Friday, 13 May 2016

Đầu mối giảm, chưa chắc dễ kiểm soát chi phí lót tay (Bài đăng trên TBKTSG, ngày 13/5/2016, tiêu đề do báo đặt lại)

http://www.thesaigontimes.vn/146247/Dau-moi-giam-chua-chac-de-kiem-soat-chi-phi-lot-tay.html

Theo Quyết định 08/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 35/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính, việc mua sắm tài sản Nhà nước sẽ theo phương thức tập trung, thông qua đơn vị mua sắm tập trung quốc gia hoặc đơn vị mua sắm tập trung tại các Bộ, ngành, cơ quan trung ương, các tỉnh. Đáng chú ý, khi mua sắm tài sản Nhà nước sẽ buộc phải công khai không chỉ về nhu cầu mua sắm, gồm số lượng, chủng loại tài sản mua sắm; dự toán mua sắm, nguồn vốn mua sắm tài sản… mà còn về các khoản hoa hồng, chiết khấu, khuyến mãi (nếu có) khi thực hiện mua sắm.

Ngoài ra, theo ông Nguyễn Tân Thịnh – Phó Cục trưởng Cục Quản lý công sản, Bộ Tài chính, các khoản chi hoa hồng, lót tay... khi được công khai thì, theo Thông tư 35, sẽ phải nộp về ngân sách Nhà nước, chứ không để lại đơn vị mua sắm tài sản. Ông Thịnh còn lạc quan cho rằng khi thực hiện việc mua sắm tập trung, đầu mối mua sắm sẽ giảm đi và chỉ tập trung về một số đơn vị, do đó, hoàn toàn có thể công khai và kiểm soát các khoản chi phí hoa hồng, lót tay này.

Bối cảnh của quyết định chuyển sang thực hiện mua sắm tài sản công sang phương thức tập trung có lẽ là thực tế việc mua sắm tài sản công ở mọi cấp, ngành và tổ chức hưởng ngân sách nhà nước đã và đang bị lạm dụng, gây lãng phí và thất thoát lớn. Tuy vậy, có một số vấn đề đặt ra cho phương thức mua sắm tập trung này, cũng như việc công khai và nộp vào ngân sách các khoản hoa hồng, lót tay.
Không chắc đã tốt hơn
Vấn đề thứ nhất là về hiệu quả của việc mua sắm tập trung vào một số đầu mối. Theo Thông tư 35, việc mua sắm tập trung được thực hiện theo một trong hai cách là mua sắm tập trung theo cách thức ký thỏa thuận khung, hoặc mua sắm tập trung theo cách thức ký hợp đồng trực tiếp. Điểm chung của hai cách mua sắm tập trung này là đơn vị mua sắm tập trung tổng hợp nhu cầu mua sắm, tiến hành lựa chọn nhà thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu hoặc thuê tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp lựa chọn nhà thầu.
Như vậy, việc mua sắm tập trung theo một trong hai cách trên có lẽ chỉ giải quyết được mỗi một chuyện là thay vì từng cơ quan hưởng ngân sách được tự lựa chọn nhà thầu cung cấp thì nay, trong cơ chế mới, công việc (“béo bở”) này được dành về tay một số đầu mối ở Bộ Tài chính và các bộ, tỉnh, cơ quan trung ương khác. Câu hỏi liên quan ở đây là điều gì làm người dân hy vọng rằng những người được giao trọng trách lựa chọn nhà thầu ở các đầu mối mua sắm tập trung này sẽ công tâm hơn, liêm chính hơn, và có năng lực hơn những đồng nghiệp của họ ở từng cơ quan hưởng ngân sách có nhu cầu mua tài sản công?
Về câu hỏi trên, không thể dễ dãi mà trả lời rằng các đơn vị mua sắm tập trung này do ở cấp cao hơn (trên bộ, cơ quan trung ương, tỉnh) hoặc có trọng trách nhiều hơn (mua sắm đồng loạt cho nhiều cơ quan khác nhau) nên sẽ làm việc hiệu quả hơn và liêm chính hơn những đơn vị mua sắm ở các cơ quan riêng lẻ, ở cấp cơ sở, cấp thấp hơn. Thậm trí trái lại, sẽ có rủi ro lớn là những đầu mối tập trung này trở thành những cơ quan “siêu quyền lực” vì có quyền ban phát, phê duyệt cho rất nhiều cơ quan khác nhau, dễ dàng dẫn đến tha hóa, lạm quyền để tư lợi cho một số cá nhân trong nội bộ ở quy mô còn khủng khiếp hơn so với việc mua sắm phân tán ở từng cơ quan như trước đây.
Tất nhiên là những người liên đới sẽ có thể biện bạch rằng những đầu mối này sẽ làm việc theo “đúng quy trình”, đúng quy định của pháp luật… nên sẽ khó xảy ra những mối hiểm họa nêu trên. Nhưng nếu dùng luật lệ mà lý luận ở đây thì người ta cũng có thể chỉ ngay ra rằng trong cơ chế mua sắm cũ cũng có đầy đủ các thể loại quy định với ràng buộc để, trên nguyên tắc, các cơ quan hưởng ngân sách nhà nước không thể tự tung tự tác mua sắm vô tội vạ với giá trên trời. Nhưng kết quả thực tế với những ví dụ như mua sắm ô tô tràn lan, vượt định mức cho phép, là quá đủ để cho thấy luật lệ với quy trình nhiều khi chỉ để cho có mà thôi.
Không được quy định trong luật!
Vấn đề thứ hai đáng bàn liên quan đến cơ chế mua sắm tập trung là chuyện các nhà làm luật hy vọng sẽ thu về cho ngân sác nhà nước các loại tiền chiết khấu, hoa hồng, lót tay, khuyến mãi... nếu có!
Điều đáng ngạc nhiên là chuyện nộp ngân sách các khoản tiền này không hề được đề cập đến trong Thông tư 35! Chỉ có duy nhất Khoản 3, Điều 31 của thông tư này có chứa đựng các từ như chiết khấu, hoa hồng, và khuyến mãi, nhưng nội dung của điều khoản này là về công khai trong mua sắm tập trung, chứ không phải là về quản lý, sử dụng số tiền thu được này. Ngay Điều 28 “Các khoản thu liên quan đến mua sắm tập trung” cũng không hề đề cập đến nguồn thu từ các khoản tiền này. Như vậy, có thể tạm kết luận rằng việc buộc nộp ngân sách các loại tiền này chỉ là diễn giải luật (vô căn cứ) theo góc nhìn cá nhân.
Có thu được thì cũng chỉ là phần nổi của tảng băng
Điều không thể phủ nhận là phương thức mua sắm tập trung sẽ có một lợi thế lớn so với phương thức mua sắm phân tán, ở cấp cơ sở như trước đây. Đó là khi mua sắm với đơn hàng lớn hơn do tập trung nhu cầu từ nhiều cơ quan thay vì từng cơ quan riêng lẻ nên gần như nghiễm nhiên đơn vị mua sắm tập trung sẽ được hưởng ưu đãi về giá, ví dụ, được hưởng giá bán buôn, được chiết khấu và khuyến mãi nhiều hơn do mua với số lượng lớn hơn.
Và đương nhiên là khi đã phát sinh ra các khoản tiền kiểu như vậy và được công khai, thể hiện đầy đủ trên sổ sách thì không có mấy cá nhân lẫn tổ chức dám “ỉm” đi mà không tự động nộp lại cho ngân sách (dù cho có thể không bị quy định phải làm như vậy).
Trên thực tế cũng có một số trường hợp nhà cung cấp đã công khai rộng rãi chính sách bán hàng của mình, ví dụ như mua với số lượng bao nhiêu trở lên thì sẽ được hưởng chiết khấu bao nhiêu phần trăm. Trong những trường hợp này thì tiền chiết khấu này khó giấu được và buộc đơn vị mua sắm tập trung phải báo cáo và giao nộp cho ngân sách khoản tiền này. Dù vậy, điều này cũng không phải là một bước tiến trong cơ chế mua sắm tập trung so với cơ chế cũ, nếu cơ chế cũ cũng không cho phép được để lại những khoản tiền này ở cơ quan có nhu cầu mua sắm mà buộc phải giao nộp cho ngân sách.
Nhưng ngoài ra, sẽ còn rất nhiều khoản tiền tương tự không tự động được công khai và báo cáo do khó bị phát hiện ra khi phát sinh. Cũng tương tự như với việc mua sắm ở từng đơn vị trước đây, những người có trách nhiệm sẽ không có động cơ công khai hóa, báo cáo đầy đủ các khoản chiết khấu, khuyến mãi, lót tay, nếu bên nhà thầu cung cấp hàng hóa không tự nhiên công khai các khoản này. Còn nhà thầu thì tất nhiên cũng chẳng có động cơ tự giác khai báo một khi nhờ có chiết khấu và lót tay dành riêng cho người có quyền quyết định trong đơn vị mua sắm tập trung mà họ bán được hàng. Đó là chưa kể nhiều trường hợp nhà thầu minh bạch quá, với chính sách bán hàng rõ ràng, không chấp nhận “đi đêm” thì lại bị loại với nhiều lý do hiển nhiên nào đó cho dù có được tham dự bỏ thầu. Nói cách khác, đa phần chuyện khuyến mãi, chiết khấu và lót tay sẽ mãi chỉ là chuyện riêng, chuyện kín biết với nhau giữa nhà thầu cung cấp hàng hóa và đơn vị mua sắm tập trung. Do đó, cái mà ngân sách hy vọng thu được từ cơ chế mua sắm tập trung, nếu có, sẽ chỉ là một phần không đáng kể so với thực tế đã và sẽ xảy ra.
Ít đầu mối hơn không đồng nghĩa với công khai hơn
Như nói ở trên, Bộ Tài chính hy vọng đầu mối mua sắm giảm đi nên hoàn toàn có thể công khai và kiểm soát các khoản chi phí hoa hồng, lót tay. Nhưng qua phân tích ở trên có thể thấy số lượng đầu mối ít đi thì cũng không nhất thiết dẫn đến công khai hơn và dễ kiểm soát hơn các khoản hoa hồng, lót tay, nếu người trong cuộc nhất quyết không công khai.
Có chăng chỉ là chuyện nếu muốn thanh tra, điều tra chuyện “đi đêm” với nhau giữa đơn vị mua sắm và nhà thầu gây thiệt hại cho ngân sách thì việc này có thể thuận lợi hơn nếu chỉ phải thanh tra một vài đầu mối mua sắm tập trung thay vì hàng nghìn đầu mối như trước đây. Có điều, đây là bước hậu kiểm, và nếu có phát hiện ra sai phạm thì chỉ là hành động sửa sai “lỗi hệ thống” mà thôi. Điều quan trọng là phải có một hệ thống hoạt động minh bạch, công khai ở mọi công đoạn, mọi bước để người dân luôn có thể kiểm tra và giám sát được (tiền kiểm).
Theo hướng minh bạch và công khai hóa nói trên thì việc Thông tư 35 buộc đơn vị mua sắm tập trung công khai kết quả mua sắm tập trung qua nhiều kênh là một điểm đáng ghi nhận. Tiếc là nếu những quy định về công khai này cũng được áp dụng trong cơ chế trước đây thì có lẽ đã không phải thay đổi toàn bộ hệ thống và cách thức mua sắm tài sản công như hiện nay vốn sẽ gây ra không ít xáo trộn và cả phí tổn điều chỉnh.
Và cũng không kém phần quan trọng như diễn biến trên thực tế với nhiều quy trình và luật lệ khác, quy định (có bước tiến bộ) là như vậy nhưng thực thi nghiêm túc được đến đâu và ai sẽ giám sát, xử phạt việc tuân thủ những quy định này?

