộc hàng nhất nhì thế giới, mà thường chỉ có gạo Ấn Độ, Thái Lan được bày bán ở đó. Về rau quả, có lẽ chỉ có những chợ của người Việt như Sapa ở Séc và Đồng Xuân ở Đức là có bán một số thứ rau quả của Việt Nam, chủ yếu là rau thơm hoặc do tiếp viên Vietnam Airlines xách tay từ Việt Nam mang sang hay trồng từ bên Nga mang đến.   

Một người bạn của người viết hiện đã định cư và là chủ một vài tiệm ăn ở Đức đã phải thốt lên rằng không thể hiểu được tại sao Việt Nam cứ mải chạy theo tăng trưởng về lượng mà không phải chất; tại sao cứ phấn đấu xuất khẩu 7 triệu tấn với giá 10.000 đồng/kg mà không phấn đấu xuất khẩu 3 triệu tấn với giá 25.000 đồng/kg.

Tóm lại, trong bối cảnh có những rào cản và sự cứng nhắc về tư duy phát triển kèm thêm những yếu tố không thuận lợi về vĩ mô diễn ra gần đây, chúng ta cần phải chuẩn bị sẵn sàng cho một kịch bản theo đó tăng trưởng kinh tế năm 2017 sẽ thấp hơn năm 2016. Theo kịch bản này, các chỉ tiêu như thâm hụt ngân sách tính theo tỷ trọng GDP và nợ Chính phủ hay nợ công cần phải điều chỉnh theo hướng thận trọng hơn để chúng không tiếp tục tăng lên, vượt ngưỡng an toàn đặt ra bởi Quốc hội.  

Thoái vốn nhà nước và nỗi lo dòng vốn ngoại (Bài đăng trên TBKTSG, 9/12/2016, bản gốc)

 http://www.thesaigontimes.vn/154663/Thoai-von-nha-nuoc-va-noi-lo-dong-von-ngoai.html

Sắp tới, Tổng công ty kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) sẽ thoái vốn nhà nước nắm giữ tại một số doanh nghiệp lớn qua hình thức chào bán thỏa thuận trên sàn chứng khoán. Mở đầu cho đợt thoái vốn này là Vinamilk (VNM) vào ngày 12/12, với giá khởi điểm là 144.000 đồng/cổ phần. Tuy nhiên, do giá khởi điểm này là khá cao so với thị giá VNM trong thời gian gần đây, nên kể từ thời điểm SCIC tổ chức giới thiệu cơ hội đầu tư vào VNM trên Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh cuối tháng trước, đã có nhiều phiên trong đó cổ phiếu VNM bị bán ròng, chủ yếu bởi khối ngoại.
Với quy mô nắm giữ lớn cổ phiếu VNM với giá trị lớn của khối ngoại, hiện tượng bán tháo VNM hiện nay và rất có thể tương tự sau này với những cổ phiếu khác tại các doanh nghiệp lớn mà SCIC đang nắm giữ, dư luận đang quan ngại về tác động tiêu cực của sự tháo lui của dòng vốn ngoại lên ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam.
Quan ngại này là hoàn toàn có cơ sở nếu dựa trên những gì đã diễn ra với những nền kinh tế mới nổi trong khu vực và trên thế giới. Một đặc điểm chung của những nền kinh tế này là đã phải chứng kiến nhiều thời điểm nền kinh tế tăng trưởng nóng với nguồn vốn ngoại “nóng” – vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài – chảy vào những nền kinh tế này để “chộp giật” những cơ hội đầu tư béo bở mang tính thời điểm, chẳng hạ xu hướng tăng lên nhanh chóng của các tài sản tài chính và bất động sản. Nhưng nếu thế thì chưa đủ để gọi nguồn vốn ngoại này là “nóng”. Chúng chỉ thực sự “nóng” khi chảy vào các nền kinh tế mới nổi này nhanh và ồ ạt thế nào thì lúc chảy ngược ra, vì một lý do nào đó, còn nhanh và ồ ạt hơn thế.   
Sự trồi sụt lớn mang tính thời điểm như vậy là một thách thức cho các nhà đương cục và thực tế là một nguồn cơn chủ yếu cho những cuộc khủng hoảng tài chính khu vực và thế giới. Khi nguồn vốn ngoại tháo lui ồ ạt, không kiểm soát (được), nó sẽ tạo áp lực lớn lên ngân hàng trung ương các nước chủ nhà trong việc kìm giữ sự mất giá nội tệ và sự phá sản hàng loạt doanh nghiệp vì mất khả năng trả nợ nước ngoài do bản tệ mất giá. Nếu không thể kiểm soát nổi dòng vốn thoái lui này thì kết cục cuối cùng là nền kinh tế tăng trưởng âm, tụt lại hàng nhiều năm trời, đi kèm với đó là nạn thất nghiệp gia tăng và mức sống tụt giảm của dân chúng.
Quay trở lại với trường hợp bán ròng cổ phiếu VNM hiện nay và có thể là sau này với những cổ phiếu của doanh nghiệp lớn khác mà SCIC sẽ thoái vốn. Việc nhà đầu tư ngoại bán ròng cổ phiếu VNM hiện nay làm nhiều người liên hệ đến việc đang có dòng vốn nước ngoài đáng kể chảy ngược ra khỏi nền kinh tế Việt Nam. Nói cách khác, với họ, hiện đã có dấu hiệu làm hoàn chỉnh cho một kịch bản khủng hoảng hoặc gần khủng hoảng tài chính ở Việt Nam, với dòng vốn nước ngoài đổ vào mạnh để nắm giữ những cổ phiếu của các doanh nghiệp lớn mang tính chi phối nền kinh tế Việt Nam và nay đã bắt đầu bị “bán tháo” để tháo chạy khỏi Việt Nam.
Tuy vậy, điểm khác biệt lớn nhất giữa Việt Nam trong bối cảnh hiện tại với những nước khác trong các cơn khủng hoảng hay gần khủng hoảng tài chính khác là sự thoái vốn, tháo lui của khối ngoại hiện nay bị/được châm ngòi (nếu có) không phải là do nhà đầu tư hoảng sợ, lo âu với sức khỏe của nền kinh tế Việt Nam nói chung và những tiềm tàng bất ổn vĩ mô nói riêng có thể dẫn đến khủng hoảng hay tổn thất lớn trong thời gian sắp tới. Sự tháo lui của khối ngoại, nếu có, có thể chủ yếu chỉ là những toan tính chiến lược đầu tư của từng cá nhân, từng tổ chức đầu tư mà thôi (ví dụ, giá đến bao nhiêu thì chốt lãi, chuyển sang cổ phiếu khác hoặc dừng lại nghe ngóng trước khi tiếp tục đầu tư hay nắm giữ nữa), chứ không mang tính phong trào theo kiểu người này, tổ chức này làm hoảng sợ mang tính dây chuyền cho người khác và tổ chức khác để rồi tất cả cùng đồng loạt tháo chạy.
Nếu đúng là sự tháo lui của đại bộ phận nhà đầu tư ngoại chỉ phản ánh sự thay đổi chiến lược đầu tư và tái cơ cấu danh mục đầu tư thì hành động tháo lui khỏi VNM hay các doanh nghiệp lớn khác sẽ không nhất thiết gây ra những tác động tiêu cực, dù là ở mức độ chừng mực, vì thực tế là nguồn vốn ngoại sau khi tháo lui khỏi VNM hay các doanh nghiệp lớn khác vẫn sẽ chỉ quanh quẩn trong nền kinh tế Việt Nam, được phân bổ qua lại giữa các hạng mục tài sản khác nhau hoặc trong cùng một hạng mục tài sản. Kể cả một bộ phận của dòng vốn ngoại này có thực sự bị nhà đầu tư nước ngoài sau khi chốt lãi rút về bản quốc hoặc chuyển sang thị trường nước khác thì tính chất “bộ phận” này cũng chỉ gây ra một tác động mang tính “bộ phận”, tức là không đáng kể lên nền kinh tế Việt Nam.
Suy cho cùng, dù dòng vốn nước ngoài có chảy ngược ra khỏi nền kinh tế Việt Nam, trong chừng mực chảy ra một cách có kiểm soát thì đây cũng là điều bình thường, đôi bên – Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài – đều (đã) có lợi. Với Việt Nam, có thêm một nguồn vốn để tăng trưởng và phát triển, dù là nguồn vốn để trống ngày đến hạn thanh toán. Với nhà đầu tư ngoại, sự gia tăng giá trị tài sản nắm giữ tại Việt Nam giúp họ gặt hái lợi nhuận kép (từ cổ tức và chênh lệch giá mua, bán cổ phiếu). Khi nguồn vốn ngoại chảy vào, quỹ dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) gia tăng. Khi nguồn vốn ngoại chảy ra,  nếu NHNN không muốn có áp lực gia tăng lên tiền đồng thì họ bán bớt một phần (hoặc toàn bộ) số ngoại tệ gia tăng này để “bình ổn” tỉ giá. Như vậy, nếu mọi việc diễn ra trong trật tự, có kiểm soát thì dù vốn ngoại chảy ngược ra ngoài cũng sẽ chẳng có gì đáng lo ngại, và với Việt Nam, “của thiên” không hoàn toàn phải “trả địa”.
Nói cách khác, điều quan trọng ở đây để không xảy ra những hậu quả lớn cho nền kinh tế là sự thoái vốn và rút về của nhà đầu tư ngoại phải là kết quả của những tính toán kinh tế thông thường chứ không phải là hậu quả của sự tháo chạy hoảng loạn, mang tính bầy đàn, không thể kiểm soát được, được kích hoạt bởi những rủi ro về kinh tế và chính trị lớn trong nội bộ nền kinh tế bản địa. Trong chừng mực mà nền kinh tế Việt Nam chưa bộc lộ những dấu hiệu rủi ro vĩ mô nghiêm trọng như nền kinh tế tăng trưởng nóng với hàng loại chỉ báo như thâm hụt thương mại lớn, lạm phát cao, tiền đồng lên giá thực lớn, nợ nước ngoài của doanh nghiệp gia tăng nhanh chóng… thì chừng đó việc thoái vốn và rút lui của nhà đầu tư ngoại sẽ vẫn chỉ là điều bình thường.

