Wednesday, 8 April 2015

Cần đẩy mạnh và mở rộng phạm vi tư nhân hóa cơ sở hạ tầng (Bài đăng trên TBKTSG Online, 8/4/2015)

http://www.thesaigontimes.vn/128734/Can-day-manh-va-mo-rong-pham-vi-tu-nhan-hoa-co-so-ha-tang.html

(TBKTSG Online) - Hôm nay, 8-4, Bộ Giao thông Vận tải tổ chức hội thảo về xã hội hóa hoạt động quản lý, khai thác cảng hàng không, sân bay tại Việt Nam.

Hội thảo diễn ra trong bối cảnh nhiều nhà đầu tư đang muốn được nhượng quyền khai thác các sân bay và song song đó là những lo ngại về việc thất thoát tài sản nhà nước, chuyện độc quyền nhà nước chuyển sang độc quyền tư nhân... Nhìn rộng hơn, sự bắt đầu của trào lưu tư nhân hóa cơ sở hạ tầng thời gian gần đây sẽ là điểm cáo chung cho quan niệm phổ biến cho rằng chính phủ cần phải sở hữu và kiểm soát những ngành thiết yếu trong nền kinh tế.
 
Xu hướng không thể đảo ngược
 
Việc tư nhân hóa cơ sở hạ tầng mới được bắt đầu xúc tiến ở Việt Nam trong thời gian gần đây, mặc dù trên thế giới trào lưu tư nhân hóa cơ sở hạ tầng thuộc sở hữu nhà nước đã diễn ra từ nhiều thập kỷ trước, trên hầu như mọi lĩnh vực từ sân bay, đường sắt, đường cao tốc, cảng biển, cấp thoát nước, viễn thông, bưu chính và năng lượng...
 
Tư nhân hóa cơ sở hạ tầng trở thành xu hướng không thể đảo ngược trên thế giới vì nó giúp cắt giảm chi phí và nâng cao chất lượng dịch vụ hạ tầng cơ sở, đồng thời thúc đẩy cải tiến kỹ thuật và đổi mới trong những ngành hạ tầng vốn đang èo uột dưới sự quản lý, điều hành của chính phủ, nhờ đó mang đến những đóng góp to lớn cho nền kinh tế. Không những thế, tư nhân hóa sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó mở ra những ngành và lĩnh vực kinh doanh mới cho doanh nghiệp và nhà đầu tư. Ví dụ như việc tư nhân hóa/cổ phần hóa ngành viễn thông ở Việt Nam đã tạo ra môi trường cạnh tranh gay gắt, làm lợi cho người sử dụng thông qua công nghệ và dịch vụ liên tục được đổi mới và nâng cấp với chi phí ngày càng hợp lý hơn.
 
Về phía chính phủ, tư nhân hóa, bán các tài sản hạ tầng cơ sở thuộc sở hữu của mình, tất nhiên sẽ mang lại cho Chính phủ một nguồn ngân quỹ mới, giảm thâm hụt ngân sách. Tư nhân hóa còn làm lợi cho ngân quỹ chính phủ khi nó “tước đoạt” việc chi tiêu mua sắm của Chính phủ liên quan đến các cơ sở hạ tầng thuộc quyền quản lý của mình, đồng nghĩa với việc ngăn cản và giảm bớt tham nhũng từ các quan chức chính phủ thông qua các hợp đồng mua sắm. Ngoài ra, tư nhân hóa sẽ làm giảm gánh nặng trách nhiệm của chính phủ, giúp họ tập trung vào nhiệm vụ cốt lõi của mình, ví dụ như đảm bảo an ninh quốc gia.
 
Cản trở do đâu?
 
Tuy vậy, phải thẳng thắn thừa nhận rằng tuy việc tư nhân hóa cơ sở hạ tầng đang được xúc tiến mạnh mẽ ở Việt Nam nhưng vật cản lớn cho quá trình tư nhân hóa sẽ không phải là, ví dụ, sự chống đối của một quan chức nào đó vì lo sợ mất đặc quyền, mà là những quan niệm tiêu cực về tư nhân hóa đã bắt rễ ở nhiều người bấy lâu nay. Chẳng hạn, trong việc tư nhân hóa các sân bay, Bộ Giao thông Vận tải vẫn chủ trương rằng việc kiểm soát, quản lý bay là một việc quá “trọng đại” nên không thể để vào tay tư nhân được. Nhưng thực tế trên thế giới cho thấy kết quả ngược lại. Nhiều chính phủ thường không đủ khả năng cung cấp các dịch vụ chất lượng cao và hiệu quả trong những ngành như quản lý bay, là những ngành đòi hỏi những đổi mới công nghệ và kỹ thuật mà các ông chủ tư nhân có thể mang đến.

