Thursday, 5 September 2013

Lại thêm đồng chí TS Trần Du Lịch nói sai về tỷ giá


Hôm nay tớ đọc được bài này của đồng chí Lịch, thấy lý luận của đồng chí ấy giống hệt như những lý luận mà tớ đã lôi ra để phang trong các entry trước. Cứ cái đà tiếp tục phỏng vấn các đồng chí chuyên gia ở Việt Nam thế này thì khéo rốt cuộc tỷ lệ phản đối phá giá sẽ lên tới trên 99% trong tổng số người được hỏi. Nhưng thôi, lần này tớ không buông lời chê trách về trình độ của đồng chí nào nữa, kể cả đồng chí Lịch, vì xem ra chẳng thay đổi được cái gì hữu ích cả. Nhưng tớ vẫn cứ phải phang vào các lý luận của đồng chí Lịch để ... đỡ ngứa mắt.

---------------------------------------------

PHÓNG VIÊN: - Tại một cuộc hội thảo mới đây bàn về tỷ giá sau khi NHNN khẳng định không điều chỉnh tỷ giá và tiếp tục điều hành tỷ giá theo hướng ổn định. Nhiều chuyên gia cho rằng đây chính là nguyên nhân làm cho hàng hóa Việt Nam mất dần sức cạnh tranh so với hàng nhập khẩu, làm cho hàng tồn kho liên tục tăng, doanh nghiệp phá sản hàng loạt. Nhiều năm qua mà chúng ta có thể lấy mốc từ tháng 7-2007 đến tháng 7-2013, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 99,57% trong khi tỷ giá chỉ tăng 24,2%. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào? Vì sao NHNN ngại phá giá VNĐ? Tại sao giữ tỷ giá ổn định bất chấp lạm phát tăng luôn được coi là thành công trong chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam?

Tớ bình luận: Phóng viên này đang nói đến bài “Bàn tròn chuyên gia” trên TBKTSG số tuần trước, dùng ngay lời lẽ của tớ để đặt thành câu hỏi. Khá khen!
-TS. TRẦN DU LỊCH: ... Như đã biết, hầu hết sản phẩm xuất khẩu công nghiệp của Việt Nam là gia công, có nghĩa là chúng ta tùy thuộc nguyên liệu rất lớn, thể hiện qua nhập siêu rất cao, có năm lên đến 20% giá trị xuất khẩu. Như vậy, nếu phá giá, chúng ta sẽ tự nâng giá vật tư nguyên liệu đầu vào, đẩy chi phí sản xuất lên, kể cả trong nông nghiệp và công nghiệp, đặc biệt là các loại vật tư xây dựng phải nhập khẩu..

Tớ bình luận: Đồng chí này sai cơ bản tại cái điểm này (cũng giống tuyệt đại đa số đồng chí khác cũng nhầm nhọt như thế) vì kinh tế gia công không nhất thiết liên quan đến nhập siêu. Không ai nhập nguyên vật liệu với chi phí 100 USD lại xuất hàng ra nước ngoài với giá 90 USD cả, mà phải là con số nào đó, ít nhất thì cũng bằng giá nguyên vật liệu (100 USD) cộng với chi phí gia công và các loại chi phí khác, tức phải lớn hơn 100 USD. Khi tỷ giá tăng thì đương nhiên giá nguyên vật liệu cũng tăng. NHƯNG đó là giá tính theo VND, chứ không phải giá tính theo USD (nhấn mạnh nhé!), vì giá nguyên vật liệu theo USD lúc đó vẫn là 100 USD và giá xuất khẩu vẫn là trên 100 USD và cả nền kinh tế tuy vẫn là gia công nhưng vẫn thu được lợi nhuận. Các đồng chí nhớ cho kỹ nhé! Về chuyện này tớ đã nói đi nói lại nhiều rồi, trong các entry sau:
http://phan-minh-ngoc.blogspot.sg/2013/02/co-nen-pha-gia-vnd-khong.html

và các entry tiếp theo đó (trong tháng 2 đến gần đây nhất là tuần trước) về cùng chủ đề. Vì thế tớ không mất thì giờ nêu lại nữa, chỉ cầu mong các đồng chí có thời gian đọc để mà rút kinh nghiệm cho những lần phát biểu sau này.

Đồng chí Lịch: Bên cạnh đó, nợ quốc gia bằng ngoại tệ của Nhà nước và doanh nghiệp đã lên đến gần 50% GDP, mỗi lần phá giá đồng tiền, nợ tăng tính bằng VNĐ rất lớn. Chúng ta nhập khẩu xăng dầu, mỗi lần điều chỉnh tỷ giá, giá xăng dầu sẽ tăng rất mạnh. Tôi thí dụ như lần điều chỉnh tỷ giá 9,3% vào đầu năm 2011, nhiều doanh nghiệp ngủ 1 đêm sáng dậy nợ tăng 10% đối với các khoản cam kết khi doanh nghiệp thu bằng tiền đồng và phải trả bằng ngoại tệ.

Tớ bình luận: Tớ cũng nói về chuyện nợ tư và công này rồi nên không nói lại, chỉ nói thêm là vậy thì cứ vui vẻ mà xuất dự trữ ngoại hối để “bù giá” cho mấy đồng chí tư nhân đi nhé. Còn nợ công thì cũng thế, lỗ hà ra lỗ hổng thôi.
Còn về chuyện tỷ giá tăng sẽ làm hàng nhập khẩu tăng, ngoài các entry liên quan tới nói đến thì hãy đọc thêm về bài này:

để mà thấy tại sao các nước người ta không ngu xuẩn như mình khi cố gắng tìm cách kìm hãm tỷ giá như vậy. Muốn học cái khôn của thiên hạ thì hãy học ngay từ những cái tưởng biết rồi như thế này, chứ đâu xa xôi gì?

Đồng chí Lịch: Dĩ nhiên, nếu ổn định tỷ giá như hiện nay rõ ràng bất lợi cho các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu không phải nhập khẩu nhiều. Như xuất khẩu cà phê, gạo, tỷ lệ nội địa hóa lớn, phần nhập khẩu cấu tạo giá trị ít hơn một số ngành khác nên đang chịu thiệt. Nhưng nếu nhìn tổng thể nền kinh tế, nếu như chúng ta cứ điều chỉnh tỷ giá liên tục theo mức CPI trong nước, chắc chắn chi phí sản xuất sẽ tăng rất cao.
Tớ bình luận: Khổ lắm, “chi phí sản xuất tăng cao” là chi phí sản xuất tính bằng VND thôi, chứ không phải USD tnên chẳng có gì là bất lợi cho sản xuất nông nghiệp cả. Nếu để xuất khẩu, giá sẽ được tính bằng USD. Vì giá bán/xuất không đổi nên rốt cuộc biên độ lợi nhuận không thay đổi. Nếu để bán ở mấy cái chợ nội địa và giá tính bằng VND thì giá bán cũng vẫn tăng lên theo đà tăng của CPI chứ, nó có chịu đứng yên đâu? Ai bảo mớ rau, con cá bán ở các chợ xanh không tăng giá? Nếu đồng ý là có tăng thì “chi phí sản xuất tăng cao” cũng vẫn Ok chứ? Có thế thôi mà không hiểu.

Đồng chí Lịch: Đây là vấn đề được bàn luận khá nhiều ở Hội đồng Tài chính tiền tệ Quốc gia cũng như ở các cơ quan. Cuối cùng cân nhắc là điều hành tỷ giá linh hoạt, nghĩa là để cho biên độ có dao động nhưng không đặt vấn đề phá giá đồng tiền. Đó là chưa kể phá giá đồng tiền ảnh hưởng tâm lý rất lớn khi đồng tiền bị mất giá.
Tớ bình luận: Trời ạ! Tớ đã mấy lần lên tiếng khuyến nghị dẹp cái hội đồng này đi, toàn nói linh tinh, sai nhiều hơn đúng. Có mấy khuôn mặt cộm cán của cái hội đồng này thì tớ đều có vinh dự lôi lên đây hoặc lên báo chí để phang rồi, có đẹp đẽ, sáng sủa gì đâu.

Đồng chí Lịch: Thực chất việc điều chỉnh tỷ giá 9,3% đầu năm 2011 cùng việc giảm biên độ giao dịch từ 3% xuống 1% không phải là phá giá, vì trước đó VNĐ đã mất giá trên thị trường. Trên thị trường từ quý IV-2010 đã hình thành 2 tỷ giá, tỷ giá thực và tỷ giá chợ đen, nhưng sau đợt điều chỉnh đó, cơ bản trên thị trường không hình thành 2 tỷ giá mà tỷ giá hướng dẫn của NHNN phù hợp với giao dịch của thị trường cung cầu về ngoại tệ.
Tớ bình luận: Liều, nhảm có cỡ!

Đồng chí Lịch: Tôi nghĩ rằng, trong thời gian tới, bên cạnh việc giữ ổn định tỷ giá cũng cần phải điều chỉnh ở mức độ phù hợp để nông nghiệp không bị thiệt hại do tỷ giá. Năng lực cạnh tranh của từng ngành tùy thuộc tỷ giá từng phần, còn phần lớn hơn là phụ thuộc năng suất và năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Chúng ta nên có một số biện pháp hỗ trợ nông nghiệp giảm chi phí, tăng năng suất, tăng cạnh tranh và chất lượng chứ không nên chỉ nhìn vào vấn đề tỷ giá để giải quyết căn cơ.
Tớ bình luận: Rồi, cứ “hỗ trợ” đi rồi yên tâm và chuẩn bị tinh thần bị các nước nhập khẩu áp dụng thuế chống phá giá và trợ cấp nhé!

Đồng chí Lịch: Đây là vấn đề khá lớn. Hiện nay sau 6 năm tham gia WTO, xuất khẩu gia tăng mạnh nhưng cũng bộc lộ năng lực cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam yếu kém, đặc biệt là chi phí cao. Gốc vấn đề là ở chỗ Việt Nam có năng suất lao động quá thấp, những năm qua, nhìn trên tổng thể nền kinh tế, tăng tiền lương, tăng các loại chi phí nhanh hơn tăng năng suất. Mặt khác, rất nhiều loại chi phí doanh nghiệp Việt Nam phải gánh chịu nhưng ở các nước không có như chi phí cảng, chi phí vận tải, các loại phí khác mà doanh nghiệp phải chịu, làm nâng giá thành sản phẩm.
Tớ bình luận: Cứ tăng cung tiền lắm vào thì lạm phát tăng và do đó các loại tiền lương và chi phí phải tăng nhanh hơn năng suất lao động là đúng rồi, không tránh được. Nguyên nhân là đấy chứ còn ở đâu mà phải tìm loanh quanh?

Và tớ thề là đã không tin vào mắt mình khi được đồng chí Lịch cho biết rằng các doanh nghiệp ở nước ngoài không phải gánh nhiều loại chi phí như chi phí cảng, vận tải v.v... như ở Việt Nam.

Đồng chí Lịch: Yếu tố tiếp theo là do công nghệ lạc hậu, chủ yếu gia công nên tính cạnh tranh cũng giảm xuống. Tổng thể để nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp, yếu tố tỷ giá chỉ là một phần nhỏ, yếu tố lớn nhất là Chính phủ và Nhà nước phải cung cấp tốt hơn các dịch vụ hạ tầng kỹ thuật và xã hội để doanh nghiệp được hưởng phí tổn thất.

Tớ bình luận: Rốt cuộc cũng đến điểm này. Nếu đã thừa nhận tỷ giá là một yếu tố (dù chỉ là phần nhỏ) thì (trong lúc chưa cải thiện được những yếu tố khác) sao lại không dám công khai thừa nhận và tiến hành “điều chỉnh” đi? Sao cứ lấp liếm, vòng vo, loanh quanh, cộng với sự “kiên định không phá giá” ngu xuẩn như hiện nay thế?