Friday, 16 December 2016

Cổ phần hóa và những khúc mắc (Bài đăng trên TBKTSG, 17/12/2016)

http://www.thesaigontimes.vn/154915/Co-phan-hoa-va-nhung-khuc-mac.html

Hiện nay, tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vẫn đang khá chật vật, chứa đựng nhiều khúc mắc, có thể là từ chủ trương “bảo toàn vốn nhà nước”, hay từ việc DNNN nắm giữ quỹ đất lớn, nhất là những mảnh đất ở vị trí đắc địa.

Với DNNN có những mảnh đất có giá trị lớn, dễ dàng cho thuê với giá cao, thì hiệu quả sản xuất kinh doanh trong những ngành nghề chính của họ nhiều khi trở nên không quan trọng nữa, bởi tiền cho thuê đã trở thành nguồn thu nhập quan trọng, trong khi ngành nghề sản xuất kinh doanh chính của các doanh nghiệp này bị lỗ hoặc không tạo ra lợi nhuận đủ lớn như với những doanh nghiệp cùng loại nhưng thuộc sở hữu tư nhân hay nước ngoài. Ngay cả là đất đi thuê từ Nhà nước, chứ không phải là đất được giao, thì quỹ đất đi thuê này cũng là một tài sản, một lợi thế lớn, một đặc quyền với nhiều DNNN, đơn giản vì không phải doanh nghiệp nào cũng được thuê những mảnh đất như vậy từ Nhà nước.
 
Bởi vậy, nếu cho phép “doanh nghiệp cổ phần hóa chỉ tính vào giá trị doanh nghiệp đối với diện tích đất nhận giao, còn đối với đất thuê, doanh nghiệp chỉ thực hiện nộp tiền thuê đất theo quy định như các doanh nghiệp khác, không phải tính giá trị lợi thế vị trí địa lý của đất thuê vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa”, như một quan chức ngành tài chính thông tin, thì đây là một bất công lớn với ngay bản thân Nhà nước vì Nhà nước đã thất thu một khoản thu tiềm năng đáng kể từ những mảnh đất “vàng”, có lợi thế vị trí địa lý của mình. Bởi giá thuê đất theo biểu giá Nhà nước quy định thường thấp hơn nhiều so với giá thị trường.
Cũng vì lợi thế, đặc quyền được giao hoặc thuê đất với giá rẻ hơn giá thị trường nên nhiều DNNN tuy kém cỏi trong sản xuất kinh doanh nhưng vẫn “bảo toàn vốn nhà nước”, thậm chí vẫn có lãi, thoát khỏi sự chú ý của dư luận cũng như các cơ quan quản lý vốn, thông thường sẽ dẫn đến áp lực phải tiến hành cổ phần hóa.

