Friday, 25 October 2013

Sao cứ phải nâng bội chi ngân sách? (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=296367

08:28 | 26/10/2013
 
Thay vì nâng trần thâm hụt ngân sách để tăng nợ công, điều cần làm là phải thắt chặt kỷ luật thu chi ngân sách, đồng thời xây dựng các mục tiêu, kế hoạch mang tính thực tiễn, khoa học hơn, và quan trọng hơn, không buộc chúng phải đạt được bằng mọi giá, bất chấp hoàn cảnh khách quan và chủ quan.
Nguồn: vef.vn
Chính phủ đang trình Quốc hội nâng trần thâm hụt ngân sách để phát hành bổ sung 170.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2014 - 2016. Lý do xin phát hành bổ sung trái phiếu Chính phủ, theo giải trình của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính - Ngân sách, là: bổ sung nguồn lực đầu tư toàn xã hội và thúc đẩy đầu tư các thành phần kinh tế khác; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa Việt Nam thành nước công nghiệp vào năm 2020; tái cơ cấu nền kinh tế, nhất là tái đầu tư công, huy động vốn đầu tư xã hội (gồm ODA); bổ sung nguồn để thực hiện các dự án đầu tư bằng trái phiếu Chính phủ dang dở.
 
Tuy nhiên, lý do sâu xa, nói ngắn gọn, là do giảm thu trong khi chi ngân sách vẫn tăng, dẫn đến khả năng thâm hụt ngân sách lớn hơn dự kiến, và tình hình này có thể kéo dài sang một vài năm sau trong bối cảnh kinh tế trong (và ngoài) nước đã và sẽ tiếp tục có nhiều bất ổn. Vậy, lẽ ra biện pháp chủ đạo cần phải làm trước tiên, trước khi xem xét và phê chuẩn chấp nhận cho Chính phủ tăng trần thâm hụt và phát hành thêm trái phiếu Chính phủ, là cắt giảm chi tối đa, nhất là các khoản chi lãng phí, không hiệu quả, đồng thời tăng cường thu tối đa từ các nguồn hiện có và các nguồn có thể bổ sung.
 
Biện pháp trên thoạt nghe tưởng chừng quá hiển nhiên, ai cũng nói được, cũng biết được, và cũng... làm được (và đã làm được). Nhưng xem xét lại báo cáo giải trình của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính - Ngân sách mới thấy thực ra tình hình thực tế hoàn toàn không phải vậy.
 
Về thu ngân sách, báo cáo thẩm tra đã chỉ ra được một loạt những khoản thất thu, những bất cập trong công tác thu ngân sách, ví dụ như thất thoát và gian lận thuế, những khoản để ngoài ngân sách..., và kết luận rằng vẫn còn dư địa tăng thu. Về chi ngân sách, báo cáo thẩm tra cũng xác định được một loạt bất cập. Ví dụ, trong khi thu NSNN giảm nhiều, chi đầu tư phát triển vẫn tăng; phân bổ, bố trí vốn xây dựng cơ bản chưa khắc phục được tình trạng đầu tư dàn trải, thi công kéo dài, gây lãng phí nguồn lực; vẫn còn nhiều dự án triển khai chậm tiến độ, phân bổ vốn không đúng cơ cấu, chương trình hỗ trợ được giao; còn tình trạng một số cơ quan, đơn vị thiếu kiên quyết trong cắt, giảm đầu tư công; khởi công dự án mới trái quy định; một số chính sách, chế độ hỗ trợ cho các địa phương còn bất cập...
 
Trong bối cảnh trên, không khó hiểu tại sao bội chi lại có khả năng tăng mạnh so với mục tiêu kế hoạch đặt ra ban đầu. Lẽ ra Chính phủ phải tập trung khắc phục những bất cập này, còn Quốc hội cần phải nghiêm khắc hơn với Chính phủ về kỷ luật tài chính thay vì thông qua kế hoạch tăng bội chi của Chính phủ. Nếu thực hiện nghiêm túc quá trình thực hiện và giám sát thực hiện kỷ luật tài chính của cả Chính phủ và Quốc hội thì chắc chắn thâm hụt ngân sách không lớn như hiện tại và dự toán cho năm nay và những năm sau như trong các báo cáo của Chính phủ và Quốc hội, và hoàn toàn có khả năng không cần thiết phải nâng trần thâm hụt và nợ công. Còn nếu cứ để mọi việc trôi theo đề xuất của Chính phủ như hiện nay thì bội chi ngân sách khó có khả năng cải thiện trong những năm sau, nếu không muốn nói là sẽ tệ hơn, vì bao giờ Chính phủ cũng có những lý do nghe rất xác đáng (như hiện tại) để biện minh cho sự không hoàn thành nhiệm vụ của mình.
 
Biện pháp thứ hai cần làm là xem xét lại và thay đổi toàn bộ quy trình lập, trình và phê chuẩn các kế hoạch, mục tiêu phát triển KT - XH của Chính phủ và Quốc hội. Bản thân Quốc hội cũng (nên) nhận ra rằng các con số kế hoạch mục tiêu không gắn bó chặt chẽ với nhau và bản thân các con số đó được đưa ra chủ yếu bởi cảm tính, định tính (dựa theo các năm trước, theo nghị quyết, hoặc cảm thấy cần phải ở mức đó thì mới là hợp lý v.v...). Và kể cả có một cơ sở nào đó khi đưa ra những kế hoạch này nhưng đôi khi chúng sẽ thành mục tiêu ảo, đơn giản vì hoàn cảnh kinh tế (trong và ngoài nước) lúc đó đã thay đổi, không đúng như dự tính ban đầu. Lúc đó, nếu cứ khăng khăng phải đạt được mục tiêu kế hoạch thì hoặc là duy ý chí, hoặc là có hại nhiều hơn lợi.
 
Hãy lấy một ví dụ minh họa. Tăng trưởng năm nay ước đạt 5,4%, so với mức 5% của năm trước. Nhưng người ta sẽ giải thích làm sao khi tăng trưởng tín dụng và tỷ trọng đầu tư trên GDP năm nay lại giảm rất mạnh so với năm trước? Nghịch lý gì chăng? Không phải vậy. Nếu loại trừ khả năng các con số thống kê này là tạo dựng, thì đơn giản là chẳng có mối quan hệ rõ ràng và ổn định nào như kiểu, ví dụ, tăng trưởng tín dụng và đầu tư phải là x% để GDP tăng được y%. Trên nghĩa này, xin đừng “quyết tâm” với “quyết liệt” và “phấn đấu” để đạt được một con số mục tiêu vô căn cứ, duy ý chí nào đó, chẳng hạn tăng trưởng GDP phải là 6%,  hoặc tỷ trọng vốn đầu tư trên GDP phải là 30%, hoặc tăng trưởng tín dụng phải là 12%, hoặc thâm hụt ngân sách phải là 5,3% GDP... bằng mọi giá để rồi nền kinh tế phải trả giá trong trung và dài hạn, vì sự những sự quyết tâm, quyết liệt và phấn đấu này không được dựa vào, không tuân theo các nguyên tắc của kinh tế thị trường.
 
Tóm lại, thay vì nâng trần thâm hụt ngân sách để tăng nợ công, điều cần làm là phải thắt chặt kỷ luật thu chi ngân sách, đồng thời xây dựng các mục tiêu kế hoạch mang tính thực tiễn hơn, khoa học hơn, và quan trọng hơn, không buộc chúng phải đạt được bằng mọi giá, bất chấp hoàn cảnh khách quan và chủ quan.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).