Monday, 18 September 2017

Các hãng xếp hạng tín dụng “đang nghĩ gì” về hệ thống ngân hàng Việt Nam? (Bài đăng trên CafeF, 18/9/2017, bản gốc, tiêu đề do báo đặt lại)

http://cafef.vn/cac-hang-xep-hang-tin-dung-dang-nghi-gi-ve-he-thong-ngan-hang-viet-nam-20170918141540652.chn


Người viết mới đây có dịp nói chuyện với các hãng xếp hạng tín dụng chủ chốt tại Singapore về tình hình sức khỏe và triển vọng của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Theo mô típ chung, các hãng xếp hạng tín nhiệm trước khi đưa ra nhận định và đánh giá về tình hình và triển vọng của hệ thống ngân hàng thương mại thì đều bắt đầu với đánh giá về môi trường vĩ mô, với tư cách là bệ đỡ cho hoạt động ngân hàng.

Nhìn chung, các hãng xếp hạng này đều có đánh giá tích cực về môi trường kinh tế vĩ mô của Việt Nam hiện nay và mội hai năm tới. Những yếu tố tích cực thường được liệt kê ra gồm tăng trưởng kinh tế cao, được hậu thuẫn bởi dòng vốn FDI chảy vào mạnh và xuất khẩu tăng trưởng khả quan, trong khi lạm phát được kiềm chế ở mức thấp.

Có hãng xếp hạng thì kể thêm yếu tố tích cực khác là đồng nội tệ tương đối ổn định và tiêu dùng nội địa tăng trưởng tốt, trong khi hãng khác thì bình luận thêm rằng mặc dù TPP (Hiệp định đối tác xuyên Thái BÌnh Dương) đã đổ vỡ, khiến Việt Nam mất đi một cơ hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng điều này được bù lại bởi làn sóng FDI đã chảy vào mạnh đón đầu trước đó nên sự đổ vỡ của TPP cũng không gây ra nhiều thiệt hại cho Việt Nam.

Bên cạnh những nhìn nhận tích cực, các hãng xếp hạng cũng chỉ ra một số điểm tiêu cực về môi trường vĩ mô, trong đó có mức vay nợ của nền kinh tế nói chung và của Chính phủ nói riêng đang ở mức cao và tiếp tục tăng lên mạnh, bất chấp nỗ lực củng cố tài khóa của Chính phủ, gây áp lực lên chính sách bình ổn vĩ mô của Chính phủ gồm kiềm chế lạm phát và ổn định tỷ giá.

Về tình hình sức khỏe của hệ thống ngân hàng thương mại, các hãng xếp hạng đều có một số nhận xét và quan ngại giống nhau. Cụ thể, so với mức tăng trưởng tín dụng được coi là lành mạnh, bình thường (16%-18%/năm, bằng từ 1,2 lần đến 1,5 lần tăng trưởng GDP theo giá hiện hành, tùy thuộc tiêu chuẩn của từng hãng) xét trong bối cảnh không làm tăng thêm ra các rủi ro cho sự tăng trưởng của hệ thống ngân hàng thì mục tiêu tăng trưởng tín dụng trên 20%, thậm chí 22% của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mới đặt ra gần đây được cho là “quá nhanh”, thậm chí có hãng còn gọi là “đáng sợ”.

Giải thích về quan ngại của mình về tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, các hãng xếp hạng cho rằng tăng trưởng tín dụng cao trong bối cảnh gánh nặng nợ của Việt Nam đang gia tăng sẽ tạo ra thêm nhiều thách thức phải giải quyết, bao gồm sự hình thành các bong bóng tài sản, nền tảng vốn của ngân hàng tiếp tục suy yếu thêm từ mức thấp so với khu vực như hiện nay, biên độ lợi nhuận ngân hàng tiếp tục bị co hẹp do các ngân hàng phải cạnh tranh gay gắt giành và giữ thị phần, và tín dụng tiếp tục đổ vào những lĩnh vực có rủi ro cao như đầu cơ bất động sản, chứng khoán v.v… Cứ tiếp tục như vậy thì khả năng xảy ra một cuộc khủng hoảng ngân hàng khác ở Việt Nam là rất cao trong vòng vài năm tới, bất chấp nền kinh tế vẫn tăng trưởng tốt.