Thursday, 29 August 2013

Bàn tròn chuyên gia: Tỷ giá và chiếc tăm tre (Bài đăng trên TBKTSG 29/8/2013, nhiều tác giả)




Nguyên văn phát biểu của tớ (viết chung chung khi chưa biết ý kiến của các tác giả khác thế nào)

Ổn định tỷ giá không luôn là một thành tích

Với vấn đề liên quan đến tỷ giá mà TBKTSG đặt ra, có thể thấy rõ ràng rằng tỷ giá đồng đô la biến động (tăng lên) rất ít trong khi lạm phát của Việt Nam tăng mạnh so với Mỹ đã gây phương hại thế nào đến sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam nói riêng và rộng hơn là tăng trưởng kinh tế. Trong kinh tế học, khi tỷ giá danh nghĩa của bản tệ không điều chỉnh kịp với mức chênh lệch lạm phát trong và ngoài nước, lúc đó bản tệ được nói là đã lên giá thực (real appreciation) so với ngoại tệ, và hậu quả trực tiếp là làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế bản địa dẫn đến tăng nhập siêu và kết cục là giảm tăng trưởng kinh tế.

Có lẽ vấn đề cần bàn ở đây là tại sao trước một điều hiển nhiên như vậy nhưng người ta vẫn e ngại chuyện phá giá bản tệ (tăng tỷ giá danh nghĩa) ở mức độ ít ra là bằng một phần của chênh lệch lạm phát để khôi phục lại xuất khẩu, giảm nhập khẩu nhằm giảm nhập siêu? Thậm chí, chuyện giữ cho tỷ giá ổn định bất chấp lạm phát đã tăng thế nào còn luôn được coi là một thành công trong chính sách điều hành kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.

Thường thì điều này xuất phát từ những ngộ nhận và nhận thức phiến diện rằng phá giá sẽ không giúp gì cho xuất khẩu mà chỉ làm tăng lạm phát khi giá nhập khẩu nguyên nhiên liệu đầu vào tăng lên. Rồi là phá giá thì sẽ làm nhà đầu tư nước ngoài chán nản bỏ đi, còn gánh nặng nợ nước ngoài thì tăng lên v.v... Mặc dù là ngộ nhận và phiến diện (xin xem các bài viết của tác giả về tỷ giá trên TBKTSG) nhưng tiếc là nhiều người vẫn mắc phải và đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc hoạch định và điều hành chính sách vĩ mô ở Việt Nam.

Qua hội nghị bàn tròn này với TBKTSG, tôi tin và hy vọng rằng các vị chuyên gia ở đây cũng có chung một quan điểm với tôi, từ đó cùng kiến nghị lên Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực thi một chính sách tỷ giá thân thiện với xuất khẩu hơn, cũng chính là một chính sách kích thích tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô (thông qua giảm nhập siêu).

Ngược lại, tôi cũng rất mong các vị cùng bày tỏ tiếng nói quan ngại với chính sách tỷ giá hiện tại của NHNN khi chủ trương kìm tỷ giá trong khi tiếp tục tăng cung tiền để tăng cầu cho nền kinh tế. Sự “ổn định” của tỷ giá như hiện nay nên được nhìn nhận là một điều có hại hơn là một thành công chính sách, và cần được hiểu là một sự “ổn định” không bền vững và trong ngắn hạn, để rồi kết cục là một sự phá giá mạnh không thể tránh được, có thể châm ngòi cho một cơn hoảng loạn, mất kiểm soát.


Bình luận của tớ:
1.       Các lập luận của đồng chí Thơ và Tuấn có một lỗi sai cơ bản. Mặc dù (hình như) cũng đồng ý rằng tỷ giá hiện tại là bất lợi cho sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam, tức là đồng ý rằng tỷ giá là một trong những nhân tố có tác động đến tính cạnh tranh của hàng hóa nội địa, nhưng mặt khác, thay vì cho ý kiến có đồng ý điều chỉnh tỷ giá hay không thì họ lại quay sang bàn đến những vấn đề khác, nào là gốc rễ thực sự của việc cạnh tranh yếu, nào là khác biệt về tính cạnh tranh v.v.. Nói tóm lại là lạc đề!
 
Để dễ hình dung, tớ đưa ví dụ thế này. Một bệnh nhân bị bệnh tim mạch. Mặc dù bác sĩ điều trị cũng đồng ý với các bác sĩ hội chẩn khác rằng bệnh nhân này bị hẹp động mạch gì gì đó (ví dụ, do mỡ máu) cần phải nong động mạch ra thì mới có nguy cơ sống sót. Nhưng thay vì (kết hợp) điều trị theo cách này, ông ta chỉ chăm chú vào điều trị nguồn gốc của bệnh, tức là chế độ ăn uống, sinh hoạt không lành mạnh của bệnh nhân. Đương nhiên là cần cầu trời cho bệnh nhân này đủ dai sức để sống và chờ cho việc điều chỉnh chế độ ăn kiêng và sinh hoạt phát huy hiệu quả (không tích tụ thêm các cục xơ vữa nữa). Nhưng cho dù có sống được thì mạch máu của bệnh nhân vẫn tắc như cũ, và do đó dễ gây đột quỵ, vì vẫn hẹp do không được nong!
 
2.       Vấn đề mà TBKTSG đặt ra rất đơn giản và dễ hiểu. Họ hỏi là có nên phá giá không, chứ không hỏi là có cần phải phá giá bao nhiêu, phá giá mạnh không. Vì thế, lẽ ra câu trả lời tất yếu chỉ cần/đương nhiên là: Cần phải phá giá, dù ít, dù nhiều, chứ không thể tuyên bố như NHNN nói là không “điều chỉnh”. Tất nhiên cách thức và lộ trình phá giá như thế nào là chuyện khác, như đã được đồng chí Giang bàn đến và tớ cũng nói nhiều lần rồi (chẳng hạn cứ lẳng lặng mà làm, thỉnh thoảng làm bụp một phát, tùy theo mức độ cảm thấy phù hợp). Đằng này các đồng chí Thơ và Tuấn lại quay sang phản đối rằng phá giá/điều chỉnh mạnh là không phù hợp. Tức là, một lần nữa tớ nhấn mạnh, lại lạc đề!
 
3.       Như tớ đã góp ý với TBKTSG đặt lại câu hỏi thứ hai, như trong bài gốc, khi mọi thứ vẫn như nguyên mà tỷ giá vẫn cố định (tức VND lên giá thực so với USD) thì rõ ràng là hàng hóa Việt Nam càng mất tính cạnh tranh và vì thế càng phải nên phá giá chứ? Đây là vấn đề có tính logic mà các đồng chí Thơ và Tuấn đang vi phạm trong lập luận của mình, khi họ chuyển vấn đề từ việc có nên phá giá không sang việc phân tích yếu tố nào mới là yếu tố chính ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam, hoặc lặp lại vấn đề không nên phá giá mạnh (như đồng chí Tuấn ví dụ là 13%). Để tăng phần thuyết phục, họ đưa ra những lập luận mà xét cho cùng vừa rắm rối, và quan trọng hơn, vừa ... lạc đề!
 
4.       Đồng chí Giang, mặc dù như tớ vẫn thường hoan nghênh, nhất là trong bài này khi cùng đưa ra ý kiến khá giống với tớ, mắc một sai lầm nhỏ, khi cho rằng phá giá sẽ làm tăng gánh nặng nợ Nhà nước. Đây là vấn đề mà tớ đã phản biện trên TBKTSG mấy tháng trước đây (đại loại, nếu không phá giá thì nợ Nhà nước – tính bằng VND - có thể không tăng lên, nhưng rốt cuộc quỹ dự trữ ngoại hối của NHNN lại hao hụt tương ứng để kìm giữ tỷ giá. Tức là tiền từ chui từ lỗ hổng nọ ra lỗ hổng kia trong cùng một cái quần quốc gia).
 
5.       Còn về ý kiến của đồng chí Phạm Thế Anh, tuy có phân tích theo một hướng hơi khác một chút (chỉ số giá sản xuất), nhưng có thể thấy rõ ràng nó cũng phạm phải những sai lầm giống của đồng chí Thơ và Tuấn (tập trung vào tìm căn nguyên của tính cạnh tranh yếu, bỏ qua việc cần thiết phải phá giá, như là một trong những biện pháp cần làm).
 
Và qua bài này, mới thấy, như tớ đã phát biểu trong bài, rằng sự ngộ nhận và hiểu một chiều về tỷ giá đang ngự trị trong đầu của rất, rất nhiều người, kể cả giới học giả được coi là tinh hoa (nhất) của Việt Nam như trong bài này (bạn đọc nào còn nghi ngờ nhận định của tớ thì tìm đọc lại các bài phản biện về tỷ giá của tớ trên báo chí và post lại trên blog này), và chúng đã rất có ảnh hưởng (tiêu cực) đến việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ và tỷ giá ở Việt Nam. Và cứ nhìn lực lượng tương quan giữa phe phản đối và phe ủng hộ tỷ giá trong bài này thì sẽ dễ hiểu, dễ thấy tại sao NHNN lại “kiên định” với chuyện không phá giá đến thế. Có 5 người tham gia trong bài thì quá bán, 3 người, phản đối phá giá (mạnh); chỉ còn mỗi tớ và đồng chí Giang là luôn kiên định với việc phá giá (tất nhiên phá giá ở mức bao nhiêu là chuyện bàn sau).
 
 
Các comment trên của tớ có thể gây khó chịu cho ai đó, nên rất mong mỏi các đồng chí không tán thành hãy vào đây tranh luận ra ngô ra khoai với tớ.

Wednesday, 21 August 2013

Lại chuyện phản đối Mỹ áp thuế chống trợ cấp, phá giá

Tớ đã vài lần viết về chuyện cứ mỗi khi Mỹ áp dụng thuế chống phá giá, chống trợ cấp lên một mặt hàng nào đó của Việt Nam, từ dệt may, giày dép, thủy sản, đến thép là y như rằng một dàn đồng ca cất lên từ phía Việt Nam cãi bay cãi biến rằng Việt Nam không trợ cấp, ưu đãi cho những ngành này, nào là Việt Nam có lợi thế tự nhiên trong sản xuất những mặt hàng này làm cho giá thành và giá bán rất cạnh tranh, nào là v.v...

Chỉ cần google với cụm từ khóa, chẳng hạn như, "cho vay ưu đãi" là lập tức ra một loạt tin tức về chính sách cho vay ưu đãi với một số ngành nghề của Việt Nam thuộc diện bị kiện ở Mỹ như thế này:

http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30701&cn_id=599354
http://portal.tiengiang.gov.vn/wps/wcm/connect/Web+Content/portaltiengiang/Menu/tintuc/kinhte/Nuoi+tom+nuoc+lo+2013+Giam+dien+tich,+tang+san+luong
http://www.baophuyen.com.vn/Kinh-te-82/7706405705905605672
http://xttm.mard.gov.vn/Site/vi-vn/171/288/316/71648/Default.aspx
http://ndhmoney.vn/web/guest/s26/-/journal_content/hang-ngan-ty-dong-von-vay-uu-dai-di-ve-dau
http://tepbac.com/news/full/6506/Giai-ngan-kip-thoi-nguon-von-uu-dai.htm
http://www.tiengiang.gov.vn/xemtin.asp?cap=3&id=22068&idcha=10054

Chưa kể, còn rất nhiều chương trình cho vay ưu đãi của các ngân hàng thương mại mà người cấp vốn cuối cùng lại là nơi mà ai cũng biết là ở đâu.

