Friday, 7 May 2021

Trung Quốc thay đổi chính sách thuế với sắt thép: Ngành thép Việt Nam có hưởng lợi? (Bài đăng trên Đầu tư, 7/5/2021)

https://baodautu.vn/trung-quoc-thay-doi-chinh-sach-thue-voi-sat-thep-nganh-thep-viet-nam-co-huong-loi-d142210.html 

Trong một nỗ lực kiềm chế hơn nữa sản lượng thép trong nước và sự tăng vọt về giá của quặng thép, Trung Quốc mới đây đã xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với một số nguyên liệu dùng trong sản xuất thép, làm cho việc xuất khẩu thép của các nhà xuất khẩu nước này trở nên tốn kém hơn.

Theo đó, có hiệu lực từ ngày 1/5, phí nhập khẩu gang thỏi, phôi thép và thép phế liệu sẽ là 0. Đây là những nguyên liệu đầu vào để sản xuất thép thay cho việc dùng quặng sắt để luyện thép trong lò cao. Đồng thời, việc hoàn thuế xuất khẩu thép cũng bị xóa bỏ. Mục đích của các động thái này, theo phía Trung Quốc giải thích, là để “giảm chi phí nhập khẩu, tăng cường nhập khẩu các nguồn lực thép và hỗ trợ việc giảm sản lượng thép thô trong nước”. Nói cách khác, Trung Quốc đang muốn khuyến khích nhập khẩu và giảm xuất khẩu thép.

Trước đó, Trung Quốc, nước sản xuất quá nửa sản lượng thép toàn cầu, đã cam kết giảm sản lượng thép năm nay như là một phần trong kế hoạch giảm phát thải carbon từ một trong những ngành công nghiệp ô nhiễm nhất.

Những thay đổi về thuế nói trên được thực hiện trong bối cảnh giá các nguyên liệu tăng vọt, với giá quặng sắt đã đạt đến các mức kỷ lục trong lịch sử. Ngoài biện pháp thuế, phí, các biện pháp hành chính cũng được áp dụng, như việc chính quyền Đường Sơn (thuôc tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc) yêu cầu 23 nhà sản xuất tại địa phương này phải cắt giảm sản lượng thép trong năm 2021 để giảm phát thải carbon 30-50%.

Thay đổi về thuế phí trên của Trung Quốc sẽ có tác động đến sản xuất và xuất nhập khẩu thép toàn cầu bởi vị thế đứng đầu của nước này trong sản xuất (gần 1 tỷ tấn thép thô năm 2019 trong tổng sản lượng thế giới 1,9 tỷ tấn năm), xuất khẩu (64 triệu tấn thép các loại năm 2019 trong tổng xuất khẩu 438 triệu tấn của thế giới) và nhập khẩu (1,1 tỷ tấn quặng sắt năm 2019 trên tổng nhập khẩu của thế giới là 1,6 tỷ tấn).

Trước mắt, việc cắt bỏ các khuyến khích vật chất trong xuất khẩu thép của Trung Quốc sẽ thu hẹp đáng kể quy mô xuất khẩu 64 triệu tấn của Trung Quốc như trong năm 2019, từ đó giảm sự cạnh tranh của thép nhập khẩu từ Trung Quốc trên các thị trường, chủ yếu trong khu vực như Đông Nam Á (riêng Việt Nam trong 2 tháng đầu năm đã nhập khẩu hơn 1 triệu tấn thép từ Trung Quốc, chiếm 48% tổng lượng nhập khẩu thép của Việt Nam, theo số liệu của Hiệp hội Thép Việt Nam).

Quan trọng hơn, việc chuyển hướng của Chính phủ Trung Quốc sang khuyến khích các nhà sản xuất Trung Quốc dùng nhiều hơn nguồn gang, phôi thép và thép phế nhập khẩu để sản xuất thép theo công nghệ lò điện hồ quang sẽ làm tăng đột ngột nhu cầu nhập khẩu, do đó, giá của những nguyên liệu này trên thị trường thế giới sẽ tăng lên.

Ngược lại, việc nhập khẩu các nguyên liệu thay thế quặng sắt để sản xuất thép này sẽ làm giảm tương ứng nhu cầu nhập khẩu khổng lồ về quặng sắt và than mỡ luyện cốc của Trung Quốc, nhờ đó sẽ giảm áp lực về giá quặng sắt, than mỡ luyện cốc/than cốc và trợ dung cho các nhà sản xuất thép theo công nghệ lò cao trên thế giới.

Lưu ý là, giá quặng sắt giao ngay đang ở mức cao nhất trong lịch sử, đạt 194,5 USD/tấn CFR vào ngày 27/4, cao hơn nhiều so với mức 86 USD/tấn một năm trước. Tương tự, giá than luyện cốc tại cảng Qinhuangdao của Trung Quốc cũng đã leo lên đến mức chưa từng có là 275 USD/tấn. Nếu Trung Quốc giảm nhập khẩu quặng sắt và than luyện cốc sẽ làm giá quặng sắt và than mỡ luyện cốc trên thị trường thế giới giảm đáng kể.

