Saturday, 9 August 2014

Quan hệ giữa lạm phát, lạm phát cơ bản và tổng cầu (Bài đăng trên Cafef, 10/8/2014, bản gốc)

Bài này nhằm phang Ủy ban giám sát tài chính quốc gia với quan niệm được đưa ra trong báo cáo tháng 7 về chuyện lạm phát lõi và tổng cầu. Bài được báo đặt lại tên thành: "“Quan niệm nới lỏng tiền tệ, hãi lãi suất để tăng tổng cầu là ngộ nhận”, theo tớ là khá misleading. Bài trên báo cũng bị biên tập, cắt bỏ mất vài đoạn mà không xử lý tốt nên đọc không liền mạch.

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/quan-niem-noi-long-tien-te-hai-lai-suat-de-tang-tong-cau-la-ngo-nhan-2014081008301913718ca34.chn

Cập nhật: Bản trên báo đã được sửa lại như bản gốc

---------------------------------------

Dường như đã thành một nhận thức chung ở Việt Nam trong mấy năm gần đây rằng lạm phát (hoặc lạm phát cơ bản) phản ảnh tình trạng sức khỏe của tổng cầu. Điều này có nghĩa là nếu lạm phát (hoặc lạm phát cơ bản) ở mức thấp thì tổng cầu tăng yếu. Từ đó suy ra, để tăng tổng cầu lên cao hơn so với mức hiện tại (nhằm thúc đẩy tăng trưởng GDP) thì phải kích thích lạm phát (hoặc lạm phát cơ bản) lên cao hơn so với mức hiện tại.

Đây là một quan niệm sai lầm và sẽ dẫn đến những hệ lụy lớn cho ổn định kinh tế vĩ mô.

Về khái niệm, lạm  phát là sự tăng lên của giá cả của hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế ở một giai đoạn nào đó. Nguyên nhân gây ra lạm phát được thống nhất rộng rãi bao gồm cầu kéo (tổng cầu tăng gây ra lạm phát; chính sách tiền tệ nới lỏng quá mức là một trong những nguyên nhân chính làm tổng cầu tăng ), chi phí đẩy (chi sản xuất tăng làm giảm cung gây ra lạm phát), kỳ vọng lạm phát (ví dụ, tăng lương dẫn đến tăng giá và ngược lại thành một vòng xoáy).

Trong khi đó, lạm  phát cơ bản cho biết xu hướng giá cả trong dài hạn, đã loại bỏ những thay đổi về giá có tính nhất thời, mùa vụ. Nói cách khác, rổ hàng hóa tính lạm phát cơ bản không bao gồm các hàng hóa có giá biến động mạnh như thực phẩm và năng lượng như đối với trường hợp tính lạm phát.

Như vậy, khi giá tăng chậm (lạm phát hoặc lạm phát cơ bản thấp), điều này không nhất thiết có nghĩa là tổng cầu tăng chậm, hay nền kinh tế trì trệ như nhiều người suy diễn. Giá cả tăng chậm có thể là do cung dồi dào (nhờ chi phí sản xuất và dịch vụ được khống chế, nhờ tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh v.v...), hoặc do nhà nước khống chế, kiểm soát giá cả và tiền lương, hoặc do chính sách bù giá, hoặc do chinh sách "neo" tỷ giá để giá hàng nhập khẩu không tăng lên (khi quy ra VND), không làm ảnh hưởng đến mặt bằng giá cả nói chung, hoặc cũng có thể do kỳ vọng lạm phát đã giảm đi do lòng tin vào chính sách vĩ mô của nhà nước làm cho không còn, ví dụ, hiện tượng "té nước theo mưa" v.v... Tóm lại, có thể kể ra rất nhiều lý do để cho thấy một bức tranh kinh tế trong đó tăng trưởng GDP và tổng cầu vẫn tích cực trong khi mặt bằng giá cả ổn định. Nhiều trong số những lý do trên đã và đang hiện diện ở Việt Nam hiện nay (tăng trưởng GDP ở mức khá, trên 5%, và có xu hướng tăng lên, giá cả tương đối ổn định, hàng hóa tồn kho tuy có giảm ở một số thời điểm trong một số lĩnh vực nhưng vẫn ở mức lớn, tỷ giá chỉ mới được điều chỉnh nhẹ gần đây, kỳ vọng lạm phát đã giảm đi với tiền gửi VND vẫn tăng mạnh khi lãi suất VND đã hạ, tổng mức bán lẻ và luân chuyển hàng hóa vẫn tăng khả quan, nhà nước tiếp tục không chế giá cả xăng dầu, dịch vụ y tế, giá sữa, giá năng lượng...).