Về chất lượng tài sản, được thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu, các hãng nhìn chung đều phải đánh giá lại tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng mà họ có xếp hạng ở Việt Nam bằng cách tính gộp vào nợ xấu báo cáo bởi các ngân hàng giá trị phần trái phiếu mà họ đã bán cho VAMC cũng như tính thêm cả phần dư nợ được phân loại trong nhóm “chú ý đặc biệt”. Tỷ lệ nợ xấu thực tế mà họ tính ra được là cao hơn rất nhiều so với mức dưới 3% phần lớn các ngân hàng báo cáo trên sổ sách.

Với tốc độ tăng trưởng tín dụng cao trong năm nay và có thể là các năm tới thì một mặt, điều này sẽ giúp giảm tỷ lệ nợ xấu. Nhưng mặt khác, tăng trưởng tín dụng cao sẽ có xu hướng tạo ra thêm nợ xấu (do cho vay nhiều hơn các lĩnh vực và đối tượng dưới chuẩn) nên rốt cuộc sẽ tạo ra sự bất trắc về tỷ lệ nợ xấu, và không nhất thiết là tỷ lệ nợ xấu sẽ giảm đi trong năm nay và những năm sau bất chấp các nỗ lực giải quyết nợ xấu của nhà nước gồm Nghị quyết về xử lý nợ xấu mới được thông qua gần đây. Nhìn chung, các hãng đều kỳ vọng tỷ lệ nợ xấu ở Việt Nam ổn định hoặc chỉ giảm nhẹ trong thời gian tới.
Lợi nhuận tăng trưởng thấp, không tương xứng với tăng trưởng GDP của Việt Nam cũng được chỉ ra như một trong những điểm tiêu cực về hệ thống ngân hàng Việt Nam. Những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng lợi nhuận gồm trích lập dự phòng rủi ro cao và sự cạnh tranh gay gắt giành giật thị phần giữa các ngân hàng dẫn đến thu hẹp biên độ lợi nhuận của các ngân hàng.

Về triển vọng lợi nhuận trong các năm tới, các hãng xếp hạng đều chung nhận xét rằng các ngân hàng Việt Nam đều đang tích cực đẩy mạnh bán lẻ và cho vay tiêu dùng trong bối cảnh khu vực doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhà nước đã nợ nần quá nhiều, khó đẩy mạnh cho vay thêm được. Xu hướng này sẽ giúp cải thiện biên độ lợi nhuận của các ngân hàng Việt Nam.

Tuy nhiên, các hãng xếp hạng cũng lưu ý rằng do bán lẻ và cho vay tiêu dùng thường không có thế chấp hoặc có thế chấp bằng bất động sản nên đẩy mạnh cho vay những lĩnh vực này có khả năng làm tăng nợ xấu nếu công tác quản lý rủi ro không được thực thi tốt. Họ cũng cảnh báo thêm rằng vì đẩy mạnh cho vay vào những lĩnh vực này là chiến lược phát triển tại nhiều ngân hàng nên điều này dẫn đến làm tăng sự cạnh tranh, tạo áp lực lên tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng trong những năm tới. Đồng thời, tăng trưởng tín dụng nhanh song song với đẩy mạnh cho vay vào những lĩnh vực rủi ro hơn như cho vay tiêu dùng sẽ tạo ra thêm nợ xấu nên buộc các ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng nợ xấu, và điều này sẽ hạn chế mức độ cải thiện lợi nhuận của các ngân hàng.

Về vai trò của các cơ quan quản lý, các hãng xếp hạng cho rằng cơ quan chức năng biết rõ những gì đang xảy ra và cần phải làm gì, nhưng họ đang hành động khá chậm, một phần do đặc tính chính sách ở Việt Nam là do tập thể quyết định. Chất lượng làm chính sách cũng không cao, với các chính sách thiếu nhất quán. Tác động của các chính sách lên hoạt động ngân hàng được cho là “vey mixed” (gây ra nhiều tác động trái chiều nhau, cả tốt lẫn xấu).