Thống khổ chuyện thuế (Bài đăng trên TBKTSG, ngày 13/5/2016, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/146252/Ke-kho-chuyen-thue.html

Mặc dù gần đây ở Việt Nam đã chứng kiến ngành thuế có những cải tiến về thủ tục, rút ngắn thời gian, nhưng nhiều doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và cá nhân vẫn bức xúc vì bị “hành” đủ kiểu bởi ngành thuế, đặc biệt là vào mùa quyết toán thuế. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà việc nộp thuế ở Việt Nam vẫn được liệt vào dạng yếu kém trên thế giới, như được thể hiện qua chỉ số nộp thuế thuộc nhóm gần đội sổ, ở mức 168 trên 189 quốc gia và vùng lãnh thổ năm 2014, theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB).
Nói cho ngay, khai nộp thuế và làm việc với thanh tra thuế là nỗi thống khổ và cực kỳ xì-trét không chỉ đúng với người dân và doanh nghiệp Việt Nam mà còn đúng với ngay cả nhiều nước phát triển. Chẳng hạn, Mỹ, nước được WB đánh giá có chỉ số nộp thuế tương đối khá (xếp hạng 53), nhưng không ít người dân và doanh nghiệp cũng đang khốn khổ và lao đao với ngành thuế của nước này. Việc nộp thuế ở Mỹ phức tạp đến mức mà cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Donald Rumsfeld hồi tháng 4/2014 phải gửi một “tâm thư” tới Cơ quan thuế vụ Mỹ, IRS, để nói rằng ông hoàn toàn không chắc rằng ông đã khai đúng thuế hay chưa. Trong thư này có những đoạn nhấn mạnh “cười ra nước mắt” như, ông nói điều này dù ông là người đã tốt nghiệp đại học, đã rất cố gắng để khai cho đúng, rằng cũng như những năm qua ông đã phải tốn nhiều tiền hơn số mà ông muốn chi ra để thuê một công ty kế toán lành nghề giúp vợ chồng ông khai thuế nhưng ông biết rõ rằng ông không biết rõ liệu bản khai thuế của mình đã đúng hay chưa, và rằng vợ ông, cũng là một người tốt nghiệp đại học, cũng biết rõ rằng bà không biết rõ liệu bản khai thuế chung của ông bà đã đúng hay chưa.
Ngoài chuyện khai thuế lằng nhằng, phức tạp, người dân và doanh nghiệp Mỹ còn phàn nàn đủ chuyện về bộ máy thuế vụ nước này, từ chuyện cán bộ thuế trực tiếp hướng dẫn người dân khai thuế mà còn sai, đến chuyện cán bộ thuế người thì thô lỗ, hùng hổ, đối xử với người nộp thuế như với tội phạm, người thì quan liêu, không đếm xỉa những nguyên nhân khách quan, thực tế được phản ánh trong bản khai thuế của người dân, người thì dọa nạt rồi “gà” cho người nộp thuế cách làm để tư lợi cho mình.
Có điều, hầu như không thấy có phàn nàn nào về chuyện do những thay đổi (bất ngờ) trong quy định và thủ tục khai và nộp thuế ở Mỹ nên người dân và doanh nghiệp gặp khó, bị “hành” và bị phạt hay bị thiệt hại oan uổng. Trong khi đó, đây là một trong những điều bị phàn nàn thường xuyên ở Việt Nam.
Từ những chi tiết trên, điều đầu tiên có thể rút ra là một trong việc mà ngành thuế Việt Nam có thể làm được và làm ngay để làm cho việc nộp thuế đỡ trở thành nỗi thống khổ ở Việt Nam là hạn chế tần suất thay đổi quy định và thủ tục khai nộp thuế. Tất nhiên là những người trong ngành thuế ở Việt Nam sẽ đưa ra nhiều lý do khách quan để biện hộ cho việc thay đổi “đặng chẳng đừng” này, nhưng họ phải nên thừa nhận rằng ở nhiều nước, rất nhiều chính sách thuế đã không hề thay đổi trong nhiều năm. Trường hợp bắt buộc phải thay đổi thì phải công khai hóa, phổ biến, tuyên truyền, và giải đáp rộng rãi tối đa những thay đổi này trên mọi kênh truyền thông, tránh để những tình trạng đáng tiếc xảy ra, ví dụ như người dân khi đến làm thủ tục thuế thì cán bộ thuế mới chìa văn bản quy định mới ra.
Điều thứ hai có thể rút ra là tuy không thể cầu toàn, hy vọng và yêu cầu 100% cán bộ thuế ở Việt Nam có phẩm chất và tinh thần làm việc đúng đắn, bất vụ lợi, vì ngay ở Mỹ và nhiều nước phát triển khác cũng vẫn còn tồn tại những cán bộ không như vậy, nhưng cũng phải nên cùng nhau thừa nhận rằng tỷ lệ cán bộ “biến chất” như vậy ở nhiều nước không phải là nhiều, đặc biệt so với Việt Nam. Một trong những yếu tố làm nên sự khác biệt này là sự nghiêm minh của pháp luật với những hành vi sai trái của bất cứ ai, kể cả là công vụ viên.
Hơn nữa, cơ quan thuế vụ và doanh nghiệp, người dân ở vào vị thế bình đẳng với nhau nên doanh nghiệp và người dân sẵn sàng kiện cơ quan thuế vụ ra tòa nếu họ thấy có những hành vi sai trái gây tổn hại cho họ. Khả năng bị kiện cáo vì thế là yếu tố quan trọng để ngành thuế vụ nói chung và cán bộ thuế nói riêng cố gắng “giữ mình”, hành động đúng đắn trong khuôn khổ luật định cho phép. Ở đây không có chuyện cơ quan thuế vụ, cán bộ thuế vụ tự cho mình là kẻ mạnh, bề trên, ban ơn, nên nói gì, làm gì thì người dân và doanh nghiệp chỉ có tuân theo, chỉ có chịu đựng như ở Việt Nam. Tiếc rằng tâm lý cố hữu “thấp cổ bé họng”, “tránh voi chẳng xấu mặt nào” để yên ổn làm ăn của người Việt, trong một xã hội mà tinh thần thượng tôn pháp luật vẫn còn là điểu xa xỉ, đã tự mình làm hại mình khi những vụ việc gây thiệt hại hiển nhiên cho họ như chuyện hoàn thuế chậm mà dường như chưa hề có ai đứng ra kiện ngành thuế đòi bồi thường. Trước viễn cảnh an toàn như vậy thì ngành thuế cần gì phải phấn đấu với nỗ lực cải thiện chất lượng phục vụ nữa?
Nói đi thì cũng phải nói lại. Sự yếu kém, thiếu hiểu biết, sơ suất của nhiều cá nhân và doanh nghiệp Việt Nam là mảnh đất mầu mỡ nuôi dưỡng và phát triển sự hư hỏng, tha hóa của nhiều cán bộ thuế ở mọi cấp. Lấy ví dụ, trong thanh tra thuế, là việc mà cá nhân và doanh nghiệp sợ nhất, điều thường xuyên xảy ra là các cá nhân và doanh nghiệp không chuẩn bị đầy đủ các loại giấy tờ, chứng từ, hóa đơn, cũng như thiếu hiểu biết cặn kẽ các quy trình, quy định và văn bản thuế liên quan khi làm việc với cán bộ thanh tra thuế nên dễ bị vặn vẹo, truy bức để rồi bị áp đặt, bị phạt trong nỗi ấm ức tức tưởi. Nhưng cũng phải nói thêm rằng đây cũng không phải là đặc điểm riêng có của doanh nghiệp Việt Nam, mà ngay cả ở Mỹ cũng có nhiều cá nhân và doanh nghiệp gặp phải tình trạng này. Điều khác biệt là khi nhận được thông báo về thanh tra thuế, nhiều cá nhân và doanh nghiệp ở Mỹ đã chủ động thuê tư vấn kế toán và thuế để hoàn thiện mọi khía cạnh nhằm đương đầu với thanh tra. Tất nhiên vấn đề “tiền đâu” sẽ được đặt ra với nhiều cá nhân và doanh nghiệp Việt Nam, nên giải pháp tốt nhất, “đôi bên cùng có lợi” là bắt tay với thanh tra thuế. Đó là chưa kể bên bị thanh tra chủ động bắt tay với thanh tra trên tinh thần trục lợi để khai miễn, giảm thuế.
Thế nên, để khắc phục tình trạng bắt tay với thanh tra thuế gây thiệt hại cho ngân sách như thế này thì chỉ còn cách là tái thanh tra, thanh tra chéo, kiểm toán độc lập với hy vọng là lôi ra ánh sáng và xử lý nặng cả hai bên nhằm tạo ra những vụ việc điểm để làm chùn bước khi cả hai bên có ý định bắt tay nhau.
Cuối cùng, có những chuyện đang gây ra bức xúc lớn với doanh nghiệp và hộ kinh doanh như chuyện khoán thuế đồng thời vẫn tính thuế trên hóa đơn phát hành… theo cách nhìn “ngoại đạo” của người viết có thể được giải quyết một cách căn bản dựa trên cách làm ở nước ngoài. Cụ thể, ở nước ngoài có lẽ chỉ có những cá nhân, hộ kinh doanh cực nhỏ, trong một số khu vực, địa điểm đặc thù như chợ hoặc nơi bán đồ ăn kiểu đường phố mới được khoán thuế, mới không phải dùng máy tính tiền đồng thời in xuất hóa đơn cho khách hàng (và như vậy trở thành một công cụ kế toán lưu lại mọi giao dịch để có thể kiểm tra và xác nhận được). Còn lại thì hầu như tại mọi địa điểm kinh doanh hàng hóa và dịch vụ đều bắt buộc phải dùng đến công cụ này nên sẽ không khó gì cho cơ quan thuế nắm được doanh thu của cửa hàng, và nên cũng sẽ không có chuyện như ở Việt Nam là đến tiệm kinh doanh vàng cũng được khoán thuế với mức thuế được cò kè, mặc cả giữa cán bộ thuế và chủ tiệm một cách chủ quan, dễ trục lợi. Có thể vì lý do nào đó mà Việt Nam vẫn không áp dụng đại trà hệ thống máy này, nhưng đây phải là mục tiêu thực hiện trong trong tương lai để giảm thiểu nỗi thống khổ liên quan đến thuế.