Với những thông tin công khai thế này, thậm chí còn được giật tít như muốn nhấn mạnh rằng chính phủ quyết hỗ trợ các ngành nghề này, không bỏ rơi ai, thể hiện bản chất tốt đẹp của kinh tế thị trường định hướng XHCN v.v... mà vẫn cãi bay cãi biến người ta (Mỹ) thì có khác gì là cãi chày cãi cối?

Cũng có người tỉnh táo hơn, khuyến nghị rằng nếu có làm thì làm kheo khéo thôi, đừng công khai, đừng dùng từ "hỗ trợ" với "ưu đãi" để người ta có cớ mà hành (bài đăng trên báo hẳn hoi mà tớ quên mất là ở báo nào rồi). Nghe cũng có lý đấy, nhưng đây chỉ là cái lý của kẻ giỏi biến báo, luồn lách. Cung cách làm ăn không minh bạch, không đàng hoàng này rồi thế nào cũng sẽ bị lộ và phải trả giá.

Cũng nhân đây sẽ thấy thêm về mặt trái của cung cách hoạch định và thực thi chính sách kinh tế xã hội ở Việt Nam. Bất chấp các nguyên lý của thị trường, dồn các nguồn lực khan hiếm cho một số ngành để đổi lấy những thành tích nào là xóa đói giảm nghèo nào là xuất khẩu hàng đầu thế giới v.v... Lợi đâu chưa thấy nhưng chỉ thấy những là dư cung, giá hạ, trắng tay, xóa nợ, khoanh nợ, và tệ hơn là tư cách "nền kinh tế thị trường" mãi mà chẳng được công nhận.

Thôi thì nhân lúc người ta vạch mặt chỉ tên, hãy dũng cảm chấp nhận sự thật và tìm cách đàng hoàng hơn mà làm cho có hậu.





Thursday, 15 August 2013

TPP: Nhìn từ hai phía Việt – Mỹ (Bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn 15/8/2013, bản gốc)

TPP - Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương đang được đàm phán bởi 12 nước thành viên (với Nhật mới tham gia đàm phán đầu năm nay) ở 2 bên bờ Thái Bình Dương, trong đó có Mỹ và Việt Nam. Trải qua 18 vòng đàm phán, TPP được kỳ vọng sẽ được thông qua bởi các nước thành viên vào tháng 10 năm nay.

Bài viết này dựa trên quan sát và ghi chép của tác giả thu được qua một số cuộc viếng thăm các cơ quan Việt Nam và Mỹ thường trú tại Việt Nam gần đây, nhằm cung cấp một số quan điểm trái chiều có liên quan đến TPP nhìn từ hai phía để giúp bạn đọc có cái nhìn toàn diện hơn về cuộc đàm phán TPP giữa Mỹ và Việt Nam (Lưu ý, bài viết không lặp lại mô tả chi tiết TPP).
Nhìn từ phía Việt Nam, một quan điểm phổ biến là Mỹ cần Việt Nam và tìm cách lôi kéo Việt Nam vào cuộc chơi TPP mà Mỹ cầm trịch (không có Trung Quốc và nước này cũng không được Mỹ mời vào TPP). Vào TPP, Mỹ hy vọng Việt Nam sẽ thành một nước có thế và lực mạnh hơn với kinh tế phát triển nhờ TPP để thoát khỏi vòng ảnh hưởng cũng như kìm hãm sự lan tỏa ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực, cốt có lợi cho Mỹ. Để đổi lại động cơ chính trị này, Mỹ sẵn sàng thỏa hiệp và chịu ép với Việt Nam trong một số lĩnh vực kinh tế và xã hội, như mở cửa thị trường Mỹ cho hàng xuất khẩu của Việt Nam...

Tuy tin như vậy, nhưng phía Việt Nam vẫn giữ một con mắt nghi ngờ, quan ngại với lập trường mà họ cho là “tiêu chuẩn kép” của Mỹ. Theo họ, một mặt Mỹ muốn, buộc các nước thành viên khác mở cửa cho hàng hóa và dịch vụ của Mỹ xâm nhập nhưng mặt khác Mỹ lại tìm cách gây khó dễ, đóng cửa với hàng hóa và dịch vụ của các nước thành viên đối tác của mình, đặc biệt là một nước đang phát triển như Việt Nam với một thế yếu mà Mỹ đã và sẽ lợi dụng triệt để. Những biện pháp gây trở ngại này của Mỹ thường sẽ là quy tắc xuất sứ sợi (Yarn Forward), danh sách loại trừ, những vấn đề liên quan đến nhân quyền, công đoàn, môi trường, tôn giáo và chuyển giao công nghệ, và một số cản trở phi thuế quan khác. Nhận định này đã hiện diện trong các vòng đàm phán với Việt Nam và là một trong những trở ngại chính cho việc sớm đi đến thỏa thuận.
Ngược lại, theo quan điểm của phía Mỹ  thì thực ra mức độ quan tâm của Mỹ đến Việt Nam không lớn như phía Việt Nam nghĩ. Đúng là Mỹ có ý muốn Việt Nam tham gia TPP nhưng điều này chỉ đơn thuần là Mỹ muốn nhìn thấy một Việt Nam phát triển ổn định về chính trị và kinh tế.  Thậm chí họ còn cho rằng nếu Mỹ buông Việt Nam thì Trung Quốc cũng chẳng thu được lợi ích đáng kể nếu lôi kéo được Việt Nam rơi vào lãnh địa của mình, nếu xét đến sự khác biệt quá lớn về quy mô kinh tế, lãnh thổ và dân số của Trung Quốc và Việt Nam và Trung Quốc cũng chẳng vì thế mà mạnh hơn lên nhiều.

Sự quan tâm của Mỹ đến Việt Nam càng suy giảm hơn với sự tham gia của Nhật vì Nhật là một đối tác kinh tế lớn của Mỹ và giữa 2 nước này chưa có một hiệp định tự do thương mại song phương (TPP cũng đóng vai trò như một hiệp định tự do thương mại song phương). Vì thế Mỹ phải tập trung nỗ lực hơn vào cuộc đàm phán với Nhật thay vì Việt Nam. Nội dung và thỏa thuận đàm phán với Nhật cũng sẽ là tiêu chuẩn để Mỹ áp dụng trong đàm phán với Việt Nam nên cuộc đàm phán Việt Mỹ sẽ càng trở nên phức tạp và rắc rối hơn, và cũng như vậy là tương lai gia nhập TPP của Việt Nam.
Một điểm đáng lưu ý là Chính phủ Mỹ không có nhiều quyền kiểm soát trong các thỏa thuận TPP với Việt Nam như với hiệp định tự do thương mại song phương Việt – Mỹ, không chỉ vì TPP còn phải trình Nghị viện Mỹ, nơi bị chi phối nặng nề bởi các nhóm lợi ích (trong đó có các công ty dệt may) và lực lượng chính trị, phê chuẩn, mà còn vì Chính phủ Mỹ phải tôn trọng các hiệp định tự do thương mại song phương với các nước khác như Mexico và Peru, sao cho tiêu chuẩn của các thỏa thuận với Việt Nam không thấp hơn tiêu chuẩn ký kết với, hoặc làm tổn hại đến các nước này.

Phía Mỹ còn cho rằng phía Việt Nam có quá nhiều đòi hỏi không chính đáng làm cho phía Mỹ ngán ngẩm, vì Việt Nam coi TPP cũng là một thỏa thuận song phương, mà thực ra không phải là vậy. Nguyên nhân cho vấn đề này, theo phía Mỹ, có thể là sự thiếu hiểu biết về bản chất của TPP của phía Việt Nam.
Thêm một thực tế là Cơ quan đại diện thương mại Mỹ đã có một người lãnh đạo mới và vị này thì rất ít thông cảm với Việt Nam, thay vào đó rất có cảm tình với Nhật. Ngoài ra, Cơ quan này cũng đang phải đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Đại Tây Dương (TAP) nên sự quan tâm cho cuộc đàm phán với Việt Nam càng trở nên ít đi. Mỹ cũng khó mà thỏa hiệp được với Việt Nam về điều khoản quan trọng nhất trong TPP là quy định Yarn Forward để có thể xâm hại đến quyền lợi của các đối tác của Mỹ ở châu Âu, Phi và Trung Đông trong một chuỗi cung ứng sản phẩm tạo ra nhiều triệu công ăn việc làm trong ngành dệt may.

Tóm lại, giữa 2 bên đã có sự khác biệt khá lớn về quan điểm và nhận định cũng như các mối quan tâm về đối phương. Cộng thêm với sự ràng buộc chính trị và xã hội trong nước, các bất đồng và có cả nghi kị, kèm theo sự gia nhập mới đây của Nhật làm cho quá trình đàm phán TPP trở nên phức tạp và khó khăn hơn. Vì thế nhiều nhà quan sát nghi ngờ khả năng cán đích hoàn tất đàm phán tháng 10 tới đây, mặc dù các nhà lãnh đạo khẳng định quyết tâm về đích đúng hạn.

Wednesday, 14 August 2013

2 comment của bạn đọc

Hôm nay tớ nhận được 2 comment. 1 gửi trực tiếp đến email của tớ (mà tớ mạn phép tác giả post lại ở phần dưới đây), còn comment thứ 2 thì để lại trên blog này, trong entry: "Cần hoan nghênh đồng chí TS Lê Hồng Giang" với nhõn mỗi 2 chữ "Thang dien"!

Về comment thứ 2 này, xin nói với đồng chí tác giả của nó, chắc không điên bằng tớ, rằng tớ không bận lòng lắm (và tớ không xóa comment này, cũng như bất cứ loại comment nào khác), và rất mong đồng chí này đừng lạc vào đây một lần nữa kẻo lại tẩu hỏa nhập ma như tớ thì khốn cho cái đời đồng chí lắm. Đọc mà không tiêu hóa được, lại thêm uất ức quá sẽ sinh bệnh nặng.

Về comment thứ nhất, nguyên văn như sau (hơi dài):

"Em chào thầy
Trước khi vào chủ đề chính, em muốn chia sẻ với anh một chút cảm nhận của em như thế này ạ. Thực sự thì em cũng mới biết đến blog của anh thông qua một vài đường link nào đó mà em cũng không thể nhớ được. Và comment đầu tiên em đọc của anh có nội dung ngang tàng "nếu giỏi bằng tớ...", comment này làm em không khỏi tò mò về khả năng, kiến thức và tư duy của anh. Tuy nhiên càng đọc những bài của anh (gần như đêm nào trước khi ngủ em cũng đọc), em càng ngưỡng mộ anh. Quả thật phân tích của anh và anh Lê Hồng Giang sâu sắc và đứng trên một lập trường nhất định (điều quan trọng nhất của người làm khoa học). Nhưng em có cảm giác khi đọc các bài viết của anh, anh không phục gần như tất cả những nhà khoa học ở Việt Nam vậy? Không biết cảm giác của em là đúng hay sai, gần đây anh có entry chỉ trích một nhà giáo là thầy của em, thực sự đọc đến đoạn đó em không khỏi ấm ức, bực tức...vì a động chạm đến người thầy của em. Ngay lúc đó em cũng có ý comment luôn nhưng do entry quá lâu rùi, bởi vậy em cũng không viết nữa. Em chỉ muốn hỏi anh một việc: "Kiến thức là bao la, các chuyên gia kinh tế bản thân họ cũng khó có thể tường mình mọi vấn đề được. Vậy thì tại sao chỉ một hoặc hai nhận xét có phần chưa chính xác thì anh có thể kết luận đồng chỉ này thế nọ, đồng chí kia thế khác". Đến Gia Cát Lượng vẫn còn có lúc tính toán sai mà anh.
Đây là chuyện bên lề thôi ạ, còn mục đích chính em viết mail cho anh là để bái sư anh ạ! Em biết anh chưa biết em là ai, là thằng nào, danh phận ra sao, trình độ như thế nào...Nhưng em muốn bái sư anh để có thể học hỏi được từ anh, từ cách tư duy, cách liên hệ vấn đề, cách giải quyết vấn đề...Trong thời gian học đại học, em cũng đã từng nghĩ rằng không biết bao giờ mình có thể nhìn một chỉ số nào đó thay đổi, nghe một bản tin kinh tế nào đó...mà đoán biết được điều gì đang xảy ra và sắp tới sẽ diễn biến như thế nào. Trong 4 năm ấy, em vẫn chưa thực hiện được mong ước đó và cũng chưa tìm ra một tác giả nào, một người nào có những phân tích bóc tách vấn đề sâu sắc như anh và anh Giang. Em viết mail này chỉ hy vọng anh có thể chia sẻ con đường để anh đạt tới cảnh giới này và em mong rằng anh có thể dìu dắt em bằng 1/2 anh thôi ạ "em tự lượng sức mình". :) Em rất muốn đóng góp gì đó anh ạ! Rất mong anh vén lối mở đường cho em tới đỉnh cao của tri thức. Vậy nên em xin phép anh cho em gọi anh bằng thầy ạ!
Hy vọng sớm nhận được tin tốt lành từ Thầy!
Em cám ơn thầy!
Trân trong ./."
 