 
Còn xét riêng trên khía cạnh bảo toàn vốn nhà nước như là một thước đo hiệu quả hoạt động của DNNN, có thể nói ngay rằng thước đo này còn nhiều khiếm khuyết, lệch lạc. Việc có quỹ đất vàng như nói ở trên tự nhiên giúp cho doanh nghiệp đạt hiệu quả một cách giả tạo nhờ cho thuê đất như trên là một ví dụ. Ngay cả việc DNNN được Nhà nước giao tài sản là các công trình, thiết bị, dây chuyền sản xuất, và tất nhiên là cả đất đai nữa, nhưng họ không bận tâm đến việc tự mình sản xuất, kinh doanh để tài sản Nhà nước giao cho ngày càng sinh sôi nảy nở, mà bán, sang nhượng, cho thuê dưới nhiều lý do để hợp lý hóa việc thu tiền và vẫn đảm bảo rằng tài sản Nhà nước giao cho họ quy ra tiền trên sổ sách không suy suyển, thì cũng là điều đáng suy nghĩ.

Thêm nữa, nhiều DNNN có quỹ tiền mặt lớn trong tay nhưng vì e ngại rủi ro hoặc không muốn “động não” xem phải đầu tư vào đâu với số tiền này cho hiệu quả nhất nên họ đem nó đi gửi ngân hàng để hưởng lãi.
 

Trường hợp nào trong những trường hợp này hoặc những trường hợp tương tự đều cho thấy rằng một khi đã có trong tay các tài sản nhà nước được giao hay cho thuê thì các DNNN không hề khó khăn gì trong việc bảo toàn vốn nhà nước, trong khi lẽ ra họ có thể làm tốt hơn nhiều, sinh lãi nhiều hơn cho chủ sở hữu là Nhà nước và mang lại thu nhập cao hơn cho công nhân viên. Điều đáng nói hơn là với “bửu bối” đã bảo toàn vốn nhà nước như vậy nên nhiều DNNN cũng thoát khỏi danh sách DNNN yếu kém, không hiệu quả, buộc phải cổ phần hóa.
 
Từ những vấn đề trên, điều có thể rút ra là việc cổ phần hóa các DNNN cần phải thay đổi một cách căn bản về chủ trương và đối tượng để tiến trình cổ phần hóa diễn ra một cách thực chất và hiệu quả. Trước tiên, cần xác định rằng mọi DNNN cần phải được cổ phần hóa, trừ số ít những DNNN thuộc diện Nhà nước phải sở hữu 100%. Sẽ không có chuyện những DNNN tiếp tục sản xuất kinh doanh “bảo toàn vốn nhà nước”, không thua lỗ thì sẽ không phải cổ phần hóa, bởi chuyện kinh doanh không thua lỗ là chưa đủ trong bối cảnh các DNNN nắm nhiều lợi thế, đặc quyền so với các doanh nghiệp thuộc các thành phần khác.
 
Tiếp đó, các DNNN có quỹ đất dù là thuê của Nhà nước, nhất là những mảnh đất có giá trị, cần phải đưa lợi thế địa lý của những mảnh đất này vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa. Nếu không làm được như vậy thì vô hình trung Nhà nước tiếp tục làm lợi cho (một nhóm) chủ sở hữu mới doanh nghiệp này sau cổ phần hóa khi họ được thuê những mảnh đất đắc địa với giá rẻ.

Nếu không muốn đưa lợi thế địa lý của những mảnh đất thuê này vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa thì DNNN cần phải hoàn trả lại những mảnh đất đang thuê trước khi tiến hành xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa. Đồng thời, Nhà nước sẽ cho đấu giá công khai quyền thuê những mảnh đất đó để đảm bảo lợi ích tối đa cho ngân sách.

Saturday, 26 November 2016

Bán đấu giá nợ xấu, các AMC phải đứng ngoài (Bài trên TBKTSG, 26/11, bản đã biên tập)

http://www.thesaigontimes.vn/154208/Ban-dau-gia-no-xau-cac-AMC-phai-dung-ngoai.html

(TBKTSG) - Chiều ngày 17-11 Quốc hội đã thông qua dự thảo Luật Đấu giá tài sản. Theo đó, việc đấu giá nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam (hiện nay đó là Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam - VAMC) đã được đưa vào luật này.

Giải thích lý do quy định việc đấu giá nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của VAMC, Ủy ban Thường vụ Quốc hội dẫn yêu cầu tại Nghị quyết số 05-NQ của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, nhấn mạnh việc giao thẩm quyền và nâng cao năng lực của VAMC trong mua bán nợ theo giá thị trường gắn với xử lý tài sản thế chấp, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của chủ nợ.

Bên cạnh đó, các quy định bán đấu giá nợ xấu trong luật đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội bổ sung lại cho chặt chẽ, minh bạch, khách quan... tránh thất thoát tài sản nhà nước (trong quá trình đấu giá). Ví dụ, luật này không cho phép VAMC bán đấu giá theo trình tự, thủ tục rút gọn.
 
Tuy nhiên, từ góc độ xử lý nợ xấu, tình trạng hiện tại của luật còn một số tồn tại lớn.
Đó là, luật chỉ chọn và cho phép duy nhất VAMC được đấu giá nợ xấu và tài sản đảm bảo cho khoản nợ xấu mà hoàn toàn không đề cập đến các tổ chức xử lý nợ xấu (AMC) khác của các ngân hàng thương mại. Như đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội diễn giải, mục đích quy định đấu giá xử lý nợ xấu và tài sản đảm bảo của khoản nợ xấu của VAMC là để tạo thẩm quyền và nâng cao năng lực xử lý nợ xấu của VAMC. Nhưng mục đích thực sự cuối cùng là để nhằm giải quyết nhanh nợ xấu theo cơ chế thị trường.
 