Sunday, 8 May 2016

Bảo lãnh Chính phủ: Đừng ném tiền qua cửa sổ! (Bài đăng trên TBKTSG, 8/5/2016, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/145923/Bao-lanh-Chinh-phu-Dung-nem-tien-qua-cua-so.html


Mỗi ngày, mỗi tuần trôi qua dư luận lại được thêm một phen bàng hoàng về những con số hàng ngàn tỷ đồng là số tiền có khả năng mất trắng trong những dự án đầu tư đủ loại của nhiều doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Nhiều trong số những dự án kiểu này, ví dụ như Gang thép Thái Nguyên, Xơ sợi Đình Vũ, hay các nhà máy sản xuất xăng sinh học từ Bắc vào Nam, hoặc thậm chí các dự án hạ tầng cơ sở như đường sắt trên cao, chỉ được biết đến rộng rãi khi chủ dự án, các DNNN, lên tiếng kêu cứu Chính phủ để xin ưu đãi đặc biệt, xin “chính sách hỗ trợ” nhằm giúp các dự án này hoàn tất hoặc thoát khỏi cảnh đóng cửa vì hoạt động không hiệu quả.
Điều đáng nói là không phải Chính phủ đều trực tiếp rót, cấp phát vốn ngân sách vào các dự án này. Đa phần những dự án này thu xếp vốn xây dựng với các tổ chức tài chính trong và ngoài nước dưới sự bảo lãnh vay vốn của Chính phủ. Trên thực tế, đúng là Chính phủ không đi vay đâu đó rồi trực tiếp cấp phát vốn vay này (tức đã trở thành vốn ngân sách) cho các chủ dự án này. Bằng cách này Chính phủ trên danh nghĩa không làm tăng nợ công, vì cái mà họ làm chỉ là bảo lãnh cho vay.
Tại sao Chính phủ phải bảo lãnh cho vay?
Nhiều dự án được đầu tư xây dựng theo quy hoạch phát triển của ngành, của địa phương, của trung ương nên tính hiệu quả và cấp thiết nhiều khi chỉ hoặc là yếu tố phụ, hoặc là được “vẽ” ra để hợp lý hóa chủ trương đầu tư theo quy hoạch, trong khi bản thân các quy hoạch cũng có nhiều chuyện phải bàn, ít ra thì cũng phải bổ sung, thay đổi, điều chỉnh theo thời gian, ví dụ quy hoạch xi măng, điện, thép, xăng dầu...
Bởi vậy, thông thường nếu chủ đầu tư mang những dự án này ra để huy động vốn theo các điều kiện thương mại, qua các kênh như trái phiếu dự án, trái phiếu doanh nghiệp, hoặc vốn vay ngân hàng, thì sẽ chẳng mấy nhà đầu tư nào dám mua trái phiếu của họ, hay ngân hàng nào dám cho họ vay vì sự rủi ro quá cao. Còn nếu trông chờ vào vốn rót từ ngân sách thì cũng chẳng thể nào có (đủ), cho dù Chính phủ có muốn trợ giúp đến đâu chăng nữa trong bối cảnh thâm hụt ngân sách kinh niên với nợ công vượt trần.
Mọi sự sẽ khác đi về cơ bản nếu thay vì trực tiếp rót vốn vào dự án, Chính phủ đứng ra bảo lãnh cho vay cho dự án. Bằng cách này, các chủ nợ tiềm năng của dự án đã bớt đi được một rủi ro, mối lo chính, là khả năng con nợ - chủ dự án – không trả được nợ đã vay, vì khi đó Chính phủ sẽ là người phải đứng ra gánh trách nhiệm chi trả.
Bảo lãnh của Chính phủ còn có tác dụng tích cực quan trọng khác nữa là làm cho lãi suất đi vay thấp hơn và các điều kiện khác của khoản vay dễ dàng hơn so với trường hợp các ngân hàng cho vay không có bảo lãnh của Chính phủ. Nhờ đó, tính hiệu quả, nếu có, của dự án cũng được “nâng tầm” lên một bước để các chủ dự án dễ dàng xin được phê duyệt của các cấp có thẩm quyền hơn, còn Chính phủ cũng “dễ ăn dễ nói” hơn với quốc dân khi phải giải trình, biện hộ cho việc chấp nhận chủ trương đầu tư này (rằng, ví dụ, dự án có hiệu quả cao, không sử dụng ngân sách).
Tại sao các dự án được Chính phủ bảo lãnh cho vay lại hay “trục trặc”?
Thực ra hay “trục trặc” không phải là thuộc tính riêng của các dự án có bảo lãnh cho vay của Chính phủ, mà điều này còn đúng cho phần lớn các dự án của DNNN, dự án có sử dụng vốn ngân sách. Điểm chung của các dự án của DNNN, sử dụng vốn ngân sách, hoặc được Chính phủ bảo lãnh cho vay là các chủ dự án không có động cơ tính toán chi li và sử dụng hiệu quả đồng vốn bỏ ra như với dự án của các ông chủ tư nhân.
Ngược lại, sự vụ lợi làm cho các bên liên quan của dự án, từ chủ dự án, đến nhà thiết kế, tư vấn, phê duyệt, xây dựng và giám sát dự án, có xu hướng cố tình che giấu sự kém, không hiệu quả của dự án. Bởi vậy mới có chuyện khi thiết kế và phê duyệt dự án người ta đã “quên” không đưa các hạng mục cơ bản như thăm dò, xử lý nền móng đất yếu, đào tạo nhân viên, làm đường vận chuyển nguyên vật liệu và sản phẩm, hoặc một số loại chi phí khác như “trượt giá” và tỷ giá… vào trong tính toán tổng chi phí dự án, làm cho dự án thoạt đầu có tổng mức đầu tư thấp xa so với thực tế sau này. Bởi vậy mới có chuyện nhà thầu thiết kế và tư vấn dự án thì luôn “chưa có kinh nghiệm”, nên luôn bỏ sót, tính thấp đi hoặc làm phát sinh chi phí. Và bởi vậy mới có chuyện dự án dang dở, đội vốn, hoặc có hoàn thành thì cũng “năm ngày ba tật” với giá thành sản phẩm đội lên trời.
Đến đây, cần lưu ý một điểm chung khác có trong nhiều dự án như nêu trên. Đó là nhiều dự án sử dụng công nghệ và thiết bị Trung Quốc, nhà thầu xây dựng Trung Quốc. Thực tế này đã hướng dư luận tập trung vào phê phán việc sử dụng các yếu tố liên quan đến Trung Quốc như là nguồn gốc của mọi vấn đề, chứ không phải là các bên liên quan về phía Việt Nam. Công bằng mà nói, nhà thầu Trung Quốc, thiết bị và công nghệ Trung Quốc hiện diện khắp khu vực và thế giới, kể cả ở nhiều nước tiên tiến. Nên cũng phải công bằng mà nói sự thất bại của các dự án ở Việt Nam trước tiên và chủ yếu là do các yếu tố chủ quan, về phía Việt Nam.   
Chính phủ nên làm gì?
Như đã nói, dù chỉ là đứng ra bảo lãnh cho vay, nhưng Chính phủ sẽ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ hộ chủ dự án khi dự án thất bại, và kết quả nhãn tiền hầu như là như vậy. Nếu Chính phủ không muốn sự bảo lãnh của mình được hiện thực hóa ngay thành nghĩa vụ trả nợ thay cho chủ đầu tư thì Chính phủ buộc phải tiếp tục trò chơi rủi ro hơn, tốn kém hơn. Đó là tiếp tục bảo lãnh hoặc chỉ định cho vay để “nuôi” dự án cho đến lúc nó được hoàn thành hoặc, nếu đã hoàn thành, tiếp tục tồn tại kiểu “xác sống”. Nhưng cách này cũng chỉ là để mua thời gian. Sự phá sản của dự án sớm hay muộn sẽ xảy ra vì bản thân dự án đã sai, đã được ngụy tạo ngay từ đầu, nên mọi sự cố gắng giữ cho nó tồn tại chỉ là ném tiền qua cửa sổ dưới hình thức này hay hình thức khác.
Vậy, lời khuyên dành cho những dự án dang dở, đang kêu cứu Chính phủ là “thà đau một lần”, hãy để cho chúng chết đi, chấp nhận gánh chịu những hậu quả và tổn thất do chúng để lại để khép lại một chương xám xịt trong lịch sử kinh tế cận đại (về DNNN và đầu tư công) của Việt Nam.
Trong tương lai, cần nhanh chóng giảm thiểu bảo lãnh Chính phủ nói riêng, và đầu tư công nói chung, chỉ thực hiện trong những hoàn cảnh ngặt nghèo, bất khả kháng như thiên tai địch họa hay khủng hoảng đồng hành bởi các rủi ro đổ vỡ to lớn cho nền kinh tế làm cho không mấy nhà đầu tư nào còn dám tin tưởng bỏ vốn ra nữa.
Trong hoàn cảnh thông thường, hầu như không có lĩnh vực nào, địa phương nào lại không thể kêu gọi, không thể để cho nhà đầu tư tư nhân tham gia sản xuất, cung cấp sản phẩm và dịch vụ theo yêu cầu của nhà nước, kể cả những lĩnh vực như an ninh quốc phòng, theo đó nhà nước đứng ra đặt hàng qua đấu thầu và dùng ngân sách để chi trả, như mô hình ở nhiều nước khác cho thấy.
Nếu vì một lý do nào đó mà Chính phủ vẫn thấy cần phải trực tiếp đầu tư, trực tiếp đứng ra bảo lãnh cho một doanh nghiệp nào đó trong một lĩnh vực nào đó thì điều này chỉ nên được thực hiện khi đảm bảo được rằng mọi quyết định đầu tư được xây dựng, phản biện, đánh giá, thực hiện, giám sát, và giải trình một cách công khai, minh bạch, cầu thị và đúng đắn.

