Tuesday, 16 February 2016

Phang tiếp đồng chí Nhàn đàm


Tớ lại thấy đồng chí Nhàn đàm phang lung tung, hình như trúng cả vào tớ trong bài này:


nên tớ phải phang lại để đồng chí này bơn bớt nhàn đàm (một cách nguy hiểm) đi.

Đồng chí Nhàn đàm viết: Việc các dòng thuế xuất nhập khẩu phần lớn sẽ chuyển về mức 0% sẽ chỉ có ý nghĩa giá trị gia tăng từ hàng xuất khẩu của các quốc gia sẽ tăng lên, do không còn phải nộp thuế xuất nhập khẩu như trước, chứ không có nghĩa là lượng hàng hóa xuất khẩu sẽ gia tăng. 
Như các quy định về giảm thuế trong lĩnh vực dệt may trong TPP, theo ước tính các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ tiết kiệm được khoảng 1,17 tỷ USD khi hầu hết các dòng thuế dệt may hiện nay của Mỹ trung bình khoảng 17% sẽ chuyển dần về mức 0% sau khi TPP đi vào hoạt động. Điều này có nghĩa là lợi nhuận của các doanh nghiệp dệt may sẽ tăng khoảng 1,17 tỷ USD hằng năm do không phải đóng khoản thuế này cho chính phủ Mỹ nữa, chứ không có nghĩa là tổng sản phẩm và kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may vào thị trường Mỹ sẽ tăng lên.

Tớ phang lại: Giảm thuế nhập khẩu vào Mỹ có nghĩa là nhà sản xuất Việt Nam có điều kiện hạ giá bán đi. Ví dụ, trước đây bán 1 cái sơ mi với giá 10 USD vào Mỹ, trong đó có 1 USD là tiền thuế. Nay với TPP, nhà sản xuất Việt Nam được miễn khoản 1 USD này, nên có thể để mức giá mới là 9,2 USD (không dại gì để giá còn 9 USD). Người mua ở Mỹ trước đây phải mua với giá 10 USD, nay thấy phía Việt Nam hạ giá xuống chỉ còn 9,2 USD nên thay vì mua 1 cái áo như trước đây thì nay mua luôn 1,1 cái áo từ phía Việt Nam (vì thấy rẻ quá!). Thế là cả 2 đều win cả, chỉ có ngân sách của Mỹ là thiệt.
Do Việt Nam vừa bán được nhiều hơn, lại bán được với giá cao hơn thì có nghĩa là xuất khẩu áo của Việt Nam phải tăng lên cả lượng lẫn giá trị gia tăng, nên không thể ấm ớ như đồng chí Nhàn đàm rằng xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ không tăng lên được. Chưa hết, Việt Nam bán được nhiều hơn với giá cao hơn nên càng ham, càng có điều kiện để giảm giá thêm nữa (nhờ kinh tế quy mô) nên xuất khẩu cứ thế mà tăng lên (tất nhiên cũng có giới hạn).

Đồng chí Nhàn đàm viết: Trên thực tế, việc tăng lợi nhuận cũng không đồng nghĩa với việc giúp tăng cường sản lượng xuất khẩu. Các doanh nghiệp sau khi thuế nhập khẩu chuyển về 0% cũng sẽ không thể hạ bớt giá thành sản phẩm để tăng số lượng xuất khẩu để tận dụng mức thuế suất 0%, khi mà các điều luật chống bán phá giá vẫn còn nguyên tác dụng. 

Tớ phang lại: Có luật chống phá giá không có nghĩa là Việt Nam không thể, không được phép hạ giá bán, vì chí ít như nói ở trên, giá thành có thể hạ nhờ kinh tế quy mô, và nếu chứng minh được điều này thì Mỹ cũng phải bó tay. Trên hết, như nói ở trên, doanh nghiệp Việt Nam thậm chí không cần phải hạ giá bán (giá net trừ thuế nhập khẩu) nên họ cũng chẳng cần phải (bị áp lực) hạ giá thành mà vẫn thu lợi nhuận cao hơn, số lượng nhiều hơn.