Bởi vậy, nếu song song với VAMC, luật quy định thêm các AMC khác cũng được đấu giá nợ xấu và tài sản đảm bảo khoản nợ xấu của các ngân hàng thương mại mà chúng nắm giữ thì rõ ràng quá trình xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng càng được đẩy nhanh. Đây là một điều tốt và là mong muốn không chỉ của các ngân hàng mà cả toàn xã hội. Vậy, không hiểu vì lý do gì mà các AMC của các ngân hàng thương mại lại không được trao quyền như với VAMC, biến quyền được đấu giá nợ xấu và tài sản đảm bảo khoản nợ xấu trở thành một đặc quyền cho VAMC.
 
Nếu cho rằng chỉ có VAMC mới cần thiết, mới có đủ khả năng (hay trong mắt của giới quản lý là đáng tin cậy hơn, dễ quản lý hơn so với các AMC) thực hiện đấu giá nợ xấu thì hoàn toàn không chính xác. Nhu cầu xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại và các AMC của họ cũng rất cấp bách, thậm chí còn hơn cả VAMC, vì nợ xấu tồn tại ngày nào thì các ngân hàng thương mại thiệt hại ngày đó vì phải trích lập dự phòng xử lý nợ xấu, vì vốn bị chôn trong nợ xấu. Nếu VAMC xử lý được nợ xấu thì tốt, và thu được thù lao xử lý nợ xấu từ các ngân hàng thương mại; không xử lý được thì cứ để ở đó mà chẳng phải chịu tốn phí gì cả vì nợ xấu không phải là của VAMC mà thực chất chỉ được họ giữ hộ các ngân hàng thương mại mà thôi, nên động lực phải giải quyết nợ xấu không bằng các ngân hàng cũng như các AMC.
 
Trên hết và quan trọng hơn, vai trò của pháp luật là để điều chỉnh và chế tài tất cả các hành vi của các đối tượng được chế tài nên tất cả những quan ngại và lo sợ về việc trao quyền (và nghĩa vụ) tương đương cho các AMC như với VAMC hoàn toàn có thể hóa giải được bằng việc ban hành và thực thi nghiêm túc các điều luật liên quan, như những quy định cho VAMC. Trên khía cạnh này, việc “lờ” các AMC trong việc được đấu giá nợ xấu và tài sản đảm bảo khoản nợ xấu càng trở nên khó hiểu.
 
Một tồn tại khác trong luật là dường như không nhận thức, đánh giá đúng được những khó khăn, vướng mắc trong quá trình đấu giá, chuyển giao sở hữu tài sản, nhất là tài sản đảm bảo khoản nợ xấu. Ví dụ, luật quy định VAMC có nghĩa vụ giao tài sản đấu giá và các giấy tờ liên quan đến tài sản đấu giá cho người mua được tài sản đấu giá. Nhưng liệu người mua được tài sản đấu giá sau khi cầm được tất cả các giấy tờ liên quan đến tài sản này, gồm có sổ đỏ nếu tài sản đấu giá là mảnh đất, có sang tên chủ sở hữu thành của mình được hay không thì lại là chuyện khác, không có gì đảm bảo là việc này sẽ thành công, trong trường hợp, ví dụ, người chủ cũ nhất quyết không chịu làm thủ tục sang tên.
 
Do vậy, chừng nào Luật Đấu giá tài sản không có quy định liên quan, ví dụ, cho phép các cơ quan chức năng công nhận chủ sở hữu mới các tài sản bảo đảm nợ xấu sau quá trình đấu giá mà không cần người chủ mới này phải làm thêm thủ tục sang nhượng quyền sở hữu từ chủ cũ thì chừng đó luật này cũng chỉ phát huy tác dụng trong một số trường hợp hãn hữu nhất định.

Friday, 25 November 2016

Nên tuân thủ cuộc chơi (Bài đăng trên TBKTSG, 25/11/2016, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/154201/Nen-tuan-thu-cuoc-choi.html

