Monday, 22 February 2016

Những hiểu nhầm tai hại về các hiệp định thương mại tự do (Bài đăng trên CafeF, 22/2/2016)

http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/nhung-hieu-nham-tai-hai-ve-cac-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-20160222144740785.chn

Việc Việt Nam tích cực hội nhập nền kinh tế thế giới thông qua ký kết hàng loạt thỏa thuận thương mại tự do với các quốc gia và khu vực (FTA) đã nhận được sự đồng thuận rộng rãi trong công luận bởi những lợi ích tiềm năng to lớn mà chúng mang lại cho nền kinh tế Việt Nam. Tuy vậy, cũng không tránh khỏi có một bộ phận vẫn tỏ ý hoài nghi vào những lợi ích này để rồi đòi hỏi phải có sự nhìn nhận lại mục đích và ý nghĩa của việc tiếp tục mở rộng hội nhập. 

Điều đáng nói là không ít trường hợp những hoài nghi này xuất phát từ sự hiểu nhầm về bản chất của các FTA.

Một trong những hiểu lầm lớn nhất về TPP là TPP thậm chí có thể làm giảm sút xuất khẩu của Việt Nam sang các nước thành viên bởi song song với lộ trình giảm dần thuế xuất nhập khẩu về 0%, các quốc gia cũng đồng thời dựng lên các rào cản kỹ thuật (TBT) để xiết chặt hơn hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam về các vấn đề như chất lượng hay giá cả.
Điều này là sai, đơn giản vì các nước thành viên khi muốn dựng lên TBT mới thì phải tuân thủ những quy định chặt chẽ trong các FTA này, chứ không phải muốn dựng lên cái gì thì dựng, muốn dựng lên lúc nào thì dựng.

Ví dụ trong TPP có hẳn một chương, Chương Hàng rào Kỹ thuật trong Thương mại, có những quy định cụ thể liên quan. Mục đích của Chương này là xóa bỏ mọi rào cản kỹ thuật không cần thiết trong thương mại, củng cố minh bạch, và thúc đẩy hợp tác pháp lý và thông lệ pháp lý đúng đắn ở mức độ cao hơn.

Chẳng hạn, để ngăn các nước thành viên lạm dụng TBTkhi bắt buộc nhà nhập khẩu phải có chứng nhận tuân thủ điều kiện kỹ thuật để được nhập khẩu, TPP không cho phép nước sở tại yêu cầu cơ quan cấp chứng nhận tuân thủ này phải có hoạt động kiểm tra chứng nhận này tại nước sở tại, hay phải có văn phòng tại nước sở tại. Thêm nữa, các nước thành viên cũng phải trả lời cho một tổ chức chứng nhận tuân thủ hoạt động trong lãnh thổ nước sở tại rằng tổ chức này có đáp ứng được các điều kiện để cấp chứng nhận tuân thủ mà nước sở tại đặt ra hay không khi tổ chức này có yêu cầu.

Những quy định này ra đời từ thực tế rằng các nước thành viên FTA đã dùng TBT như một rào cản ngăn hàng hóa của nước khác thâm nhập vào lãnh thổ của mình bằng việc yêu cầu nhà nhập khẩu phải có giấy chứng nhận tuân thủ điều kiện kỹ thuật, nhưng giấy chứng nhận này lại phải do cơ quan có thẩm quyền của nước thành viên cấp, và vì thế nhiều lúc bị các cơ quan này làm khó, chậm trễ hoặc từ chối cấp phép, làm họ không nhập khẩu hàng hóa vào nước sở tại được. Với những quy định trong TPP có liên quan, nhà nhập khẩu có thể dùng giấy chứng nhận do một tổ chức được phép cấp chứng nhận ở nước ngoài để được chứng nhận rằng đã đáp ứng yêu cầu về tuân thủ kỹ thuật do nước sở tại đặt ra, và do đó không còn bị TBT làm khó dễ như trước đâ
y.
Hiểu nhầm thứ hai về các FTA là gần đây có hàng loạt vụ việc về hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam bị trả lại và đây được coi là một bằng chứng rõ ràng cho thấy nguy cơ cao rằng các nước thành viên FTA có nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam sẽ tích cực lạm dụng TBT như là một biện pháp ngăn chặn hữu hiệu sự xâm nhập của hàng hóa từ Việt Nam khi các FTA ký kết giữa họ với Việt Nam có hiệu lực, dẫn đến giảm hoặc xóa bỏ thuế quan nhập khẩu từ Việt Nam, làm cho nhập khẩu từ Việt Nam có xu hướng tăng lên tác động tiêu cực đến sản xuất nội địa của họ.

Như đã nói, thông thường các FTA có các điều khoản quy định chặt chẽ về áp dụng TBT, ngăn ngừa các nước thành viên lạm dụng TBT để cản trở xuất khẩu của các nước thành viên khác vào lãnh thổ của mình. Bởi vậy, và thực tế là các vụ việc trả về hàng nhập khẩu từ Việt Nam chủ yếu là kết quả của các TBT hiện thời đang có hiệu lực, chứ không phải là TBT mới, được dựng lên sau này.

Hầu như bất kể vụ việc nào đều rành rành có lỗi cố ý, gian dối của phía nhà xuất khẩu Việt Nam, lúc thì có hàm lượng tồn dư kháng sinh và tạp chất quá mức, lúc thì nhiễm khuẩn, chứa các hóa chất độc hại quá ngưỡng cho phép, hoặc lúc thì bị mạ băng quá nhiều so với yêu cầu của nhà nhập khẩu v.v… Nói cách khác, với những loại hàng hóa thứ cấp, nguy hại như vậy thì việc bị nhà nhập khẩu loại là đương nhiên và thích đáng, không có gì là oan uổng, đáng phàn nàn ở đây cả. Tất nhiên, nếu cảm thấy bị oan ức thì nhà xuất khẩu Việt Nam, và kể cả cơ quan quản lý của Việt Nam, có thể mang vấn đề này ra khiếu nại ở các tổ chức hữu quan được quy định rõ ràng trong các FTA, chứ hoàn toàn không có chuyện nước sở tại muốn quyết định số phận hàng nhập khẩu từ Việt Nam như thế nào thì họ cứ thế mà làm.

Hiểu nhầm thứ ba về các FTA là các FTA này chỉ có tác dụng thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam sang các nước thành viên một cách gián tiếp, chủ yếu là nhờ có các quy định về thúc đẩy và kích thích thương mại thông qua đó khuyến khích nhà sản xuất, xuất khẩu Việt Nam tăng cường đầu tư để giảm giá thành, nâng chất lượng sản phẩm, cải thiện được tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu của Việt Nam. Chứ còn bản thân việc hạ hoặc xóa bỏ thuế quan chỉ có tác dụng nâng giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu của Việt Nam (do không còn phải nộp thuế nhập khẩu như trước), và không trực tiếp làm tăng sản lượng xuất khẩu của Việt Nam.

Lập luận trên đã bỏ qua hoặc xem nhẹ tác động lớn nhất và quan trọng nhất của FTA là giảm/miễn thuế sẽ trực tiếp làm tăng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu so với hàng sản xuất trong nước, từ đó kích thích nhà xuất khẩu nước ngoài (ví dụ, từ Việt Nam) gia tăng xuất khẩu vào nước sở tại (ví dụ, Mỹ).

Ví dụ, trước đây nhà xuất khẩu Việt Nam bán 1 cái áo sơ mi với giá 10 USD vào Mỹ, trong đó có 1 USD là tiền thuế và 1 USD là lợi nhuận ròng. Nay với TPP, nhà sản xuất và xuất khẩu Việt Nam được miễn khoản 1 USD này, nên có thể để mức giá bán mới là 9,2 USD, và sẽ thu tổng cộng là 1,2 USD lợi nhuận so với 1 USD lợi nhuận như trước đây. Người mua ở Mỹ trước đây phải mua với giá 10 USD, nay thấy phía Việt Nam hạ giá xuống chỉ còn 9,2 USD nên thay vì mua 1 cái áo như trước đây thì nay mua luôn 1,1 cái áo từ phía Việt Nam do thấy hàng đã hạ giá (đồng thời giảm mua 0,1 cái áo từ trong nước hay từ các nước khác khi giá ở đó vẫn giữ nguyên). Như vậy là cả 2 bên đều có lợi. Chỉ có ngân sách của Mỹ là thiệt vì đã thất thu thuế, còn doanh nghiệp dệt may của Mỹ và của các nước đối thủ của Việt Nam như Cambodia và Bangladesh thì mất bớt đơn hàng vào tay doanh nghiệp Việt Nam.

Nói cách khác, TPP đã trực tiếp làm lợi cho nhà xuất khẩu Việt Nam khi vừa bán được nhiều hơn, lại bán được với giá cao hơn, chứ không đúng như lập luận bên trên rằng xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ không tăng lên được nhờ giảm/miễn thuế nhập khẩu.
Chưa hết, Việt Nam bán được nhiều hơn với giá cao hơn nên càng có động lực và điều kiện để giảm giá thêm nữa, nhờ kinh tế quy mô và nhờ tái đầu tư lợi nhuận gia tăng vào hợp lý hóa sản xuất để cắt giảm chi phí…, nên xuất khẩu của Việt Nam càng có nhiều cơ hội tăng trưởng, lấn át các doanh nghiệp nội địa của Mỹ cũng như của các nước xuất khẩu phi thành viên TPP vào Mỹ.

Cũng bởi những lý do này mà không chỉ nhiều doanh nghiệp trong ngành dệt May của Mỹ đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ TPP mà ngay cả những nước xuất khẩu dệt may lớn khác trong khu vực như Pakistan, Bangladesh, Cambodia và Myanmar gần đây cũng đã phải bày tỏ lo ngại sâu sắc về việc doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ lấy đi công ăn việc làm trong ngành này của họ.

Friday, 19 February 2016

Lãi suất: Kỳ vọng năm 2016 (Bài đăng trên TBKTSG, 19/2/2016)

http://www.thesaigontimes.vn/142376/Lai-suat--Ky-vong-nam-2016.html

Lãi suất huy động đã có chiều hướng tăng ở nhiều ngân hàng thương mại cổ phần và cả ngân hàng có vốn của nhà nước từ nửa năm sau 2015 và đặc biệt là vào những tháng cuối năm, làm tăng áp lực lên lãi suất cho vay từ hệ thống ngân hàng cho các doanh nghiệp trong nước.