Monday, 25 April 2016

Quyết định 618 có phải là một bước đột phá về xử lý nợ xấu? (Bài đăng trên CafeF, 25/4/2016)

http://cafef.vn/quyet-dinh-618-co-phai-la-mot-buoc-dot-pha-ve-xu-ly-no-xau-20160425092126528.chn

Ngày 12/4 Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Quyết định 618/QĐ-NHNN về việc xây dựng và triển khai Phương án mua nợ xấutheo giá trị thị trường của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Quyết định này quy định cụ thể, chi tiết phạm vi, đối tượng, điều kiện đối với các khoản nợ xấu mua theo giá thị trường; Nguyên tắc, trình tự thực hiện mua nợ xấu theo giá thị trường; Nguyên tắc xác định giá mua nợ; Nguồn vốn sử dụng để mua nợ theo giá thị trường; Xử lý các khoản nợ xấu đã mua.
Ngay lập tức, nhiều người đã cho rằng NHNN cho triển khai mua nợ xấu theo giá trị trường theo Quyết định 618 sẽ là một bước đột phá trong giải quyết nợ xấu của VAMC so với cách mua nợ xấu cũ, tức là VAMC phát hành trái phiếu đặc biệt cho tổ chức tín dụng bán nợ xấu thay vì tiền mặt.
Cách mua nợ xấu không thay đổi
Thực tế, Quyết định 618 về bản chất chỉ là văn bản pháp lý cụ thể hóa một số nội dung liên quan đến mua nợ xấu theo giá thị trường mà đã được quy định trong các văn bản pháp luật ban hành trước đó, bao gồm Nghị định 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của VAMC; Nghị định 34/2015/NĐ-CP ngày 31/3/2015 sửa đổi Nghị định 53; Thông tư 19/2013/TT-NHNN ngày 6/9/2013 của NHNN về mua, bán và xử lý nợ xấu của VAMC; Thông tư 14/2015/TT-NHNN ngày 28/8/2015 sửa đổi Thông tư 14…
Theo các văn bản pháp luật trước đó như nêu trên, VAMC mua nợ xấu theo 2 hình thức: (1) mua nợ xấu theo bằng trái phiếu đặc biệt của VAMC phát hành cho tổ chức tín dụng bán nợ xấu. Trái phiếu này có mệnh giá bằng giá trị ghi sổ số dư nợ gốc khách hàng vay chưa trả, khấu trừ số tiền dự phòng cụ thể đã trích lập chưa sử dụng cho khoản nợ xấu này; và (2) mua nợ xấu theo giá thị trường trên cơ sở thỏa thuận, và giá trị khoản nợ xấu được đánh giá lại.
Do Quyết định 618 chỉ đề cập đến việc xây dựng và triển khai Phương án mua nợ xấu theo giá thị trường của VAMC nên có thể hiểu rằng việc mua bán nợ xấu của VAMC theo cách (1) nói trên vẫn được giữ nguyên, theo những quy định trong các văn bản pháp luật của Chính phủ và NHNN đã nêu.
Những tương đồng
Về cơ bản, Quyết định 618 chỉ sắp xếp lại các quy định liên quan có trong các văn bản luật nêu trên theo các hạng mục có thể khác với các văn bản luật nêu trên.
Cụ thể, các quy định về phạm vi, đối tượng và điều kiện đối với các khoản nợ xấu mua theo giá thị trường, nguyên tắc mua nợ xấu theo giá thị trường trong Quyết định 618 đều dựa trên các văn bản pháp lý đã nêu trên.
Về trình tự thực hiện mua nợ xấu theo giá thị trường, Quyết định 618 nêu 4 bước, bao gồm xác định danh mục khoản nợ tiềm năng, xây dựng kế hoạch mua nợ xấu theo giá thị trường, định giá nợ xấu, và thỏa thuận, ký kết hợp đồng mua nợ xấu. Cả 4 bước này đều đã được quy định rải rác, ví dụ, ở các Điều 23, 24, và 26 của Thông tư 19/2013 và Thông tư 14/2015.
Về xử lý nợ xấu đã mua, Quyết định 618 đề ra 2 bước xử lý gồm phân loại nợ xấu đã mua (để áp dụng biện pháp xử lý nợ thích hợp), và áp dụng các biện pháp xử lý thích hợp. Quy trình xử lý nợ xấu đã mua tương tự như thế này tuy không có trong các nghị định và thông tư liên quan nhưng các nội dung này đều đã được đề cập đến rải rác trong các nghị định và thông tư này. Ví dụ, biện pháp cơ cấu lại khoản nợ, hỗ trợ khách hàng trong Quyết định 618 thì đã có ở trong các Điều 27, 28, 29, 31, và 36 của Nghị định 53/2013.
Về tổ chức thực hiện, Quyết định 618 hầu như lặp lại các quy định có trong Nghị định 53/2013, trừ một số khác biệt nhỏ, ví dụ như có thêm sự xuất hiện của Vụ Chính sách tiền tệ và Vụ Tổ chức cán bộ, với những nhiệm vụ cụ thể theo chức năng. Ngoài ra, VAMC cũng có thêm một số trách nhiệm cụ thể liên quan đến triển khai mua nợ xấu theo giá thị trường mà không được cụ thể hóa như trong các nghị định và thông tư khác. Tương tự như vậy là phần về trách nhiệm của các tổ chức tín dụng.
Những khác biệt
Chỉ có một số ít khác biệt đáng kể giữa Quyết định 618 và các văn bản luật nói trên.
Về nguyên tắc xác định giá mua nợ, khác biệt đáng kể là Quyết định 618 có thêm một dòng: “Trường hợp xét thấy cần thiết, Công ty Quản lý tài sản tham khảo giá trị mua, bán các khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm có tính chất tương đồng trên thị trường (nếu có) để xác định giá mua nợ”. Thông tư 19/2013 và Thông tư 14/2015 cũng có một điều khoản có nội dung tương đồng (Điều 34), nhưng chỉ là dành cho việc xác định giá bán nợ xấu, chứ không phải giá mua nợ xấu.
Như vậy, có thể nói việc tham khảo giá mua, bán nợ xấu, tài sản bảo đảm tương tự trên thị trường để xác định giá mua nợ xấu là một “đột phá” của Quyết định 618 so với các văn bản luật liên quan hiện thời. Nhưng như thế lại nảy sinh vấn đề là Quyết định 618 tuy là một văn bản luật cấp thấp hơn Thông tư và trên nữa là Nghị định của Chính phủ nhưng lại có quy định không có trong, không đúng với tinh thần của các văn bản luật cấp cao hơn. Nói cách khác, NHNN cần phải xem lại cơ sở pháp lý của Điều 34 của Quyết định 618.
Về nguồn vốn sử dụng để mua nợ xấu theo giá thị trường, ngoài các nguồn vốn quy định trong Nghị định 53/2013 như vốn điều lệ, trái phiếu (đặc biệt), và vốn từ các quỹ được trích lập theo quy định của pháp luật, Quyết định 618 còn nêu thêm 2 nguồn vốn khác gồm có vốn từ hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế, và vốn ủy thác của các nhà đầu tư.
Nhưng vì Nghị định 53/2013 có nêu thêm một nguồn vốn khác gọi là “các nguồn vốn huy động khác theo quy định của pháp luật” nên có thể coi 2 nguồn vốn mới, được nêu trong Quyết định 618 thực chất chỉ là sự cụ thể hóa Nghị định 53/2013 mà thôi. Tuy vậy, điều đáng nói ở đây là Quyết định 618 xem ra đã chính thức cho phép nhà đầu tư nước ngoài, ít nhất là gián tiếp, thông qua hợp tác với VAMC, được mua nợ xấu ở Việt Nam. Vì theo cách hiểu của dư luận bấy lâu nay, nợ xấu chỉ được khuyến khích bán cho nhà đầu tư trong nước.
Tóm lại, Quyết định 618 nếu có điểm mới nào đó để có thể coi là “đột phá” trong việc xử lý nợ xấu ở Việt Nam thì đó chỉ là việc cho phép VAMC được phối hợp với các nhà đầu tư nước ngoài để thu hút nguồn vốn (và kinh nghiệm định giá, xử lý các khoản nợ xấu mua theo giá thị trường). Tuy nhiên, nhà đầu tư nước ngoài có mặn mà với điểm “đột phá” này hay không lại là chuyện khác, nếu họ vẫn thấy chưa có thị trường mua bán nợ minh bạch và hiệu quả ở Việt Nam để cho các khoản nợ mua về có thể bán ra dễ dàng và có lãi.

Monday, 18 April 2016

Phát hành 3 tỷ USD trái phiếu quốc tế - Nửa đầu năm nay là thời điểm tốt nhất (Trả lời phỏng vấn Đại biểu Nhân dân, ngày 16/4)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=370614

Cuối tháng 3 vừa qua, Bộ Tài chính tiếp tục có động thái thăm dò thị trường vốn quốc tế nhằm chuẩn bị cho việc phát hành 3 tỷ USD trái phiếu - đã được QH phê duyệt vào năm ngoái.