Việt Nam cho đến nay đã đàm phán và ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương, nhiều hiệp định trong số này đã có hiệu lực mà đáng kể nhất trong số này là TPP và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam EU.
Tuy vậy, nhận thức về tự do hóa thương mại còn nhiều lệch lạc, không chỉ trong một bộ phận người dân mà còn ngay cả trong một bộ phận giới chức.
Lệch lạc đầu tiên là tuy đã hội nhập, đã cam kết mở cửa nhiều thị trường hàng hóa và dịch vụ trong nước cho cạnh tranh của các nước đối tác, nhưng nhiều người vẫn cứ cố níu kéo, cản trở sự cam kết mở cửa này bằng nhiều cách, chủ yếu là dùng những hàng rào bảo hộ phi thuế quan. Một ví dụ điển hình là ngành sản xuất và kinh doanh ô tô. Các cam kết tự do hóa thương mại với ASEAN, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Liên minh kinh tế Á Âu, và sắp tới là với EU có những điều khoản về mở cửa thị trường ô tô ở Việt Nam cho ô tô nhập khẩu từ những thị trường này. Tuy vậy, hiện nay nhiều người, nhiều tổ chức vẫn đang vận động đưa vào luật ngành, nghề sản xuất, nhập khẩu và kinh doanh ô tô thành ngành, nghề kinh doanh có điều kiện với mục đích không chỉ đảm bảo an toàn cho người sử dụng mà còn chủ yếu là để làm khó thêm ô tô nhập khẩu và bảo hộ ngành công nghiệp ô tô trong nước đang loay hoay với chiến lược phát triển nhưng lại vẫn đang được hưởng lợi lớn nhờ thuế nhập khẩu cao và nhiều quy định làm khó ô tô nhập khẩu.
Đương nhiên là những người và tổ chức vận động bảo hộ ngành công nghiệp ô tô nội địa có lý do thuyết phục cho việc này vì ngành ô tô là một ngành quan trọng với mọi nền kinh tế. Tuy vậy, quan trọng là một chuyện nhưng có nhất thiết phát triển bằng mọi cách và có phát triển được không lại là một chuyện khác. Thực tế cho thấy không phải nước nào cũng thành công với ngành công nghiệp ô tô, nếu như ngành này không là thế mạnh cạnh tranh của họ. Hiện tại Việt Nam cũng chẳng có thế mạnh gì có thể dẫn đến sự phát triển vững chắc của ngành công nghiệp ô tô trong nước, ngoài một lợi thế duy nhất là dân số đông, hứa hẹn một thị trường tiêu thụ có tốc độ tăng trưởng nhanh trong… tương lai!
Bù lại, khi hội nhập qua các hiệp định thương mại tự do, chúng ta được hưởng lợi từ sự mở cửa thị trường nội địa của các nước đối tác cho những ngành nghề mà Việt Nam có lợi thế, chủ yếu từ khai thác lực lượng lao động dồi dào và giá tương đối rẻ, như may mặc, da giày, thủy sản, lắp ráp v.v…, cũng như từ sự lỏng lẻo về bảo vệ môi trường. Sự đánh đổi các lợi thế này giữa Việt Nam và các nước là theo đúng lý thuyết về thương mại tự do và lẽ ra không phải là điều đáng ngạc nhiên hay thất vọng với bất cứ một ai trước và sau khi ký kết các hiệp định thương mại tự do với nước ngoài.
Vì vậy, nếu cứ còn lấn cấn giữa lợi ích với thiệt hại khi tham gia các hiệp định thương mại tự do thì tốt nhất là hãy sớm chủ động rút lại những cam kết này, như cách mà ông Trump, Tổng thống mới của Mỹ đã chủ trương như vậy với TPP cho nước Mỹ từ khi đang tranh cử. Ngược lại, nếu đã cam kết mà vẫn cứ ngấm ngầm và cả công khai tìm mọi cách để “lách luật”, lách các cam kết với nước đối tác bằng những cách thức “khôn lỏi” như nêu trên thì hoặc chúng ta sẽ bị các nước đối tác trả đũa, hoặc các cam kết này sẽ phải bị xem xét lại, vì không có quốc gia nào lại cam chịu thiệt thòi một cách quá đơn giản và vô lý như vậy. 
Một lệch lạc phổ biến khác về tự do hóa thương mại tương tự là quan niệm (dù đã hội nhập sâu rộng) phải quyết xây cho bằng được một nền kinh tế có sự “phát triển hài hòa” giữa các ngành kinh tế, chắc có nghĩa là các ngành kinh tế phải có sự phát triển tương đương nhau “một chín, một mười”, ví dụ từ ngành dệt may đến ngành tự động hóa. Rồi nữa, phải có chiến lực phát triển sao cho đảm bảo gần như “tự cung tự cấp” trong nhiều ngành như ngành thép vì nếu không thì sẽ dẫn đến nhập siêu lớn, gây bất ổn vĩ mô…
Quan niệm “phát triển hài hòa” theo diễn giải trên là một thực tế, được thể hiện ở chiến lực phát triển “quả mít”, theo đó có quá nhiều ngành được xác định là ngành ưu tiên, ngành mũi nhọn. Kể cả với một nền kinh tế đóng cửa thì chiến lược này vẫn sẽ chắc chắn thất bại bởi nguồn lực kinh tế có hạn, không thể đáp ứng yêu cầu phát triển cùng một lúc của nhiều ngành khác nhau. Điều này cũng tương tự như một gia đình nghèo đông con, nếu không dồn sức cho đứa con nào có khả năng học nhất mà cứ chia đều ra thì đứa nào rồi cũng sẽ học hành làng nhàng như đứa nào. Trong thời đại hội nhập như hiện nay thì chiến lược này càng sớm thất bại vì giờ đây còn có thêm sức ép là sự cạnh tranh từ bên ngoài lên những ngành vốn đã ốm yếu trong nước, trong khi những ngành có khả năng phát triển theo thế mạnh cạnh tranh thì lại không được đầu tư đầy đủ.
Chuyển sang quan niệm ngành nào mà nhu cầu trong nước lớn, đang nhập siêu thì phải tìm mọi cách để phát triển, như ngành thép là một ví dụ điển hình. Nhiều người cho rằng Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh so với thép nhập khẩu như có cảng nước sâu, có quặng sắt và nhiều khoáng chất cần cho sản xuất thép dồi dào, nhân công giá rẻ… Điều này ít nhiều là đúng nhưng chưa đủ. Về quặng sắt và các khoáng chất cần cho sản xuất thép, Việt Nam tuy có thể có với trữ lượng lớn nhưng điều quan trọng là điều kiện khai thác của mỏ có thuận lợi không, và chi phí khai khoáng liệu có đủ thấp để đảm bảo rằng chi phí đưa quặng đến chân công trình luyện thép sẽ thấp hơn chi phí cho quặng nhập khẩu cùng chất lượng hay không. Điều này chỉ được đảm bảo khi tối thiểu phải có một cơ sở hạ tầng và công nghệ cho khai khoáng và vận chuyển phát triển, là điều mà Việt Nam đang thiếu. Việc Thép Hòa Phát mặc dù có mỏ sắt trong nước nhưng vẫn phải nhập khẩu quặng sắt cho thấy sản xuất trong nước không nhất thiết là kinh tế nhất.
Ngoài ra, để thực sự ngành thép nội địa có sức cạnh tranh thì tất yếu phải phát triển các nhà máy thép dùng công nghệ lò cao, hiện đại đồng thời rất tốn kém. Như vậy, ngoài vấn đề là… tiền đâu, sự đi sau về đầu tư công nghệ lò cao làm các nhà máy thép ở Việt Nam khó cạnh tranh được với các nhà máy thép nước ngoài đã khấu hao máy móc thiết bị từ lâu, làm cho bài toán lợi thế trở nên mù mờ hơn. Tất nhiên Việt Nam vẫn có thể dốc sức đầu tư phát triển những thứ này, nhưng như thế thì lại vấp phải bài toán nhà nghèo đầu tư cho con học ở trên.
Nhân bàn về trữ lượng quặng sắt với chuyện tự chủ sản xuất trong nước, cũng xin đưa thêm một ví dụ là về ngành thép Ấn Độ. Nước này ước tính có tới hơn 13 tỉ tấn quặng sắt các loại, và ngành luyện thép nước này hàng năm sản xuất ra trên dưới 90 triệu tấn thép. Thế nhưng nước này hàng năm vẫn phải nhập hàng chục triệu tấn quặng sắt từ Úc, Canada, hay Nam Phi vì cung trong nước không đủ đáp ứng, với nhiều lý do từ vấn đề bảo vệ môi trường đến cơ sở hạ tầng kém phát triển hay chất lượng quặng không tốt… Đồng thời nước này cũng phải đương đầu với thép nhập khẩu giá rẻ hơn (và chất lượng tốt hơn) không chỉ từ Trung Quốc mà còn cả từ Nhật, Hàn Quốc là những nước đã có các hiệp định thương mại tự do với Ấn Độ, làm cho Ấn Độ chẳng còn mấy cớ để buộc tội họ bán phá giá.
Bởi vậy, với Việt Nam, thay vì chủ quan cho rằng ngành thép là ngành có lợi thế cạnh tranh theo tư duy đơn giản là có quặng sắt, có đầy đủ các yếu tố để phát triển nên phải đầu tư, phải bảo hộ để nó phát triển bất chấp Việt Nam đã cam kết mở cửa, để cho thép ngoại tự do cạnh tranh với thép nội, thì chúng ta nên chấp nhận cuộc chơi mang tên “hội nhập”. Nghĩa là hãy để cho các chủ thể của thị trường tự tính toán bài toán chi phí và lợi ích trong ngành thép mà không có sự trợ giúp đặc biệt của nhà nước ngoài những hỗ chung như cho các ngành nghề khác. Nhà nước không nên đưa ra những biện pháp trợ giá ngầm như hạ giá thuê đất, ưu đãi đặc biệt về thuế, phí, và bảo vệ môi trường, hay giữ giá điện thấp hơn giá bán cho các ngành khác, hoặc thấp hơn giá thành… để khuyến khích đầu tư vào ngành thép.
Và cũng tương tự như với ngành ô tô, nếu vẫn cứ tiếc rẻ và muốn phát triển ngành thép hay bất cứ ngành nào khác không/chưa có lợi thế cạnh tranh thì tốt nhất là đừng hội nhập nữa! 