Tuy vậy, ngày 24-12-2015, trong cuộc họp báo tổng kết hoạt động ngành ngân hàng năm 2015, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) lại cho biết: “Mặt bằng lãi suất thị trường tiếp tục giảm 0,2-0,5% qua đó hỗ trợ tích cực cho hoạt động sản xuất kinh doanh”.

Tiếp đó, tại hội nghị triển khai nhiệm vụ ngành ngân hàng năm 2016 tổ chức ngày 25-12-2015, NHNN cho biết thêm rằng: “Mặt bằng lãi suất cho vay giảm khoảng 0,3-0,5%/năm so với cuối năm trước, đưa mặt bằng lãi suất giảm khoảng 50% so với thời điểm cuối năm 2011”.


Những tín hiệu trái chiều

Cả hai thông điệp trên đều tạo ra cảm giác rằng năm 2015 lãi suất cho vay đã thực sự giảm nhiệt so với năm 2014 nhờ những giải pháp điều hành tiền tệ đồng bộ của NHNN (không nói đến so sánh khá kỳ khôi của NHNN giữa lãi suất của năm 2015 với lãi suất của năm 2011 là năm có lãi suất rất cao do lạm phát cũng ở mức rất cao).

Trong khi đó, nhìn từ các yếu tố cơ sở hình thành nên lãi suất thì thấy đã có những yếu tố lẽ ra làm lãi suất năm 2015 phải tăng hơn so với năm 2014.

Về phía cung tiền, NHNN cho biết tổng phương tiện thanh toán đến ngày 21-12-2015 tăng 13,55% so với cuối năm 2014. Về phía cầu tiền, tăng trưởng tín dụng tăng 17,02% so với cuối năm 2014. Hai con số tương ứng này vào năm 2014 là 15,65% và 14,16% so với cuối năm 2013.

Như vậy, có thể thấy rõ rằng trong khi cung tiền đã giảm mạnh trong năm 2015 (từ 15,65% năm 2014 xuống còn 13,55% năm 2015) thì cầu tiền lại tăng mạnh trong năm 2015 (từ 14,16% năm 2014 lên 17,02% năm 2015). Từ thực tế diễn biến ngược chiều của cung và cầu tiền theo hướng cung tiền bị thắt chặt hơn còn cầu tiền thì được nới lỏng hơn như thế, lẽ ra lãi suất năm 2015 đã phải tăng so với năm 2014, ngược lại với kết luận của NHNN đưa ra bên trên.

Thêm nữa, thực tế diễn biến tăng lên của lãi suất huy động của hệ thống ngân hàng trong những tháng cuối năm 2015 cũng chính là hệ quả của việc mất cung cầu về tiền như vậy. Trong bối cảnh lãi suất huy động tăng trong năm 2015 thì lẽ ra lãi suất cho vay cũng bị chịu áp lực tăng, chứ khó có thể giảm như NHNN công bố.

Nếu cố gắng tìm một yếu tố nào đó có thể giải thích được việc lãi suất cho vay đã thực sự giảm đi như NHNN công bố thì đó chỉ có thể là tỷ lệ nợ xấu đã giảm đi (bên cạnh các biện pháp mang tính hành chính, ví dụ như yêu cầu các tổ chức tín dụng rà soát giảm lãi suất cho vay các khoản vay cũ theo lãi suất hiện hành, duy trì trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng tiền đồng...).

Cũng theo NHNN, tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng đã giảm đáng kể trong năm 2015, từ 3,22% tính đến hết tháng 12-2014 xuống còn 2,72% tính đến 30-11-2015. Theo lý thuyết, các ngân hàng thương mại không cần phải giữ chênh lệch giữa lãi suất huy động và cho vay lớn như trước đây mà vẫn bảo toàn được lợi nhuận nhờ cắt giảm được chi phí dự phòng nợ xấu. Nhờ cắt giảm nợ xấu nên mặc dù lãi suất huy động tăng nhưng lãi suất cho vay vẫn có dư địa để giảm đi. Dẫu vậy, ảnh hưởng của yếu tố này là không rõ ràng vì không có nhiều ngân hàng có thiện chí, chủ động cắt giảm lãi suất cho doanh nghiệp vay theo kiểu “làm từ thiện” nếu cầu tín dụng vẫn còn quá lớn như hiện tại.

Và rất tiếc là vẫn chưa có báo cáo nào cho thấy mức chênh lệch cho vay và huy động trung bình trong toàn hệ thống đã giảm đi trong năm 2015 so với năm 2014 để làm hậu thuẫn cho công bố của NHNN về chuyện mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm.

Trên hết, cần lưu ý rằng nợ xấu giảm mạnh (trên sổ sách và báo cáo) có phần lớn nguyên nhân là do các ngân hàng đã tăng trích lập dự phòng và dùng đó để xử lý nợ xấu. Điều này có nghĩa là tỷ lệ nợ xấu giảm đã đi kèm theo cái giá phải trả là lợi nhuận ngân hàng bị bào mòn, càng làm cho các ngân hàng không có động cơ (tự nguyện) cắt giảm lãi suất cho vay nhằm đảm bảo tỷ suất lợi nhuận không bị suy giảm, và do đó càng khó có cơ sở để đồng thuận rằng mặt bằng lãi suất đã giảm đi trong năm 2015.

Kỳ vọng mặt bằng lãi suất tương tự năm 2015


Trong năm nay, NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng lên tới 18-20%, có lẽ là tương ứng với mục tiêu tăng trưởng GDP cao hơn so với năm 2015. Về phía cung, NHNN không đưa ra dự báo tốc độ tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán trong năm 2016. Ngoài ra, NHNN cũng cho biết thêm một số định hướng về các biến số khác liên quan đến lãi suất trong năm nay, đó là giữ ổn định trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng tiền đồng, yêu cầu các tổ chức tín dụng tiếp tục rà soát giảm lãi suất cho vay các khoản vay cũ về mức lãi suất cho vay hiện hành, phối hợp với chính sách tài khóa để kiểm soát lạm phát ở mức dưới 5%...

Từ những dữ liệu hữu hạn nói trên có thể thấy NHNN đã để ngỏ biến động của tỷ giá, một trong những biến số quan trọng nhất liên quan đến lãi suất. NHNN đã chuyển sang cơ chế tỷ giá mới linh hoạt, không còn những cam kết “cứng” về mức biến động cho phép trong cả năm như trước đây nên tỷ giá hoàn toàn có khả năng tăng mạnh hơn (tiền đồng mất giá mạnh hơn) trong năm nay so với năm 2015. Như vậy, kết hợp với lạm phát mục tiêu đứng ở mức khá lớn, ở ngưỡng 5%, so với lạm phát thực tế năm 2015, NHNN sẽ có khá nhiều dư địa để tăng cung tiền nhằm theo đuổi mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao hơn.

Lưu ý rằng yếu tố tích cực tạo hậu thuẫn cho việc giảm lãi suất cho vay (nếu có) trong năm 2015 - giảm tỷ lệ nợ xấu - sẽ không còn nhiều dư địa để phát huy tác dụng trong năm nay. Bởi tỷ lệ nợ xấu, theo báo cáo, hiện đã ở mức thấp, dưới cả mức mục tiêu 3% mà NHNN đặt ra trước đây. Do đó, việc tiếp tục hạ thấp thêm tỷ lệ nợ xấu trong năm nay sẽ vừa không dễ thực hiện, vừa gây cản trở đến khả năng tăng trưởng tín dụng vì các ngân hàng thương mại sẽ phải thận trọng trong cho vay hơn nữa. Nếu có giảm được áp lực tăng lãi suất cho vay từ khía cạnh này thì chỉ có thể là do việc giải quyết nợ xấu từ VAMC được tăng cường, nhờ đó một phần nợ xấu được phục hồi và hoàn trả lại cho các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, còn quá sớm để kỳ vọng một bước ngoặt về vấn đề này ngay trong năm nay, và trong khi đó, các ngân hàng thương mại vẫn tiếp tục phải trích lập dự phòng 20% giá trị nợ xấu như năm 2015.

Tóm lại, mặt bằng lãi suất năm 2016 này diễn biến thế nào so với năm 2015 chủ yếu phụ thuộc vào tốc độ tăng cung tiền bao nhiêu so với năm 2015 mà không phá vỡ mục tiêu lạm phát 5%. Đến đây, một yếu tố quan trọng khác xuất hiện - giá dầu và giá hàng hóa cơ bản thế giới. Nếu giá cả những hàng hóa cơ bản này vọt tăng trở lại và đứng ở mức cao thì lạm phát ở Việt Nam sẽ chịu thêm áp lực tăng, bên cạnh yếu tố tăng cung tiền. Nhưng hiện tại khả năng này là tương đối thấp nên nhìn chung vẫn có thể kỳ vọng một mặt bằng lãi suất tương tự như năm 2015, với xác suất nhỏ hơn cho khả năng lãi suất giảm đi so với năm 2015, và xác suất nhỏ hơn nữa cho khả năng lãi suất tăng lên so với năm 2015.

Thursday, 18 February 2016

Đừng bi kịch hóa chuyện thâu tóm doanh nghiệp Việt của người Thái! (Bài đăng trên CafeF, 18/2/2016)

http://cafef.vn/doanh-nghiep/dung-bi-kich-hoa-chuyen-thau-tom-doanh-nghiep-viet-cua-nguoi-thai-20160218100004008.chn

Tin tức liên tiếp về việc người Thái đã và đang thâu tóm hoàn toàn hoặc một phần nhiều doanh nghiệp Việt như C.P Việt Nam, Red Bull, Prime Group, Nhựa Tiền Phong, Nhựa Bình Minh, Bao bì nhựa Tín Thành, và đặc biệt là hệ thống bán lẻ của Việt Nam như Big C, chuỗi siêu thị Familiy Mart, Metro Việt Nam hay hệ thống điện máy Nguyễn Kim… đã làm dấy lên một làn sóng lo ngại sâu rộng trong công luận về những tác động tiêu cực của trào lưu thâu tóm này lên nền kinh tế Việt Nam.