Tác động đến ngành thép Việt Nam

Đối với Việt Nam, thay đổi về chính sách thuế, phí trên của Trung Quốc trước hết sẽ làm lợi cho các nhà sản xuất thép của Việt Nam dùng/phụ thuộc vào quặng sắt và than luyện cốc với công nghệ lò cao. Ở Việt Nam hiện nay có một số nhà sản xuất dùng công nghệ lò cao như TISCO, Công ty Khoáng sản và Luyện kim Việt Trung (VTM), Hòa Phát, Formosa Hà Tĩnh...

Xét về quy mô, cho đến năm 2020, Formosa Hà Tính đã dẫn đầu, bỏ xa các đối thủ nội địa với tổng công suất 7,5 triệu tấn/năm từ 2 lò cao dung tích 4.350 m3 mỗi lò, được lắp đặt năm 2017 và 2020. Năm 2015, Hòa Phát có 3 lò loại 550 m3. Theo báo chí, năm 2021, Hòa Phát sẽ lắp đặt và đưa vào vận hành một số lò cao loại 1.350 m3, nâng tổng công suất thép lên gần 8 triệu tấn/năm, vượt cả Formosa Hà Tĩnh. Các đối thủ còn lại thường chỉ có một hoặc vài lò cao với dung tích nhỏ hơn nhiều.

Đối với các nhà sản xuất thép theo công nghệ lò điện hồ quang, việc thay đổi chính sách trên của Trung Quốc sẽ tác động tiêu cực tới các nhà sản xuất này, xét trên khía cạnh làm tăng giá nguyên liệu đầu vào của công nghệ này, đặc biệt là thép phế liệu. Ở Việt Nam vẫn còn hàng chục nhà sản xuất loại này như Thép Việt Ý, Thép Miền Nam, với tổng công suất vào năm 2018 là 7 triệu tấn, chiếm 38% tổng công suất thép cả nước (theo số liệu của Hiệp hội Thép Việt Nam).

Trên bình diện chung, trong khi nhu cầu tiêu thụ thép nội địa được dự báo tiếp tục tăng nhanh nhờ đầu tư gia tăng mạnh mẽ vào kết cấu hạ tầng (như Cao tốc Bắc - Nam) và dự án bất động sản, việc Trung Quốc cắt giảm xuất khẩu sắt thép sẽ làm lợi chung cho các nhà sản xuất thép của Việt Nam, dù họ sản xuất thép theo công nghệ nào.

Tuy nhiên, tác động của việc Trung Quốc xóa bỏ thuế nhập khẩu thép phế liệu đối với sản xuất và xuất nhập khẩu thép toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng có thể không quá lớn, bởi thép phế liệu cung cấp trong nước của Trung Quốc đang rẻ hơn nhiều so với thép phế liệu nhập khẩu. Ngoài ra, nguồn thép phế liệu nhập khẩu trên thế giới cũng hạn chế về quy mô so với nguồn cung trong nước của Trung Quốc.

Tóm lại, các thay đổi chính sách liên quan đến ngành thép gần đây của Trung Quốc được kỳ vọng sẽ làm lợi cho các nhà sản xuất thép dùng công nghệ lò cao của Việt Nam nhờ giảm chi phí nguyên liệu nhập khẩu như quặng sắt và than mỡ/cốc. Giá bán thép thành phẩm tiếp tục đứng ở mức cao cũng sẽ làm lợi cho tất cả các nhà sản xuất thép ở Việt Nam.

Thursday, 6 May 2021

Cần hiểu đúng hơn về cung tiền và sốt bất động sản, chứng khoán (Bài đăng trên CafeF, 6/5/2021)

(Bài phang đồng chí tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa)

https://www.blogger.com/blog/post/edit/8051314897353908142/8351534258217638813

Nhiều người hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa hiểu đúng cung tiền và những vấn đề liên quan, từ đó không thấy rõ rủi ro của cung tiền có thể gây ra cho các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế.

Cung tiền M2 là gì?

Cung tiền M2, còn được gọi là tổng phương tiện thanh toán theo cách gọi của Việt Nam, gồm những cấu phần như sau:

Cung tiền M2 = Tiền trong lưu thông (tiền mặt) + Các khoản tiền gửi không kỳ hạn                                                             + Các khoản tiền gửi có kỳ hạn                                                                         

                          = Tiền mặt + Tiền gửi của tổ chức kinh tế và dân cư bằng tiền đồng                                                                + Tiền gửi của tổ chức kinh tế và dân cư bằng ngoại tệ                                                              

Như vậy, cung tiền không liên quan gì đến cái gọi là “cung tiền của Chính phủ”, và cũng không có công thức tính cung tiền nào như thế này: Cung tiền (M2) = Cung tiền từ Chính phủ + Tăng trưởng tín dụng.