Tuesday, 22 November 2016

Thực thi Basel II, khó ở đâu? (Bài đăng trên CafeF, 22/11/2016)

http://cafef.vn/thuc-thi-basel-ii-kho-o-dau-20161122092721299.chn

Kể từ tháng 2/2016, 10 ngân hàng đã được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chỉ định thực hiện thí điểm phương pháp quản trị vốn và rủi ro theo tiêu chuẩn Basel II, đó là các ngân hàng BIDV, VietinBank, Vietcombank, Techcombank, ACB, VPBank, MB, Maritime Bank, Sacombank và VIB.
Thời thế mới cần tiêu chuẩn mới
Tiêu chuẩn Basel I, được áp dụng từ năm 1988, có nhiều nhược điểm. Nó không nhạy cảm với rủi ro, không phân biệt giữa rủi ro tín dụng với các loại rủi ro khác, và có thể dễ dàng vượt qua bằng các biện pháp lách luật. Vì chạy theo lợi nhuận nên các ngân hàng có xu hướng nắm giữ các tài sản chất lượng kém (rủi ro cao) thay vì các tài sản chất lượng cao (rủi ro thấp).
Trong cùng thời gian này, các sản phẩm tài chính mới như các sản phẩm phái sinh và chứng khoán hóa đã góp phần quan trọng làm thu hẹp ngành ngân hàng truyền thống. Điều này đã làm thay đổi tương lai của ngành ngân hàng và tạo ra các thách thức mới cho các nhà làm luật. Bởi vậy, Basel I được coi là hết tác dụng trong thời đại có nhiều sản phẩm tài chính mới phức hợp ra đời với sự hậu thuẫn của tiến bộ công nghệ.
Basel II
Basel II được “trình làng” tháng 6/2004 nhằm khắc phục các nhược điểm của Basel I bằng việc đo lường rủi ro một cách chính xác hơn và toàn diện hơn.
Basel II có 3 trụ cột. Trụ cột thứ nhất là luật lệ, theo đó gắn yêu cầu vốn tối thiểu (CAR) sát hơn với mức độ rủi ro thực tế của ngân hàng, gồm các rủi ro về tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Như vậy, trụ cột luật lệ của Basel II tương tự như của Basel I, với khác biệt ở phương pháp tính rủi ro bình quân gia quyền.
Về rủi ro tín dụng, có 2 phương pháp tính. Phương pháp thứ nhất, thường được áp dụng bởi các ngân hàng nhỏ, không có khả năng tự xây dựng các mô hình đánh giá rủi ro tín dụng và có các hoạt động tín dụng các sản phẩm tài chính không mấy phức tạp.     
Phương pháp tính rủi ro tín dụng thứ hai là phương pháp dựa trên đánh giá tín dụng nội bộ (IRB). Theo đó, lượng vốn ngân hàng cần phải nắm giữ đối với mỗi một khoản vay sẽ là một hàm số của rủi ro tín dụng ước tính của khoản vay đó. Đến lượt mình, rủi ro tín dụng ước tính được xác định dựa trên 4 biến số, gồm xác suất mất khả năng thanh toán (PD), lượng vốn bị mất khi xảy ra mất khả năng thanh toán (LGD), khoản cho vay tại thời điểm mất khả năng thanh toán (EAD), và kỳ hạn (M). Với sự áp dụng của phương pháp này, hầu như chắc chắn các ngân hàng sẽ đủ khả năng để hấp thụ hoàn toàn thiệt hại từ việc khách hàng mất khả năng thanh toán.
Trong phương pháp đánh giá tín dụng nội bộ IRB cũng lại có hai biến thể. Với biến thể “Cao cấp”, các ngân hàng sẽ phải tự xác định cả 4 biến số nói trên trong mô hình nội bộ của mình. Trong biến thể “Cơ bản”, các ngân hàng chỉ phải chịu trách nhiệm xác định biến số PD, còn 3 biến số còn lại thì được xác định bởi Ủy ban Basel.
Trụ cột thứ hai của Basel II là giám sát, nhằm xử lý các rủi ro không được trụ cột thứ nhất xử lý. Các thanh tra, giám sát viên sẽ xem xét sự đánh giá rủi ro nội bộ của ngân hàng để đưa ra kết luận liệu sự đánh giá nội bộ này đã phù hợp chưa và các ngân hàng đã nắm giữ đủ vốn tương ứng với mức rủi ro thực tế của họ hay chưa. Như vậy, trụ cột thứ hai này khuyến khích các ngân hàng tự xây dựng mô hình đánh giá rủi ro phù hợp.
Trụ cột thứ ba của Basel II là kỷ cương thị trường, thông qua việc bạch hóa thông tin, nhằm đảm bảo rằng kỷ cương thị trường hữu hiệu là một con mắt giám sát nữa bên cạnh các thanh tra, giám sát viên.  