Tác động tiêu cực được lo ngại nhiều nhất là việc hàng Việt sẽ bị lấn lướt và gạt bỏ khỏi hệ thống bán lẻ bị chi phối bởi người Thái. Lúc đó, người Thái có thể lũng đoạn thị trường Việt Nam do đã nắm cả chuỗi giá trị từ sản xuất đến phân phối hàng hóa tại Việt Nam.

Một tác động tiêu cực đáng kể thứ hai hay được nhắc đến trước đây là các thương hiệu Việt một thời là niềm tự hào của người Việt sẽ dần biến mất khỏi thị trường và nền kinh tế Việt Nam sẽ chẳng còn lại gì đáng kể là của riêng mình mà chỉ đơn thuần là một nền kinh tế gia công cho những thương hiệu nước ngoài.

Tác động tiêu cực thứ ba là tình trạng “miếng ngon cho người hưởng”, khi các doanh nghiệp bị thâu tóm thường là những doanh nghiệp đình đám trong ngành, nắm những lợi thế lớn, khả năng sinh lợi cao, nên khi bị thâu tóm vào tay người Thái thì đương nhiên người Thái sẽ được hưởng nguồn lợi đó. Lợi nhuận tạo ra sẽ được chuyển về Thái Lan và Việt Nam chẳng được hưởng gì đáng kể.

ất cả những lo ngại trên đều vô lý, bị phóng đại, bi kịch hóa quá mức. Do đó, những kết luận kiểu như cần thận trọng với việc mua lại doanh nghiệp của người Thái v.v… không những là vô lý, không phải ái quốc gì cả, mà còn có thể gây ra những tác hại lớn như phong trào “nói không” với người/hàng Thai…

Về tác động tiêu cực đầu tiên, có mấy điểm vô lý.


Vô lý thứ nhất, người Thái dù có nắm được Big C, Family Mart, Metro, và Nguyễn Kim, và dù những doanh nghiệp, những siêu thị này có quy mô lớn, nhưng chúng không phải là tất cả trong nền kinh tế Việt Nam, trong ngành của chúng. Bởi vậy, dù có muốn lũng đoạn, chi phối ngành tương ứng nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung thì người Thái cũng không thể chi phối được. Bên cạnh chúng còn có nhiều doanh nghiệp, nhiều hệ thống siêu thị khác của nội địa và nước ngoài cùng cạnh tranh với chúng. Kết hợp với cả cửa nhập khẩu rộng mở thì một số doanh nghiệp của người Thái, bị chi phối bởi người Thái cũng không thể “một mình một chợ”, ví dụ, tự tung tự tác tăng giá vô tội vạ.
Chưa nói đến thực tế rằng nhiều trong số các doanh nghiệp, các siêu thị này chỉ có một phần sở hữu là thuộc người Thái (và có cả sở hữu không chi phối). Như thế có nghĩa là người Thái chỉ là ông chủ một phần của nhiều doanh nghiệp Việt Nam và do đó không thể muốn quyết gì, làm gì thì làm. Đây cũng chính là lý do và kết quả của việc đàm phán mở cửa trong hội nhập giữa Việt Nam với các nước khác khi nhà đàm phán Việt nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống phân phối trong nền kinh tế.
Vô lý thứ hai, hàng Việt có bị lấn lướt, có bị loại ra khỏi hệ thống bán lẻ hay không phụ thuộc phần lớn vào tính cạnh tranh của hàng Việt (so với hàng Thái), chứ không phải tại vì hệ thống bán lẻ rơi vào tay người Thái. Một số siêu thị rơi vào tay người Thái thì điều này cũng chỉ có tác dụng tích cực phần nào lên tính cạnh tranh của hàng Thái so với hàng Việt chứ không phải là tất cả, tương tự như việc người Thái mở thêm showroom, điểm giới thiệu, xúc tiến thương mại cho hàng Thái mà thôi. Một ví dụ theo chiều ngược lại là người Trung Quốc chẳng cần thâu tóm chuỗi siêu thị (lớn) nào của Việt Nam mà hàng Tầu vẫn cứ len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, đè bẹp không chỉ nhiều loại hàng Việt mà còn cả hàng Thái. Nói như vậy để tránh sự nhập nhằng, để đừng có đổ lỗi (nếu có) cho việc hàng Việt bị lấn lướt bởi hàng Thái là do người Thái thâu tóm hệ thống phân phối, bán lẻ của Việt Nam. Điều này chẳng khác gì cứ đau bụng là đổ lỗi do ngộ độc thức ăn.
Vô lý thứ ba, nên nhớ rằng nhiều siêu thị, doanh nghiệp nêu trên vốn từng là của người nước ngoài (có vốn nước ngoài) chứ không phải là (hoàn toàn) của người Việt. Do đó, việc sang tên đổi chủ về nguyên tắc cũng chẳng làm hại hay lợi gì hơn cho người Việt nếu cho rằng một khi các siêu thị, doanh nghiệp này nằm trong tay người nước ngoài thì sẽ tác động tiêu cực đến Việt Nam.
Vô lý cuối cùng, ông chủ mới người Thái có cố tình chọn phân phối hàng Thái thay vì hàng Việt trong hệ thống siêu thị họ thâu tóm thì đó chủ yếu là vì họ, với tư cách là các chủ doanh nghiệp theo đuổi lợi nhuận tối đa, thấy hàng Thái đem lại lợi nhuận cao hơn cho họ, chứ chẳng phải vì họ có tinh thần yêu nước, “đem chuông đi đánh xứ người”. Mà nếu đúng như vậy thì cho dù vẫn còn nằm trong tay người Việt thì không điều gì ngăn cản ông chủ Việt chuyển sang phân phối hàng Thái thay vì hàng Việt để đạt lợi nhuận cao hơn như cách người Thái (được cho là) sẽ làm hiện nay. Điều ngăn cản các ông chủ Việt đã không làm vậy trước đây có lẽ là vì đa phần hàng Việt vẫn mang lại lợi nhuận nhiều hơn mà thôi. Và rốt cuộc, câu chuyện lại trở lại điểm xuất phát, tự thân tính cạnh tranh, sinh lợi của hàng Việt mới quyết định số phận “đi hay ở” của chúng tại các siêu thị, chứ không phải ai là ông chủ của các siêu thị này.
Về tác động tiêu cực thứ hai, điều này đã được người viết chỉ ra điểm vô lý trước đây, và vì thế đã không còn được mấy người nhắc đến gần đây nữa. Tuy nhiên, cũng cần thiết phải nhắc lại thêm một chút ở đây để nó không tiếp tục tái diễn sau này. Đó là người Thái (hay người nước ngoài khác) mua lại các thương hiệu Việt chính vì giá trị của các thương hiệu này và hình ảnh quen thuộc của chúng trong lòng người tiêu dùng Việt. Do đó, chẳng có ông chủ mới nước ngoài nào lại dại dột xóa bỏ chúng một khi đã sở hữu chúng. Và họ cũng chẳng thể, chẳng muốn “bê” các thương hiệu, các doanh nghiệp, siêu thị về nước mình cả. Như thế, các thương hiệu này vẫn sẽ là thương hiệu Việt, “make in Vietnam” và “made in Vietnam”, vẫn tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho người Việt, doanh nghiệp Việt khác.
Về tác động tiêu cực thứ ba, đúng là các doanh nghiệp, siêu thị bị thâu tóm có khả năng “thay da đổi thịt”, đem lại lợi nhuận lớn cho các ông chủ mới người Thái. Nhưng đó là điều đương nhiên và hợp lý vì lợi nhuận gia tăng là do công sức và vốn liếng của họ bỏ ra chứ lợi nhuận này không tự nhiên sinh ra. Nếu cứ lo sợ lẫn cả ghen tức rằng lợi nhuận làm ra bao nhiêu thì bị người nước ngoài chuyển hết về nước họ thì có khác gì nói rằng đừng cổ phần hóa, đừng bán cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước cho nhà đầu tư nước ngoài nữa vì họ sẽ chuyển lợi nhuận hết về nước họ. Vì vấn đề ở đây là nếu không bán cho người nước ngoài thì những doanh nghiệp này có lẽ mãi mãi vẫn trong tình trạng “thoi thóp”, không phá sản, không trở thành gánh nặng cho nền kinh tế đã là may mắn lắm, nói chi đến chuyện làm ăn sinh lời nữa?
Các ông chủ cũ người Việt hẳn cũng đã tính toán nát óc bài toán lợi hại khi bán doanh nghiệp của mình để rồi đi đến kết luận rằng bán được với cái giá đó đã là hời rồi. Nói cách khác, chỉ có những người trong cuộc mới biết rõ nên làm gì, và do đó những thương vụ “bán mình” thế này thường không phải là kết quả của những quyết định vội vàng, thiếu khôn ngoan để cho cả xã hội phải nhảy vào can ngăn với lo ngại hộ.
Chưa hết, đây không phải là cuộc chơi chỉ có kẻ thắng, là ông chủ nước ngoài (người Thái),  và người thua là người Việt. Nó hoàn toàn có thể là cuộc chơi mà cả 2 bên cùng thắng. Người Thái sau khi thâu tóm sẽ làm cho doanh nghiệp, siêu thị bị thâu tóm lành mạnh hơn, thu được nhiều lợi nhuận hơn để chuyển về Thái Lan (và vẫn phải trả thuế thu nhập cho Việt Nam). Còn các ông chủ cũ người Việt sau khi bán doanh nghiệp của mình cho người Thái rất có thể đã dùng số tiền đó để đầu tư vào những doanh nghiệp, những lĩnh vực khác thuộc lợi thế của mình, nhờ đó cũng thu được nhiều lợi nhuận hơn là cứ cố bám lấy những doanh nghiệp cũ. Như vậy, nền kinh tế Việt Nam vẫn có thể thu được lợi nhuận ròng, giá trị gia tăng ròng lớn hơn so với trước khi người Thái nhảy vào thôn tính.

Tuesday, 16 February 2016

Phang tiếp đồng chí Nhàn đàm


Tớ lại thấy đồng chí Nhàn đàm phang lung tung, hình như trúng cả vào tớ trong bài này:


nên tớ phải phang lại để đồng chí này bơn bớt nhàn đàm (một cách nguy hiểm) đi.