Và cần lưu ý rằng Chính phủ không bơm/cung tiền, mà chỉ có Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mới có chức năng này. Chính phủ muốn tăng chi tiêu nhưng không có tiền thì phải vay mượn từ nền kinh tế, và tiền này cuối cùng sẽ được cung cấp thêm bởi NHNN.

Tăng trưởng cung tiền và tăng trưởng tín dụng là bao nhiêu?

Nhiều người vẫn cho rằng cung tiền và tín dụng trong khoảng 5 năm trở lại đây tăng trưởng đều và ở mức thấp, xoay quanh 12-13%. Thực tế không đúng vậy, như bảng dưới đây cho biết (dựa trên số liệu công bố trên website của NHNN):

Tăng trưởng tín dụng ở mức trên 18% cho đến năm 2017 rồi đột ngột giảm còn một nửa vào năm 2018, trồi sụt cho đến năm 2020 và tăng vọt trở lại vào tháng 4/2021 ở mức 15.1%.

Tăng trưởng cung tiền nhìn chung ổn định hơn nhưng có tốc độ cao hơn tăng trưởng tín dụng trong 5 năm qua, chứ không phải là “tương đương với tốc độ tăng trưởng tín dụng”, như có người nhận xét. Lưu ý thêm là cả tốc độ tăng trưởng cung tiền và nhất là tín dụng đều tăng vọt trong 4 tháng đầu năm nay, lên trên 15%.

Gói hỗ trợ của Chính phủ có được tính vào cung tiền không?

Các gói cứu trợ khổng lồ của một số nước, như  Mỹ, được một số người mang ra so sánh với Việt Nam để kết luận rằng cung tiền (từ Chính phủ) ở Việt Nam là không đáng kể, và, do đó, không phải lo về bong bóng tài sản.

So sánh như trên là khập khiễng, bởi như trên đã nói, khái niệm cung tiền hoàn toàn không bao gồm chi tiêu/hỗ trợ của Chính phủ, mà chỉ gồm tiền mặt và tiền gửi của các chủ thể kinh tế. Vì thế mới có chuyện Bộ Tài chính Mỹ phải phát hành trái phiếu và Fed phải mua trái phiếu này nhằm cấp vốn tài trợ cho các gói hỗ trợ của Bộ Tài chính (gọi là nới lỏng định lượng), chứ Bộ Tài chính không tự in thêm ra được số tiền này để nói rằng Chính phủ (Bộ Tài chính) Mỹ đã bơm tiền vào nền kinh tế Mỹ.

Việt Nam có bơm thêm tiền vào lưu thông không?

Vẫn ý kiến trên cho rằng Việt Nam không bơm thêm tiền vào lưu thông, tăng trưởng tín dụng bình thường và không có gói kích thích kinh tế lớn nào. Từ đó cho rằng cung tiền M2 tăng nhanh hơn tăng trưởng GDP cũng không đáng lo ngại, và rằng cách điều hành của NHNN vốn đã rất thận trọng, không vì suy thoái mà tăng cung tiền.

Nói NHNN không tăng cung tiền dù kinh tế suy thoái là không đúng, bởi thực tế thì cung tiền đã tăng mạnh từ năm 2020 đến nay, như bảng trên cho thấy. Nói cách khác, nếu cho rằng cung tiền không tăng lên vậy thì “cung tiền” mà NHNN công bố trên website của họ là cung tiền gì?

Tương tự, nói Việt Nam không bơm thêm tiền vào lưu thông thì điều này cũng có nghĩa là không coi cung tiền M2 là tiền đi vào lưu thông/nền kinh tế. Vì quan niệm như vậy là sai – vì cung tiền dưới dạng tiền gửi và tiền mặt chính là tiền đi vào nền kinh tế – nên khi lượng M2 tăng lên mạnh trong năm 2020 và 4 tháng đầu năm 2021, như cho thấy trong bảng trên, thì chắc chắn có nghĩa là tiền đã được bơm mạnh thêm vào lưu thông/nền kinh tế.

Việc nêu Việt Nam không có gói kích thích nào lớn để cho rằng Việt Nam không bơm thêm tiền vào lưu thông cũng là một sai lầm lớn khác, bởi như đã nói ở trên, các gói kích thích của Chính phủ không phải là cung tiền/tiền tung vào nền kinh tế.

Bong bóng tài sản có phải là khủng hoảng không?

Có người cho rằng thời điểm hiện tại mà lại đi lo ngại về hiện tượng bong bóng tài sản thì chứng tỏ chẳng hiểu gì về khủng hoảng.