Như vậy, so với Basel I, Basel II phức tạp, nhạy cảm với rủi ro và có độ bao phủ rộng hơn nhiều. Bởi vậy, sự thực thi hữu hiệu Basel II đòi hỏi phải có sự thông hiểu của cơ quan chức năng cũng như của các ngân hàng về các vấn đề, thách thức và tác động của nó lên nền kinh tế quốc gia. Tuy nhiên, hàng loạt quốc gia trên thế giới đã có kế hoạch áp dụng Basel II ngay sau khi nó ra đời, với lộ trình khác nhau, bắt đầu hoặc với biến thể “Cơ bản” của phương pháp đánh giá tín dụng nội bộ IRB, hoặc “Cao cấp”, hoặc cả hai.
Với Việt Nam, Basel II mới được áp dụng thí điểm vào năm 2016 cho thấy sự khá chậm chễ. Nhưng khách quan mà nói, sự chậm chễ này có nguyên nhân từ một số trở ngại và thách thức.

Trở ngại và thách thức trong thực thi Basel II ở Việt Nam
Ngoài tính chất phức tạp và độ bao phủ rộng hơn Basel I làm cho việc thực thi nó trở nên khó khăn hơn nhiều so với Basel I, việc áp dụng thành công Basel II trước tiên đòi hỏi quốc gia áp dụng phải có một hệ thống tài chính phát triển và mạnh. Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF cho rằng sự áp dụng sớm Basel II ở những nước có nguồn lực hạn chế sẽ làm phân tán các nguồn lực dành cho các ưu tiên cấp bách, làm loãng thay vì củng cố sự giám sát. Điều quan trọng là phải có đủ khả năng củng cố hệ thống tài chính và tập trung vào đạt được ở mức độ cao hơn việc tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi của Basel. Việt Nam có thể đã theo đuổi phương châm tiến chậm nhưng chắc, chỉ tiến hành áp dụng Basel II sau khi đã có sự chuẩn bị đầy đủ, bắt đầu với việc lấp các lỗ hổng trong hệ thống tài chính của mình.

Thứ hai, áp dụng thành công Basel II đòi hỏi phải có số liệu chính xác, đáng tin cậy và kịp thời. Nếu rủi ro không được tính toán, hay bị phóng đại hoặc bị tính thấp đi có thể làm vô hiệu hóa tác dụng tích cực của Basel II. Mà điều này ở Việt Nam xem ra vẫn còn là một thách thức lớn, chưa biết bao giờ có thể khắc phục được.

Thứ ba, cùng một số liệu, trình độ và nhận thức của đội ngũ nhân lực liên quan đến thực thi Basel II sẽ quyết định những số liệu này được diễn giải như thế nào. Bởi vậy, một nhân tố quan trọng để áp dụng thành công Basel II là công tác đào tạo nhân lực nhằm trang bị đầy đủ kĩ năng và kiến thức phổ quát và cập nhật cho những người thực thi. Đây cũng là một lĩnh vực Việt Nam còn phải nỗ lực nhiều.

Thứ tư, ở Việt Nam, dường như chỉ có các ngân hàng mới phải áp dụng Basel II, trong khi các chủ thể khác của thị trường tài chính như công ty tài chính, chứng khoán, và bảo hiểm lại không bị yêu cầu này. Sự phân biệt này có thể làm hỏng toàn bộ nỗ lực củng cố thị trường tài chính bởi những chủ thể này cùng với các ngân hàng sẽ quyết định sự ổn định của hệ thống tài chính. Vấn đề bất đối xứng về nghĩa vụ này còn được khuyếch đại bởi sự bất đối xứng về giám sát. Trong khi ngân hàng thương mại và công ty tài chính được giám sát bởi Ngân hàng Nhà nước thì công ty chứng khoán và bảo hiểm lại được giám sát bởi Bộ Tài chính. Sự phối hợp giám sát giữa các cơ quan chức năng này vẫn còn phải cải thiện hơn nữa.
Thứ năm, thực thi Basel II sẽ không hề rẻ. Với gánh nặng phải tuân thủ các chuẩn mực Basel II, các ngân hàng ở châu Âu đã được ước tính phải bỏ ra hàng chục triệu USD để thực thi Basel II. Như vậy, thường chỉ có các ngân hàng lớn ở Việt Nam mới có đủ khả năng theo đuổi cuộc chơi tốn kém mang tên thực thi Basel II. Tất nhiên, đổi lại, những ngân hàng lớn sẽ đạt được sự cân bằng tốt hơn giữa rủi ro và lợi nhuận.

Cuối cùng, thực thi Basel II dẫn đến sự phân biệt giữa các đối tượng cho vay là doanh nghiệp lớn với các doanh nghiệp nhỏ vì doanh nghiệp nhỏ thường được xem là có độ rủi ro cao hơn các doanh nghiệp lớn. Bởi vậy, cơ quan chức năng cũng phải có giải pháp để hạn chế mặt trái này của Basel II.

Saturday, 19 November 2016

Để bảo hộ hay bảo đảm an toàn? (Bài đăng trên TBKTSG, 19/11/2016)