Với ngộ nhận rằng lạm phát (và lạm phát cơ bản) thấp tức là tổng cầu yếu làm cho tăng trưởng GDP yếu nên người ta cho rằng cần phải kích thích hơn nữa tổng cầu chủ yếu thông qua chính sách tiền tệ nới lỏng hơn nữa để hạ lãi suất (vì chính sách tài khóa đang gặp nhiều trở ngại như nợ công đang tăng mạnh, giải ngân vốn trái phiếu chính phủ chậm...).

Khi tăng cung tiền, hạ lãi suất tất nhiên tổng cầu có thể tăng ở mức độ nào đó. Nói ở mức độ nào đó vì hạ lãi suất là con dao hai lưỡi khi nó một mặt kích thích người ta vay mượn để tiêu dùng và đầu tư, nhưng mặt khác lại tước đi thu nhập của một bộ phận lớn người dân và tổ chức có tiền gửi tiết kiệm và tài sản đầu tư hưởng lãi, và tức là thu hẹp khoản tiền dành cho tiêu dùng và đầu tư của họ, làm cho tổng cầu không nhất thiết tăng và tăng tương ứng với kỳ vọng khi nới lỏng tiền tệ và hạ lãi suất.

Tăng cung tiền và hạ lãi suất còn có thể tác động mạnh đến bên cung, làm cho cung có thể tiếp tục tăng nhanh và mạnh, vượt quá tổng cầu, dẫn đến tồn kho hàng hóa tăng lên và ở mức cao, như đã và đang chứng kiến trên thực tế mấy năm trước đây và hiện nay. Dư thừa cung dẫn đến giá cả không tăng hoặc tăng nhẹ, lại làm người ta cho rằng nền kinh tế đang trì trệ nên cần tiếp tục nới lỏng tiền tệ và hạ lãi suất, khép lại vòng luẩn quẩn lạm phát thấp, tăng cung tiền, hạ lãi suất, cung tăng đến mức độ dư thừa, lạm phát thấp. Như vậy, tăng cung tiền, hạ lãi suất để tăng cung nhằm thúc đẩy tăng trưởng trong trường hợp này là điều không mong muốn.

Ngược lại, tăng cung tiền và hạ lãi suất không nhất thiết kích thích tăng trưởng sản xuất trong nước, đặc biệt trong ngắn hạn, vì sản xuất trong nước không/chưa kịp điều chỉnh với tổng cầu tăng lên, dẫn đến nhập khẩu tăng, dẫn đến những hậu quả lớn hơn như thâm hụt thương mại lớn, suy giảm dự trữ ngoại hối, gây áp lực lên lạm phát, tác động ngươc lại đến sức cạnh tranh của sản xuất trong nước dẫn đến thu hẹp sản xuất trong nước. Trong trường hợp này tuy lạm phát có tăng lên, đi kèm với tổng cầu tăng lên, nhưng rõ ràng đây cũng không phải điều mong muốn.

Tóm lại, quan niệm cho rằng để thúc đẩy tăng trưởng GDP thì phải tăng tổng cầu thông qua nới lỏng tiền tệ, hạ lãi suất để làm sao lạm phát (hoặc lạm phát cơ bản) tăng lên là một ngộ nhận có thể gây ra những hậu quả nguy hiểm cho tăng trưởng và ổn định kinh tế. Trên hết, cần nhận thức rằng lạm phát (hoặc lạm phát cơ bản) thấp và ổn định luôn là một điều tích cực và là mục tiêu hướng tới cho các nhà làm chính sách trong trung và dài hạn.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).