Trước tiên, cần lưu ý những ý kiến lo ngại về bong bóng tài sản chủ yếu mới dừng lại ở chuyện bong bóng và chuyện nợ xấu như là hậu quả của việc ngân hàng cho vay quá mức vào đó. Nếu họ có đề cập đến chuyện khủng hoảng thì chỉ ở cái nghĩa là bong bóng tài sản nếu không được kiềm chế, khi vỡ ra thì có khả năng dẫn đến “khủng hoảng” dưới dạng như đã từng xảy ra trong ngành ngân hàng và cả nền kinh tế những năm trước đây. Nói cách khác, đang nói đến bong bóng tài sản thì hãy chỉ nói đến chuyện bong bóng, chứ đừng nhảy sang chuyện “khủng hoảng”, ít nhất là bởi vẫn có nhiều người hiểu rõ rằng bong bóng tài sản không nhất thiết là khủng hoảng, như nói thêm dưới đây.

Tiếp theo, cần phải làm rõ phạm vi của “khủng hoảng”. Khủng hoảng nếu là trong một ngành, lĩnh vực, theo cái nghĩa giá cả sụp đổ, nhiều doanh nghiệp và người dân tham gia bị phá sản, không trả được nợ (cho ngân hàng) thì bong bóng tài sản có thể gây ra, hoặc là tiền đề cho khủng hoảng trong ngành này.

Nhưng nếu phạm vi khủng hoảng nói ở đây là rộng hơn, ra cả nền kinh tế trong nước, ra cả thế giới thì lại là một chuyện khác, và bong bóng của một vài tài sản nhất định nào đó không nhất thiết gây ra khủng hoảng, nếu quy mô của tài sản đang nói đến không quá lớn (so với GDP), và/hoặc nếu bong bóng không bị để mặc cho cứ phình lên mãi (chẳng hạn tiền tiếp tục được bơm vào nền kinh tế, vào các tài sản đó). 


Monday, 3 May 2021

Chính phủ Singapore đã giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyển đổi số như thế nào? (Bài đăng trên Tạp chi TT&TT, 4/2021)

https://ictvietnam.vn/chinh-phu-singapore-da-giup-cac-doanh-nghiep-vua-va-nho-chuyen-doi-so-nhu-the-nao-20210426092253295.htm

Chuyển đổi số đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt trong thời kỳ dịch bệnh, với nền kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi phong tỏa và giãn cách xã hội.

Về khái niệm, chuyển đổi số là quá trình ứng dụng các công nghệ số hiện có để sửa đổi (hay tạo mới) những quy trình sản xuất kinh doanh hiện hữu, văn hóa doanh nghiệp, và trải nghiệm khách hàng. Nói cách khác, chuyển đổi số chính là ứng dụng số vào: (i) tư duy và tầm nhìn lãnh đạo; (ii) tổ chức nội bộ - con người và quy trình; và (iii) quan hệ khách hàng và trải nghiệm khách hàng.

Chuyển đổi số đóng vai trò quan trọng bởi, nếu thực hiện có hiệu quả, trước hết nó sẽ giúp cải thiện lợi nhuận. Theo một cuộc khảo sát bởi Gartner vào giữa năm 2020, 56% CEO của các doanh nghiệp Singapore được khảo sát cho biết chuyển đổi số đã giúp doanh nghiệp của họ cải thiện đáng kể lợi nhuận.

Riêng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs, là những doanh nghiệp có doanh thu hàng năm đến 100 triệu SGD/74 triệu USD), tuyển dụng đến 2/3 lực lượng lao động và đóng góp gần ½ GDP của Singapore, một khảo sát của ngân hàng UOB hồi cuối năm 2020 với 782 SMEs cho thấy 2 trong số 5 doanh nghiệp (41%) đã thực hiện các giải pháp chuyển đổi số năm 2020 đã đạt được tăng trưởng doanh thu cao hơn SMEs không thực hiện. Đáng nói hơn, SMEs nào thực hiện chuyển đổi số trong một số hoặc toàn bộ các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thì có tăng trưởng thu nhập cao hơn SMEs chỉ chuyển đổi số trong một lĩnh vực.

Một trong các ví dụ cụ thể về hiệu quả chuyển đổi số trong SMEs là trường hợp của chuỗi nhà hàng địa phương Tim Ho Wan. Chuỗi nhà hàng này đã phối hợp với một tổ chức chỉ định bởi Chính phủ để hiện đại hóa hệ thống nhận gọi món, tính toán và báo cáo vốn chán ngắt và tốn rất nhiều thời gian. Kết quả là đã tiết kiệm được 20-30% số giờ nhân lực cần thiết so với trước khi hiện đại hóa.