- Theo ông, việc Việt Nam phát hành 3 tỷ USD trái phiếu quốc tế trong năm nay có điểm nào thuận lợi? 

- Đầu tiên, Việt Nam có thêm thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng cho đợt phát hành, chứ không phải chạy nước rút, vội vã như dự định phát hành vào cuối năm ngoái. Thêm nữa, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã bày tỏ rõ ý định sẽ chỉ nâng lãi suất từ từ và có chừng mực trong năm nay. Dự kiến nâng thêm khoảng 1/2 điểm phần trăm trong 2 đợt thay cho mức 1 điểm phần trăm trong nhiều đợt như kế hoạch tuyên bố ban đầu. Như vậy, nếu Việt Nam phát hành trái phiếu quốc tế trong năm nay thì sẽ vừa có đủ thời gian để chuẩn bị những phương án phát hành khác nhau, vừa tận dụng được mặt bằng lãi suất đang ở mức thấp, tất nhiên là đã cao hơn một chút so với cuối năm trước.

- Còn những khó khăn thì sao, thưa ông?
- Việt Nam càng phát hành muộn thì càng bộc lộ ra nhiều số liệu cập nhật mới bất lợi hơn về tình hình “sức khỏe” vĩ mô của nền kinh tế, đặc biệt về nợ công, thâm hụt ngân sách… là những con số đang xấu đi từng tháng, từng quý. Những diễn biến này bất lợi cho Việt Nam về mặt lợi suất chào mời, cụ thể là phải chào với lợi suất cao hơn để hấp dẫn nhà đầu tư quốc tế để bù đắp vào rủi ro đã và đang tăng lên về kinh tế vĩ mô - cũng chính là khả năng trả nợ - của Việt Nam.

- Như vậy theo ông thời điểm nào là tốt nhất để phát hành ?

- Tôi cho rằng tốt nhất là phát hành ngay trong nửa đầu năm nay.

- Có ý kiến cho rằng, nếu phát hành theo đúng kế hoạch ban đầu - tức là cuối năm 2015 - thì kỳ vọng lợi tức sẽ tốt hơn so với năm nay. Ông có thấy như vậy không?

- Như đã nói ở trên, phát hành vào cuối năm 2015, nhất là trước khi Fed tăng lãi suất vào thời điểm cuối năm 2015, thì Việt Nam sẽ có cái lợi là lợi suất trái phiếu sẽ thấp hơn so với thời điểm sau này, trong năm nay, đặc biệt khi Fed một lần nữa tăng lãi suất vào thời điểm nào đó trong những tháng sắp tới. Bù lại, thời gian cuối năm vừa qua tỏ ra là quá gấp gáp cho Việt Nam để có thể chuẩn bị đầy đủ các phương án phát hành thích hợp với các đối tác thích hợp. Vì vậy, phát hành trong nửa đầu năm nay cũng không phải là phương án tồi.

Chính phủ nhiệm kỳ mới cần thời gian để ghi dấu ấn

- Ngoài phương án phát hành trái phiếu quốc tế, theo ông, Bộ Tài chính còn có thể lách qua “khe cửa” nào khác để cứu ngân sách nhà nước nay không?

- Vì phát hành trong nửa đầu năm nay cũng không phải là phương án tồi nên Bộ Tài chính cần cân nhắc kỹ lưỡng. Nếu thấy chỉ còn con đường phát hành trái phiếu ngoại tệ để bù đắp thâm hụt ngân sách thì cần phải làm sớm, không nên dây dưa, càng để lâu càng bất lợi về mặt lợi suất. Còn nếu thấy vẫn có thể “giật gấu vá vai” ở đâu đó được, ví dụ từ các nguồn thu, từ phát hành bằng VNĐ trong nước, thì tốt nhất là không nên phát hành trái phiếu ngoại tệ ra nước ngoài vì nguồn huy động này có nhiều rủi ro - chủ yếu liên quan đến yếu tố tỷ giá - hơn là lợi ích.

 - Có gợi ý rằng Bộ Tài chính có thể phát hành trái phiếu trong nước bằng ngoại tệ. Quan điểm của ông về đề xuất này như thế nào?

- Ý tưởng này hết sức hời hợt, nguy hiểm. Người ta đơn giản nghĩ rằng người dân và doanh nghiệp đang phải gửi USD với lãi suất 0%, do đó ngân hàng huy động được nguồn vốn USD với lãi suất 0% thì sẽ có khả năng và mong muốn mua trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ với lợi suất chỉ nhỉnh hơn 0% một chút và thấp hơn nhiều so với lợi suất trái phiếu bằng VNĐ. Vì vậy, phát hành trái phiếu ngoại tệ trong nước, theo những người này, là có lợi về mọi mặt.

Nhưng thực tế không đơn giản như vậy. Người dân và doanh nghiệp có gửi USD vào ngân hàng thì thường chỉ gửi ở dạng không kỳ hạn khi lãi suất hạ xuống 0%. Bởi thế các ngân hàng thương mại Việt Nam dù muốn cũng sẽ không thể huy động được với số lượng ngoại tệ đủ lớn và quan trọng hơn là có kỳ hạn tương đối dài để có thể phần nào khớp với kỳ hạn trái phiếu của Chính phủ. Ngược lại, thực tế còn cho thấy các ngân hàng đang phải “đi đêm” với cá nhân và doanh nghiệp có tiền gửi USD để huy động được USD đáp ứng cho các nhu cầu của ngân hàng. Do đó, không có lý do gì các ngân hàng lại có thể bằng lòng và có khả năng mua trái phiếu ngoại tệ của Chính phủ với lợi suất “bèo”, nếu như không muốn nói ngược lại là thậm chí còn cao hơn cả khi Chính phủ phát hành ra nước ngoài. Minh chứng cho điều này là gần đây Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã phải huy động 200 triệu USD từ nước ngoài chứ không phải từ thị trường trong nước.

- Theo ông, bộ máy Chính phủ nhiệm kỳ mới có ảnh hưởng như thế nào đến việc phát hành trái phiếu quốc tế lần này?

- Còn quá sớm để kỳ vọng những tác động theo hướng tích cực nào đó từ Chính phủ nhiệm kỳ mới. Chính phủ nhiệm kỳ mới cần phải có thời gian ít nhất một vài quý để ghi dấu ấn lên nền kinh tế, lên kỳ vọng của nhà đầu tư trong và ngoài nước. Nhưng ít ra thì cũng có thể kỳ vọng Chính phủ mới sẽ tiếp tục những công việc dang dở của Chính phủ nhiệm kỳ trước, nên vị thế và xếp hạng rủi ro tín dụng của Việt Nam ít ra sẽ không có thay đổi theo chiều hướng đi xuống.

- Xin cảm ơn ông!
Hồng Loan thực hiện

Saturday, 16 April 2016

Khi các bộ "đá" nhau... (Bài đăng trên TBKTSG, ngày 17/4, bản gốc, tiêu đề do báo đặt lại)

http://www.thesaigontimes.vn/144967/Cac-bo-choi-nhau-va-hanh-dong-cua-Chinh-phu.html