Đồng chí Nhàn đàm viết: Về lý thuyết, việc tăng cường lợi nhuận sẽ chỉ giúp tăng sản lượng xuất khẩu về lâu dài, khi mà các doanh nghiệp sẽ có thể đầu tư nhiều hơn vào quy trình sản xuất để nâng chất lượng sản phẩm đồng thời hạ giá thành giúp hàng hóa xuất khẩu cạnh tranh tốt hơn, qua đó nâng cao số lượng xuất khẩu vào thị trường bên ngoài.
Còn trong ngắn hạn, thậm chí các hiệp định thương mại còn có thể khiến cho sản lượng xuất khẩu giảm đi đáng kể. Vì song song với lộ trình giảm dần thuế xuất nhập khẩu về 0%, các quốc gia cũng đồng thời tăng cường dựng lên các rào cản kỹ thuật và thương mại để xiết chặt hơn hàng hóa nhập khẩu về các vấn đề như chất lượng hay giá cả. 

Tớ phang lại: Đúng là có thể có nhiều hàng rào kỹ thuật hơn, nhưng phải có điều kiện, phải hợp lý, tuân thủ những cam kết trong TPP, chứ không phải cứ muốn dựng là dựng và sẽ phát huy tác dụng. TPP cũng rất chú trọng phòng ngừa khả năng lạm dụng này nên bởi vậy mà các doanh nghiệp dệt may của Mỹ mới lo sốt vó về hàng Việt Nam. Nếu cứ như đồng chí Nhàn đàm nói thì họ chẳng việc gì phải lo ngại cả khi lúc nào cũng lăm lăm hàng rào kỹ thuật.

Đồng chí Nhàn đàm viết: Điều đáng chú ý là các quy định của TPP và các FTA hầu hết đều không giúp Việt Nam loại bỏ khả năng bị kiện về các vấn đề quen thuộc mà Mỹ, Canada hay EU vẫn sử dụng như bán phá giá, hay hàng hóa vi phạm quy định về chất lượng. Vì hầu hết các điều luật về chống bán phá giá và việc dựng lên các rào cản kỹ thuật đều không hề giảm bớt chút nào trong các quy định của TPP và các FTA.  

Tớ phang lại: Đúng là TPP không giúp Việt Nam loại bỏ khả năng bị kiện, nhưng lưu ý là “không hề giảm bớt” như đồng chí nói không đồng nghĩa với “tăng cường dựng lên” các hàng rào kỹ thuật như đồng chí nói ở đoạn trên nhé. Nói cách khác, nếu Việt Nam vẫn đáp ứng được các tiêu chuẩn hiện tại vào Mỹ thì trong TPP, hàng của Việt Nam vẫn tiếp tục xâm nhập (thêm) vào Mỹ nếu chất lượng không thay đổi (xấu đi). Điều này chỉ không xảy ra nếu Mỹ dựng lên thêm hàng rào, nhưng cũng như đồng chí chỉ nói là “không hề giảm bớt đi” (có nghĩa là giữ nguyên), và cũng như tớ nói là không phải muốn dựng là dựng, thì giả thiết này (Việt Nam không thể tăng xuất khẩu vào Mỹ) cũng không thành sự thật.

Đồng chí Nhàn đàm viết: Vì thế, lợi ích về tăng cường xuất khẩu mà TPP và các FTA đem lại cho Việt Nam chỉ đúng khi chúng ta nâng cao khả năng cạnh tranh bằng cách nâng chất lượng hàng hóa và giảm giá thành sản phẩm, để có thể tận dụng tốt các quy định về thúc đẩy và kích thích thương mại mà các hiệp định thương mại này đem lại. 