Friday, 15 September 2017

Mạo hiểm khi thay đổi giá tính thuế TTĐB đối với ô tô (Bài đăng trên TBKTSG, 16/9/2017)


http://www.thesaigontimes.vn/164594/Mao-hiem-khi-thay-doi-gia-tinh-thue-TTDB-doi-voi-o-to.html

Trong dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung các luật thuế mà Bộ Tài chính đang đưa ra lấy ý kiến có đề xuất về thay đổi giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) đối với ô tô sản xuất trong nước. Theo đó, giá tính thuế TTĐB đối với mặt hàng ô tô từ chín chỗ ngồi trở xuống sản xuất trong nước là giá do cơ sở sản xuất bán ra trừ đi giá trị linh kiện, phụ tùng sản xuất trong nước.

Hiện tại, theo khoản 1, điều 6 Luật Thuế TTĐB, giá tính thuế TTĐB là giá bán ra của cơ sở sản xuất (không trừ giá trị linh kiện, phụ tùng sản xuất trong nước). Các nhà làm luật hy vọng cách tính mới này sẽ khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, tạo điều kiện cho hàng sản xuất trong nước cạnh tranh được với hàng nhập khẩu.

Về bản chất, có thể nói ngay rằng việc thay đổi giá tính thuế TTĐB theo hướng có lợi cho ô tô sản xuất trong nước là một hành vi phân biệt đối xử giữa hàng sản xuất nội địa và hàng nhập khẩu. Do có lợi cho hàng sản xuất nội địa nên các quốc gia đều mong muốn áp đặt các biện pháp mang tính phân biệt đối xử càng sớm, càng lâu thì càng tốt. Tuy nhiên, trên thực tế họ có nên làm như vậy hay không, và có được phép làm như vậy hay không thì lại là một vấn đề khác.

Bảo hộ là con dao hai lưỡi

Có lẽ kết luận trên đúng nhất với chính ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam. Sau hàng chục năm được bảo hộ với đủ loại chính sách ưu đãi về thuế, phí, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam có thể nói gọn lại là vẫn chưa lớn được, nếu không tiếp tục được bảo hộ sẽ nhanh chóng chết yểu. Điều này thể hiện rõ qua việc các hãng sản xuất ô tô của nước ngoài ở Việt Nam sẵn sàng chuyển sang nhập khẩu thay vì sản xuất trong những năm tới khi thuế suất nhập khẩu ô tô nguyên chiếc hạ đến mức thấp nhất theo các cam kết quốc tế.

Thực tế trên không có gì là lạ. Điều lạ là các nhà làm chính sách Việt Nam vẫn tiếp tục muốn bảo hộ ngành công nghiệp ô tô trong nước, đặc biệt là bằng những cách thức mang tính phân biệt đối xử rõ ràng như trên, vốn có thể sẽ gây ra thêm hậu quả không mong muốn như nói thêm ở phần sau.


Dù theo lý thuyết, khi được áp dụng giá tính thuế TTĐB có lợi, các nhà sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước sẽ chuyển sang dùng, và/hoặc kích thích sự phát triển của công nghiệp phụ trợ ngành ô tô ở Việt Nam. Nhưng để công nghiệp phụ trợ ngành ô tô phát triển thì chỉ với điều này là chưa đủ. Công nghiệp phụ trợ ngành ô tô chỉ phát triển được khi có quy mô thị trường, tức số lượng ô tô tiêu thụ, đủ lớn. Nhưng sự mâu thuẫn, chồng chéo trong các chính sách liên quan đến ô tô ở Việt Nam làm cho thị trường ô tô vẫn tiếp tục èo uột với lượng ô tô tiêu thụ còn quá nhỏ so với dân số gần trăm triệu người, chỉ bằng một phần so với những nước trong khu vực như Indonesia và Thái Lan. Vậy cũng không nên hy vọng với thay đổi về giá tính thuế TTĐB sẽ có một làn sóng đầu tư từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước ồ ạt rót vốn vào công nghiệp phụ trợ.