Chắc có rất nhiều đồng chí bạn đọc ở đây có cùng thái độ ngứa mắt với tớ như thế này nên tớ muốn lặp lại ở đây câu trả lời qua thư với tác giả để các đồng chí đỡ ngứa mắt:
 
1. Về chuyện tớ không phục một nhà khoa học nào ở VN, thì như tác giả cũng đã viết rằng "chưa tìm ra một tác giả nào, một người nào có những phân tích bóc tách vấn đề sâu sắc như anh và anh Giang" nên câu trả lời đã rõ.
 
2. Tớ nói "khi nào bằng tớ" (chứ không phải "khi nào giỏi bằng tớ") thì chỉ cần người nói nói ra một vài câu là có thể biết người đó thuộc dạng nào một cách tương đối chính xác. Vì thế đồng chí thầy của tác giả nói một vài câu sai lầm là đủ để tớ kết luận như đã kết luận, còn đúng hay sai thì tự tác giả biết (hoặc sau này sẽ biết).
 
3. Con đường đạt đến "cảnh giới" thì một phần lớn là do năng khiếu bẩm sinh cộng với đọc và học và trải nghiệm thực tế, một phần khác là thái độ hoài nghi và có cái nhìn phản biện mọi thứ, kể cả những cái tưởng là chân lý, kể cả với những ai là thần tượng. Với nhiều yếu tố này nên tớ nghĩ là số người được gọi là đạt đến "cảnh giới" không nhiều, nếu không muốn nói là rất it, và tớ cũng không dám nhận là như vậy, mặc dù tớ tự nhận là có một số yếu tố trên, đặc biệt là thái độ hoài nghi, phản biện, không coi ai là thần tượng (để khỏi phải hoài nghi) hết.
 
 
 


Wednesday, 7 August 2013

TPP và cơ hội cho ngành dệt may – nhìn từ các doanh nghiệp Việt Nam (Bản gốc của bài đăng trên Tuổi trẻ)

Một phiên bản của bài này xuất hiện dưới dạng bài phỏng vấn trên Tuổi trẻ, 8/8/2013
http://tuoitre.vn/Kinh-te/562578/nganh-det-may-khong-de-huong-loi-tu-tpp.html

--------------------------------------------
Bài viết này dựa trên tư liệu tác giả đã thu thập được qua các cuộc tiếp xúc và phỏng vấn với một số doanh nghiệp dệt may hàng đầu ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Hà Nội, cũng như một số cơ quan hữu quan của Việt Nam và nước ngoài thường trú tại Việt Nam mới đây, trong bối cảnh Việt Nam đang đàm phán với các nước thành viên khác để hoàn tất Hiệp định đối tác Thái Bình Dương (TPP) vào tháng 10 này như mục tiêu mà các nhà lãnh đạo đã đặt ra.
Ngành dệt may là một trong số những ngành xuất khẩu mũi nhọn ở Việt Nam, với doanh số hơn 17 tỷ đô la Mỹ và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đạt 7,5% trong năm 2012 (so với năm 2011). Xuất khẩu hàng dệt may hiện đã chiếm hơn 15% tổng doanh số xuất khẩu của cả nước.

Doanh số và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam được kỳ vọng sẽ còn tăng mạnh hơn nữa khi TPP được ký kết kèm theo đó là mức thuế xuất khẩu của hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường Mỹ (thị trường xuất khẩu chủ chốt chiếm đến 44% tổng xuất khẩu dệt may của Việt Nam năm 2012) được hạ từ mức trung bình khoảng 17% xuống 0%.
Hiện nay, có một số dự báo của những cơ quan hữu quan cho thấy Việt Nam sẽ tăng được doanh thu xuất khẩu hàng dệt may lên tới 30 tỷ đô la vào năm 2025 trong khuôn khổ TPP, tức là 70% lớn hơn so với khi Việt Nam đứng ngoài TPP.

Tuy nhiên, những dự báo trên có thể đã dựa trên những giả định tĩnh, khá đơn giản rằng năng lực sản xuất dệt may của Việt Nam sẽ tăng lên mạnh mẽ và nhanh chóng, theo đúng quy hoạch và chiến lược phát triển mà các cơ quan hữu trách vạch ra, cũng như đại bộ phận hàng dệt may của Việt Nam sẽ được hưởng thuế suất 0% khi xuất khẩu vào Mỹ và các nước thành viên TPP khác.
Trên thực tế, có rất nhiều trở ngại cho Việt Nam chạm tới được mục tiêu này. Thứ nhất, gánh nặng về thủ tục hành chính và chi phí như lưu giữ đầy đủ sổ sách chứng từ, thời gian và tốc độ giao hàng đến khách hàng v.v... có thể lớn hơn cả phần thuế được cắt giảm trong TPP, làm nản lòng các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may và các công ty thương mại trung gian, và do đó họ thà chấp nhận nộp thuế nhập khẩu để đưa được hàng của mình đến thị trường tiêu thụ nhanh nhất và đỡ phiền phức. Trở ngại này cũng có thể làm nản lòng một số doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam trong việc đẩy mạnh xuất khẩu thêm nữa, và do đó tổng doanh số xuất khẩu của Việt Nam không nhất thiết sẽ tăng mạnh như dự tính.

Trở ngại thứ hai, trở ngại chính, đến từ quy tắc về nguồn gốc sợi (yarn forward) trong khuôn khổ TPP. Theo đó, để được hưởng thuế nhập khẩu 0%, hàng dệt may của Việt Nam phải sử dụng sợi và các sản phẩm từ sợi có xuất sứ từ các nước thành viên TPP. Năng lực sản xuất sợi của Việt Nam và các nước thành viên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của phân khúc hạ nguồn (dệt may) nên vẫn sẽ còn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu từ các nước ngoài TPP, điển hình là Trung Quốc và một số nước khác trong khu vực châu Á. Ngoài ra, với đặc thù thường xuyên thay đổi mẫu mã, số lượng, chủng loại, cũng như vật liệu hàng dệt may theo năm hoặc theo mùa, việc luôn đáp ứng được quy tắc xuất sứ sợi để hưởng thuế suất 0% là không đơn giản và không phải không tốn kém. Do đó, nhiều doanh nghiệp buộc phải duy trì một tỷ lệ nhất định vải vóc và nguyên vật liệu có nguồn gốc từ các nước ngoài TPP, và tức là vẫn phải chịu thuế suất như hiện nay. Thực tế tham gia Hiệp định đối tác kinh tế với Nhật (EPA) trong đó có quy tắc nguồn gốc vải (fabric forward) vốn cởi mở hơn quy tắc nguồn gốc sợi mà xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Nhật không tăng mạnh cho thấy khả năng tương tự xảy ra cho Việt Nam trong TPP.
Trở ngại thứ ba, cũng liên quan đến quy tắc nguồn gốc sợi, là năng lực sản xuất bị hạn chế của Việt Nam, khó đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu tăng cao trong khuôn khổ TPP. Những yếu tố tiêu cực như năng lực quản lý yếu kém, thiếu hụt lao động (kể cả lao động phổ thông), năng suất lao động thấp, thiếu vốn đầu tư và công nghệ, và môi trường kinh doanh không thân thiện với nhà đầu tư, và đặc biệt là thủ tục hải quan hay bị kêu là nhũng nhiễu và mất thời gian, là một vài trong số những yếu tố kìm hãm việc tăng mạnh năng lực sản xuất ở Việt Nam. Những trở ngại này không phải chỉ là trên lý thuyết mà là ý kiến của đa phần các công ty dệt may xuất phát từ thực tế hoạt động hàng ngày cho biết.

Người ta hy vọng rằng với thời gian ân hạn 3 năm (như phía Mỹ đề xuất, hoặc 5 năm như phía Việt Nam đề xuất) cho việc áp dụng quy tắc nguồn gốc sợi là đủ để cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào các ngành thượng nguồn như kéo sợi, dệt, nhuộm, hoàn tất đáp ứng đủ nhu cầu vải đầu vào cho ngành may. Nhưng có vị tổng giám đốc một công ty dệt may lớn sau khi bộc lộ sự bất mãn với các con số kế hoạch và mục tiêu của các cơ quan hữu trách vì cho rằng họ quan liêu, xa rời thực tế,  ông cho biết khoảng thời gian này thậm chí may ra chỉ đủ để xây một nhà máy chưa chưa nói gì đến cả một chuỗi, một loạt các nhà máy theo nhu cầu, xuất phát từ kinh nghiệm không mấy hay ho mà doanh nghiệp ông đã phải nếm trải khi đầu tư vào một dự án mở rộng năng lực sản xuất của mình cách đây 2 năm mà vẫn chưa xin được giấy phép xây dựng, mặc dù mọi thứ đã chuẩn bị đầy đủ, kể cả đã phải “đi đêm” để “chạy” giấy tờ.
Về khả năng hạn chế trong việc tăng năng lực sản xuất ở Việt Nam, còn lưu ý thêm một số trở ngại lớn nữa là đất đai và môi trường. Nhiều doanh nghiệp cho biết không dễ xin được đất đai để làm nhà xưởng vì các địa phương coi ngành may mặc là ngành có giá trị gia tăng thấp, không hấp dẫn và vì thế các chính quyền địa phương không mấy mặn mà cấp đất cho doanh nghiệp làm nhà xưởng. Các doanh nghiệp cũng cho biết nếu có xin được đất thì họ cũng còn ngại ngần vì chi phí đền bù, giải tỏa nhiều khi bằng mấy năm lợi nhuận thu được của các doanh nghiệp này.

Trong khi đó, vấn đề bảo vệ môi trường đã được các địa phương đặc biệt đề cao hiện nay. Với những phân khúc sản xuất gây ô nhiễm môi trường như nhuộm, rất khó để các doanh nghiệp xin được giấy phép hoạt động tại các địa phương. Mà theo một số nhà quản lý trong ngành thì phân khúc nhuộm chính là nút thắt cổ chai cho toàn bộ ngành dệt may của Việt Nam, quyết định đến năng lực sản xuất của cả ngành này.
Trên đây mới chỉ là những khó khăn và trở ngại về phía nhà xuất khẩu Việt Nam. Ý kiến chung từ các cuộc gặp cho thấy khả năng Mỹ (và các nước nhập khẩu hàng dệt may khác của Việt Nam) không dễ dàng ngồi nhìn hàng dệt may của Việt Nam tung hoành trên thị trường của mình, mặc dù có thể ngành dệt may là ngành đang lụi tàn, chỉ còn chiếm một vị trí hết sức khiêm tốn ở những nước này. Tuy là ngành đang lụi tàn, nhưng với Mỹ, các công ty dệt may của họ vẫn có khả năng lobby rất lớn và có sự chi phối đáng kể đến các chính sách thương mại của Chính phủ Mỹ. Bởi vậy, sẽ là không khó hiểu khi Mỹ sẽ dùng các công cụ và vấn đề như nhân quyền, môi trường, lao động, hàng rào kỹ thuật và các loại hàng rào thương mại phi thuế quan khác để cản trở xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào nước này.