Tớ phang lại: Ấm a ấm ớ! Nếu TPP chỉ có tác dụng lên xuất/nhập khẩu thông qua các quy định thúc đẩy và kích thích thương mại thì việc gì các bên phải ngồi bàn với nhau cả 5 năm về chuyện cắt giảm thuế?

Đồng chí Nhàn đàm viết: Còn nếu vẫn giữ nguyên tình trạng chất lượng và giá cả hiện tại, không những xuất khẩu không tăng mà còn giảm đi. Đã có những dấu hiệu dự báo trước cho nguy cơ này, với việc hàng loạt lĩnh vực xuất khẩu chủ đạo của Việt Nam đang giảm dần về số lượng trong vài năm trở lại đây do các rào cản thương mại ngày càng tăng lên, trong khi chất lượng và giá cả hàng xuất khẩu của Việt Nam không được cải thiện.

Tớ phang lại: Đồng chí không đưa ra ví dụ nên chỉ là nói mò. Hàng Việt Nam bị trả về phần lớn là do vi phạm những tiêu chuẩn hiện hành, tức là vi phạm cái giả thiết của đồng chí rằng “nếu vẫn giữ nguyên tình trạng chất lượng và giá cả hiện tại”. Hàng rào nào là mới được dựng lên? Liệu nó chỉ có áp dụng với riêng Việt Nam?

Đồng chí Nhàn đàm viết: Ví dụ như nhóm ngành nông lâm thủy sản. Tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm ngành này trong năm 2015 khoảng 20,6 tỷ USD, giảm 6,7% so với cùng kỳ năm trước, gây hụt thu khoảng 4,65 tỷ USD. Điều này cũng được dự báo cho cả những lĩnh vực xuất khẩu quan trọng như dệt may, khi các quy định về xác định xuất xứ từ sợi trở đi cũng đang đe dọa sản lượng xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam với hơn 60% lượng sợi và nguyên liệu ngành dệt hiện nay là nhập từ Trung Quốc.

Tớ phang lại: Lại ấm ớ, ngụy biện rồi! Xuất khẩu thủy sản Việt Nam giảm năm qua, như lời của VASEP là do có những nguyên nhân như tỷ giá VND bị neo cao, cạnh tranh của các nước khác với giá rẻ hơn (do phá giá bản tệ), chứ có thấy nói gì đến sự xuất hiện các hàng rào kỹ thuật mới đâu? Có chăng, như tớ nói ở trên, là có một phần hàng bị trả về, đơn giản vì nhồi tạp chất vào tôm, tồn dư kháng sinh lớn, mạ băng quá nhiều v.v… vi phạm trắng trợn những tiêu chuẩn hiện tại của nước sở tại (áp dụng cho mọi nước xuất khẩu).

Đồng chí Nhàn đàm viết: Nói cách khác, tác dụng thúc đẩy tăng cường trao đổi thương mại của các hiệp định thương mại như TPP và các FTA chủ yếu là những tác động mang tính gián tiếp, thông qua việc khuyến khích các quốc gia tăng cường đầu tư để giảm giá thành và tăng chất lượng sản phẩm, chứ không phải là những tác động trực tiếp theo kiểu cứ gia nhập hiệp định là sản lượng xuất khẩu tức khắc sẽ tăng lên mà không cần đầu tư và đổi mới. 
Các hiệp định thương mại, vì thế đang gần như là một con dao hai lưỡi đối với lĩnh vực xuất khẩu, nếu biết cách cầm nó sẽ đem lại những lợi ích lớn, nhưng nếu không biết cách nó có thể đem lại những hệ quả khôn lường.

Tớ phan lại: Đồng chí quả thật là nguy hiểm. Tớ chỉ khuyên, mong là đồng chí đọc xong phần phang của tớ bên trên thì shut up lại cho bầu không khí chung nó trong sạch, như tớ khuyên các đồng chí khác trước đây.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).