Cũng cần thừa nhận rằng chính sách bảo hộ trên vẫn làm lợi cho một số nhà sản xuất trong ngành công nghiệp phụ trợ khi nhà sản xuất, lắp rắp ô tô nội địa sẵn sàng trả giá cao hơn (so với nhập khẩu) cho sản phẩm của các doanh nghiệp phụ trợ này để hưởng lợi từ giá tính thuế TTĐB thấp đi. Hậu quả là chất lượng ô tô nội địa tiếp tục bị ảnh hưởng (do chất lượng linh kiện, phụ tùng khó bằng sản phẩm nhập khẩu, ít nhất là bởi số lượng nhà cung cấp có hạn so với nguồn cung từ nhập khẩu), trong khi giá thành thì tiếp tục bị đội lên so với trước khi thay đổi giá tính thuế TTĐB. Điều này không chỉ có nghĩa là người tiêu dùng trong nước tiếp tục “lãnh đủ”, quy mô thị trường tiếp tục èo uột, mà còn có nghĩa là tiếp tục đặt ngành ô tô nội địa trong thế thụ động, sống mòn dưới chiếc ô bảo hộ chứ chưa nói đến chuyện viển vông, xa vời là ngày nào đó vươn mình lớn dậy, xuất khẩu được sản phẩm của mình ra thế giới.

Phân biệt đối xử sẽ bị trả đũa

Việc áp đặt giá tính thuế TTĐB có lợi cho ô tô nội địa sẽ phải đối mặt với rủi ro bị kiện tụng và bị trả đũa hay trừng phạt bởi các nước đối tác. Nguyên tắc đối xử quốc gia là một nguyên tắc xương sống trong thỏa thuận của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) mà Việt Nam là một thành viên. Theo đó, các nước thành viên WTO không được đối xử phân biệt giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu. Điều này là để ngăn chặn tình trạng nước A hạ thuế nhập khẩu cho sản phẩm X từ 10% xuống 5% nhưng lại tìm cách nâng các loại thuế khác đánh lên sản phẩm này có nguồn gốc từ nhập khẩu thêm 5% (chẳng hạn là nâng thuế suất thuế tiêu thụ) để rốt cuộc sản phẩm X nhập khẩu vẫn phải chịu 10% thuế như ban đầu.

Và tuy WTO có một số điều khoản ngoại lệ cho việc phân biệt đối xử như trợ cấp cho nhà sản xuất nội địa, bảo hộ bằng thuế mang tính phân biệt trong trường hợp một nước kém phát triển muốn khuyến khích một ngành công nghiệp non trẻ nào đó... nhưng Việt Nam hiện xem ra chẳng đáp ứng được bất cứ điều kiện nào để được phép áp dụng những ngoại lệ này trong việc, ví dụ, áp giá tính thuế TTĐB khác nhau giữa ô tô nội địa và ô tô nhập khẩu.

Trong khi chưa thấy các bộ liên đới có mấy giải trình về khả năng bị kiện tụng, trả đũa bởi các nước đối tác chịu thiệt hại từ hành động đơn phương này của Việt Nam thì có một số chuyên gia lên tiếng coi nhẹ khả năng xảy ra kiện tụng với những lý giải không xác đáng
(1). Sự lơ là, khinh xuất này có khả năng gây ra hậu quả lớn cho Việt Nam nếu đề xuất thay đổi về giá tính thuế TTĐB vẫn cứ được thông qua và có hiệu lực.

-----------
(1) Xem, ví dụ, http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/dau-tu/thue-tieu-thu-dac-biet-giam-o-to-lap-rap-trong-nuoc-re-theo-379143.html

Thursday, 14 September 2017

Lạm phát họp vì đâu? (Bài đăng trên TBKTSG, 14/9/2017, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/164582/Lam-phat-hop-vi-dau.html

Tôi là người ít phải, ít được (dịp) họp hành, kể cả thời gian mấy năm làm việc trong nước (và trong cơ quan nhà nước) lẫn thời gian dài làm ở nước ngoài sau này. Không bàn đến chuyện đây có phải là điều tốt hay không, nhưng tôi thấy cái sự họp nhiều, nhất là ở các cơ quan nhà nước, đến mức mà Chủ tịch TP. Hồ Chí Minh đã phải thốt lên yêu cầu “Họp ít thôi!”, không phải tự nhiên mà có.