Với những khó khăn và thực trạng nêu trên,  một mặt TPP sẽ mang lại cho ngành dệt may Việt Nam một số cơ hội mới để phát triển nhưng, mặt khác, những trở lực nội tại và bên ngoài có lẽ sẽ giới hạn đáng kể đến khả năng phát triển của ngành này ở Việt Nam. Bởi vậy, mọi chiến lược và quy hoạch phát triển cho ngành cần tính đến một cách đầy đủ những yếu tố chủ quan và khách quan này để cho các mục tiêu có tính khả thi và thực tế hơn.

Bất ổn tỷ giá: Đừng đổ cho “tâm lý”! (Bài đăng trên TBKTSG 8/8/2013, bản gốc)

Sau khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) “điều chỉnh” tỷ giá đồng/đô la Mỹ liên ngân hàng cuối tháng 6, lập tức tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng thương mại và tỷ giá trên thị trường tự do đã tăng vọt. Có lúc, tỷ giá đạt gần 21.900 đồng/đô la trên thị trường tự do.

Như thường lệ, NHNN lặp lại bài trả lời quen thuộc, quy buộc việc tỷ giá tăng mạnh là do yếu tố tâm lý, do động cơ đầu cơ trục lợi của một số người v.v…, chứ còn cân đối ngoại tệ vẫn đảm bảo, vẫn có thặng dư cán cân thanh toán đến mấy tỷ đô la, trạng thái ngoại tệ tại các ngân hàng không có đột biến v.v..

Tuy nhiên, một số vấn đề xảy ra cho thấy vấn đề không đơn giản, không đúng như những gì NHNN tuyên bố, thuyết phục dân chúng.

Thứ nhất, có thể đúng như NHNN nói, các yếu tố thiết lập tỷ giá không có mấy thay đổi theo chiều hướng xấu gây áp lực lên tỷ giá, và do đó không cần phải “điều chỉnh” tỷ giá. Nhưng nếu đúng như vậy thì câu hỏi được đặt ra là tại sao NHNN lại quyết định “điều chỉnh” tỷ giá liên ngân hàng hồi tháng 6, dù chỉ là 1%, mặc dù họ có thể biết rõ hậu quả của việc “điều chỉnh” này sẽ như thế nào, căn cứ từ những vụ “điều chỉnh” trước đây? Có thể NHNN sẽ có câu trả lời nào đó nhưng chắc chắn sẽ không phải là, chẳng liên quan gì đến những yếu tố mà NHNN đã viện ra (cán cân ngoại tệ không mất cân đối, thặng dư cán cân thanh toán, trạng thái ngoại hối của các ngân hàng không biến động mạnh...). Suy ra tiếp, sự giải thích của NHNN về lý do biến động tỷ giá như vừa qua (do yếu tố tâm lý, do đầu cơ) là không chuẩn xác.

Thứ hai, và liên quan đến vấn đề trên, khi tác giả nói sự quy kết của NHNN nhằm vào yếu tố tâm lý, đầu cơ là không chuẩn xác vì tác giả cũng công nhận rằng sự biến động mạnh có phần thái quá của tỷ giá đúng là có phần của tâm lý và đầu cơ. Nhưng cần nhấn mạnh rằng đây là yếu tố đến sau, chứ không phải là yếu tố châm ngòi cho sự “điều chỉnh” tỷ giá liên ngân hàng của NHNN. Vào thời điểm NHNN “điều chỉnh” tỷ giá, không thấy họ đề cập gì đến yếu tố tâm lý mà vì nó NHNN phải “điều chỉnh. Đã không có “yếu tố tâm lý”, là cái lý do giải thích cho biến động mạnh của tỷ giá như vừa qua theo lời của NHNN, mà NHNN vẫn phải “điều chỉnh” thì phải chăng “yếu tố tâm lý” thực ra chẳng có vai trò to lớn gì cả? Và theo lẽ thông thường, khi NHNN “điều chỉnh” tỷ giá (nhấn mạnh thêm là trước đó NHNN vẫn khẳng định “không phá giá”), việc này đương nhiên kích hoạt tâm lý sợ hãi của dân chúng rằng tỷ giá sẽ còn tăng lên nữa (vốn đã quá quen thuộc với dân chúng, như đã thường xảy ra trong quá khứ, chứ không phải là lần đầu). Từ tâm lý sợ hãi đến hành động mua gom, găm giữ (tức “đầu cơ”) là một khoảng cách rất gần, dẫn đến hậu quả như đã biết.

Thứ ba, lý giải cho hành động “điều chỉnh” tỷ giá của mình, NHNN chỉ giải thích một cách chung chung, mơ hồ rằng là để phản ánh đúng hơn quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Như vậy, bản thân lý do này cũng cho thấy quả thực quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường đã bị bóp méo (mất cân đối) ở một mức độ nào đó, gây sức ép lên tỷ giá. Nói cách khác, đây mới chính là nguyên nhân làm cho tỷ giá biến động mạnh, bắt đầu với việc “điều chỉnh” tỷ giá của NHNN và theo sau là tâm lý đầu cơ càng làm cho tỷ giá biến động mạnh hơn mức cần có.

Vậy điều gì dẫn đến quan hệ cung cầu ngoại tệ bị mất cân đối? Tin tức trên báo chí gần đây giúp ta trả lời được câu hỏi này. Luồn tin thứ nhất liên quan đến chuyện dư thừa tiền đồng, mà vì nó NHNN đã phải tung tín phiếu ra để hút về đến 21 nghìn tỷ đồng chỉ riêng trong 2 tuần đầu tháng 7, trong khi theo báo chí cho biết thì hành động hút tiền về đã bị sao nhãng trong tháng 6. Luồng tin thứ hai cho biết lãi suất tiền đồng liên ngân hàng ở mức thấp cho đến gần đây khi NHNN tung tín phiếu để giảm thanh khoản trong hệ thống. Lãi suất tiền đồng thấp đương nhiên sẽ làm tăng sức hấp dẫn của việc nắm giữ đô la. Luồng tin thứ ba liên quan đến tín dụng tiền đồng tăng trưởng mạnh trong tháng 6. Từ 3 luồng tin này, có thể tổng hợp để đưa ra một bức tranh cho thấy NHNN đã bơm mạnh tiền đồng vào hệ thống nói riêng và nền kinh tế nói chung trong suốt thời gian qua cho đến tháng 6, làm cho tiền đồng trở nên dư thừa so với đô la, từ đó tạo ra áp lực lên tỷ giá danh nghĩa. Trong khi đó, lạm phát ở Việt Nam tiếp tục tăng, càng làm cho tiền đồng tăng giá thực so với đô la, càng tác động tiêu cực đến xuất khẩu và cán cân thương mại, cũng tức là tăng áp lực lên tỷ giá danh nghĩa (chính là áp lực phá giá tiền đồng). Vì lý do này hay lý do khác mà NHNN đã chọn thời điểm tháng 6 để “điều chỉnh” tỷ giá (thực chất là phá giá), nhưng cần phải hiểu rằng hành động này không sớm thì muộn cũng sẽ phải xảy ra, chứ không thể nói khác đi được.

Điều liên quan còn lại cần nói trong bài này là tại sao NHNN đã chủ động “điều chỉnh” tỷ giá (có thể nói ở mức độ thăm dò, như một số người nhận định) mà NHNN rốt cuộc lại can thiệp kìm hãm đà tăng tỷ giá bằng cả biện pháp bán ngoại tệ cho hệ thống ngân hàng? Chẳng phải làm vậy chứng tỏ họ đang vừa lãng phí nguồn lực (tung dự trữ ngoại hối ra để chặn đà tăng tỷ giá), vừa lúng túng trong mục tiêu và biện pháp điều hành hay sao (cần phá giá nhưng phá giá nửa vời, không đủ liều lượng, thậm chí để tỷ giá quay trở lại gần vạch xuất phát)? Hay phải chăng họ sợ yếu tố tâm lý, như đã nói, làm mọi việc vượt quá tầm kiểm soát của họ?

Cuối cùng là vài lời về cách PR cho NHNN mỗi khi cần tuyên bố gì đó liên quan đến tỷ giá. Qua phân tích trên có thể thấy những tuyên bố với giải thích của NHNN là không chuẩn xác, máy móc, thậm chí là (vô tình hay hữu ý) sai lạc so với thực tế, là điều mà chính vì thế mới làm cho tâm lý của dân chúng càng tiêu cực với mỗi bước đi về chính sách của NHNN. Có lẽ NHNN cần thay đổi cách và nội dung PR của mình ở những lần sau mới mong đạt được hiệu quả như mong muốn.

Friday, 19 July 2013

Lại phải nói về câu chuyện thứ hạng 42 của nền kinh tế Việt Nam

Hôm trước tớ vừa viết về cái này xong, hôm nay đọc báo lại thấy mấy đồng chí chuyên gia Việt Nam lên tiếng về nó, đọc mà thấy thương... hại. Chuyện lẽ ra chẳng có gì, chẳng đáng bàn mà họ lại xé ra thành to, “nâng quan điểm”, hiểu theo một kiểu khác rất sai lạc.

 Đồng chí “Tiến Sỹ” Bùi Kiến Thành nói thế này:
Tuy nhiên, bày tỏ quan điểm trên báo Infonet, TS. Bùi Kiến Thành cũng cho rằng: Bảng xếp hạng này chỉ mang tính chất tham khảo là chính chứ không nên xem đó là "thành tích" mà chúng ta đã đạt được. WB là một tổ chức quốc tế, dù có cơ quan hoạt động tại Việt Nam nhưng không thể "tường tận chuyện trong nhà" được.

"Các con số thống kê chỉ thể hiện được một phần nào bức tranh, chứ không miêu tả hết được bức tranh đó. Giống như bộ quần áo mặc hàng ngày cho chúng ta thấy nhiều thứ, nhưng cũng che giấu những điểm quan trọng nhất. Nói thế để thấy phải rất thận trọng với con số thống kê, nhất là của các tổ chức quốc tế thì tham khảo là chính" – TS. Bùi Kiến Thành nêu rõ quan điểm cá nhân.


Đồng chí Thành mà đặt vấn đề “thành tích” hay không thì chứng tỏ đồng chí cũng chẳng hiểu mô tê gì chuyện này cả. Thứ hạng 42, như tớ đã nói, chỉ là thứ hạng về quy mô GDP của cả nền kinh tế, chứ bản thân WB hay những người có hiểu biết ở Việt Nam chắc không coi/nói/bình luận đó là thành tích hay không, mà chỉ coi là một thực tế, hiện thực của Việt Nam (như kiểu nhà tôi nhiều người vì đông con, có tới 10 đứa lận, nhà anh chỉ có 2 đứa, chứ không ai nói gì về chuyện nhà tôi giàu hơn nhà anh hay không). Nay đồng chí lại bẻ lái vấn đề thành ra có khả năng WB không hiểu gì về Việt Nam mà cứ đưa ra con số tầm phào, bóp méo, chỉ để tham khảo, rồi thì rằng thì là mà. Rõ chán cho đồng chí “TS” này lắm lắm!
Đồng chí TS Lê Đăng Doanh (có bằng TS thật) thì nói thế này:

Bên cạnh đó, giải thích về thứ bậc xếp hạng của nền kinh tế Việt Nam trên thế giới, Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương - TS Lê Đăng Doanh cho rằng: Cách tính của WB dựa trên phương pháp tính tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo ngang giá sức mua (PPP) chứ không phải GDP danh nghĩa (chỉ số phồn vinh, giàu có và mức độ phát triển) mà các nước vẫn công bố.