Đồng chí Nhàn đàm viết: Việc các dòng thuế xuất nhập khẩu phần lớn sẽ chuyển về mức 0% sẽ chỉ có ý nghĩa giá trị gia tăng từ hàng xuất khẩu của các quốc gia sẽ tăng lên, do không còn phải nộp thuế xuất nhập khẩu như trước, chứ không có nghĩa là lượng hàng hóa xuất khẩu sẽ gia tăng. 
Như các quy định về giảm thuế trong lĩnh vực dệt may trong TPP, theo ước tính các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ tiết kiệm được khoảng 1,17 tỷ USD khi hầu hết các dòng thuế dệt may hiện nay của Mỹ trung bình khoảng 17% sẽ chuyển dần về mức 0% sau khi TPP đi vào hoạt động. Điều này có nghĩa là lợi nhuận của các doanh nghiệp dệt may sẽ tăng khoảng 1,17 tỷ USD hằng năm do không phải đóng khoản thuế này cho chính phủ Mỹ nữa, chứ không có nghĩa là tổng sản phẩm và kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may vào thị trường Mỹ sẽ tăng lên.

Tớ phang lại: Giảm thuế nhập khẩu vào Mỹ có nghĩa là nhà sản xuất Việt Nam có điều kiện hạ giá bán đi. Ví dụ, trước đây bán 1 cái sơ mi với giá 10 USD vào Mỹ, trong đó có 1 USD là tiền thuế. Nay với TPP, nhà sản xuất Việt Nam được miễn khoản 1 USD này, nên có thể để mức giá mới là 9,2 USD (không dại gì để giá còn 9 USD). Người mua ở Mỹ trước đây phải mua với giá 10 USD, nay thấy phía Việt Nam hạ giá xuống chỉ còn 9,2 USD nên thay vì mua 1 cái áo như trước đây thì nay mua luôn 1,1 cái áo từ phía Việt Nam (vì thấy rẻ quá!). Thế là cả 2 đều win cả, chỉ có ngân sách của Mỹ là thiệt.
Do Việt Nam vừa bán được nhiều hơn, lại bán được với giá cao hơn thì có nghĩa là xuất khẩu áo của Việt Nam phải tăng lên cả lượng lẫn giá trị gia tăng, nên không thể ấm ớ như đồng chí Nhàn đàm rằng xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ không tăng lên được. Chưa hết, Việt Nam bán được nhiều hơn với giá cao hơn nên càng ham, càng có điều kiện để giảm giá thêm nữa (nhờ kinh tế quy mô) nên xuất khẩu cứ thế mà tăng lên (tất nhiên cũng có giới hạn).

Đồng chí Nhàn đàm viết: Trên thực tế, việc tăng lợi nhuận cũng không đồng nghĩa với việc giúp tăng cường sản lượng xuất khẩu. Các doanh nghiệp sau khi thuế nhập khẩu chuyển về 0% cũng sẽ không thể hạ bớt giá thành sản phẩm để tăng số lượng xuất khẩu để tận dụng mức thuế suất 0%, khi mà các điều luật chống bán phá giá vẫn còn nguyên tác dụng. 

Tớ phang lại: Có luật chống phá giá không có nghĩa là Việt Nam không thể, không được phép hạ giá bán, vì chí ít như nói ở trên, giá thành có thể hạ nhờ kinh tế quy mô, và nếu chứng minh được điều này thì Mỹ cũng phải bó tay. Trên hết, như nói ở trên, doanh nghiệp Việt Nam thậm chí không cần phải hạ giá bán (giá net trừ thuế nhập khẩu) nên họ cũng chẳng cần phải (bị áp lực) hạ giá thành mà vẫn thu lợi nhuận cao hơn, số lượng nhiều hơn.

Đồng chí Nhàn đàm viết: Về lý thuyết, việc tăng cường lợi nhuận sẽ chỉ giúp tăng sản lượng xuất khẩu về lâu dài, khi mà các doanh nghiệp sẽ có thể đầu tư nhiều hơn vào quy trình sản xuất để nâng chất lượng sản phẩm đồng thời hạ giá thành giúp hàng hóa xuất khẩu cạnh tranh tốt hơn, qua đó nâng cao số lượng xuất khẩu vào thị trường bên ngoài.
Còn trong ngắn hạn, thậm chí các hiệp định thương mại còn có thể khiến cho sản lượng xuất khẩu giảm đi đáng kể. Vì song song với lộ trình giảm dần thuế xuất nhập khẩu về 0%, các quốc gia cũng đồng thời tăng cường dựng lên các rào cản kỹ thuật và thương mại để xiết chặt hơn hàng hóa nhập khẩu về các vấn đề như chất lượng hay giá cả. 

Tớ phang lại: Đúng là có thể có nhiều hàng rào kỹ thuật hơn, nhưng phải có điều kiện, phải hợp lý, tuân thủ những cam kết trong TPP, chứ không phải cứ muốn dựng là dựng và sẽ phát huy tác dụng. TPP cũng rất chú trọng phòng ngừa khả năng lạm dụng này nên bởi vậy mà các doanh nghiệp dệt may của Mỹ mới lo sốt vó về hàng Việt Nam. Nếu cứ như đồng chí Nhàn đàm nói thì họ chẳng việc gì phải lo ngại cả khi lúc nào cũng lăm lăm hàng rào kỹ thuật.

Đồng chí Nhàn đàm viết: Điều đáng chú ý là các quy định của TPP và các FTA hầu hết đều không giúp Việt Nam loại bỏ khả năng bị kiện về các vấn đề quen thuộc mà Mỹ, Canada hay EU vẫn sử dụng như bán phá giá, hay hàng hóa vi phạm quy định về chất lượng. Vì hầu hết các điều luật về chống bán phá giá và việc dựng lên các rào cản kỹ thuật đều không hề giảm bớt chút nào trong các quy định của TPP và các FTA.  

Tớ phang lại: Đúng là TPP không giúp Việt Nam loại bỏ khả năng bị kiện, nhưng lưu ý là “không hề giảm bớt” như đồng chí nói không đồng nghĩa với “tăng cường dựng lên” các hàng rào kỹ thuật như đồng chí nói ở đoạn trên nhé. Nói cách khác, nếu Việt Nam vẫn đáp ứng được các tiêu chuẩn hiện tại vào Mỹ thì trong TPP, hàng của Việt Nam vẫn tiếp tục xâm nhập (thêm) vào Mỹ nếu chất lượng không thay đổi (xấu đi). Điều này chỉ không xảy ra nếu Mỹ dựng lên thêm hàng rào, nhưng cũng như đồng chí chỉ nói là “không hề giảm bớt đi” (có nghĩa là giữ nguyên), và cũng như tớ nói là không phải muốn dựng là dựng, thì giả thiết này (Việt Nam không thể tăng xuất khẩu vào Mỹ) cũng không thành sự thật.

Đồng chí Nhàn đàm viết: Vì thế, lợi ích về tăng cường xuất khẩu mà TPP và các FTA đem lại cho Việt Nam chỉ đúng khi chúng ta nâng cao khả năng cạnh tranh bằng cách nâng chất lượng hàng hóa và giảm giá thành sản phẩm, để có thể tận dụng tốt các quy định về thúc đẩy và kích thích thương mại mà các hiệp định thương mại này đem lại. 

Tớ phang lại: Ấm a ấm ớ! Nếu TPP chỉ có tác dụng lên xuất/nhập khẩu thông qua các quy định thúc đẩy và kích thích thương mại thì việc gì các bên phải ngồi bàn với nhau cả 5 năm về chuyện cắt giảm thuế?

Đồng chí Nhàn đàm viết: Còn nếu vẫn giữ nguyên tình trạng chất lượng và giá cả hiện tại, không những xuất khẩu không tăng mà còn giảm đi. Đã có những dấu hiệu dự báo trước cho nguy cơ này, với việc hàng loạt lĩnh vực xuất khẩu chủ đạo của Việt Nam đang giảm dần về số lượng trong vài năm trở lại đây do các rào cản thương mại ngày càng tăng lên, trong khi chất lượng và giá cả hàng xuất khẩu của Việt Nam không được cải thiện.

Tớ phang lại: Đồng chí không đưa ra ví dụ nên chỉ là nói mò. Hàng Việt Nam bị trả về phần lớn là do vi phạm những tiêu chuẩn hiện hành, tức là vi phạm cái giả thiết của đồng chí rằng “nếu vẫn giữ nguyên tình trạng chất lượng và giá cả hiện tại”. Hàng rào nào là mới được dựng lên? Liệu nó chỉ có áp dụng với riêng Việt Nam?

Đồng chí Nhàn đàm viết: Ví dụ như nhóm ngành nông lâm thủy sản. Tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm ngành này trong năm 2015 khoảng 20,6 tỷ USD, giảm 6,7% so với cùng kỳ năm trước, gây hụt thu khoảng 4,65 tỷ USD. Điều này cũng được dự báo cho cả những lĩnh vực xuất khẩu quan trọng như dệt may, khi các quy định về xác định xuất xứ từ sợi trở đi cũng đang đe dọa sản lượng xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam với hơn 60% lượng sợi và nguyên liệu ngành dệt hiện nay là nhập từ Trung Quốc.

Tớ phang lại: Lại ấm ớ, ngụy biện rồi! Xuất khẩu thủy sản Việt Nam giảm năm qua, như lời của VASEP là do có những nguyên nhân như tỷ giá VND bị neo cao, cạnh tranh của các nước khác với giá rẻ hơn (do phá giá bản tệ), chứ có thấy nói gì đến sự xuất hiện các hàng rào kỹ thuật mới đâu? Có chăng, như tớ nói ở trên, là có một phần hàng bị trả về, đơn giản vì nhồi tạp chất vào tôm, tồn dư kháng sinh lớn, mạ băng quá nhiều v.v… vi phạm trắng trợn những tiêu chuẩn hiện tại của nước sở tại (áp dụng cho mọi nước xuất khẩu).

Đồng chí Nhàn đàm viết: Nói cách khác, tác dụng thúc đẩy tăng cường trao đổi thương mại của các hiệp định thương mại như TPP và các FTA chủ yếu là những tác động mang tính gián tiếp, thông qua việc khuyến khích các quốc gia tăng cường đầu tư để giảm giá thành và tăng chất lượng sản phẩm, chứ không phải là những tác động trực tiếp theo kiểu cứ gia nhập hiệp định là sản lượng xuất khẩu tức khắc sẽ tăng lên mà không cần đầu tư và đổi mới. 
Các hiệp định thương mại, vì thế đang gần như là một con dao hai lưỡi đối với lĩnh vực xuất khẩu, nếu biết cách cầm nó sẽ đem lại những lợi ích lớn, nhưng nếu không biết cách nó có thể đem lại những hệ quả khôn lường.