Lý do phải họp nhiều đầu tiên là do cách tổ chức công việc kém, người nọ dẫm chân lên người kia, phòng nọ dẫm chân lên phòng kia nên phải họp để biết mà không… dẫm chân lên nhau, kể cả trong công việc hàng ngày. Sự tổ chức công việc kém còn làm cho các nhân viên và phòng ban không có sự độc lập tương đối trong công việc, không tự mình triển khai công việc mà không phải bàn bạc, hỏi, phụ thuộc người khác, phòng khác, cơ quan khác.

Họp nhiều cũng bởi chiến lược, sách lược, chính sách, chủ trương, luật lệ v.v… không rõ ràng, minh bạch nên để tránh tình trạng mỗi người hiểu một kiểu thì buộc phải họp để làm rõ, thống nhất và triển khai.


Họp nhiều đôi khi là hậu quả của việc muốn mượn danh hay huy động sức mạnh tập thể để phục vụ một mục đích, một công việc nào đó mà ít (nhóm) cá nhân nào muốn và đủ sức tiến hành một mình, dù có quyền đi chăng nữa. Nếu số vụ việc nhiều, cần nhiều quyết định tập thể thì số cuộc họp cứ thế mà tăng lên cho tương xứng.
Họp nhiều còn bởi một số cá nhân, nhất là những người tổ chức họp, muốn chứng tỏ mình quan trọng, có quyền lực cũng như có trách nhiệm “lắng nghe tâm tư nguyện vọng” của nhân viên. Quả thật, đôi khi họp hành cũng ra được vấn đề, cũng giải quyết được các phát sinh, vướng mắc trong công việc. Nhiều khi có qua các cuộc họp thì sếp mới biết cấp dưới, đồng nghiệp mới biết đồng nghiệp đang làm gì, đến đâu, cần hợp tác, định hướng, chấn chỉnh thế nào v.v…


Cũng khá phổ biến là họp là dịp để tiêu tiền, nhất là tiền ngân sách, với đủ lý do từ vô bổ đến… hơi hơi có ích như họp mặt truyền thống (ngành, công ty), họp nghe phổ biến chính sách mới, hội nghị tập huấn, họp các loại đoàn thể, chi bộ, hội ở địa phương và ngành, liên ngành, tổ/nhóm công tác, họp mặt chào mừng vị A, vị B đến thăm và làm việc tại đơn vị v.v… Họp xong thì đương nhiên là một số tiền không nhỏ sẽ mất đi dưới dạng quà cáp, phong bì, và chui vào túi những người tổ chức.
Đó là chưa kể, họp là một cái cớ cực tốt để trốn việc, làm việc riêng, đi đây đi đó, giao du, tạo quan hệ, quen biết người này, đối tác kia, dễ đem đến quan hệ làm ăn, mánh mung, hoặc đơn giản chỉ là để ra oai, với xe cộ đưa đón, tùy tùng phục dịch. Nên nói chung là có nhiều người thích… (đi) họp!