Đồng thời, TS Doanh nhấn mạnh: Cách tính toán bằng hiệu quả của sức mua nội địa của đồng tiền trong nền kinh tế, chỉ có tác dụng là tạo ra sự “lạc quan” trong báo cáo thành tích cuối năm ở những nền kinh tế mà đồng nội tệ có đặc điểm không mua được gì và ở đâu khác ngoài nội địa.  

Nói về vị trí thứ 42 về kinh tế Việt Nam so với thế giới, TS Doanh cho biết: Hạng 42 thế giới, không có nghĩa người Việt giàu hơn Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch, bởi “đỏ” không có nghĩa là “chín”.

"Thứ hạng 42 thế giới, không phải là “ngôi thứ” để chúng ta - trong tư cách những người hằng ngày, hằng giờ đang tiêu một giá trị tiền đồng với rất nhiều con số - phải vui mừng cả", TS Doanh cảnh báo.
Đồng chí Doanh rất sai ở cái chỗ rằng con số (tăng trưởng) GDP mà ta thường nói là (tăng trưởng) GDP thực, tức là tính theo giá cố định, chứ không phải (tăng trưởng) GDP danh nghĩa, tức là tính theo giá hiện tại.

Và GDP này cũng không nói lên cái gì liên quan đến chỉ số phồn vinh, giàu có, và mức độ phát triển cả! Nó chỉ nói rằng năm nào đó Việt Nam đã làm ra từng này giá trị sản lượng (theo giá cố định), giống như kiểu nhà tôi năm nay tổng thu nhập là 100 triệu VND (theo thời giá năm xxxx) và chấm hết. Nó chẳng nói lên rằng với 100 triệu đồng này thì nhà tôi là giàu hay nghèo, đứng ở bậc thang thu nhập nào trong xã hội.

Đồng chí Doanh cũng rất sai về bản chất của cách tính theo PPP. Nó là cách tính dùng để khắc phục sự chênh lệch về sức mua giữa các quốc gia trong so sánh thu nhập của quốc gia, của đầu người của các quốc gia với nhau. Nếu tôi ở Việt Nam cũng kiếm được số tiền mua được 10 ổ bánh mì/tháng, anh ở Mỹ cũng chỉ kiếm được số tiền mua 10 ổ bánh mì/tháng thì chẳng có cái lý do gì nói rằng người Mỹ giàu hơn người Việt Nam cho dù anh có kiếm được 1000 đôla/tháng, tôi chỉ kiếm được 2 triệu VND, tương đương 100 đôla/tháng.
Tớ có để ý thấy hình như chẳng ai nói rằng người Việt giàu hơn Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch mà chỉ thấy có mấy đồng chí chuyên gia như trên nói/nghĩ như vậy thôi thì phải, nên ở đây chẳng có gì là “đỏ” với “chín” như đồng chí nói cả! Dù vậy tớ cũng thở phào một cái vì ít ra đồng chí cũng không đánh đồng quy mô GDP của nền kinh tế với mức độ giàu nghèo của công dân của các quốc gia đó. Còn chuyện cảnh báo thì nên cảnh báo với mấy cái đầu có vấn đề thôi, chứ người thường như tớ là hiểu ngay vấn đề.

Đi xa hơn nữa và kinh khủng hơn nữa, làm trầm trọng vấn đề một cách không thể tiêu hóa nổi là ý kiến của đồng chí này:

Chia sẻ trên báo Hải quan, TS Đỗ Đức Định - Chủ tịch Hội đồng khoa học Trung tâm nghiên cứu kinh tế - xã hội Việt Nam lại cho rằng: "Một nền kinh tế dù xếp thứ 42 thế giới nhưng nếu giá trị gia tăng đem về chỉ giống như tỉ lệ gia công trong ngành dệt may thì nên nhìn nền kinh tế giống như tỉ lệ gia công đó thôi chứ không phải sức chúng ta làm được hoàn toàn như thế. Do đó, không nên lạc quan quá khi nhìn nhận xếp hạng GDP tính ngang giá sức mua của nước ta".

Đúng là từ chuyện nọ xọ chuyện kia, chẳng hiểu mô tê ất giáp gì cũng phán lung tung như đúng rồi. GDP chính là cái phản ánh “sức chúng ta làm được” trên cái đất Việt Nam này, chứ sao đồng chí lại bảo không phải? Không lạc quan thì đúng rồi, tớ cũng không lạc quan đâu, mà chỉ nhìn nhận đó là một thực tế, một “fact” thôi.


Đồng chí TS Nguyễn Quang A thì nói có vẻ đúng nhất (gần giống tớ nói hôm trước!):

Trả lời trên báo Nông thông ngày nay xung quanh công bố Bảng xếp hạng 177 nền kinh tế của WB mới đây, chuyên gia kinh tế Nguyễn Quang A nhấn mạnh: "Nước mình đứng về quy mô dân số hiện đứng thứ 13 trên thế giới, nên tương xứng thì nền kinh tế Việt Nam cũng phải xếp thứ 13 trên thế giới mới phải, nhưng Việt Nam lại xếp tận thứ 42 thì cho thấy nền kinh tế Việt Nam quá yếu kém".

Nhưng đồng chí A hơi quá đà khi nhấn mạnh chữ “quá yếu kém” vì cái tội Việt Nam không chịu xếp hạng thứ 13 trên thế giới về kinh tế. Sau Việt Nam vẫn còn tới hơn 100 nước có GDP nhỏ hơn Việt Nam và trong số đó cũng có không ít nước có dân số còn lớn hơn Việt Nam, đồng nghĩa với họ còn yếu kém hơn cả Việt Nam về mặt kinh tế. Nên nếu có so sánh thì chỉ nên so sánh tương đối, chứ không phải so sánh theo cái kiểu tuyệt đối hóa như vậy được, và phải hiểu rằng thứ hạng 42 chỉ là thứ hạng về quy mô, độ lớn của nền kinh tế Việt Nam so với các nền kinh tế khác trên thế giới, và chỉ thế thôi; những người xếp hạng cũng chỉ nghĩ thế thôi, đừng có phóng đại, nâng quan điểm vấn đề lên làm gì, xin các đồng chí!
Chưa dừng lại ở đó, các đồng chí TS này (toàn TS mới kinh) lại tiếp tục vui miệng phát triển thêm sang cả vấn đề làm thế nào để cải thiện thứ hạng của Việt Nam, mà lại bằng những giải pháp (lại giải pháp!) ất ơ, tầm phào đâu đâu. Thật hết muốn bình luận tiếp, dừng ở đây đi ngủ cho khỏe.

Thursday, 18 July 2013

Về thứ hạng của kinh tế Việt Nam

Hôm nay ghé mắt qua báo chí thấy cái tin WB xếp nền kinh tế VN vào hạng hình như là 42 trên thế giới về quy mô GDP tính theo PPP (sức mua ngang giá). Cái xếp hạng này gây ra một số thắc mắc trong dư luận, vì VN còn được xếp trên cả một số nền kinh tế ở châu Âu.

Tớ thấy có đồng chí Lê Đăng Doanh đăng báo trả lời ở khía cạnh rằng xếp hạng này là dựa trên PPP , là cái thường lớn hơn GDP tính theo giá cố định (đối với nền kinh tế đang phát triển như VN).

Cái này đúng nhưng chưa đủ. VN là nước nghèo nếu xét theo thu nhập đầu người của VN. Nếu so với thế giới thì thuộc dạng thấp, càng không thể so với các nước ở châu Âu. Nhưng điều đó không liên quan gì đến thứ hạng về quy mô kinh tế cả, nếu xét về quy mô GDP (nhất là khi tính theo PPP), đơn giản vì dân số VN gấp hàng (vài) chục lần so với những quốc gia nhỏ bé ở châu Âu với dân số độ vài triệu người (hoặc thấp hơn). Với quy mô dân số lớn như vậy thì cho dù VN vẫn (mãi) được coi là nước nghèo nhưng quy mô GDP thì không thể nhỏ hơn một số nước ở châu Âu, mặc dù họ là nước giàu. Và vì vậy, nền kinh tế VN đương nhiên phải đứng ở vị trí không phải là gần cuối bảng như với xếp hạng nước giầu, nghèo.

Với cùng logic như vậy, không thể coi Trung Quốc là nước giàu được mặc dù Trung Quốc đã ngoi lên đứng ở hàng thứ hai sau Mỹ về quy mô GDP. Có được điều này đơn giản vì dân số Trung Quốc chiếm hơn 1/5 thế giới, mặc dù GDP bình quân chỉ đâu như 3-4000 USD/năm. Với mức thu nhập đầu người như vậy (ở dạng trung bình thấp của thế giới) thì TQ còn phải chạy đua dài dài mới trở thành nước giàu theo đúng nghĩa là công dân phải có thu nhập cao được.

Monday, 15 July 2013

Khổ như người Nhật

Tớ sống và làm việc với người Nhật cũng khá lâu rồi nên thấy làm người Nhật cũng không sung sướng gì như người khác vẫn nhìn vào. Ngoài chuyện làm việc quên chết, coi sếp và cơ quan hơn cả bố, người Nhật còn khổ ở chuyện lấy vợ, lấy chồng, đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh tế.

Hôm lâu lâu, có dịp hàn huyên với một cô đồng nghiệp người Nhật, lứa tuổi 40s. Tự nhiên câu chuyện xoay qua chuyện lấy vợ lấy chồng của người Nhật. Cô này nói rằng hiện nay có rất nhiều phụ nữ Nhật ở tuổi 30s, 40s không lấy chồng. Bạn cô ta sống ở Sing cũng có mấy người chưa có chồng. Hỏi nguyên nhân thì được giải thích rằng đàn bà Nhật khi đã lấy chồng thì chỉ muốn, có xu hướng, ở nhà nội trợ, đẻ và nuôi dạy con, phó mặc việc kiếm tiền cho chồng. Học cao bao nhiêu chăng nữa thì rốt cuộc nhiều người cũng dừng lại ở đó. Nhiều người chưa tìm được chồng tương lai thì tìm cách giết thời gian và đợi chờ cơ hội trong những việc vô bổ (đối với tớ) như học cắm hoa, trà đạo, mặc kimono, học cái này cái kia. Nhà khá giả thì bố mẹ sẵn sang bỏ tiền cho con học đủ thứ để đợi thời/chồng. Nhà nào yếu quá thì mới để con gái đi làm một thời gian (rồi cũng sẽ bỏ khi lấy chồng, đẻ con).

Nhưng cái khổ là hiện nay nhiều đàn ông Nhật không kiếm được nhiều tiền, do kinh tế suy thoái. Nên các chị, các cô nhìn vào mấy anh/ông này mà không dám tiến gần, thà ở vậy, tìm cơ hội khác, vì lấy chồng mà chẳng được nhờ cậy gì mấy (về tiền nong). Đàn ông trong hoàn cảnh này có cố gắng tiếp cận đến mấy, như cách ta thường nói là tán tỉnh thì cũng thường chỉ được con số 0, nên rốt cuộc cũng đành từ bỏ ý định và ở vậy.

Tớ ngạc nhiên, hỏi lại, tưởng xã hội Nhật giờ cũng đã biến chuyển rồi chứ, rằng đàn bà ngày càng thích tự chủ, độc lập, nên thích ra ngoài xã hội, đi làm, phấn đấu v.v... như mấy chị, cô người Việt ta. Cô đồng nghiệp mới cười và bảo rằng không có chuyện đó đâu, mọi việc vẫn thế.

