Thursday, 3 October 2013

Cơ chế điều hành tỷ giá qua thông điệp của Thủ tướng (Bài đăng trên TBKTSG 3/10/2013, bản gốc)

Càng ngày tớ càng thấy nể và có cái nhìn khác về đồng chí X, thỉnh thoảng nói câu nào ra câu đó, bằng cả vài chục buổi phỏng vấn với điều trần của các cơ quan hữu trách. Tớ có vài lần nâng bi đồng chí X trong blog này rồi, nhưng bài này vẫn thấy cần phải nâng thêm lần nữa.
------------------------------


Trả lời phỏng vấn Bloomberg hôm 27/09 tại New York, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết Chính phủ có kế hoạch hạ giá VNĐ tối đa 2% vào cuối năm vì hiện tiền đồng được xem là có định giá cao so với USD.
Đây là một thông điệp ngắn nhưng chứa đựng những nội dung hết sức quan trọng liên quan đến chế độ tỷ giá và cơ chế điều hành tỷ giá ở Việt Nam.

Nếu mới đây không xa, nhiều quan chức hữu trách và chuyên gia còn lên tiếng cho rằng không có áp lực để phá giá (hay điều chỉnh tỷ giá) vì cán cân cung cầu ngoại tệ đang có thuận lợi với dòng ngoại tệ dồi dào đang đổ vào nền kinh tế từ ODA, FDI và kiều hối v.v... Với dự đoán cán cân thanh toán tổng thể sẽ đạt thặng dư dăm tỷ đô la năm nay và lạm phát được kiềm chế ở mức cho phép, theo các quan chức và chuyên gia này thì điều chỉnh tỷ giá thậm chí còn mang lại những hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế. Vì thế, họ ủng hộ một sự ổn định tỷ giá, hoặc nếu có “điều chỉnh” thì chỉ ở mức 2%-3% cho cả năm nay, như mục tiêu mà Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đề ra từ hồi đầu năm.
Điều đáng lưu ý trong quan điểm điều hành tỷ giá nêu trên là tỷ giá được quyết định chủ yếu bởi cung cầu ngoại tệ một cách thụ động. Nếu ngoại tệ đổ vào nền kinh tế dồi dào thì áp lực lên tỷ giá sẽ yếu hoặc không có, vì thế không cần phải phá giá (điều chỉnh tỷ giá tăng lên). Ngược lại, nếu cung ngoại tệ thiếu hụt so với cầu, gây áp lực lên tỷ giá thì NHNN sẽ có khả năng can thiệp giữ ổn định tỷ giá bằng cách tung dự trữ ngoại tệ ra.

Thực tế thời gian 2, 3 năm qua cho thấy với cơ chế quản lý tỷ giá như vậy, được hậu thuẫn bởi một quỹ dự trữ ngoại tệ đã lớn hơn về quy mô, NHNN đã duy trì thành công một tỷ giá tương đối ổn định. Nguồn vốn và ngoại tệ từ nước ngoài càng đổ vào nền kinh tế trong nước càng lớn thì công việc của NHNN xem ra càng dễ dàng vì tiền đồng không hề bị áp lực phá giá, nếu không muốn nói là lên giá. Ngược lại, nếu cung cầu ngoại tệ ở thế bất lợi như mấy năm trước (thiếu hụt ngoại tệ và suy giảm dự trữ ngoại hối), NHNN thường là buộc phải phá giá, mặc dù trước đó có không ít lần cam kết ổn định tỷ giá.
Nhưng cơ chế quản lý tỷ giá nói trên có một nhược điểm lớn. Như đã biết, nếu tỷ giá danh nghĩa tiền đồng/đô la Mỹ ổn định một cách tương đối hoặc tăng ở một tốc độ nhỏ hơn tốc độ tăng của chênh lệch lạm phát giữa Việt Nam và Mỹ thì tiền đồng được gọi là đã lên giá thực so với đô la Mỹ, mặc dù tiền đồng vẫn mất giá so với đô la Mỹ về mặt danh nghĩa. Khi đó, giá cả các hàng hóa sản xuất trong nước trở nên đắt đỏ hơn một cách tương đối so với hàng ngoại nhập, làm giảm tính cạnh tranh của hàng hóa đó sản xuất ở trong nước. Hậu quả là xuất khẩu sẽ giảm sút trong khi nhập khẩu được khuyến khích, dẫn đến nhập siêu và thâm hụt thương mại – một nguồn gốc gây bất ổn kinh tế vĩ mô.

Có điều, cho đến nay dường như NHNN và các chuyên gia tỏ ra xem nhẹ tác động trái chiều của việc ổn định tỷ giá như trên. Họ luôn nhấn mạnh đến chuyện cung ngoại tệ dồi dào để phủ nhận sự cần thiết phải phá giá (điều chỉnh tỷ giá) để hỗ trợ xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, việc làm. Tuy họ có lúc thừa nhận sự bất lợi của tỷ giá lên xuất khẩu nhưng lại cho rằng có thể dùng các biện pháp khác để thúc đẩy xuất khẩu mà không cần phải phá giá.
Bởi vậy, thông điệp trên của Thủ tướng đã trực tiếp hay gián tiếp nhìn nhận rằng trong công tác điều hành tỷ giá, ngoài chuyện xem xét đến cán cân cung cầu ngoại tệ, điều quan trọng là phải duy trì năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu của Việt Nam. Đây có thể nói là một sự thay đổi lập trường chính sách rất đáng hoan nghênh. Với sự cân bằng hơn trong cách điều hành này, tỷ giá sẽ được điều chỉnh không chỉ căn cứ vào cung cầu ngoại tệ mà còn dựa vào sự lên giá thực của tiền đồng so với đô la, và phải chủ động điều chỉnh (phá giá) kể cả khi cán cân cung cầu ngoại tệ không căng thẳng, nếu VND lên giá thực quá nhiều so với USD.

Tuy mức “hạ” giá 2% như Thủ tướng nói vẫn có thể là quá nhỏ so với mức lên giá thực của tiền đồng so với đô la Mỹ do chênh lệch lạm phát của Việt Nam và Mỹ quá lớn, và mức này có thể sẽ phải tăng thêm, tùy theo yêu cầu của thị trường, nhưng trước mắt nó cho thấy đã đến lúc các cơ quan hữu trách của Việt Nam cần phải hoặc thay đổi nhận thức về điều hành tỷ giá, hoặc thay đổi cách họ thuyết trình với công chúng về cơ chế điều hành tỷ giá của mình, trong đó không chỉ có nêu cung cầu ngoại tệ thâm hụt hay thặng dư bao nhiêu mà còn phải cho thấy rõ rằng tỷ giá như vậy có thuận lợi cho xuất khẩu hay không. Việc thay đổi này là bắt buộc để thống nhất với, và theo chỉ đạo điều hành tỷ giá của Thủ tướng chính phủ, đồng thời gây dựng được lòng tin vào chính sách của công chúng.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).