Không ít lần dư luận đã được chứng kiến những màn “đá” nhau giữa các Bộ chủ quản ở Việt Nam liên quan đến phân cấp và thực thi trách nhiệm của mình trong những lĩnh vực đòi hỏi phải có sự phối hợp quản lý. Điển hình của những vụ việc như vậy gần đây thường là liên quan đến hai Bộ Tài chính và Bộ Công thương trong những lĩnh vực như quản lý giá sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi, và việc xuất khẩu than, hay việc quản lý thuế nhập khẩu xăng dầu.
Điều đáng nói là chưa cần biết ai đúng hay sai nhưng thường thì những vụ đá nhau này luôn luôn gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng trong nước, chứ hầu như chẳng có khi nào lại xảy ra chuyện ngược đời là các Bộ đá nhau và người tiêu dùng được hưởng lợi!
Trong vụ việc về quản lý giá sữa trẻ em dưới 6 tuổi, mặc dù đã có đầy đủ ban bệ, phân công trách nhiệm, và đầy đủ công cụ thi hành pháp lý vậy mà hai Bộ Tài chính và Công thương (và cả Bộ Y tế) vẫn để cho giá sữa bột dành cho trẻ em tăng đều đều, trong khi, theo một số bài báo thống kê cho biết, giá sữa bột dành cho trẻ em ở một số nước trong khu vực hầu như không biến động đáng kể. Tương tự như vậy, cũng vẫn đầy đủ ban bệ, bộ máy liên ngành với những là thông tư với hướng dẫn phối hợp của Bộ Tài chính và Công thương vậy mà trong lĩnh vực xăng dầu, người tiêu dùng vẫn phải móc túi trả tiền nhiều hơn cho xăng dầu do những lỗ hổng trong thuế nhập khẩu xăng dầu làm đội giá bán lẻ xăng dầu trong nước. Còn trong lĩnh vực than, sự bất nhất trong quản lý xuất khẩu than giữa Bộ Tài chính và Công thương làm cho không những các doanh nghiệp và người tiêu dùng năng lượng đang phải đối mặt với thực tế nhập khẩu than thay vì mua từ trong nước với giá được nhà nước quản lý (thấp hơn giá xuất khẩu), mà còn dẫn đến tình trạng môi trường đang bị ảnh hưởng lớn bởi than tốt, chất lượng cao thì được xuất đi, đồng thời giữ lại hoặc nhập khẩu than kém hơn, chất lượng thấp hơn, gây ô nhiễm môi trường.
Tại sao lại có tình trạng đá nhau này, và cần làm gì để không còn tình trạng này xảy ra nữa?
Theo dõi nội dung chỉ trích và “phản pháo” giữa các Bộ với nhau, có thể thấy các quan chức liên đới của các Bộ đã không… thuộc luật! Lúc thì họ “quên” rằng đã có những thông tư, hướng dẫn do chính Bộ mình, Bộ khác, hoặc Chính phủ đã ban hành, lúc thì họ “chưa hiểu đúng” những văn bản liên đới do các Bộ hoặc Chính phủ đã ban hành. Nhưng như vậy thì kể cũng lạ. Vì công việc thường ngày của các quan chức này là đọc, nghiên cứu và ra văn bản, quyết định, tờ trình… để (phổi hợp với nhau) quản lý các lĩnh vực chuyên ngành của mình. Vậy mà họ vẫn cứ “quên” và “chưa hiểu đúng” nên buộc người ta phải đi đến kết luận rằng họ hoặc có trình độ nhận thức pháp luật quá kém (là khả năng ít xảy ra hơn), hoặc đã quá chểnh mảng và vô trách nhiệm với vai trò và công việc của mình.
Vậy điều gì gây ra sự chểnh mảng, vô trách nhiệm này? Điều này có liên quan đến sự phối hợp giữa các Bộ trong việc quản lý một ngành nghề hay lĩnh vực cụ thể nào đó. Không thể phủ nhận rằng chuyện đá nhau và hậu quả thì người tiêu dùng phải gánh chịu như trên sẽ khó xảy ra hơn nếu có cơ chế quy trách nhiệm rõ ràng khi xảy ra hậu quả thì Bộ nào phải chịu trách nhiệm. Nhưng trong cơ chế phối hợp liên ngành như hiện tại, những quy định hiện tại kiểu như “Bộ X chủ trì, phối hợp với Bộ Y” nghe thì tưởng là chặt chẽ nhưng thực ra lại là lỗ hổng dẫn đến tình trạng vô trách nhiệm, ỷ lại vào nhau hoặc đùn đẩy trách nhiệm cho nhau theo kiểu “cha chung không ai khóc”. Bộ Y có thể chỉ trích Bộ X rằng Bộ X là đơn vị chủ trì việc quản lý lĩnh vực Z, vậy thì họ sẽ đợi Bộ X hành động, và khi có vấn đề trong lĩnh vực này thì Bộ X phải là đơn vị chịu trách nhiệm. Ngược lại, Bộ X cũng có thể sẽ “phản pháo” rằng họ là đơn vị chủ trì nhưng chỉ hành động khi có sự phối hợp của Bộ Y (trên, ví dụ, các khía cạnh kỹ thuật chuyên ngành, ngoài tầm hiểu biết chuyên môn và nhận thức của Bộ X), nhưng Bộ Y đã không phối hợp một cách đầy đủ và đúng đắn nên dẫn đến hậu quả, vì thế Bộ Y mới là đơn vị chịu trách nhiệm...
Sự ỷ lại vào nhau và đổ lỗi cho nhau như trên buộc Chính phủ phải thay đổi cung cách quản lý nền kinh tế theo hướng quy trách nhiệm quản lý một ngành, một lĩnh vực nào đó về một mối duy nhất. Nếu như từ trước đến nay như Chính phủ thấy Bộ Công thương là phù hợp hơn trong vai trò là đơn vị chủ trì quản lý giá xăng dầu thì từ nay về sau Chính phủ hãy giao cho duy nhất Bộ Công thương chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc này mà không nên, không cần lôi kéo Bộ Tài chính vào với vai trò “chủ trì” và/hoặc “phối hợp”. Bộ Công thương từ nay trở đi tự xây dựng và áp dụng phương pháp tính giá cơ sở. Kể cả trong trường hợp có nhiều mức thuế suất khác nhau giữa MFN và các hiệp định thương mại tự do thì Bộ Công thương tự quyết định mức thuế áp dụng mà họ thấy phù hợp nhất.
Nhu cầu phải có cơ chế phối hợp với các Bộ khác, ví dụ như Bộ Tài chính, thực ra có thể thay thế hoàn toàn bởi cơ chế yêu cầu và đáp ứng. Ví dụ, vẫn trong lĩnh vực giá xăng dầu, nếu thấy chưa chắc chắn về tính đúng đắn và phù hợp của phương pháp tính giá cơ sở (xét trên khía cạnh nào đó, ví dụ như đảm bảo công tác điều hành giá xăng dầu theo đúng các quy định về Luật Giá) và/hoặc tính hợp lý của việc áp dụng một loại thuế suất nào đó trong nhiều loại thuế suất MFN và các hiệp định thương mại tự do… thì Bộ Công thương có thể gửi công văn tham vấn, yêu cầu Bộ Tài chính giải đáp, cung cấp các nội dung cần thiết để Bộ Công thương dựa vào đó ra quyết định cuối cùng.
Ở đây sẽ có khả năng Bộ Tài chính không “nhiệt tình” và đáp ứng một cách đúng đắn và có trách nhiệm các yêu cầu của Bộ Công thương. Chưa vội bàn đến khía cạnh Bộ Công thương có thể báo cáo Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về sự thiếu trách nhiệm của Bộ Tài chính, trong trường hợp này thì Bộ Công thương vẫn hoàn toàn có thể tự ra quyết định dựa trên tham vấn các chuyên gia của mình, chuyên gia độc lập, và/hoặc lấy ý kiến đóng góp của dư luận như cách nhiều cơ quan chính quyền vẫn làm từ trước đến nay. Nói cách khác, Bộ Công thương vẫn hoàn toàn có thể độc lập ra quyết định (sau khi tham khảo các nguồn), và phải chịu trách nhiệm khi để xảy ra hậu quả, mà không thể lấy lý do là không nhận được sự phối hợp đúng đắn của Bộ Tài chính để biện minh cho việc chậm chễ hoặc sai lầm trong quản lý giá xăng dầu.
Trở lại với chuyện xử lý sự thiếu trách nhiệm có thể có của Bộ Tài chính. Lúc này cần có vai trò của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ trong việc quản lý các Bộ trưởng của mình để không có tình trạng “hỏi không đáp”, hoặc đáp mà như không. Nếu Chính phủ và Thủ tướng không làm tốt được việc này, vẫn để tình trạng đến bản thân Bộ Công thương yêu cầu mà Bộ Tài chính không đáp ứng (đến nơi đến chốn) thì thử hỏi trong quan hệ giữa các doanh nghiệp và người dân với các cơ quan công quyền tình trạng sẽ còn tệ hại đến đâu, và tương lai của việc hô hào cải cách hành chính sẽ đi về đâu?

Friday, 8 April 2016

Xã hội hóa – không có bữa trưa miễn phí! (Bài đăng trên TBKTSG, 9/4/2016, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/144639/Xa-hoi-hoa---khong-co-bua-trua-mien-phi.html
Cho đến nay nhiều lần dư luận đã được nghe điệp khúc đại loại “nguồn vốn sẽ dựa vào xã hội hóa, không dùng ngân sách” trong nhiều dự án phục vụ công cộng đề xuất bởi một số cơ quan nhà nước mà không rõ tính hiệu quả và sự cần thiết cho quốc kế dân sinh, bị dư luận nghi ngờ có động cơ vụ lợi của những người có liên quan. Trong số này, có những dự án “khủng” mà gần đây nhất thì có dự án lát vỉa hè ở quận 1, thành phố Hồ Chí Minh trị giá 1.000 tỷ đồng, hay dự định xây 3 sân bay ở Tây Bắc, mỗi cái trị giá cũng vài nghìn tỷ đồng mà một phần trong đó được cho là từ vốn xã hội hóa hoặc dưới hình thức hợp tác công tư. Trước đó thì có dự án xây dựng tháp truyền hình cao nhất thế giới của VTV dự toán lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng đã vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của dư luận đến mức mặc dù Chính phủ đã phê chuẩn về nguyên tắc nhưng cuối cùng phải kèm thêm điều kiện là không sử dụng ngân sách mà chỉ sử dụng vốn xã hội hóa.
Vậy xã hội hóa là cái gì mà người ta hay viện dẫn đến như một chìa khóa thần kỳ để bảo đảm sự hanh thông của các dự án gây sóng trong dư luận ngay từ bước hình thành ý tưởng như vậy?
Tuy vẫn chưa có một định nghĩa rõ ràng thế nào là xã hội hóa, nhưng trong bối cảnh các dự án phục vụ công cộng đang nói đến thì có thể hình dung đó là việc các tổ chức kinh tế phi nhà nước và cá nhân bỏ vốn (cùng với nhà nước) để triển khai các dự án này. Do (phần lớn) vốn cần thiết để triển khai dự án là từ các tổ chức kinh tế phi nhà nước và cá nhân nên các chủ dự án có đầy dủ lý do để cho rằng dự án của họ (phần lớn) không sử dụng vốn ngân sách nên không trực tiếp sử dụng tiền thuế của dân và gây thêm áp lực lên ngân sách nhà nước, và do đó không còn lý do gì để dư luận quan ngại về tính hiệu quả và sự cần thiết của chúng.
Lập luận trên thoạt nghe thì có vẻ có lý. Nếu nhà nước không cần phải bỏ ra (toàn bộ) số tiền cần thiết cho các dự án mà đất nước có thêm nhiều công trình công cộng nhờ các tổ chức và cá nhân “hảo tâm” và “hào hiệp”, tự nguyện bỏ vốn thực thi các dự án dù thì nhà nước hãy để cho các đối tượng này thực thi các dự án dù có thể chúng là các dự án “trên trời”. Mọi thiệt hại, nếu có, nảy sinh từ việc thực thi và vận hành các dự án trên trời này sẽ bị gánh chịu (phần lớn) bởi những đối tượng này, chứ không phải là nhà nước và, tức là, người nộp thuế.
Có lẽ chính vì sự tỏ ra có lý như vậy nên các cơ quan có thẩm quyền dường như dễ dãi hơn trong việc phê duyệt, cấp phép cho các dự án mang tính xã hội hóa này. Ngược lại, các chủ đầu tư các dự án công cộng cũng biết triệt để khai thác lỗ hổng này để lập và xin duyệt những dự án công cộng, nhất là những dự án có quy mô vốn lớn bằng cách “thòng” thêm một dòng “dự án sử dụng vốn xã hội hóa” trong thuyết trình dự án của mình.