Tớ phan lại: Đồng chí quả thật là nguy hiểm. Tớ chỉ khuyên, mong là đồng chí đọc xong phần phang của tớ bên trên thì shut up lại cho bầu không khí chung nó trong sạch, như tớ khuyên các đồng chí khác trước đây.

Đồng chí này liều mình phang tớ!

Hôm trước ngồi điểm báo tớ phát hiện ra có đồng chí với bút danh là Nhàn đàm, viết bài phang tớ ở đây.
http://motthegioi.vn/kinh-te/dau-tu-kinh-doanh/bon-hieu-lam-co-ban-ve-viec-thai-lan-thau-tom-cac-doanh-nghiep-viet-nam-288441.html

Tuy không trực tiếp nêu tên tớ nhưng nội dung là phang một bài viết của tớ đúng vào kỳ này năm trước trên CafeF, có nhan đề: “Người Thái thâu tóm thương hiệu Việt – Cần được nhìn nhận cởi mở hơn!”. Tớ thấy đồng chí này vẫn còn rất non nớt trong việc phang thiên hạ nhưng có lẽ tự mình không biết vậy, nên tớ muốn vạch ra điều này cho đồng chí Nhàn đàm này thấy để lần sau có nhàn đàm ở đâu thì nhàn đàm nhưng nhớ chừa tớ ra.
1.       Đồng chí Nhàn đàm phang quan điểm 1 của tớ rằng: “Việc các tập đoàn Thái Lan mua bán và sáp nhập các thương hiệu Việt Nam là chuyện bình thường” như sau:

Đúng là việc mua bán và sáp nhập các thương hiệu là chuyện bình thường và luôn diễn ra tại bất cứ nền kinh tế nào trên thế giới, kể cả ở Việt Nam khi mà các quy định trong các hiệp định thương mại lớn như TPP hay các FTA mà Việt Nam vừa ký kết đang tạo thuận lợi cho quá trình đó diễn ra. Nhưng nó không có nghĩa là mọi vụ mua bán và sáp nhập thương hiệu nào cũng đều được coi là điều bình thường. Việc các tập đoàn Thái Lan ồ ạt xâm nhập thị trường Việt Nam và tiến hành hàng loạt các thương vụ M&A lớn trên nhiều lĩnh vực hiện nay đã vượt quá quy mô thường thấy của các vụ M&A thông thường.
Thông thường, các thương vụ M&A luôn luôn diễn ra ở khắp mọi lĩnh vực, nhưng hiếm khi nào nó lại diễn ra đồng loạt và trên nhiều lĩnh vực như điều các tập đoàn Thái Lan đang làm ở Việt Nam ở thời điểm hiện tại. Nếu xu hướng này tiếp tục diễn ra trong thời gian tới, nó có thể gây ra những hậu quả lớn cho nền kinh tế Việt Nam và vượt ra ngoài những tác động của các thương vụ M&A đơn thuần vốn ít tác động tới nền kinh tế của nước sở tại. Đó là việc hàng loạt các lĩnh vực trong nền kinh tế sẽ bị các ông chủ nước ngoài chi phối do đã nắm được phần lớn các doanh nghiệp lớn đầu ngành trong các lĩnh vực này. Đặc biệt là việc thâu tóm được một phần lớn hệ thống phân phối và bán lẻ gần đây với các thương vụ như Nguyễn Kim, Metro và sắp tới có thể là cả BigC, thì khả năng tác động sẽ còn lan rộng hơn nữa.

Tớ phang lại: Nói “quy mô thường thấy” là quy mô nào vậy, ở đâu? Đồng chí có biết rằng trên thế giới không hiếm những vụ M&A lên đến hàng tỷ, hàng chục tỷ USD không? Trung Quốc chẳng vừa mới mua lại một công ty dược gì gì đó hình như là của Thụy Sỹ gì gì đó lên tới hình như là hơn 40 tỷ USD gì gì đó sao? Không nhẽ Thụy Sỹ không lo sợ Trung Quốc chi phối ngành dược của họ à?

Nói “diễn ra đồng loạt và trên nhiều lĩnh vực” như ở Việt Nam cụ thể là có bao nhiêu bị thâu tóm, bao nhiêu doanh nghiệp Thái Lan đi thâu tóm?

Nếu lo sợ “hàng loạt các lĩnh vực trong nền kinh tế sẽ bị các ông chủ nước ngoài chi phối” thì tốt nhất đóng cửa kín lại như Bắc Hàn đó, chẳng ngành nào bị doanh nghiệp nước ngoài chi phối sất, (nhưng vẫn cứ buộc phải mở he hé cửa, ít nhất là với Hàn Quốc và Trung Quốc chứ không thì cứ giữ lấy khư khư mấy cái rá thủng, theo kiểu “giấy rách giữ lấy lề” cho nó có tinh thần dân tộc nhé).

Thâu tóm hệ thống phân phối và bán lẻ quả là có đáng sợ, nhưng là cái giá phải chấp nhận vì Việt Nam đã cam kết mở cửa cho nước ngoài nhảy vào, và ngược lại, Việt Nam cũng nhảy sang các nước khác thâu tóm, thôn tính, bành trướng ở những lĩnh vực khác. Nếu Thái không thôn tính thì rồi cũng sẽ bị các nước khác thôn tính, nếu thôn tính được! Khác gì?

2.       Đồng chí Nhàn đàm phang quan điểm 2 của tớ rằng: “Hiệu quả các vụ M&A của Thái Lan tại Việt Nam vẫn chưa chắc chắn và là một dấu hỏi” như sau:
Đúng là mức độ hiệu quả của các thương vụ M&A mà các tập đoàn Thái Lan vừa tiến hành tại Việt Nam là chưa chắc chắn về mức độ sinh lời, khi người Thái sẽ gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt của các đối thủ đến từ bên ngoài và cả các doanh nghiệp nội địa trong cùng ngành, chẳng hạn như ngành bán lẻ. Nhưng việc mua bán và sáp nhập các thương hiệu này cho phép người Thái nắm giữ những lợi thế lớn và khả năng sinh lời cao hơn mức nhiều người dự đoán.
Trên thực tế các doanh nghiệp nội địa mà Thái Lan thâu tóm đều là các doanh nghiệp thuộc diện lớn nhất trong lĩnh vực đó tại thị trường trong nước, chẳng hạn như hệ thống siêu thị điện máy Nguyễn Kim, nhựa Tiền Phong và Bình Minh, Prime Group. Các doanh nghiệp này đã có sẵn một hệ thống sản xuất, phân phối sản phẩm và phân khúc thị trường lớn được xây dựng trong nhiều năm qua, và giờ đây các tập đoàn Thái Lan có thể thừa hưởng chúng sau khi đã mua lại các thương hiệu này. Điều này tạo ra cho người Thái một lợi thế so với các tên tuổi lớn khác của quốc tế giờ đây mới bắt đầu đổ bộ vào thị trường Việt Nam và xây dựng mọi thứ từ con số 0. Dĩ nhiên, lợi thế này không đảm bảo 100% khả năng thành công cho người Thái, nhưng lợi thế thì vẫn là lợi thế, đặc biệt là khi đó là lợi thế lớn.

Tớ phang lại: Đúng là người Thái có thể có một lợi thế khi mua lại những siêu thị này (đương nhiên chỉ khi nào tính ra có lợi thì mới mua chứ?). Nhưng đó chỉ là tính toán trên lý thuyết. Ví dụ đơn giản nhất là lẽ ra giá của nó chỉ có 10 đồng, nhưng vì “máu” quá nên anh trả cho chủ nhân của nó 12 đồng để đánh bại những đối thủ khác, kiểu đấu giá một bức tranh làm từ thiện. Mua giá cao rồi thì có không ít ví dụ về lao đao, phá sản sau khi mua về. Cần ví dụ ư? Sahavirya Steel Industries (cũng là của Thái đấy nhé) phóng tay mua Teesside ở Anh để rồi bị chính doanh nghiệp này kéo chìm xuống trong đống nợ nần đến nỗi phải cùng nhau chủ nợ ra tòa án phá sản để cơ cấu lại các khoản nợ vì tiền vung ra là tiền đi vay ngân hàng trả mãi không hết trong lúc ngành thép đang lao dốc như hiện nay. Vậy thì điều gì ngăn cản khả năng này không xảy ra với các doanh nghiệp bị Thái mua lại các siêu thị ở Việt Nam?

3.       Đồng chí Nhàn đàm phang quan điểm 3 của tớ rằng: “Các thương hiệu sau khi bị thâu tóm vẫn không có gì thay đổi, trừ chủ sở hữu” như sau:

Đúng là sau khi các thương hiệu nội địa này bị thâu tóm, thì các doanh nghiệp này vẫn hoạt động ở trong nước, vẫn sử dụng người lao động trong nước, vẫn sẽ nộp thuế cho nhà nước dựa trên doanh thu và thậm chí là vẫn giữ nguyên tên thương hiệu. Đúng là người Thái sẽ không thể “bê” các doanh nghiệp này về nước nhưng chắc chắn là họ sẽ “bê” nhiều thứ về nước sau khi thâu tóm được các thương hiệu này. Điển hình là lợi nhuận. Nếu các thương hiệu này vẫn do các doanh nghiệp nội địa làm chủ thì lợi nhuận vẫn ở lại Việt Nam và có thể được tái đầu tư phần lớn trong số đó. Nhưng khi các thương hiệu này đã nằm trong tay các ông chủ nước ngoài thì dĩ nhiên phần lớn lợi nhuận sẽ được các ông chủ này chuyển về nước. Có thể trong giai đoạn đầu, phần lớn lợi nhuận sẽ được các ông chủ ngoại này tái đầu tư vào nhà xưởng, thiết bị, hệ thống phân phối, để mở rộng thị trường; nhưng về lâu dài và mọi thứ đã đi vào ổn định thì chả có gì ngăn cản lợi nhuận sẽ được chuyển ra nước ngoài giống như các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam đang làm trong thời gian qua.
Điều này trên thực tế đang gây ra những hệ quả lớn đối với cơ cấu nền kinh tế Việt Nam. Đó là hiện tượng FDI hóa các doanh nghiệp nội địa. Như nhiều nhà phân tích đã chỉ ra, vấn đề lớn nhất của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là quá phụ thuộc vào các DN FDI và sự thiếu kết nối giữa các DN trong nước với các DN FDI, nhưng khi mà mọi thứ còn chưa được cải thiện thì khá nhiều doanh nghiệp nội địa lớn lại đang gần như chuyển thành các DN FDI thực sự thông qua các vụ mua bán và sáp nhập thương hiệu. Về lâu dài nó có thể dẫn đến sự đảo lộn lớn trong cơ cấu nền kinh tế Việt Nam, khi quy mô của khối FDI ngày càng tăng và chênh lệch lớn so với khối DN nội địa.
Tớ phang lại: Xem lại điểm 1. Nói thêm: (1) lợi nhuận là không chắc chắn sẽ tương xứng với vốn bỏ ra mua lại; (2) nếu có tương xứng hoặc cao hơn thì cũng là bình thường, giống như mọi doanh nghiệp FDI khác khi đã chấp nhận dấn thân (venture) ở nước ngoài thì sẽ (phải) được tưởng thưởng xứng đáng với sự dấn thân (liều mình) đó; (3) sự thâu tóm này hoàn toàn có thể là win-win, khi mà người Thái thì thu lợi nhuận từ hoạt động của các siêu thị này (nhưng phải nộp thuế thu nhập cho Việt Nam), còn những ông chủ cũ Việt Nam thì nhờ có tiền bán các siêu thị này (vốn hoạt động không mấy hiệu quả, ít lãi) mà đầu tư vào các lĩnh vực khác ra lãi nhiều hơn, rốt cuộc tạo ra tổng giá trị gia tăng cho Việt Nam còn lớn hơn cả khi chưa “bán mình”. Lập luận như đồng chí Nhàn đàm này thì có khác gì là Việt Nam nên giữ lại các DNNN đang ngắc ngoải chứ đừng bao giờ cổ phần hóa (bán mình) cho nhà đầu tư nước ngoài vì sẽ bị chi phối hết!

4.       Đồng chí Nhàn đàm phang quan điểm 4 của tớ rằng: “Các vụ thâu tóm này sẽ không dẫn đến nguy cơ hàng Thái Lan lấn lướt hàng hóa Việt Nam” như sau:
Đúng là khi các thương hiệu này thuộc quyền sở hữu của các ông chủ Thái Lan, thì hàng hóa sản xuất ra vẫn sẽ là “made in Vietnam” chứ không phải là “made in Thailand”, và nó chẳng liên quan gì đến việc hàng hóa Thái Lan vào thị trường Việt Nam bằng con đường nhập khẩu và lấn lướt hàng hóa Việt Nam cả. Thậm chí, hàng hóa sản xuất tại các thương hiệu do các ông chủ người Thái làm chủ này còn phải cạnh tranh quyết liệt với sản phẩm nhập khẩu vào thị trường Việt Nam từ chính Thái Lan nữa là khác. Nhưng, khi mà người Thái nắm giữ một phần lớn hệ thống bán lẻ tại thị trường Việt Nam thì mọi thứ lại hoàn toàn khác.
Với việc nắm giữ một phần lớn hệ thống bán lẻ tại Việt Nam như Nguyễn Kim, Metro và có thể sắp tới là cả BigC thì việc hàng hóa Thái Lan lấn lướt hàng hóa Việt ngay tại thị trường Việt Nam là chuyện gần như chắc chắn sẽ xảy ra. Người đại diện của BJC Thái Lan khi đàm phán mua lại hệ thống siêu thị Metro đã tuyên bố, nếu thương vụ thành công thì hàng hóa Thái Lan được bày bán sẽ chiếm 60%. Trong bối cảnh hàng hóa Việt Nam vẫn chiếm 80-90% lượng hàng hóa ở các siêu thị, thì điều này cũng đồng nghĩa với việc hàng hóa Việt Nam sẽ bị hàng Thái Lan đẩy bật ra khỏi hệ thống bán lẻ, và nó cũng chẳng khác gì việc hàng hóa Thái lấn lướt hàng hóa Việt là bao. Dĩ nhiên, điều này xuất phát chủ yếu từ vấn đề lợi nhuận trong kinh doanh, khi mà hàng hóa nhập khẩu từ Thái Lan có chất lượng tốt và giá thành cạnh tranh hơn so với hàng hóa sản xuất tại thị trường trong nước của Việt Nam, và sẽ đem lại lợi nhuận lớn hơn cho các hệ thống bán lẻ.
Tớ phang lại: Nếu hàng Việt tồi và đắt như vậy thì hãy để những nhà sản xuất của nó đóng cửa hoặc buộc phải cải thiện sức cạnh tranh, chứ không nên giữ khư khư những siêu thị này chỉ để mục đích là buộc người tiêu dùng phải mua những thứ hàng tệ hại đó. Mà nếu quả thật là hàng Việt kém cỏi, hàng Thái ưu việt như vậy, có lợi nhuận cao như vậy thì điều gì ngăn cản các ông chủ cũ người Việt không chuyển sang bán hàng Thái? Đừng có giả nhời tớ rằng là vì hoặc là họ ngu dại, không biết tính toán bán cái gì có lợi nhất, hoặc họ rất yêu nước, rất yêu hàng Việt, rất yêu những ông chủ nhà máy (cả người Việt và người nước ngoài) ở Việt Nam nhé! Ngược lại, người tiêu dùng Việt Nam đâu có ngu ngốc gì mà cứ lao vào mấy cái siêu thị đó (giả sử vẫn thuộc về ông chủ Việt Nam và vẫn chủ yếu bán hàng Việt Nam) để mua mấy thứ đồ thứ cấp “made in Vietmam” với giá trên trời đó?

Vẫn chưa đủ à? Vậy thì hàng Trung Quốc đâu có cần hệ thống siêu thị chính thống để xâm nhập từng ngõ ngách, từng nhà ở Việt Nam đâu? Rồi Aeon của Nhật đó, nhưng bán hàng thương hiệu Nhật (và made in Nhật) thì ít mà bán hàng thương hiệu Tầu (và made in Tầu) thì nhiều, đâu có thấy ai phản đối?

Thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp (Bài đăng trên báo Đại biểu nhân dân, 16/2/2016)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=367393


Năm 2016 đã được chọn là Năm quốc gia khởi nghiệp, cho thấy chuyện khởi nghiệp đã trở nên quan trọng và được tôn vinh như thế nào. Tuy vậy, nhìn lại thì chuyện thúc đẩy khởi nghiệp không phải là chuyện mới, bây giờ mới được đề cập đến. Cách đây hơn 13 năm Chương trình Khởi nghiệp do Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) khởi xướng đã ra đời và đã có nhiều dự án khởi nghiệp nhận được sự hưởng ứng tích cực từ giới trẻ. Tiếc rằng những hành động nhằm thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp như thế này vẫn là quá ít, quá hạn hẹp ở Việt Nam.
Bởi vậy, việc chọn năm nay là Năm quốc gia khởi nghiệp là việc rất có ý nghĩa khi đây là một chỉ mốc cho thấy có sự quan tâm, “vào cuộc” của Chính phủ và các tổ chức, cá nhân liên đới ở quy mô toàn quốc, trên mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh, ở mọi thành phần xã hội... Tuy nhiên, để tránh việc lặp lại những vấn đề với các chương trình khác nặng về hình thức mà kết quả mang lại không được bao nhiêu, chương trình khởi nghiệp quốc gia cần được hậu thuẫn bởi những thay đổi ở tầm vóc và quy mô quốc gia tương xứng.
Hạn chế lớn nhất mà nhiều người hay nhắc đến là Việt Nam thiếu một môi trường nuôi dưỡng tinh thần khởi nghiệp. Nhưng tiếc rằng ví dụ so sánh thường xuyên được nhắc đến lại hầu như chỉ là một nước duy nhất, Israel, nơi mỗi cá nhân đều có ý thức tự mình muốn khởi tạo một doanh nghiệp, một lĩnh vực sản xuất kinh doanh mới, còn cộng đồng và doanh nghiệp thì luôn có ý thức hỗ trợ thúc đẩy khởi nghiệp. Bởi vậy, nếu “nhắm” đến mô hình Israel thì e rằng Việt Nam sẽ khó trở thành một ngoại lệ thứ hai như nước này.
Do đó, một môi trường nuôi dưỡng tinh thần khởi nghiệp cần phải được hiểu một cách thông dụng hơn như ở hầu hết các nước tư bản phát triển, nơi mà những ý tưởng sản xuất kinh doanh mới được thỏa sức phát triển nếu chủ nhân của chúng muốn. Trong môi trường đó, các luật về bản quyền, sở hữu trí tuệ được thực thi nghiêm túc, tạo điều kiện cho chủ nhân những ý tưởng mới thấy được tương lai sáng lạn nếu họ thành công trong việc hiện thực hóa ý tưởng của mình thành sản phẩm cụ thể và đưa chúng ra được thị trường.
Môi trường nuôi dưỡng tinh thần khởi nghiệp cũng cần phải bảo đảm cho các cá nhân và tổ chức tham gia cấp vốn cho các ý tưởng sản xuất và kinh doanh mới được bảo vệ đầy đủ và thích hợp bởi pháp luật nhằm đảm bảo cho họ gặt hái lợi nhuận khi ý tưởng mới này được thực hiện, và hạn chế được các hành vi trục lợi gây thiệt hại cho họ.
Trên giác độ rộng hơn, môi trường thích hợp cho việc khởi nghiệp phải là môi trường ngày càng tạo ra nhiều người khát khao, mong muốn làm một cái gì đó riêng của mình. Mà để làm được việc này thì cần phải có những chuyển biến cũng ở tầm quốc gia. Ví dụ như chừng nào còn chuyện xin được một việc làm trong nhà nước có nghĩa là sẽ được yên ổn “hưởng lộc” cả đời, làm cho thanh niên, sinh viên ra trường tìm mọi cách để “chui” vào nhà nước thì chừng đó tinh thần khởi nghiệp sẽ còn bị thui chột trong một bộ phận lớn giới trẻ. Mà để khắc phục được điểm này thì lại động chạm đến những vấn đề lớn hơn như giảm biên chế, tăng cường minh bạch, xử lý mạnh tệ nạn tham nhũng… làm giảm tính hấp dẫn của khu vực nhà nước.
Hệ thống giáo dục cũng phải có những chuyển biến mạnh về mục tiêu, nội dung và phương pháp đào tạo, giảng dậy để giảm thiểu tinh thần học để làm “thầy”, làm “quan”; tăng cường các hoạt động hướng nghiệp để học sinh ra trường biết chọn hướng đi thích hợp với khả năng của mình; khơi gợi khả năng sáng tạo thay vì cách học nhồi sọ, một chiều như hiện tại vốn chỉ tạo ra những con người thụ động, phục tùng và ỷ lại vào người khác... Có thể nói, hệ thống giáo dục là một trong những mắt xích quan trọng nhất trong hệ thống các yếu tố nuôi dưỡng và thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp hiện đang là điểm rất yếu ở Việt Nam.
Ngay cả những vấn đề tưởng như rất to tát, xa xôi, chẳng mấy liên quan đến tinh thần khởi nghiệp thực ra cũng lại có liên quan đến nó, ví như chuyện đổi mới tư duy về doanh nghiệp nhà nước (DNNN), về doanh nghiệp tư nhân. Nếu DNNN vẫn cứ được xác định là xương sống của nền kinh tế, các doanh nghiệp tư nhân vẫn chỉ được thừa nhận là có tầm quan trọng, nhưng đứng ở hạng thứ hai, thứ ba về trật tự ưu tiên tiếp cận với các nguồn lực và đặc lợi của nhà nước thì sẽ chẳng có mấy người dám mạo hiểm khởi nghiệp để rồi phải đối mặt với đủ thứ bất lợi, khó khăn, chèn ép. Cũng sẽ chẳng có mấy người cảm thấy vinh dự, tự hào khi tự mình khởi nghiệp và làm chủ doanh nghiệp của mình để rồi vẫn cứ luôn cảm thấy mình ở “chiếu dưới” trong thứ bậc xã hội so với các DNNN và doanh nghiệp nước ngoài.
Tóm lại, thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp ở Việt Nam không cần phải nhìn xa đến tận Israel nhưng cũng không đơn giản thực hiện được bằng những giải pháp cục bộ, chung chung mang tính hình thức, kêu gọi hay cổ vũ suông, mà phải bằng những công việc thiết thực nhưng phần lớn mang tầm vóc quốc gia như nói ở trên.

