Wednesday, 8 April 2015

Giảm phát – Khi nào cần báo động? (Bài đăng trên CafeF, 8/4/2015)

http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/giam-phat-khi-nao-can-bao-dong-20150408114450187.chn

Trong bài viết “Giảm phát cũng có dăm bảy đường!, tôi đã phê phán quan điểm phiến diện của không ít chuyên gia và tổ chức khi lên tiếng báo động cho rằng ở Việt Nam đã xảy ra tình trạng giảm phát, thể hiện tổng cầu yếu, nền kinh tế trì trệ…

Sự phản biện dựa trên 2 điểm khác biệt chính giữa Việt Nam với một trường hợp giảm phát điển hình nào đó như Nhật hay EU là tăng trưởng kinh tế của Việt Nam tương đối cao, đối lập với mức tăng trưởng cận 0 hoặc âm, và giảm phát ở Việt Nam không phải là hiện tượng có tính lâu dài đến hàng năm, hoàn toàn do sự sụt giảm giá xăng dầu bắt đầu từ nửa năm trước, đối lập với tình trạng giá cả không tăng (đáng kể) hoặc tăng trưởng âm kéo dài nhiều quý/năm ở Nhật và EU.

Và thật trùng hợp, trên tờ Financial Times số ra ngày 7/4/2015 có bài “A history of inflation – and a future of deflation” của tác giả Diane Coyle, một giáo sư kinh tế học tại Đại học Manchester và là tác giả của cuốn sách “GDP: A Brief But Affectionate History”. Bài viết của GS. Coyle lấy trường hợp của nước Anh để minh họa. Mặc dù Anh hiện tại đang phải chứng kiến chỉ số giá tiêu dùng CPI đã giảm xuống 0 nhưng GS Coyle không cho rằng đây là vấn đề vì nền kinh tế Anh vẫn tăng trưởng và rằng lạm phát tụt xuống 0 chủ yếu vì giá năng lượng sụt giảm (ý nói sự sụt giảm về giá cả này có thể không phải là hiện tượng lâu dài).

GS. Coyle còn nhấn mạnh rằng sự sụt giảm mặt bằng giá cả chỉ thành vấn đề nếu nó có tính lâu dài, bền vững (sustained) và cuốn nền kinh tế đi vào một vòng xoáy trôn ốc đi xuống. Tuy không nói rõ hơn nhưng có thể diễn giải thêm ý của GS. Coyle rằng, giảm phát chỉ thật sự đáng lo nếu nó gây lụy đến tăng trưởng theo một vòng luẩn quẩn: lạm phát thấp (và có tính lâu dài) --> người tiêu dùng trì hoãn mua sắm vì kỳ vọng rằng giá cả sẽ sụt giảm trong tương lai --> tiêu dùng sụt giảm --> tăng trưởng kinh tế sụt giảm --> sức mua hàng hóa giảm và giá cả (lạm phát) giảm.

Trở lại với trường hợp của Việt Nam. Bất chấp lạm phát đã đảo chiều, từ sụt giảm liên tục mấy tháng trước sang tăng nhẹ trong tháng 3, vẫn còn một số ý kiến lo ngại đến lạm phát thấp/giảm phát. Và cũng là một trùng hợp thú vị khi sự lo ngại này đều dựa trên những luận điểm giống nhau đến cả cách dùng chữ, ví dụ như trong câu “lạm phát quá thấp sẽ gặm nhấm doanh số và nguồn thu thuế, cản trở việc tăng lương, ăn mòn lãi suất cận biên”.

Ngoài chuyện cho thấy các tác giả của những ý kiến trên đã “copy” cách dùng từ của nhau, họ còn “copy” cả những cái sai của nhau. Cũng như tôi đã phản biện trong bài “Những cái sai đằng sau lo ngại lạm phát thấp”, lạm phát thấp thì làm cả giá cả và giá thành hàng hóa đều không tăng mạnh được, dẫn đến biên độ lợi nhuận không thay đổi và doanh nghiệp thậm chí lại còn có thêm động lực mở rộng sản xuất để tăng tổng lợi nhuận (dù biên độ lợi nhuận có thể không thay đổi), nếu các tính toán lỗ lãi của họ được bảo đảm ở mức độ chắc chắn nhờ lạm phát thấp và ổn định.

Về chuyện nguồn thu thuế bị “gặm nhấm”, đúng là khi lạm phát thấp thì nguồn thu thuế không thể tăng mạnh được như khi so với lạm phát cao, nhưng không thể nói là bị gặm nhấm, vì lạm phát tuy thấp nhưng vẫn là một con số dương và do đó nguồn thu thuế vẫn tăng lên, dù mức tăng thấp và chắc chắn là nó (nguồn thu thuế) không bị tụt giảm đi (so với cùng kỳ năm trước) dù lạm phát thấp.

Hơn nữa, như GS. Coyle cũng đã chỉ ra trong bài viết của mình, việc đẩy lạm phát lên cao (ví dụ, để làm giảm gánh nặng nợ nần, hay tăng nguồn thu thuế như ý bên trên) sẽ tái phân bổ một cách chủ ý các nguồn lực từ người gửi tiết kiệm sang người đi vay mượn.

Như thế, nếu lo ngại giảm phát và kêu gọi Chính phủ “kích” lạm phát lên để tăng nguồn thu thuế thì việc này sẽ gây tổn hại cho những người gửi tiết kiệm. Không lẽ chỉ cần quan tâm đến quyền lợi của nhà nước nói chung, doanh nghiệp nói riêng – với tư cách là những người đi thu thuế hoặc đi vay nợ – mà không cần phải quan tâm đến cả quyền lợi của những người gửi tiết kiệm? Nếu cứ làm thế sẽ không khuyến khích tiết kiệm trong nước, và rốt cuộc lại phải đi vay nước ngoài hay phải trả giá bằng lạm phát bùng nổ do phải in tiền để chi tiêu và trả nợ.

Tóm lại, lạm phát thấp chỉ thực sự đáng lo ngại và cần phải có biện pháp khắc phục khi nó thực sự thấp (hoặc âm), có tính lâu dài, bền vững (không mang tính nhất thời như do giá xăng dầu giảm) và quan trọng hơn, khi tăng trưởng GDP không tăng hoặc tăng yếu ớt.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).