Một ví dụ cho sự bất cập của quản lý nhà nước là Cục Hàng không Liên bang Mỹ (FAA) đã yếu kém đến độ cung cấp dịch vụ quản lý bay với chất lượng hạng hai cho dân Mỹ trong nhiều thập kỷ liền. FAA đã rất chật vật khi mở rộng năng lực và hiện đại hóa công nghệ quản lý bay của mình, trong khi các dự án nâng cấp năng lực và công nghệ lại thường bị chậm trễ và đội vốn lớn. Với một ngành có tính “sống còn” theo đúng nghĩa đen khi nắm giữ sinh mạng của bao người như vậy, sự yếu kém và bất cập trong hoạt động của FAA là điều không thể chấp nhận được, và hệ thống quản lý bay hiện nay đã được đặt vào dạng xem xét để tư nhân hóa ở Mỹ.

Nhìn lại Việt Nam, công tác quản lý bay cũng còn quá nhiều vấn đề và tồn tại với nhiều vụ việc, mới đây nhất là sự cố mất điện ở sân bay Tân Sơn Nhất. Với những vụ việc như thế thì khó mà nói là chỉ có thuộc sở hữu nhà nước thì vấn đề an ninh, an toàn bay mới được đảm bảo!
 
Trong khi đó, nhiều nước trên thế giới đã tư nhân hóa ngành quản lý bay thành công có thể làm mô hình học hỏi cho những nước đi sau như Mỹ và Việt Nam. Canada đã tư nhân hóa ngành quản lý bay từ năm 1996 với việc thành lập một công ty quản lý bay tư nhân, phi lợi nhuận - Nav Canada - sống được bằng phí thu từ người sử dụng hàng không. Mô hình của Canada đã nhận được đánh giá cao về sức khỏe tài chính, quản lý chặt chẽ, và đầu tư vào công nghệ mới.
 
Ngoài quan niệm tiêu cực về tính thiết yếu duy trì sở hữu nhà nước trong một số ngành, lĩnh vực hạ tầng cơ sở quan trọng như nói ở trên, quan niệm khá mơ hồ về “an ninh” và “lợi ích xã hội” đang là một lực cản khác cho tiến trình tư nhân hóa sâu rộng cơ sở hạ tầng ở Việt Nam. Tư nhân hóa cảng biển và sân bay đã được khẩn trương thực hiện, nhưng chỉ là đối với một số cảng biển và sân bay, và cũng chỉ mở ra cho các nhà đầu tư trong nước, hay thậm chí là không bán mà chỉ nhượng quyền khai thác... chủ yếu với lý do đảm bảo “an ninh” và “lợi ích xã hội”.

Các quan niệm này có thể phần nào hiểu và thông cảm được nếu như Việt Nam là nước tiên phong trong việc tư nhân hóa cơ sở hạ tầng nên có thể sẽ gặp nhiều rủi ro không thể lường trước. Ví dụ như các công trình trọng điểm này khi đã bị tư nhân hóa có thể bị lợi dụng để phục vụ lợi ích cho một thế lực nào đó, hoặc người sử dụng sẽ bị thiệt hại (hơn) bởi độc quyền nhà nước bị thay thế bởi độc quyền tư nhân...
 
Nhưng nhìn rộng ra thế giới, việc bán cảng biển và sân bay đã trở nên phổ biến từ lâu ở nhiều nước. Hệ thống sân bay đã được tư nhân hóa hoàn toàn hoặc một phần lớn ở những thành phố lớn như Athens, Auckland, Brussels, Copenhagen, Frankfurt, London, Melbourne, Naples, Rome, Sydney... Hệ thống cảng biển cũng chứng kiến sự việc tương tự, với một công ty ở Hồng Kông, Hutchison Whampoa, nắm quyền sở hữu vài chục cảng biển ở hàng chục nước trên thế giới. Ở Anh, năm 1983 họ đã tư nhân hóa 19 cảng biển và đã thống kê rằng hai phần ba lượng container được bốc xếp ở các cảng tư nhân hoạt động cực kỳ hiệu quả.

Với một số lượng phong phú các trường hợp điển hình trên thế giới như vậy thì các vấn đề liên quan đến “an ninh” và “lợi ích xã hội” ở Việt Nam hoàn toàn có thể giải quyết được, nếu thực sự những người trong cuộc muốn đẩy mạnh quá trình tư nhân hóa. Vấn đề còn lại chỉ là làm sao gạt bỏ được những quan niệm bảo thủ này sang một bên trong nội bộ của những người trong cuộc.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).