Tớ mới lăn tăn hỏi đại ý rằng, như ở Việt Nam ta vẫn thường có câu, "nồi méo úp vung méo", với những phụ nữ Nhật hấp dẫn thì đi một nhẽ, nhưng còn với những chị/cô "méo" thì chắc cũng phải hạ tiêu chuẩn, vớ lấy một anh không "méo" cái nọ thì cũng "méo" cái kia, đặc biệt là khoản kiếm tiền, để mà có một tấm chồng tạm gọi là chồng chứ? Cô đồng nghiệp lại cả cười, bảo không có đâu. Phụ nữ Nhật đa phần vẫn và luôn luôn có cái "pride", thà không có chồng còn hơn vớ lấy một anh/ông không kiếm đủ tiền cho mình và gia đình, cho dù mình có "méo" đến đâu.

Ngẫm ra, thế mới thấy đàn ông Việt Nam còn sướng chán, kiểu gì thì cũng (hầu như) lấy được vợ, thậm chí còn được vợ nuôi. Ngược lại, làm đàn bà ở Việt Nam cũng không thú vị gì lắm khi cứ phải cố kiếm tấm chồng bằng mọi giá.

Thursday, 11 July 2013

Xem họ nói gì về tỷ giá

Tớ lướt báo, thấy có 2 khuôn mặt, 2 ý kiến rất xứng đáng được lôi ra đây để bình luận. Gương mặt đầu tiên là đồng chí Lê Minh Hưng, Phó Thống đốc NHNN. Bổn cũ soạn lại, sau khi liệt kê nào là cán cân thanh toán thặng dư mấy tỉ đôla, nào là trạng thái ngoại tệ tại các ngân hàng không có đột biến, đồng chí Hưng kết luận rõ ràng luôn rằng diễn biến tỉ giá gần đây là do yếu tố tâm lý chứ không phải xuất phát từ mất cân đối cung cầu ngoại tệ.

Sai từ vừa vừa đến rất sai!
Sai vừa vừa vì yếu tố tâm lý đã hình thành từ lâu, chứ không phải đợi đến gần đây mới bộc lộ ra, mới bị cho rằng chỉ xuất hiện sau khi NHNN phá giá 1%. Yếu tố tâm lý hình thành từ lâu trên cơ sở, như tớ nói hôm trước, nhập siêu kinh niên, tỷ giá ổn định quá lâu trong khi lạm phát của Việt Nam quá cao so với các nước khác trong nhiều năm. Tâm lý càng dễ bị gây hoảng loạn/hoảng sợ hơn khi NHNN vừa trước đó cam kết không phá giá, nay lại phá giá (“điều chỉnh”), và chuyện này xảy ra không dưới ... trăm lần từ trước đến nay làm cho năng lực và uy tín của NHNN thành trò cười.

Rất sai, và ngụy biện, vì nếu cân đối ngoại tệ không xấu đi thì cớ gì NHNN phải phá giá, dù chỉ 1%, cho dù thừa biết phá giá, dù chỉ 1% cũng sẽ châm ngòi cho sự hoảng loạn?
Có nghĩa là, hoặc NHNN biết mình đang nói dối mà vẫn cứ phải trâng tráo tiếp tục, trong khi lý do thật sự nằm ở chỗ khác; hoặc rõ ràng cân đối ngoại tệ theo kiểu các đồng chí đang nói đến chẳng liên can mấy đến cái sự đi đâu về đâu của tỷ giá cả. Hoặc cũng có thể NHNN chẳng thể hiểu cái gì đang xảy ra, mình đã, đang và cần phải làm cái gì. Khả năng nào thì cũng cho thấy NHNN đang làm rất tồi công việc của mình, cả về khách quan và chủ quan.    

Rồi đồng chí Hưng lại còn khẳng định NHNN “không điều chỉnh” tỷ giá và sẽ kiên quyết ổn định tỷ giá. Nhưng tiếc rằng, rất tiếc rằng đồng chí Hưng lại nhắc lại rằng tỷ giá chỉ biến động 2%-3% trong cả năm. Nếu đã khẳng định không điều chỉnh, kiên quyết ổn định mà vẫn nói sẽ biến động vậy có nghĩa là hoặc một vài trong mấy khả năng sau: (i) khẳng định mà không chắc (có làm được hay không); (ii) khẳng định một đằng, (để rồi) làm một nẻo; (iii) khẳng định bừa (mục đích để trấn an dư luận là chính, hạ hồi phân giải); (iv) coi “không điều chỉnh” và “ổn định” tỷ giá có nghĩa tương đương với để cho tỷ giá biến động (tăng lên) nữa (từ nay đến cuối năm), là cái mà không thể hiểu được từ cách dùng tiếng Việt, buộc người ta phải đặt câu hỏi không biết đồng chí Hưng có giỏi tiếng Việt hay không.
Khả năng nào chăng nữa thì cũng chỉ có một hàm ý là hãy tiếp tục găm giữ USD vì NHNN chỉ biết/làm được đến thế thôi rồi sẽ phải buông, như đã từng chứng kiến nhiều, nhiều lần trước đây.

 
Gương mặt tiêu biểu thứ hai là của đồng chí Tiến sĩ  Trương Văn Phước. Trước khi viết tiếp, tớ phải phiền bạn đọc tìm giúp tớ đồng chí này lấy bằng TS ở đâu, vì đó là câu hỏi băn khoăn mãi của tớ từ trước đến nay, sau một đôi lần va vấp tranh luận với đồng chí này trên báo chí.
Cụ thể hơn, đồng chí TS Phước nói thế này: “Có một lý thuyết rất kinh điển về tỷ giá hối đoái là lý thuyết về bước đi ngẫu nhiên (Random Walk). Trong cơ chế tỷ giá hối đoái của Việt Nam có rất nhiều cách thức để điều hành trong bối cảnh chúng ta đã lựa chọn một cơ chế thả nổi có điều tiết. Có nhiều lựa chọn. Chúng ta có thể lựa chọn theo phương thức trườn bò của tỷ giá, có thể theo cách thức cố định trong một thời gian nào đó tỷ giá bình quân liên ngân hàng dựa trên một ngang giá trung tâm của tỷ giá hối đoái.”

Hiểu chết liền! Đúng là bước đi ngẫu nhiên có khác, đang từ lý thuyết về bước đi này nhảy một phát sang bàn về cơ chế tỷ giá ở Việt Nam mà (tớ) chẳng hề thấy mối quan hệ nào được nêu ra cả. Tớ nghiệm ra ở Việt Nam có đồng chí này và một số đồng chí khác như đồng chí Ngoạn, hay những khuôn mặt tương tự, rất sính dùng các thuật ngữ, lý thuyết đao to búa nhớn, thích trích dẫn, giảng giải (ấm ớ) về các nghiên cứu học thuật, sách vở, luận thuyết này kia.
Quay lại với bài của trả lời của đồng chí Phước. Bỏ qua cả đoạn dài sau đó từ “Vừa rồi NHNN thử nghiệm một cơ chế để cho tỷ giá hối đoái ổn định thông qua....” đến “Nhưng dù sao Ngân hàng Nhà nước cũng cần xem lại việc lựa chọn một cách thức để cho tỷ giá bình quân liên ngân hàng cố định trong một thời gian lâu sau đó điều chỉnh lên một mức nhất định, hoặc lựa chọn cách thức tỷ giá trườn bò từ từ”, mà tớ đọc chỉ thấy toát lên ý rằng điều chỉnh 1% là chưa đủ liều lượng, như gợi ý của phóng viên (thế mà vòng vo mãi).

Với câu hỏi có phải biến động tỷ giá là do đầu cơ của ngân hàng hay không, đồng chí Phước quầy quậy lắc đầu phủ nhận, với 2 lý do rằng:
(1) thế là sai luật và sẽ bị NHNN phát hiện, xử lý nghiêm túc.

Ô hay, đồng chí Phước không biết rằng đã có bao nhiêu vụ phạm luật của ngân hàng xảy ra hàng ngày hay sao? Chuyện báo chí nêu về mua bán ngoại tệ vượt trần trong ngân hàng khá công khai, chẳng nhẽ các ngân hàng không nhận thức được đó là phạm luật và sẽ bị phát hiện, xử lý hay sao? Sao họ vẫn cố tình làm? Mà đã như thế thì việc đầu cơ ngoại tệ cũng chỉ là chuyện nhỏ với họ thôi chứ, sợ gì?
(2) trước đây ngân hàng chuyển đổi từ USD ra VND để cho vay, giúp giảm lãi suất VND (là đáng khen), nay tỷ giá căng thẳng mà lãi suất VND liên ngân hàng thấp nên họ phải chuyển đổi ngược lại (nhu cầu rất chính đáng).

Hệ hệ, chí lí nhưng không đúng! Đầu cơ nó khác lắm ạ. Đầu cơ là mua gom USD để đó, đợi giá lên thêm mới bán (có thể là trong ngắn hạn), hiểu đơn giản là vậy. Nó không nhất thiết liên quan đến chuyện chuyển đổi đi, chuyển đổi lại như đồng chí Phước đang thuyết giảng. Nếu ngân hàng cho rằng tỷ giá sẽ còn tăng lên, ví dụ, 2% nữa trong tuần tới, tháng tới, thì chẳng có lý do gì mà họ không huy động VND (kể cả tăng thêm một chút lãi suất để dễ huy động) và mua gom USD rồi giữa trong vòng 1 tuần, 1 tháng nữa (trong thời gian đó họ vẫn cho vay số USD này) rồi sau đó bán lại để thu 2% lãi, trong khi lãi suất phải trả cho khoản VND huy động ban đầu chẳng đáng kể nếu tính theo năm, chưa kể lãi suất ngắn hạn thu được từ cho vay USD.
Tóm lại, tớ đã nói vài lần rồi về chuyện tỷ giá ở Việt Nam, thà cứ lẳng lặng mà làm, đừng có lên tiếng thanh minh thanh nga gì, cam kết với quyết tâm/quyết liệt gì, chỉ có tác dụng ngược mà thôi. Lực bất tòng tâm. Cả trí tuệ và thực lực chỉ có vậy thì đừng mong xoay chuyển được thời cuộc.

Monday, 8 July 2013

Chuyện cũ rích: giữ đôla hay VND?

Hôm nay cáo ốm, rách việc nên viết hơi nhiều, thêm cả chuyện này nữa. Mới mấy hôm trước tớ nói rằng tớ có ít lòng tin nên cứ giữ USD cho chắc ăn thay vì giữ VND vì sợ những cú "điều chỉnh" tỷ giá đột ngột như trước, làm cho việc gửi/giữ VND trở nên trò cười so với giữ USD. Hôm nay đọc báo thấy tỷ giá có lúc lên tới 22.000 mới thấy quả là mình không phải không có lý. Cho nên tớ đã nhiều lần nói rằng đừng có nghe những chuyên gia với chuyên vào, cả quan chức nữa rằng thì là giữ VND có lợi hơn vì lãi suất cao hơn, vì NHNN cam kết ổn định tỷ giá, rằng NHNN sẽ can thiệp, rằng biến động tỷ giá đó chỉ là nhất thời, bất thường vì cán cân ngoại hối thặng dư, vì dự trữ ngoại tệ đã tăng, vì cái nọ cái kia.

Chỉ riêng một chuyện là VND đã lên giá thực (real appreciation) so với USD quá nhiều, cộng với nhập siêu kinh niên, cũng đủ xui khiến người ta (nhất là những người có chút kiến thức kinh tế) giữ USD thay vì VND vì người ta biết thế nào rồi thì VND cũng sẽ bị phá giá về danh nghĩa, đơn giản vì sự thâm hụt và lên giá thực này không thể tồn tại mãi, bất chấp những lời quân sư quạt mo rằng thì là phá giá là, chỉ mang lại bất lợi cho nền kinh tế (học ở đâu ra mà đến nông nỗi thế không biết?).