Monday, 15 February 2016

Bài toán muôn thuở: Bỏ tiền vào đâu có lợi nhất (Bài đăng trên CafeF, 15/2/2016)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/bai-toan-muon-thuo-bo-tien-vao-dau-co-loi-nhat-20160215083544656.chn

Cứ mỗi khi có một thay đổi nào đó về những chính sách lớn trong nền kinh tế, ví dụ như tỷ giá, lãi suất, tỷ lệ sở hữu tối đa cổ phần trong doanh nghiệp, giới hạn tăng trưởng tín dụng ngân hàng cho bất động sản v.v… thì lại nổi lên câu chuyện bỏ tiền đầu tư vào đâu có lợi nhất.
Hiện tại, kênh đầu tư vàng thì được cho là rất rủi ro nên đa phần lời khuyên của các chuyên gia cũng như định hướng của các nhà hoạch định chính sách là người dân không nên đầu tư vào vàng. Trong khi đó, kênh chứng khoán thì được cho là đã và đang bị ảnh hưởng rất nặng nề từ thị trường chứng khoán toàn cầu và các vấn đề quốc tế làm chỉ số chứng khoán VN-index đã liên tục giảm sâu nên tất nhiên lời khuyên là cũng không nên đầu tư vào chứng khoán. Với kênh đầu tư quen thuộc thứ ba là ngoại tệ, kênh này được cho là đã trở nên rủi ro, khó lường hơn trước với những chính sách mới của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nhằm chống đô la hóa, chống nạn đầu cơ đô la. Do đó, lời khuyên liên quan là không nên đầu tư (đầu cơ) vào ngoại tệ.
Trong 2 kênh đầu tư quen thuộc còn lại, tiền gửi tiết kiệm và bất động sản, thì tiền gửi tiết kiệm tuy tương đối an toàn (ít rủi ro hơn) nhưng nhà đầu tư chỉ được hưởng một lãi suất khá hạn chế mà không có giá trị gia tăng. Bởi vậy, đầu tư dưới dạng tiền gửi tiết kiệm chỉ được khuyến nghị bởi một số ít người mà đa phần là có liên quan đến giới... ngân hàng, chứ xem ra cũng không phải là một kênh sinh lợi tối ưu trong bối cảnh hiện tại.
Còn kênh bất động sản, được cho là luôn có giá trị gia tăng theo thời gian, kể cả đầu tư để ở hay cho thuê, nên kênh này được nhiều người nhất trí nhất trí là một kênh đầu tư hiệu quả và nhiều tiềm năng, nhất là khi thị trường đang có dấu hiệu ấm lên.
Khách quan mà nói, những lời khuyên/định hướng kiểu trên không (luôn) sai nhưng cũng chẳng (luôn) đúng!
Đầu tư cũng có dăm bảy đường đầu tư, loại hình đầu tư. Nếu là đầu tư ngắn hạn, lướt sóng thì nơi hấp dẫn nhất, dễ sinh lời (cao) nhất thường lại không phải là những nơi (tương đối) “an toàn” như kênh tiền gửi. Ngược lại, những thị trường biến động mạnh hàng ngày như vàng, chứng khoán, ngoại tệ mới là những mảnh đất hấp dẫn để nhà đầu tư bỏ vốn (đầu cơ), lướt sóng theo kiểu “đánh nhanh thắng nhanh”. Mặc dù được cho là đã bị NHNN kiểm soát chặt nhưng thị trường vàng vẫn có những giai đoạn, những thời điểm biến động mạnh với giá cả nhảy nhót hàng vài trăm ngàn đồng/lượng thậm chí trong một vài giờ, hoặc trong ngày. Bởi vậy, xét về mặt tỷ suất lợi nhuận đầu tư, có thể nói vàng là một hạng mục đầu tư hấp dẫn hàng đầu. Tất nhiên, vấn đề còn lại muôn thuở là liệu nhà đầu tư có đủ khôn ngoan và cả may mắn hay không khi mua đúng điểm rơi thấp nhất (trong ngày, trong tuần, trong tháng) và bán ra đúng điểm dâng cao nhất. Nhưng vấn đề này là không liên quan nếu chỉ xét đến cơ hội đầu tư kiếm lời như đã đặt ra từ đầu bài, và do đó không thể nói rằng kênh đầu tư vàng rất rủi ro nên không nên đầu tư như nhiều chuyên gia đang khuyến cáo như đề cập đến ở trên.
Tương tự như vậy, và ở một mức độ hạn hẹp hơn là các kênh chứng khoán và ngoại tệ. Biến động của cả 2 kênh này là rất đáng kể hàng ngày, hàng giờ, tuy đều bị đặt trong một hạn mức biến động đặt ra bởi các cơ quan chủ quản (ví dụ, với USD thì tỷ giá VND/USD không được biến động quá 3% xung quanh tỷ giá trung tâm do NHNN ấn định hàng ngày). Nhưng mức biến động hàng ngày 3% này là quá đủ để cho nhà đầu tư lướt sóng, miễn là tỷ giá phải biến động đáng kể trong phạm vi này, chứ không nằm bất động liên tục trong nhiều tháng liền như với tỷ giá bình quân liên ngân hàng trước đây. Sự bất động này mới là “rủi ro”, mới là đáng sợ, mới là điều làm nản chí nhà đầu tư, chứ không phải là ngược lại!
Kể cả bất động sản, nếu xét đến tiêu chí lướt sóng, đầu tư ngắn hạn thì đây cũng không phải là kênh đầu tư tồi khi nhà đầu tư “ôm” một căn hộ, một khoảnh đất nào đó rồi trao tay ngay sau đó một tuần, một tháng kiếm chênh lệch một vài phần trăm. Và đương nhiên, tiêu chí chung cho các kênh đầu tư khác nói ở trên cũng được áp dụng ở đây: thị trường phải có “sóng”; và điều kiện chung giống như các thị trường khác là nhà đầu tư phải đủ khôn ngoan và may mắn khi lướt sóng đúng thời điểm.
Còn nếu xét về quan điểm đầu tư trung và dài hạn thì cũng vô cùng, chẳng có quy tắc chung nào có thể rút ra ở đây là nên đầu tư vào đâu thì sẽ “ăn đậm”. Chỉ có điểm chung duy nhất là phần thưởng (lợi nhuận đầu tư) sẽ chỉ dành cho ai đủ khôn ngoan và may mắn (và đương nhiên là số này là số ít so với đám đông nhà đầu tư). Chẳng hạn, đầu tư vào cổ phiếu của một vài công ty chỉ mới cách đây đôi ba năm thôi cũng có thể mang lại lợi nhuận hàng trăm phần trăm so với vốn bỏ ra. Ngay như USD, nếu ai đó mua và nắm giữ USD từ cách đây hơn 1 năm (hồi năm 2014) và bán ra hồi cuối năm 2015 thì cũng đã được hưởng lợi suất tầm 6-7% hoặc thậm chí hơn khi bán vào đúng đỉnh điểm của tỷ giá, gần chạm mốc 23.000 VND/USD. Còn với bất động sản, mua một căn hộ chung cư ở một số dự án cũng có thể mang lại cho nhà đầu tư một lợi suất 10-20% hoặc thậm chí cao hơn nhiều sau đó 1 năm hoặc hơn.
Nhưng cũng chính những kênh đầu tư trên đã và đang là “quả đắng” của không ít nhà đầu tư khi “ôm” nhầm sản phẩm, nhầm thời điểm. Có những mảnh đất mua từ cách đây vài năm giá vẫn chỉ nhúc nhích hơn một chút tại thời điểm bất động sản đã ấm lên như hiện nay. Có những cổ phiếu là hàng “hot” giá lên đến mấy “chấm” cách đây vài năm thì nay giá đã tụt xuống chưa mua nổi mớ rau. Và cũng có những thời điểm giá vàng và USD tụt giảm mạnh như thời gian qua, nằm ngoài quy luật, ngoài dự đoán của đa phần nhà đầu tư và giới chuyên gia.
Tóm lại, cũng giống như câu chuyện “làm giầu không khó” nhưng mãi chỉ là câu chuyện tầm phào vì thực tế là chuyện làm giầu không thể dạy được (dù có muốn), và cũng không thể sao chép được, thì chuyện đầu tư vào đâu có lợi nhất cũng là câu chuyện nêu ra và trả lời để cho có, cho vui mà thôi. Chính sự bất định, bất trắc như vậy mới là nền tảng hoạt động và tồn tại của các thị trường, mới là cơ sở để giải thích tại sao có nhiều nhà đầu tư thành công, có nhiều người giầu, nhưng cũng có nhiều hơn thế nhà đầu tư thất bại và nhiều hơn thế người tán gia bại sản vì đầu tư.  