Nhưng nếu ta áp dụng nguyên tắc “không có bữa trưa miễn phí!” – không ai tự nhiên cho không ai cái gì – trong bối cảnh này thì có thể thấy vấn đề sẽ hoàn toàn khác. Bỏ qua tính cần thiết của các dự án xã hội hóa nêu trên hoặc các dự án khác vốn vẫn còn nhiều tranh luận trái chiều, một câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao lại có những doanh nghiệp tốt bụng đến nỗi tự đề xuất và cam kết sẵn sàng bỏ hàng nghìn tỷ tiền vốn ra đầu tư mà không chắc chắn sẽ thu hồi vốn từ những dự án xã hội hóa?  

Câu trả lời là chắc chắn các doanh nghiệp này sẽ thu được nhiều mối lợi lớn. Mối lợi đầu tiên mà các doanh nghiệp tham gia dự án xã hội hóa có thể thu được là họ đã đương nhiên “lọt” qua được cửa đấu thầu, không cần phải bỏ giá rẻ nhất (với chất lượng đảm bảo) mà vẫn loại được các đối thủ cạnh tranh khác để giành được hợp đồng xây dựng. Với giá không phải đấu thầu nên sẽ ở mức trên trời thì dù có phải ứng trước vốn ra nhưng xem ra cũng không thấm vào đâu so với lợi nhuận lớn có được từ vị thế gần như độc quyền mà các doanh nghiệp này nghiễm nhiên được hưởng nhờ tham gia dự án với tư cách là bên “xã hội hóa” trong dự án. Cái lợi của doanh nghiệp cũng chính là cái hại cho chủ dự án – chính quyền, khi chính quyền phải trả một số tiền lớn hơn sau này khi dự án hoàn thành và hoạt động so với số tiền lẽ ra họ sẽ bỏ ra khi tổ chức đấu thầu rộng rãi.

Cái lợi thứ hai là các doanh nghiệp tham gia dự án xã hội hóa có thể đưa ra một số yêu cầu hoặc đặc quyền, đặc lợi, ưu đãi đặc biệt, vượt trội so với những dự án thông thường, buộc chính quyền phải đáp ứng để đổi lấy cam kết giải ngân vốn đầu tư cho dự án. Những yêu cầu và đặc lợi này rất đa dạng, có thể dưới dạng tiếp cận đất đai, cơ sở hạ tầng với giá thuê ưu đãi. Chúng cũng có thể dưới dạng giảm nhẹ, bỏ bớt các thủ tục hành chính, hoặc miễn giảm các loại thuế và phí. Hoặc chúng cũng có thể ở dưới dạng sự cam kết, “quyết liệt vào cuộc” của chính quyền để quá trình thực thi dự án được diễn ra hanh thông, không vấp phải những trở ngại nào đó nhiều khi dẫn đến đình trệ dự án như thường thấy ở trong những dự án phát triển hạ tầng cơ sở do các doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài khác thực hiện, ví dụ như giải phóng mặt bằng, sự phản đối của dân địa phương…

Đó là chưa kể các doanh nghiệp tham gia dự án xã hội hóa còn có xu hướng đòi chính quyền cho áp dụng các loại phí thu từ sử dụng các dịch vụ của dự án khi hoàn thành ở mức cao và tăng liên tục để sớm thu hồi vốn và lãi nhanh nhất có thể, mà ví dụ điển hình là các dự án hạ tầng cơ sở có thu phí gần đâ cho thấy.

Về phía chính quyền, đáp ứng những đòi hỏi và đặc quyền này có nghĩa là thêm nhiều giờ công tiêu tốn, cũng như thất thu và thiệt hại cho ngân sách trung ương và địa phương.

Cái lợi thứ ba là các doanh nghiệp tự nhiên được dư luận biết đến rộng rãi thông qua chính quyền mà chẳng phải bỏ ra tiền tỉ để tự quảng cáo bản thân mình. Hơn thế, sự làm ăn, hợp tác với chính quyền còn mang lại cho họ một thứ tương tự như sự bảo chứng cho sản phẩm và dịch vụ của mình mà không dễ gì có thể mua được bằng tiền. Và cũng xin nhắc lại, mối lợi của doanh nghiệp là thiệt hại cho chính quyền. Thiệt hại ở đây là chi phí cơ hội cho chính quyền, khi họ quảng cáo và bảo chứng không công cho doanh nghiệp.

Và cuối cùng, không có gì ngăn cản điển hình của “mô hình xã hội hóa thành công” này không được nhân rộng ở các địa phương khác. Các doanh nghiệp trên với tư cách là doanh nghiệp tiên phong và có kinh nghiệm hợp tác với chính quyền, cũng như có tiềm lực, sẽ dễ dàng hơn trong việc loại các đối thủ tiềm năng để tiếp tục giành các hợp đồng xã hội hóa mới. Chính quyền các địa phương khác sẽ lại là những “bị hại” mới.

Tóm lại, khi doanh nghiệp bỏ ra một đồng, thông thường bao giờ họ cũng tính toán làm sao thu về được nhiều hơn một đồng. Bởi vậy, xã hội hóa nhiều khi có nghĩa là nhà nước và ngân sách còn bị mất mát và thiệt hại nhiều hơn so với không có xã hội hóa. Trên nghĩa này, xã hội hóa không bao giờ nên được viện dẫn ra như là một điểm cộng quyết định để các cơ quan có thẩm quyền dựa vào đó phê duyệt một dự án nào đó. 

Saturday, 2 April 2016

Quản lý vốn vay sau khi “tốt nghiệp” ODA (Bài đăng trên TBKTSG, 2/4/2016)

http://www.thesaigontimes.vn/144306/Quan-ly-von-vay-sau-khi-tot-nghiep-ODA.html

Theo Bộ Tài chính, có thể Việt Nam sẽ không còn được vay theo điều kiện ODA và chủ yếu chuyển sang sử dụng nguồn vay ưu đãi, vay theo điều kiện thị trường từ tháng 7/2017. Việt Nam sẽ phải thực hiện điều khoản trả nợ ODA nhanh gấp đôi (trả trong 15 - 20 năm thay vì trong 35 - 40 năm như trước đây), và với lãi suất lên 2% đến 3,5%/năm từ mức dưới 1%/năm như trước đây.

Tin tức trên đã gây quan ngại lớn cho dư luận, bởi bấy lâu nay ODA là một nguồn vốn chủ chốt cho các dự án phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam với các điều kiện vay ưu đãi, đã đạt mức cam kết và giải ngân lên đến nhiều chục tỷ đô la Mỹ. Nếu chuyển sang vay theo các điều kiện thị trường thì Việt Nam sẽ buộc phải vay ít đi. Trong khi đó, nhu cầu vốn đầu tư công và/hoặc vốn từ ngân sách nhà nước lại ngày một tăng nhanh và mạnh không chỉ để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển của đất nước mà còn để… trả nợ công và các nghĩa vụ bảo lãnh khác của nhà nước vốn đã vượt quá mức an toàn đến mức phải đi vay để đảo nợ.
Vẫn không thể và không nên “nói không” với ODA

Đối diện với thực tại này đã có một số luồng ý kiến khác nhau. Luồng ý kiến thứ nhất cho rằng không vay được vốn ODA có khi lại tốt cho Việt Nam. Vì ODA không phải là vốn cho không, không thực sự “rẻ” như ta vẫn tưởng, nếu chỉ căn cứ vào lãi suất thấp của chúng. Các dự án ODA từ nhiều quốc gia phát triển thường kèm theo điều kiện như để các công ty từ những nước này thực hiện các dự án đó, với (phần lớn) nguyên vật liệu, máy móc thiết bị cũng do các nhà thầu từ các nước này cung cấp. Đó là chưa kể những thiệt hại khác về chính trị hoặc thất thoát do tham nhũng trong các dự án ODA.

Luồng ý kiến trên chỉ đúng một phần. Có nhiều dự án ODA của các tổ chức quốc tế đa phương như Ngân hàng Thế giới (WB) không nhất thiết phải đi kèm với điều khoản ràng buộc về nhà thầu xây dựng và cung cấp vật liệu, thiết bị cụ thể nào đó. Về ảnh hưởng chính trị, không phải tất cả các dự án ODA đều mang mục đích chính trị. Ngược lại, thậm chí ODA của nhiều nước có mục đích rõ ràng và rất nhân văn, hướng đến cộng đồng, làm cho xã hội bản địa tốt đẹp hơn. Quan trọng hơn, bản thân các nước cấp ODA cũng coi ODA là một cam kết, một nghĩa vụ hơn là một quyền lợi khi Chính phủ các nước này thường xuyên phải thuyết phục và vận động Quốc hội của họ cam kết và phê chuẩn (hạn mức) vốn ODA cấp cho các nước đang phát triển. Bởi vậy, không thể lý luận rằng các nước cấp ODA sẽ có lợi hơn là không cấp ODA về mặt kinh tế (và chính trị) nên họ mới “thích” cho vay ODA. Còn về chuyện tham nhũng, thất thoát trong các dự án ODA thì điều này rất tiếc là không chỉ xảy ra với các dự án ODA mà còn với hầu như tất cả các dự án đầu tư công, nên không thể vì lý do này để xa lánh ODA.

Trái lại, cho dù lãi suất và thời hạn vay ODA có diễn biến theo chiều bất lợi cho Việt Nam như nói trên thì, trừ viện trợ không hoàn lại, vốn ODA vẫn là nguồn vốn ưu đãi và an toàn nhất trong số các nguồn vốn mà Việt Nam có thể huy động được (vay thương mại từ các ngân hàng, tổ chức tài chính; phát hành trái phiếu Chính phủ; và vay từ ngân hàng trung ương – tức in tiền cấp cho Chính phủ chi tiêu, vốn sẽ dẫn đến lạm phát). Kể cả trong các dự án ODA từ một số nước bấy lâu nay vẫn được cho là có mầu sắc chính trị hoặc chỉ để tiêu thụ hàng hóa của họ thì thực tế vẫn là họ không hề nhiệt tình, liên tục chào mời và (chủ động) tăng hạn mức ODA hàng năm cho Việt Nam.