 http://www.thesaigontimes.vn/153932/De-bao-ho-hay-bao-dam-an-toan.html

Chiều 17/11 Quốc hội đã thông qua Luật Đấu giá tài sản. Theo đó, việc đấu giá nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam (Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam - VAMC) đã được đưa vào luật này.
Giải thích lý do quy định việc đấu giá nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của VAMC, theo báo chí đưa tin, Ủy ban Thường vụ Quốc hội dẫn yêu cầu tại nghị quyết Trung ương 4, nhấn mạnh việc giao thẩm quyền và nâng cao năng lực của VAMC trong mua bán nợ theo giá thị trường gắn với xử lý tài sản thế chấp, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của chủ nợ. Bên cạnh đó, các quy định bán đấu giá nợ xấu trong dự thảo luật đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội bổ sung lại cho chặt chẽ, minh bạch, khách quan... tránh thất thoát tài sản Nhà nước (trong quá trình đấu giá). Ví dụ, luật này không cho phép VAMC bán đấu giá theo trình tự, thủ tục rút gọn.
Tuy nhiên, từ góc độ xử lý nợ xấu, tình trạng hiện tại của dự thảo còn một số tồn tại lớn.
Trước tiên, không rõ có chính xác là Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đưa vào dự thảo quy định không cho phép VAMC bán đấu giá theo trình tự, thủ tục rút gọn, như báo chí đưa tin, hay không. Nếu đúng là như vậy thì thật khó hiểu khi điều 53 “Đấu giá theo thủ tục rút gọn”, mục 1.c của dự thảo lại vẫn cho phép VAMC được đấu giá nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của mình theo thủ tục rút gọn. Và nếu đúng là VAMC được đấu giá nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo thủ tục rút gọn như vậy thì những lo ngại của dư luận và của ngay chính Ủy ban Thường vụ Quốc hội, như báo chí đưa tin, về chuyện thất thoát tài sản nhà nước trong quá trình đấu giá là có khả năng thành sự thật.  
Tồn tại thứ hai là, dự thảo luật chỉ chọn và cho phép duy nhất VAMC được đấu giá nợ xấu và tài sản đảm bảo cho khoản nợ xấu mà hoàn toàn “lờ” đi các Tổ chức xử lý nợ xấu (AMC) khác của các ngân hàng thương mại. Như đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội diễn giải, mục đích quy định đấu giá xử lý nợ xấu và tài sản đảm bảo của khoản nợ xấu của VAMC là để tạo thẩm quyền và nâng cao năng lực xử lý nợ xấu của VAMC. Nhưng mục đích thực sự cuối cùng (không được nói rõ ra) là để nhằm giải quyết nhanh nợ xấu theo cơ chế thị trường. Bởi vậy, giả sử song song với VAMC, dự thảo luật quy định thêm các AMC khác cũng được đấu giá nợ xấu và tài sản đảm bảo khoản nợ xấu của các ngân hàng thương mại mà chúng nắm giữ thì rõ ràng quá trình xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng càng được đẩy nhanh bội phần và đây là một điều tốt và mong muốn không chỉ của các ngân hàng mà cả toàn xã hội. Vậy, không hiểu vì lý do gì mà các AMC của các ngân hàng thương mại lại không được trao quyền như với VAMC, biến quyền được đấu giá nợ xấu và tài sản đảm bảo khoản nợ xấu trở thành một đặc quyền cho VAMC.
Nếu cho rằng chỉ có VAMC mới cần thiết, mới có đủ khả năng (và “có tóc”, tức đáng tin cậy hơn, dễ quản lý hơn so với các AMC, trong con mắt của giới quản lý) thực hiện đấu giá nợ xấu thì hoàn toàn không chính xác. Nhu cầu xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại và các AMC của họ cũng rất cấp bách, thậm chí còn hơn cả VAMC vì nợ xấu tồn tại ngày nào thì các ngân hàng thương mại thiệt hại ngày đó vì phải trích lập dự phòng xử lý nợ xấu, vì vốn bị trôn trong nợ xấu, trong khi VAMC thì xử lý được nợ xấu thì tốt, và thu được thù lao xử lý nợ xấu từ các ngân hàng thương mại; không xử lý được thì cứ để ở đó mà chẳng phải chịu tốn phí cắc bạc nào cả vì nợ xấu không phải là của VAMC mà thực chất chỉ được họ giữ hộ các ngân hàng thương mại mà thôi.
Nếu cho rằng chỉ có VAMC mới đủ khả năng, mới đủ độ tin cậy để đứng ra thực hiện việc đấu giá thì đây chỉ là quan niệm của giới “cạo giấy” quan liêu. Đội ngũ nhân viên VAMC cũng chỉ được tuyển dụng quanh quẩn trong hệ thống ngân hàng, với trình độ xêm xêm như với những đồng nghiệp của họ ở các ngân hàng thương mại, ở các AMC. Về độ tin cậy thì VAMC cũng chỉ hơn được các AMC ở cái mác thuộc “sở hữu nhà nước 100%” nhưng cái mác này hiện nay không còn nhiều giá trị như trước, và cũng không nói lên nhiều về sự đáng tin cậy. Trong khi đó, động cơ làm việc thì VAMC có thể kém xa các AMC, vì, như đã nói, xử lý nợ xấu nhanh và hiệu quả là quyền lợi sát sườn của các AMC và các ngân hàng thương mại chủ nợ xấu, chứ không phải của VAMC.
Trên hết và quan trọng hơn, vai trò của pháp luật là để điều chỉnh và chế tài tất cả các hành vi của các đối tượng được chế tài nên tất cả những quan ngại và lo sợ về việc trao quyền (và nghĩa vụ) tương đương cho các AMC như với VAMC hoàn toàn có thể hóa giải được bằng việc ban hành và thực thi nghiêm túc các điều luật liên quan, như (hoặc hơn, nếu cần) những quy định cho VAMC. Trên khía cạnh này, việc “lờ” các AMC trong việc được đấu giá nợ xấu và tài sản đảm bảo khoản nợ xấu càng trở nên khó hiểu, khó chấp nhận.
Tồn tại thứ ba của dự thảo luật là dường như không nhận thức, đánh giá đúng được những khó khăn, vướng mắc trong quá trình đấu giá, chuyển giao sở hữu tài sản, nhất là tài sản đảm bảo khoản nợ xấu. Ví dụ, dự thảo luật quy định VAMC có nghĩa vụ giao tài sản đấu giá và các giấy tờ liên quan đến tài sản đấu giá cho người mua được tài sản đấu giá. Nhưng liệu người mua được tài sản đấu giá sau khi cầm được tất cả các giấy tờ liên quan đến tài sản này, gồm có sổ đỏ nếu tài sản đấu giá là mảnh đất, có sang tên chủ sở hữu thành của mình hay không thì lại là chuyện khác, không có gì đảm bảo là việc này sẽ thành công, trong trường hợp, ví dụ, người chủ cũ nhất quyết không chịu làm thủ tục sang tên.
Do vậy, chừng nào Luật đấu giá không có quy định liên quan, ví dụ, cho phép các cơ quan chức năng công nhận chủ sở hữu mới các tài sản bảo đảm nợ xấu sau quá trình đấu giá mà không cần người chủ mới này phải làm thêm thủ tục sang nhượng quyền sở hữu từ chủ cũ thì chừng đó luật này cũng chỉ để cho có, chỉ phát huy tác dụng trong một số hãn hữu trường hợp mà, ví dụ, chủ cũ tự nguyện hợp tác trong việc sang tên, đổi chủ mà thôi.
Tóm lại, nếu chỉ dừng lại ở hiện trạng như dự thảo thì Luật Đấu giá tài sản cũng không giúp gì nhiều cho việc xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng nói chung và của VAMC nói riêng!

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).