Một ví dụ chuyển đổi số thành công khác là công ty chế tạo máy chính xác bản địa Onn Wah Tech. Công ty này đã áp dụng Hệ thống Thi hành Chế tạo (MES) để theo dõi và phân tích luồng dữ liệu nhằmcắt giảm chi phí và tăng doanh thu, nhờ đó năng suất của công ty đã tăng lên 10-15%.

Ngoài ra, chuyển đổi số còn giúp doanh nghiệp cải thiện được hiệu quả kinh doanh (thông qua cải thiện các quy trình và hoạt động sản xuất kinh doanh), duy trì được vị trí cạnh tranh so với đối thủ (thông qua việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ độc đáo, nhờ đó mở rộng thị trường và mở ra mô hình kinh doanh mới), và tăng cường khả năng chống chịu, thích ứng và phát triển của doanh nghiệp khi có những thay đổi đột ngột trong môi trường kinh doanh (COVID-19 làm lợi cho các doanh nghiệp có mô hình kinh doanh hiện đại không cần cơ sở hạ tầng vật lý).

Chuyển đổi số càng có ý nghĩa quan trọng hơn đối với Singapore bởi nó sẽ giúp các doanh nghiệp Singapore cải thiện năng suất và hiệu quả của nhân viên trong bối cảnh chi phí lao động trong nước ngày càng tăng (do hạn chế lao động nước ngoài) và sự cạnh tranh của các nước trong khu vực trong các lĩnh vực mà Singapore có thế mạnh như sinh hóa, điện tử, hóa chất, tài chính, y tế và logistics ngày càng mạnh mẽ hơn.

Chính phủ Singapore trong những năm qua đã liên tục triển khai nhiều sáng kiến và biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là SMEs trong quá trình chuyển đổi số.

Chương trình SMEs Go Digital (SMEs Chuyển đổi số) Chương trình này được khởi xướng tháng 4/2017 và được bảo trợ bởi Cục Phát triển Thông tin Truyền thông (IMDA) nhằm làm cho chuyển đổi số trở nên đơn giản hơn với SMEs, đồng thời hỗ trợ họ sử dụng các công nghệ số và xây dựng năng lực số mạnh hơn cho nhân viên để nắm bắt các cơ hội trong nền kinh tế số, cũng như nâng cao năng lực an ninh mạng và bảo vệ và phân tích dữ liệu.

Chương trình này cung cấp một công cụ để SMEs tự đánh giá năng lực số hiện thời của mình, vạch ra lộ trình từng bước áp dụng các giải pháp số thích hợp và đào tạo nhân viên tại mỗi giai đoạn. Để tạo thuận lợi cho SMEs quan tâm đến giải pháp nào thì nộp đơn qua mạng và Chính phủ sẽ hỗ trợ tối đa 80% chi phí áp dụng các giải pháp này.

Đồng thời, chương trình cũng giới thiệu thêm một gói giải pháp cơ bản "Start Digital" vào tháng 1/2019. Gói này giúp SMEs mới thành lập và những doanh nghiệp nào chưa chuyển đổi số bắt đầu thực hiện các giải pháp chuyển đổi số cơ bản, thông qua các đầu mối tiếp xúc tự nhiên là các ngân hàng và công ty viễn thông. Theo đó SMEs nào ký hợp đồng sử dụng tối thiểu 18 tháng thì có thể sử dụng bất cứ 2 giải pháp nào trong số 6 giải pháp, gồm Kế toán, Hệ thống Quản lý Nhân lực và Tiền lương, Marketing Số, Giao dịch Số, An ninh mạng, và Hợp tác Số với chi phí trong 6 tháng được Chính phủ tài trợ.

Khi COVID-19 nổ ra, nhằm giúp đỡ SMEs hơn nữa, tháng 6/2020 Chính phủ Singapore đưa ra sáng kiến "Grow Digital", theo đó SMEs có thể tham gia vào các nền tảng thương mại điện tử B2B (giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp) và B2C (giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng) để bán hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài mà không cần sự hiện diện vật lý.

Những nền tảng này, được phê chuẩn trước bởi IMDA, được chọn bởi chúng là những mạng lưới mạnh với các nhà cung cấp dịch vụ mang tính bổ trợ (ví dụ như logistics và tài chính), có lịch sử kinh doanh tốt và có kinh nghiệm hoạt động trên các thị trường nước ngoài. Thông qua những nền tảng này, SMEs có thể thu được những lợi ích như: (i) mở rộng thị trường nước ngoài nhờ kết nối thông minh với khách hàng nước ngoài tiềm năng; (ii) tối ưu hóa việc niêm yết trên các thị trường điện tử nước ngoài; (iii) tiếp cận tức thời với các thu xếp tài chính có trên nền tảng; (iv) các thu xếp thanh toán điện tử xuyên biên giới giúp giảm rủi ro tiền tệ; và (v) mạng lưới các đối tác mạnh gồm các công ty logistics giúp giao hàng hóa.