Còn nếu ai vẫn muốn tin vào những phân tích quạt mo này thì cũng nên nhớ rằng Việt Nam đang phải nhờ cậy đến cả hệ thống công an để "ổn định" tỷ giá, mà bất cứ khi nào, cái gì mà cứ phải dùng đến công quyền để can thiệp thì có nghĩa là có gì đó rất bất ổn đằng sau, và một mình hệ thống công quyền thôi không đủ xử lý được những bất ổn đó. Cuối cùng thì cái gì của Cesar phải trả lại cho Cesar, thị trường (đen) sẽ điều chỉnh tất cả mà không một hệ thống công quyền nào có thể can thiệp thô bạo được.

Sunday, 7 July 2013

Đầu gấu - cá nhân và quốc gia

Hôm trước về Hà Nội công tác xong về quên không kể chuyện đầu gấu mà tớ là người trong cuộc. Chả là buổi chiều tối họp hành xong việc tớ hay ghé về nhà ăn cơm với các cụ và các anh em (sống quay quần xung quanh nhà các cụ). Hôm đó như thường lệ, ăn xong, đang chuyện gẫu với cô em nhà ngay đối diện qua con ngõ rộng độ 4m, thì thằng hàng xóm đánh ô tô lùi ra. Vướng mấy cái xe máy dựng trước cửa nhà cô em nhưng thằng này - gần đây làm ăn phát đạt nên phát tướng, cắt đầu đinh, chơi với toàn lũ bạn cũng tương tự, trông (và thực tế) rất đầu gấu, chửi bới hàng xóm bất kể già trẻ - phát huy tính đầu gấu nên cứ ngồi trên xe bấm còi. Cô em cũng dạng đầu gấu làng nên tức, kệ không thèm ra dắt xe máy dọn đường cho nó đi qua. Thế là thằng đầu gấu ngõ lùi xe sát vào cửa nhà cô em, làm vỡ mất viên đá lát bậc tam cấp. Cô em lên tiếng, nó thò mặt ra khỏi ô tô hỏi thách đố, đại loại vỡ rồi thì sao, làm gì nó v.v...

Tớ đứng đó, lúc đầu cũng run như cầy sấy vì điệu bộ đầu gấu ngõ của thằng hàng xóm, chỉ phụ họa yếu ớt theo cô em để phản kháng một cách rất ngoại giao, vốn là tính cách không phải là bản chất của tớ mà là tớ học lỏm được từ thiên hạ sau mấy chục năm vào đời. Sau thấy thằng hàng xóm này làm càn quá, tự nhiên tớ hăng máu lên (nói thêm là tớ từ nhỏ đến lúc trước khi đi Nhật khai hóa văn minh đã gây sự, đánh, chửi nhau với cả xóm, để các đồng chí rõ tại sao tớ lại như bây giờ nhé), ra đứng trước mặt thằng này quyết ăn thua với nó. Nó đang lèm bèm chửi đ.m đ. cha, tớ hỏi lại: "Mày chửi đ.m ai đấy hở thằng ôn con? Mày định làm đầu gấu ở cái xóm này à?" Thằng kia vẫn hùng hổ nhưng lại nói: "Tôi đ/éo chửi anh". Haha, tớ biết thóp thằng này là con hổ giấy rồi, bèn cũng hùng hổ xông tới, làm bộ quyết làm ra lẽ phải trái với nó. Thế rồi hàng xóm và người nhà 2 bên xông ra ngăn cản, làm tớ phải rất hậm hực vì không có dịp dạy cho nó bài học :). Còn thằng kia thì chắc lần đầu tiên (ít ra là ở cái xóm này) gặp một thằng dám đối mặt với nó (tuy già hơn và nhẹ cân hơn nó nhiều) nên chắc nó lần sau cũng phải lịch sự hơn với hàng xóm.

Chuyện cá nhân tớ là vậy, nhưng suy ra chuyện quốc gia chắc cũng không khác là mấy. Nếu đã biết thằng hàng xóm chỉ là con hổ giấy, hoặc ít ra thấy nhục quốc thể quá không thể chịu được thì sự phản kháng (có vẻ) là quyết liệt không hiếm khi được việc. Nếu tớ và người nhà tớ mà nhún, sợ thì có lẽ thằng hàng xóm lần sau còn cán cả vào cửa nhà hoặc lên xe máy dựng ở cửa nữa chứ chẳng chơi. Suy ra cả nước thì cũng chắc thế thôi.

Sunday, 30 June 2013

Cập nhật thêm về TPP và chuyện linh tinh

1. Tớ vừa quay trở về sau mấy ngày đi Hà Nội điều nghiên chuyện TPP và implications cho ngành dệt may Việt Nam. Trong các địa chỉ tớ đến gặp hỏi chuyện có một vài tổ chức chính phủ và phi chính phủ của Mỹ, bên cạnh các tổ chức và doanh nghiệp của Việt Nam. Một trong những kết luận nhanh rút ra từ chuyến đi này là Việt Nam vẫn cứ là Việt Nam, vẫn tự cho mình là rất quan trọng, rất đáng kể để các bên nước ngoài, nhất là Mỹ phải lôi kéo vào vòng ảnh hưởng của mình, dùng đủ cà rốt để lấy lòng Việt Nam. Mang điều này confirm lại với phía Mỹ thì chỉ nhận được cái lắc đầu quả quyết! Rõ nản, giá mà có cách gì truyền đạt lại lời phủ nhận này đến những nơi có thẩm quyền, có liên quan ở Việt Nam để họ tỉnh lại, thực tế hơn, khôn ngoan hơn trong đàm phán thì tốt quá nhỉ. Chứ với cái tinh thần lạc quan cách mạng, quả cà với mo cau tiến lên chủ nghĩa xã hội như hiện nay thì có mà tiến lên thiên đường sớm!

2. Tuy bận rộn với chuyện đi lại, họp hành nhưng tớ vẫn ghé mắt qua tình hình thời sự ở Việt Nam, trong đó có chuyện "điều chỉnh" tỷ giá VND. Chuyện này với tớ bây giờ quá nhàm rồi, vì đã nói mãi rồi, chỉ "băn khoăn" tại sao người ta vẫn không dám dùng cụm từ "phá giá" để phản ánh đúng bản chất của sự việc. Phá giá rồi, dù chỉ là 1% (chắc chỉ là một bước trong nhiều bước phải đi trong năm nay và năm sau?), nay nhìn lại những lời phát biểu của mấy đồng chí chuyên gia, quan chức và quân sư quạt mo ở các nơi mới thấy đúng là mấy cái lưỡi không xương, mấy cái đầu rỗng tuyếch, cho dù có một số người ma lanh hơn khi nói kiểu nước đôi "không phá giá" nhưng "chỉ điều chỉnh" để tỷ giá biến động khoảng 3% trong năm nay v.v...

3. Bản thân tớ có it tiền tiết kiệm còm, muốn chuyển về Việt Nam để mua cái lều làm chỗ trú chân nếu sau này có phải hồi hương vì thất nghiệp. Nhưng tính toán dại dột thế nào đó mà tớ cứ toàn chuyển hết qua USD và gửi hoặc ngân hàng, hoặc người thân để họ kinh doanh, sau đó khi mua thì mới chuyển ra VND, kể ra cũng (có thể) thiệt hại kha khá vì giá nhà hay lều thì cũng vậy, người bán thường chào bằng VND. Cũng nhiều người khuyên hay băn khoăn hỏi tớ, tại sao lại không gửi/giữ bằng VND cho lợi hơn. Tớ cũng chịu, chẳng biết trả lời ra sao, chỉ hỏi lại một cách rất yếu ớt được mỗi câu: Thế khi độp một phát NHNN phá giá tới cả gần chục % như năm 2011 (mặc dù trước đó cam kết rất mạnh, cũng chẳng kém bây giờ là mấy) thì sao?

Thôi, vì lòng tin của tớ mong manh nên cứ giữ USD cho lành, dù có thể thiệt (một tí hay vô khối). Các đồng chí có tiền chắc phải nên trả lời được câu hỏi của tớ rồi hay quyết định giữ cái gì nhỉ?

Monday, 17 June 2013

TPP

Tớ bận rộn cả tháng nay về vấn đề này, đã và đang đi công tác để tìm hiểu thêm về nó và hàm ý đối với Việt Nam. Phỏng vấn một số đối tượng từ công ty dệt, may trong nước và FDI, ngân hàng, công ty chứng khoán, tổ chức nước ngoài, hội thảo quốc tế v.v... ở Sài Gòn, tớ mới rút ra một số nhận xét ban đầu (một phần) như sau:

1. Đa phần giới lãnh đạo các doanh nghiệp dệt may VN (các doanh nghiệp lớn) quả là làm cho tớ ngạc nhiên về tầm hiểu biết của họ. Nhiều trong số này là các doanh nghiệp nhà nước (nay đã cổ phần hóa) nhưng người lãnh đạo làm cho tớ khá thích thú và cám ơn khi được nói chuyện với họ vì biết thêm nhiều góc cạnh mà chẳng đọc được ở đâu cả, trái với ấn tượng không mấy tốt của tớ về đồng nghiệp của họ ở các doanh nghiệp nhà nước khác. Tự nghĩ những người thế này mà không làm doanh nghiệp ăn nên làm ra mới là điều lạ.

2. Ngược lại, một số doanh nghiệp FDI, kể cả ngân hàng trong nước, và tổ chức nước ngoài làm cho tớ sốc khi hầu như họ không có mấy khái niệm về TPP và các tác động của nó, để tớ phải nói tóm tắt cho họ hiểu nó là cái gì rồi từ đó tớ mới gợi mở họ về những chuyện liên quan, nhất là tình hình hoạt động của ngành và doanh nghiệp của họ. Tớ buộc phải tự suy đoán lý do. Có lẽ một phần do những doanh nghiệp và ngân hàng này đã đặt chân trong ngành, vào VN đã lâu, có mối quan hệ khách hàng ổn định và/hoặc khách hàng cần họ chứ họ không cần khách hàng. Phần còn lại có lẽ là do ít đọc, ít trao đổi, không quan tâm (mặc dù là vấn đề lớn, có ảnh hưởng trực tiếp đến business của mình), cho rằng đó là chuyện vĩ mô, của nhà nước, của ai đó chứ không phải của mình.

3. Cái nhìn về TPP ở phía cơ sở và từ bên thứ 3 thực ra không lạc quan như chính phủ, mấy chuyên gia, mấy ông công chức ngồi tại các hiệp hội phán và tin tưởng. Nhiều người bày tỏ mối hoài nghi và liên hệ với chuyện WTO. Lãnh đạo các doanh nghiệp dệt may mà tớ gặp thì có cái nhìn khách quan hơn, thiết thực hơn, chỉ ra một số lĩnh vực có thể làm được và làm đến đâu... chứ tình hình không hẳn một mầu hồng như người ta vẫn nói trên đài báo, tính toán và trích dẫn tùm lum v.v... Có cả những chuyện thuộc "thâm cung bí sử" mà chỉ có người trong cuộc mới nói được, không nên nói ra với người ngoài mà cuối cùng lại nói với tớ, đến nỗi mấy đồng chí Nhật cứ hỏi tớ làm thế nào mà moi được những chuyện như vậy.... Chuyện, thế mới là tớ!

4. Tóm lại, tớ vẫn tiếp tục hành trình điều nghiên, thẩm vấn và viết lách của mình trong tháng này, hy vọng rút ra được một cái nhìn toàn diện hơn, từ nhiều góc độ liên quan đến TPP. Đồng chí bạn đọc nào có ý kiến đóng góp gì, có nhã ý giúp tớ thì cho tớ biết ngay với nhé, vô cùng đa tạ.




Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).