Thursday, 4 February 2016

Cú ngoại kích mang tên HỘI NHẬP (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, số Tết, 3/2/2016, bản gốc)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=367080

Năm 2015 sắp qua, khép lại hàng loạt sự kiện hội nhập của Việt Nam mà điển hình nhất trong số đó là việc hoàn tất đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, TPP. Lo âu cũng có, nhưng lạc quan, phấn khởi và hân hoan là nhiều hơn trên các khuôn mặt của từ quan chức, chuyên gia đến người dân thường.
Không lạc quan và hân hoan sao được khi mỗi cuộc đàm phán thương mại song phương và đa phương (FTA) được hoàn tất và ký kết đều được loan tin với những chi tiết như đối tác đàm phán có người đã phải lẻn ra một chỗ để khóc vì đã thất bại trong việc thương lượng với phía Việt Nam, để rồi phải chấp nhận phần thua thiệt cho nước họ, nhường phần thuận lợi hơn cho phía Việt Nam. Không vui mừng sao được khi tác động của những FTA này đều được lượng hóa rành rành bằng những con số như GDP của Việt Nam sẽ tăng được bao nhiêu phần trăm, bao nhiêu chục tỷ, trăm tỷ USD, và Việt Nam luôn là nước được hưởng lợi nhiều nhất khi ký kết và thực hiện những FTA này.
Lo âu cũng được nói đến, nhắc đến nhưng thường chỉ dừng lại ở một nhóm ngành, một bộ phận nhỏ dân chúng, tỷ như ngành chăn nuôi của Việt Nam trong TPP. Dễ thấy, trong cái sự chói lòa của lợi ích hàng chục phần trăm tăng trưởng GDP, hàng chục, hàng trăm tỷ USD gia tăng thêm vào thu nhập quốc dân thì sự sụp đổ, nếu có, của một bộ phận nhỏ trong nền kinh tế cũng chỉ là, chỉ được coi như một cái giá phải trả rất hời, rất dễ chịu để đánh đổi những lợi ích to lớn, toàn cục.
Nhưng rồi chợt nhớ đến bài học thời hậu WTO. Thời đó thậm chí mọi người còn vui hơn, lạc quan hơn nhiều, trước viễn cảnh cực kỳ tươi sáng rằng hàng đoàn các nhà đầu tư nước ngoài sẽ chen chân vào Việt Nam để khai phá một thị trường mới nổi đầy tiềm năng chưa được khai phá. Để rồi không lâu sau đó nền kinh tế bắt đầu trục trặc, sa lầy vào vùng trũng tăng trưởng chậm kèm theo bất ổn kinh tế vĩ mô kéo dài để lại hậu quả cho nhiều năm sau.
Nhưng nói như trên không phải là đổ lỗi cho việc gia nhập WTO nói riêng hay mọi FTA nói chung khác. Có lẽ, những bất ổn, những mất mát cho nền kinh tế xảy ra là hậu quả của một thái độ chủ quan, duy ý chí, “hội” nhưng không chịu “nhập” cuộc chơi, hoặc “nhập” nhưng không đến nơi đến chốn.
Cuộc chơi của WTO, TPP hay bất cứ FTA nào đều dựa trên một tinh thần minh bạch, bình đẳng, tuân thủ nguyên tắc thị trường. Hay nói cách khác, chính các FTA này thúc đẩy sự cải cách một nền kinh tế đang loay hoay với cái định nghĩa “thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” như của Việt Nam sang một nền kinh tế thị trường thuần túy hơn, chỉ có cạnh tranh mới có thể tồn tại, để được các đối tác lớn tôn trọng và tin cậy công nhận tư cách là một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa, nhờ đó được hưởng những lợi ích đem đến từ việc các nước đối tác hạ thấp rào cản thuế quan, không áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại như chống bán phá giá lên hàng xuất khẩu của Việt Nam.
Nhưng đáng tiếc là với những FTA trước đây, chúng ta dường như không tận dụng được những lợi thế mà chúng có khả năng đem lại, trong khi buộc phải mở cửa thị trường trong nước để hàng hóa và dịch vụ của các nước đối tác xâm nhập mà không hoặc khó có thể dùng các hình thức bảo hộ truyền thống như bấy lâu nay vẫn sử dụng. Mức độ minh bạch và tính thị trường của nền kinh tế Việt Nam vẫn còn là vấn đề bỏ ngỏ, bị xếp hạng yếu kém trong nhiều bảng xếp hạng trên thế giới trong nhiều năm qua. Khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn tiếp tục được xác định là quả đấm thép, là khu vực được bảo bọc và ưu tiên tối đa, thu hút phần lớn nguồn lực của quốc gia để rồi kết quả hoạt động lại đi ngược lại với kỳ vọng, ngày càng yếu kém, nợ chồng chất nợ. Khu vực tư nhân tuy là động lực tăng trưởng của nền kinh tế và là chủ thể khai thác một cách hữu hiệu nhất các lợi thế mang đến từ các FTA nhưng trên thực tế là chủ thể dễ bị tổn thương nhất từ các FTA khi các nguồn lực quốc gia lại tiếp tục xa lánh nó, tập trung dồn sức cho khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Trong bối cảnh mà các doanh nghiệp nhà nước tuy lớn xác mà ngày càng lụn bại, như cái thùng không đáy nuốt chửng các nguồn lực quốc gia, còn các doanh nghiệp tư nhân thì bị bỏ mặc vất vưởng, tự sống, tự tìm cách thâm nhập thị trường nước ngoài hoặc tự chống đỡ với áp lực cạnh tranh từ hàng nhập khẩu, các doanh nghiệp nước ngoài (FDI) đã nhanh chóng lấp đầy khoảng trống tạo ra trong nền kinh tế Việt Nam với những ưu thế to lớn không thể so sánh về năng lực, vốn, quản trị và khả năng tiếp cận thị trường trong và ngoài nước.
Đến các FTA mới đây ký kết, đặc biệt là TPP, một hiệp định thương mại tự do được gọi là tầm cỡ thế kỷ, và là điển hình cho các FTA khác trên thế giới. Xu hướng “hội” mà không “nhập” tốt như trên có tiếp tục xảy ra nữa hay không? Hy vọng là lần này sẽ khác về chất. Bởi khu vực doanh nghiệp nhà nước đã ngày càng mất đi vị thế và tiếng nói trong công luận và ngay cả trong hệ thống chính trị ở Việt Nam, tuy vẫn còn được hậu thuẫn đây đó bởi một số tiếng nói bảo thủ, vụ lợi. Song song đó, khu vực tư nhân đang ngày càng lớn mạnh, trưởng thành hơn và tỏ ra là những thế lực kinh tế đáng gờm với không chỉ khu vực doanh nghiệp nhà nước mà còn với cả các doanh nghiệp FDI.
Những cam kết chặt chẽ trong TPP cũng không cho phép Chính phủ tùy ý muốn làm gì, muốn bảo hộ khu vực doanh nghiệp nhà nước như thế nào thì làm. Hơn thế nữa, nó còn cho phép các cá nhân được kiện Nhà nước ra trước các tòa án trọng tài quốc tế nếu quyền lợi của họ bị xâm phạm bởi những hành vi phân biệt đối xử của Nhà nước. Tinh thần cạnh tranh công bằng, không thiên vị, phân biệt đối xử, kèm theo cơ chế khiếu nại giải quyết tranh chấp hữu hiệu được thể hiện xuyên suốt qua nhiều chương của TPP sẽ buộc các quốc gia thành viên trong đó có Việt Nam phải tuân thủ cuộc chơi mang tính thị trường, mở rộng cửa đón nhận hàng hóa, dịch vụ và vốn đầu tư của các nước thành viên khác chảy vào, trong khi cũng sẽ được đảm bảo những lợi ích tương tự từ những nước thành viên.
Như vậy, sự hội nhập với thế giới hơn nữa thông qua các FTA nhất là TPP trong năm nay sẽ là một cú “ngoại kích” song hành với một cú “nội công” từ sự trưởng thành và lớn mạnh hơn của khu vực tư nhân và sự lao dốc của khu vực doanh nghiệp nhà nước sẽ buộc Chính phủ phải có những thay đổi căn bản trong tư duy quản lý và điều hành nền kinh tế, gây sức ép hơn nữa lên tiến trình cải cách và tái cơ cấu nền kinh tế. Nói cách khác, đây cũng chính là quá trình cởi trói, tự do hóa hơn nữa nền kinh tế theo hướng thị trường, vốn có lợi cho sự năng động và linh hoạt của nền kinh tế quốc gia nắm bắt những cơ hội mới đồng thời là bệ giảm sốc cho những tác động tiêu cực không mong muốn đem lại từ các FTA này.
Trong quá trình tái cơ cấu và tự do hóa hướng tới một nền kinh tế thị trường thuần túy, sự “nhập” của Việt Nam càng trở nên nhanh hơn, thuận lợi và có ý nghĩa hơn nếu Chính phủ biết điều chuyển những nguồn lực vốn bấy lâu nay vẫn dồn cho khu vực doanh nghiệp nhà nước sang hậu thuẫn cho khu vực doanh nghiệp tư nhân, giúp chúng tăng cường được tính cạnh tranh đồng thời tìm đến và tiếp cận được những thị trường thích hợp cho hàng hóa và dịch vụ của mình. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng sự hậu thuẫn này không nên được hiểu, không phải là các hình thức trợ cấp trực tiếp bằng ưu đãi, bằng những quyền lợi như với doanh nghiệp nhà nước mà ở dạng gián tiếp như đào tạo nhân lực, tiếp cận thị trường tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ, thị trường vốn và tín dụng dễ dàng hơn v.v...

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).