Cũng trong động thái hỗ trợ những ngành nghề bị ảnh hưởng nặng bởi COVID-19 gồm ngành bán lẻ và ăn uống, Chính phủ Singapore vào tháng 5/2020 giới thiệu chương trình "Digital Resilience Bonus".

Theo đó, những doanh nghiệp nào trong hai ngành này được thành lập trước ngày 26/5/2020 và đã ứng dụng các giải pháp số đã duyệt trước ngày 30/6/2021 sẽ nhận được tối đa 10.000 SGD nếu họ áp dụng các hình thức thanh toán điện tử như PayNow Corporate và InvoiceNow, bên cạnh điều kiện đã ứng dụng các giải pháp số theo yêu cầu gồm giải pháp kế toán, quản lý nhân sự, quản lý tồn kho, nhận đơn hàng và giao hàng, và phân tích dữ liệu.

Để khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng các giải pháp tiên tiến hơn nhằm nâng cao hơn nữa năng lực số và cải thiện sức bền bỉ của doanh nghiệp trong dài hạn, Chính phủ Singapore hỗ trợ tối đa 80% chi phí ứng dụng các giải pháp loại tiên tiến được xác định dưới gói "Advanced Digital Solutions". Những giải pháp số hợp nhất này được IMDA chọn ra trong giai đoạn cho đến 31/9/2021 trên cơ sở làm việc với các đơn vị đi đầu trong các ngành. Các doanh nghiệp quan tâm có thể nộp đơn qua website của IMDA trong thời hạn quy định cho từng giải pháp và nếu thành công thì sẽ được đài thọ chi phí về phần cứng, phần mềm, cơ sở hạ tầng, kết nối, an ninh mạng, tích hợp, phát triển, củng cố và quản lý dự án. Chi phí thay thế và mở rộng các hệ thống cũ và cơ sở hạ tầng hiện tại cũng có thể được hỗ trợ.

Chương trình "Chief Technology Officer (CTO) -as-a-Service" (Giám đốc công nghệ dạng dịch vụ)

Chương trình này trợ giúp SMEs hiểu và đánh giá được các nhu cầu về số hóa và sự thiếu hụt về năng lực của mình, kèm với khuyến nghị về các giải pháp số. SMEs nào cần các khuyến nghị sâu hơn có thể truy cập và tham khảo một tập hợp các CTO đã có cũng như các chuyên gia số trong các lĩnh vực an ninh mạng, phân tích dữ liệu, và trí tuệ nhân tạo. Các chuyên gia số này được quản lý bởi các công ty IT do IMDA lựa chọn trên cơ sở kinh nghiệm và uy tín của họ trong lĩnh vực tương ứng. Tất cả SMEs có thể tiếp cận dịch vụ tư vấn bởi các chuyên gia này bằng cách nộp đơn trên mạng (trang Web Chương trình: https://www.imda.gov.sg/programme-listing/smes- go-digital/CTOaaS).

Chương trình "Digital Leaders Program" (Lãnh đạo số)

Chương trình mới ra mắt này sẽ tìm kiếm các doanh nghiệp có nhiều triển vọng và trang bị cho chúng những năng lực số cần thiết để chuyển đổi mô hình kinh doanh của chúng. Chương trình này sẽ trợ giúp các doanh nghiệp xây dựng kỹ năng chuyên môn, gồm việc tuyển dụng các nhân sự có tài năng về số, và phát triển và thực thi lộ trình chuyển đổi số.

Chương trình này sẽ đài thọ tối đa tới 70% chi phí để xây dựng một team phụ trách số trong doanh nghiệp và các chi phí có liên quan theo quy định. Đồng thời, chương trình ban đầu sẽ tài trợ cho 80 doanh nghiệp số tiên tiến. Doanh nghiệp trong chương trình này sẽ tham gia thử nghiệm trong 2 năm, và chương trình này sẽ bắt đầu trong tháng 4 này.

Chương trình "Open Innovative Platform" (Nền tảng sáng tạo mở)

Để tăng tốc đổi mới sáng tạo về số và khuyến khích hơn nữa sự hợp tác, Chính phủ Singapore đã tăng cường chương trình này, vốn được đưa ra vào năm 2018 để trợ giúp các doanh nghiệp có được các nguồn lực cần thiết đáp ứng nhu cầu đổi mới sáng tạo của mình một cách hiệu quả.

Chương trình này được tăng cường ở 2 công cụ, "Công cụ Tìm kiếm" (Discovery Engine) – hỗ trợ việc tìm kiếm và so khớp các giải pháp công nghệ, và "Digital Bench" – công cụ cung cấp nhanh thử nghiệm bằng chứng khả thi (proof of concept) thông qua một nền tảng cung cấp bằng chứng khả thi ảo.