Cho vay lại vốn ODA cũng chưa phải là cách hữu hiệu

Luồng ý kiến thứ hai, theo chiều hướng ngược lại, thừa nhận vai trò quan trọng của vốn ODA, và tập trung vào chuyện làm thế nào để sử dụng vốn ODA hiệu quả hơn. Theo đó, thay vì cơ chế trung ương cấp phát vốn ODA cho các địa phương như hiện nay, cần phải chuyển sang cơ chế trung ương cho địa phương vay lại vốn ODA. Điều này được cho là sẽ buộc các địa phương phải tính toán cẩn trọng hơn tính hiệu quả của các dự án sử dụng vốn ODA vì họ sẽ phải hoàn trả vốn ODA vay từ trung ương, chứ không còn được “cho không”, cấp phát như trước nữa. Đặc biệt, cũng có ý kiến đề xuất thêm là các dự án này phải được Hội đồng nhân dân (HĐND) địa phương thông qua, để đảm bảo rằng dự án đó thực sự mang lại hiệu quả, thực sự cần thiết, phù hợp với đời sống nhân dân địa phương.

Việc hủy bỏ cơ chế cấp phát (hoàn toàn) vốn ODA như trong luồng ý kiến nói trên là điều cần thiết, vì dưới cơ chế cấp phát cả nơi duyệt và cấp phát lẫn nơi nhận cấp phát đều không có động cơ sử dụng vốn ODA như với tiền túi của mình bỏ ra. Tuy vậy, cơ chế cho vay lại, kể cả kết hợp với phê chuẩn của HĐND địa phương cũng sẽ không hữu hiệu hơn.

Với đặc tính nhiệm kỳ của những vị trí có trách nhiệm trong việc duyệt phân bổ và sử dụng vốn ODA (hay bất cứ nguồn vốn ngân sách công nào), người ta vẫn sẽ cứ dễ dàng trình, duyệt và sử dụng vốn ODA kể cả đã chuyển sang hình thức vay mượn, vì thường mọi việc chỉ “vỡ lở” một vài năm sau khi những người có trách nhiệm này đã yên ổn ở một vị trí mới, và những người kế nhiệm có giải quyết (được) những hậu quả của họ hay không là điều không mấy liên quan đến họ nữa.

Kể cả khi HĐND có tham gia vào quá trình trình và duyệt dự án sử dụng ODA thì cũng sẽ chẳng có gì đảm bảo HĐND không phải là “cùng một phe” với các bên đương sự, ít nhất là do chính tính nhiệm kỳ và tính địa phương của HĐND (xây, xin, lấy được cái gì là tốt cái đó).

Trên hết, dù có phải vay mượn và cam kết hoàn trả vốn ODA cho trung ương, các địa phương vẫn có động cơ và sẵn sàng vay mượn với bất cứ điều kiện nào, vì họ nhận thức rằng, biết rằng, trong trường hợp xấu nhất – không có tiền để trả nợ - trung ương cũng sẽ phải “ngậm bồ hòn làm ngọt” vì không thể “đè đầu” ai ra (ở địa phương) để bắt trả nợ thay, hoặc bắt chính quyền địa phương phải phá sản, phát mãi tài sản, đóng cửa hoạt động như trong các trường hợp mất khả năng thanh toán thương mại và dân sự khác.

Phải cho các ngân hàng thương mại “vào cuộc”

Để khắc phục phần nào những hạn chế trong cơ chế cho vay lại nói trên, cần thiết phải có sự tham gia của các ngân hàng thương mại (NHTM). Tuy Bộ Tài chính có đề cập đến vai trò của NHTM trong một cơ chế quản lý vốn ODA mới “đang dần được thực hiện”, nhưng mới chỉ có rất ít thông tin về chuyện này, ví dụ, “các NHTM được tiếp cận dự án ngay từ ban đầu”, và “quyền của các NHTM đang được nâng tầm”.

Bài viết này muốn đề xuất một cách tiếp cận mới cho sự tham gia của các NHTM. Theo đó, Chính phủ cam kết và giải ngân cho NHTM từ nguồn vốn ODA (hay các nguồn từ ngân sách khác) dựa trên các khoản cho vay và giải ngân của NHTM cho các địa phương và các chủ dự án (kể cả ở cấp trung ương) sử dụng vốn ngân sách. Cách làm này gần tương tự như cách làm trong gói cho vay hỗ trợ lãi suất 30.000 tỷ để thuê, mua nhà xã hội, nhà giá rẻ hiện nay.

Cụ thể hơn, giả sử Chính phủ vay vốn ODA từ WB với lãi suất 2%/năm. Chính phủ sẽ cho vay địa phương A để triển khai dự án B với số vốn X tỷ đồng và lãi suất Y% nào đó (tùy theo tính chất của dự án) trong thời gian 15 năm. Trong cơ chế mới với sự tham gia của ngân hàng C (ngay từ bước đầu xây dựng dự án), Chính phủ cam kết sẽ giải ngân cho ngân hàng C số tiền mà họ đã giải ngân cho dự án cộng thêm một biên độ lợi nhuận cố định và thỏa đáng, với điều kiện ngân hàng C đã thu đúng và đủ tiền gốc và lãi từ dự án theo đúng tiến độ trả nợ trong hợp đồng tín dụng họ ký với địa phương A. Như vậy, ngân hàng C sẽ phải có trách nhiệm thay mặt Chính phủ từ tính toán hiệu quả của dự án, giám sát thực thi, yêu cầu thế chấp, bảo lãnh, đến ràng buộc trách nhiệm của chủ dự án trong việc trả nợ gốc và lãi vay theo tiến độ v.v… Vì trách nhiệm của ngân hàng C liên quan trực tiếp đến lợi nhuận của họ nên chắc chắn họ sẽ theo sát hơn dự án từ khi thiết kế đến thực thi và vận hành (ít nhất là hơn là các quan chức Chính phủ trung ương và địa phương!).

Tất nhiên là cách làm trên vẫn sẽ có một số hạn chế như khả năng ngân hàng C thông đồng với chủ đầu tư để Chính phủ tiếp tục giải ngân cho dự án trong khi dự án thì đã chết yểu hoặc lay lắt, bỏ dở… Nhưng khả năng này sẽ bị hạn chế bởi công tác thanh tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng như Ngân hàng Nhà nước, các công ty kiểm toán, và dù sao sẽ vẫn dễ hơn cho Chính phủ khi chỉ phải thanh tra và xử lý ngân hàng C thay vì thanh tra và xử lý hàng loạt các (chủ) dự án riêng lẻ trên cả nước.

Wednesday, 30 March 2016

Quyết định đúng đắn (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, ngày 30/3/2016)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=76&NewsId=369728

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa có công văn yêu cầu các ngân hàng thương mại dừng ký mới hợp đồng tín dụng cho vay nhà theo gói ưu đãi 30 nghìn tỷ đồng từ ngày 31.3.2016. Lý do là, theo NHNN số tiền cam kết cho vay của các ngân hàng đối với khách hàng trong khuôn khổ gói này đã đạt trên 30 nghìn tỷ đồng.

Điều đáng chú ý là trong công văn gửi các ngân hàng thương mại nói trên, NHNN có nêu rằng họ đã có công văn báo cáo xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, trong trường hợp đến ngày 1.6.2016 (các ngân hàng thương mại) chưa giải ngân hết 30 nghìn tỷ đồng thì NHNN xem xét gia hạn giải ngân tái cấp vốn để các đối tượng khách hàng cá nhân, hộ gia đình vay để mua, thuê nhà ở; xây dựng, cải tạo, sửa chữa lại nhà ở của mình tiếp tục được giải ngân với lãi suất ưu đãi đến hết gói 30 nghìn tỷ đồng của toàn bộ chương trình. 

Quyết định trên của NHNN là một quyết định đúng đắn và kịp thời vì đã sửa chữa, lấp lỗ hổng liên quan đến điều khoản NHNN sẽ dừng tái cấp vốn khi giải ngân hết số tiền khoảng 30 nghìn tỷ đồng nhưng tối đa là đến ngày 1.6.2016 như trong Thông tư số 11/2013 ngày 15.3.2013 của NHNN.

Theo tinh thần của Thông tư 11 này, NHNN sẽ dừng tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại tham gia cho vay gói 30 nghìn tỷ đồng chậm nhất vào ngày 1.6.2016. Trong khi đó, nhiều ngân hàng thương mại đã trót ký và cam kết cho vay các đối tượng khách hàng đủ tiêu chuẩn được vay với lãi suất ưu đãi trong vòng tối đa 15 năm (theo Thông tư 32/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 11/2013). Nay nếu NHNN dừng tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại này thì sẽ gây thiệt hại cho họ nếu họ phải tuân thủ và thực hiện theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng với khách hàng khi phải tiếp tục giải ngân các hợp đồng đã ký cho đến nay với cam kết khách hàng sẽ được hưởng lãi suất ưu đãi trong suốt 15 năm (cho đến năm 2028).

Các ngân hàng thương mại cũng không thể nại cớ rằng NHNN dừng tái cấp vốn sau ngày 1.6.2016 nên họ cũng phải dừng cho vay với lãi suất ưu đãi cho khách hàng sau ngày này. Vì Thông tư 11/2013 và Thông tư 32/2014 đều không có điều khoản nào quy định rằng các ngân hàng thương mại phải dừng giải ngân với lãi suất ưu đãi sau ngày 1.6.2016 cho dù họ đã ký hợp đồng cam kết cho khách hàng vay với lãi suất ưu đãi đến năm 2028.

Nay với công văn báo cáo xin ý kiến của Thủ tướng Chính phủ và công văn gửi các ngân hàng thương mại của NHNN nói trên thì rất có khả năng các ngân hàng sẽ được NHNN tái cấp vốn để họ tiếp tục giải ngân với lãi suất ưu đãi cho số tiền cam kết cho vay còn lại mà chưa được giải ngân trong gói 30 nghìn tỷ đồng. Theo NHNN, đến nay đã giải ngân được 21 nghìn tỷ đồng, tức vẫn còn khoảng 9 nghìn tỷ đồng các ngân hàng đã cam kết với khách hàng mà chưa giải ngân (bởi một phần các hợp đồng cho vay trong gói 30 nghìn tỷ đồng là cho các hợp đồng mua nhà và giải ngân theo tiến độ công trình). Như vậy, người vay tiền trong gói này có thể tạm thời yên tâm rằng họ sẽ không phải chuyển sang vay với lãi suất thương mại như dư luận đã lo ngại trong suốt thời gian vừa qua.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).