Chính phủ hy vọng rằng chương trình này sẽ dẫn đến sự ra đời nhiều hơn các đồng sáng tạo đổi mới, phát triển nhanh các nguyên mẫu thử nghiệm, và giảm thời gian cho sản phẩm và dịch vụ được thương mại hóa.

Như vậy, có thể thấy Chính phủ Singapore đã rất chủ động và tích cực triển khai nhiều sáng kiến và giải pháp mới, cũng như mở rộng các sáng kiến và giải pháp cũ để hỗ trợ các doanh nghiệp nói chung và đặc biệt là SMEs nhằm tăng tốc công cuộc chuyển đổi số của họ để cải thiện hiệu quả và năng suất trong sản xuất, kinh doanh. Nhưng Chính phủ Singapore cũng nhận thức được mấu chốt của sự thành công của công cuộc chuyển đổi số cuối cùng vẫn nằm ở việc các doanh nghiệp sẽ ứng dụng các công nghệ số gì và thế nào để tăng trưởng và cạnh tranh mạnh mẽ hơn.

Sunday, 2 May 2021

Tín dụng vào bất động sản và chứng khoán thực sự không đáng lo? (Bài đăng trên CafeF, 2/5/2021)

https://cafef.vn/tin-dung-vao-bat-dong-san-va-chung-khoan-thuc-su-khong-dang-lo-20210502161057288.chn 

Trong bối cảnh sốt đất và sốt chứng khoán, một số người đã kiến nghị siết tín dụng chảy vào những lĩnh vực này để dập tắt các cơn sốt vốn sẽ để lại hậu quả lớn cho nền kinh tế nếu trở thành bong bóng và vỡ sau đó. Căn cứ của luồng ý kiến này là tín dụng đã chảy mạnh vào chứng khoán và bất động sản trong những tháng cuối năm trước và đầu năm nay, gây ra các cơn sốt như đã chứng kiến.

Nhưng ngược lại, cũng có nhiều người cho rằng không có căn cứ, không cần siết tín dụng vào những lĩnh vực nói trên. Căn cứ của luồng ý kiến này là dư nợ cho vay chứng khoán trong tổng dư nợ hiện còn rất nhỏ. Dư nợ cho vay bất động sản tuy lớn, chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng tín dụng (20%), song chủ yếu là phục vụ nhu cầu thực của người dân.

Cụ thể hơn, với trường hợp của Vietcombank, năm 2020, dư nợ cho vay kinh doanh bất động sản chỉ chiếm chưa đầy 4% tổng dư nợ cho vay. Nếu tính cả cho vay mua nhà, sửa nhà của cá nhân thì dư nợ bất động sản chiếm 27,4% tổng dư nợ cho vay của ngân hàng này. Tuy vậy, Vietcombank cho rằng họ đang kiểm soát tốt và các khoản cho vay mua nhà của cá nhân đều có tài sản đảm bảo giá trị cao, nợ xấu rất thấp.

Về cho vay chứng khoán, dư nợ trong quý 1 thực tế lại giảm 1% so với cuối năm 2020. Dư nợ cho vay chứng khoán chỉ tăng trở lại từ giữa tháng 4, và cũng chỉ tập trung ở một số ngân hàng.

Bởi vậy, không chỉ cho rằng không có cơ sở để siết tín dụng vào bất động sản và chứng khoán, nhiều chuyên gia còn cho rằng chớ vội lo thay cho các ngân hàng về rủi ro cho vay bất động sản và chứng khoán.

Các luận điểm biện hộ cho việc không nên/cần thiết siết tín dụng vào bất động sản và chứng khoán trên bỏ qua hoặc xem nhẹ, trước hết, rủi ro của việc phân loại sai tín dụng theo mục đích cho vay. Việc phân loại sai này, vô tình hay hữu ý, dẫn đến thực tế là dư nợ tín dụng vào bất động sản và chứng khoán lớn hơn những gì đã được báo cáo.

Một minh chứng cho việc báo cáo thấp hơn thực tế này là trong khi theo số liệu tổng hợp của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), đến hết quý 1/2021 dư nợ tín dụng vào thị trường chứng khoán chỉ là 45.300 tỷ đồng. Tuy nhiên, như báo chí đưa tin, chỉ tính dư nợ ngân hàng của 3 công ty chứng khoán lớn là SSI, VND, và Mirae Asset đã xấp xỉ con số trên (44.612 tỷ đồng). Lưu ý thêm là cho vay công ty chứng khoán chỉ là một bộ phận của cho vay nói chung vào chứng khoán.

Việc phân loại và thống kê sai dư nợ tín dụng theo mục đích cho vay còn gây ra hậu quả là không kích hoạt các cảnh báo an toàn, ví dụ như tỷ lệ vốn huy động ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu, là những chỉ số dựa vào mức độ rủi ro tài sản, theo đó bất động sản và chứng khoán là những loại tài sản có rủi ro cao hơn nhiều (so với một số loại tài sản khác).

Thiếu sót, sai lầm thứ hai trong luận điểm không cần siết tín dụng vào cụ thể là bất động sản vì tài sản bảo đảm có giá trị lớn, rủi ro thấp nằm ở chỗ, điều này chỉ đúng khi cơn sốt bất động sản không hoặc hạ nhiệt không đáng kể, không làm giá trị tài sản bảo đảm tụt giảm đi 30% hoặc hơn (ngưỡng để ngân hàng xác định số tiền tối đa cho vay). Trên thực tế, như đã được chứng kiến nhiều, giá bất động sản trong các cơn sốt, các khu vực có sốt đất không hiếm khi tụt giảm thê thảm, thậm chí không bán được, đành bỏ hoang ở đó. Và cũng như đã và đang được chứng kiến, hiện vẫn còn rất nhiều tài sản bảo đảm là bất động sản được các ngân hàng mang ra đấu giá nhưng qua nhiều lần, với giá giảm đáng kể mỗi lần, mà vẫn không bán được. Việc không bán được bất động sản thế chấp hay phải bán với giá thấp sẽ làm tăng mạnh nợ xấu, cho dù ban đầu nhìn có vẻ rất thấp bởi giá trị tài sản bảo đảm cao. Vậy rủi ro cho vay bất động sản nằm chính ở đây chứ không phải ở đâu xa xôi, khó hình dung, nắm bắt.

Sai lầm, thiếu sót thứ ba là, coi cho vay mua nhà, sửa nhà không phải là một bộ phận cấu thành của con số thống kê cho vay bất động sản nói chung (được thể hiện qua việc bóc tách riêng cho vay mua, sửa nhà với cho vay kinh doanh bất động sản, làm cho dư nợ cho vay "kinh doanh bất động sản" chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng tín dụng của ngân hàng), và coi đây là một nhu cầu chính đáng, an toàn, thậm chí cần khuyến khích.

Sự bóc tách này có nghĩa là coi cho vay mua nhà không phải nhằm mục đích để kinh doanh. Nhưng đáng tiếc là đó chỉ là sự nhìn nhận (vô tình hay hữu ý) về phía ngân hàng, chứ không nhất thiết là của phía người đi vay. Ai có thể khẳng định được rằng không có người mua nhà, căn hộ, đất nào với mục đích khai báo là để ở, lại không bán, trao tay ngay thậm chí khi chưa nhận nhà, căn hộ, đất? Không cần phải kể các ví dụ đăng tải trên báo về việc nhà đầu tư trao tay ngay các căn hộ vừa mở bán để chốt lãi. Như thế, cho vay mua nhà trong những trường hợp như vậy không phải là kinh doanh bất động sản thì là gì?

Một sai lầm, thiếu sót nữa là, đúng là không cần phải "lo bò trắng răng" đối với việc cho vay của các ngân hàng, nếu nhìn vào những gì họ công bố, vào những chỉ tiêu an toàn vẫn trong ngưỡng... Tuy nhiên, cái thực sự đáng lo kể cả đối với từng ngân hàng là rủi ro hệ thống, nhất là khi, như nói ở trên, những con số công bố và những chỉ tiêu an toàn thực ra lại không đúng, bởi những vấn đề đã nói, gồm phân loại sai mục đích vay vốn.

Vì một (số) ngân hàng cho vay bất cẩn (vô tình hay hữu ý) sẽ ảnh hưởng đến các ngân hàng khác và đến toàn hệ thống nên bao giờ NHNN cũng phải kiểm tra, giám sát hoạt động của từng ngân hàng. Do đó, nếu có dấu hiệu tăng trưởng nóng của tín dụng vào các lĩnh vực rủi ro, đặc biệt khi xét đến rủi ro báo cáo thấp đi tín dụng chảy vào các lĩnh vực rủi ro này, thì cần thiết phải siết lại tín dụng vào đó, cho dù hoạt động của từng ngân hàng vẫn tỏ ra là đang rất bình thường, rất an toàn.

Ngoài ra, cũng mới chỉ thấy có một số rất ít ngân hàng như Vietcombank là trình bày một số chi tiết về việc cho vay của họ vào bất động sản và chứng khoán, nên sẽ là không đủ để kết luận rằng tình hình ở các ngân hàng khác cũng vậy.

Nói cách khác, ví dụ về một vài ngân hàng đang cho vay như thế nào và an toàn ra sao, theo báo cáo của họ, không thể là cơ sở để quy chiếu ra thành sự an tâm, yên lòng trước thực tế là tín dụng chung và tín dụng vào các lĩnh vực rủi ro đã và đang tăng nhanh.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).