Tóm lại, danh sách các nguyên nhân dẫn đến họp nhiều chắc không chỉ dừng lại ở đây. Qua đó, để hạn chế các cuộc họp vô bổ, không cần thiết thì, như trên đã chỉ ra, trước tiên cần tổ chức tốt công việc, phân công và gắn trách nhiệm cụ thể cho cá nhân và tập thể, minh bạch hóa, chuẩn hóa, nâng cấp chất lượng các chủ trương, chính sách, phương hướng hoạt động để tránh những vùng xám, những nội dung tùy nghi diễn giải v.v…
Ứng dụng công nghệ viễn thông, tin học sẽ làm giảm đáng kể các cuộc họp vật lý mà thay vào đó là các thư điện tử, thông báo, trao đổi thông tin nội bộ, họp qua điện thoại, video. Nhân chuyện này cũng xin kể lại một trải nghiệm “thú vị” của tôi với các quan chức nhà nước. Do đòi hỏi của công việc, đôi lúc tôi cần thu xếp các cuộc gặp với các bộ. Theo thông lệ, tôi gửi email đến các địa chỉ công bố để xin hẹn gặp nhưng đa phần là không có hồi âm. Bước tiếp theo là gọi điện trực tiếp đến đơn vị để “trần tình” và xin gặp thì được biết là các vị này chẳng bao giờ kiểm tra email! Suy rộng ra, tin học hóa các cơ quan nhà nước có tác dụng khá hạn chế.


Một cách làm giảm các cuộc họp vô bổ là thắt chặt chi tiêu ngân sách, khoán chi phí, phân loại và thực hiện nghiêm tiêu chuẩn giải ngân, chi tiêu cho các cuộc họp. Những hoạt động tương tự như kỷ niệm ngành, gặp mặt truyền thống v.v… không mang tính chuyên môn, liên quan đến công việc và chức năng cần được hạn chế tối đa.
Để kết thúc, xin nói là ở nước ngoài người ta cũng họp hành nhiều. Ngay trong cơ quan tôi, các phòng họp (thường có phương tiện đàm thoại video) không mấy khi trống, và thường rất chật vật để đăng ký phòng họp. Cũng không thể nói tất cả các cuộc họp rốt cuộc đều là bổ ích, cần thiết. Trong một số cuộc họp có độ chục người ngồi bàn tròn đối mặt nhau mà thậm chí có người ngủ gật hoặc những người khác qua cách họ ngồi có thể thấy là ngồi để cho có, cho xong chuyện. Có điều, hầu như ai cũng ý thức rõ trách nhiệm của mình khi triệu tập họp, yêu cầu người khác họp với mình, trên tinh thần vì công việc chung, có mục đích cụ thể và không (thể) vụ lợi.

Wednesday, 13 September 2017

Việt Nam và giấc mơ ô tô thương hiệu Việt (Bài đăng trên TBKTSG, 13/9/2017, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/164350/Viet-Nam-va-giac-mo-o-to-thuong-hieu-Viet.html

Từ những liên doanh lắp ráp ô tô đầu tiên hình thành trong thập kỷ 90 đến nay, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đã trải qua chặng đường hai chục năm có lẻ, tuy không thể gọi là dài nếu so với lịch sử ngành công nghiệp ô tô thế giới trên trăm năm tuổi, nhưng cũng không thể gọi là ngắn nếu so với thời gian cần thiết để một ngành công nghiệp hoặc một quốc gia có thể cất cánh trên con đường phát triển.
Quy mô thị trường


Nhìn lại, bất chấp tốc độ tăng trưởng khá cao về số lượng ô tô lắp ráp, nhập khẩu và tiêu thụ, cho đến nay thành tích của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam còn rất mờ nhạt. Nếu đo thành tích này bằng số lượng ô tô sở hữu trên 1000 dân thì Việt Nam đứng ở vị trí 151 trên tổng số 191 quốc gia và vùng lãnh thổ vào năm 2014, với mức 23 chiếc/1000 dân (1), thậm chí còn thấp hơn hàng loạt nước kém phát triển có mức GDP bình quân trên đầu người thấp hơn và cơ sở hạ tầng yếu kém hơn Việt Nam như Sudan, Djibouti, Bhutan, Madagascar, Congo, Afghanistan, Yemen... Trong khu vực ASEAN, vị trí này của Việt Nam chỉ cao hơn một chút so với Lào (20 chiếc), Campuchia (22 chiếc), và thấp hơn tất cả các nước còn lại như Philippines (30 chiếc), Indonesia (60 chiếc), Singapore (149 chiếc), Thái Lan (206 chiếc) và Malaysia (361 chiếc). Và cho dù các năm tiếp theo đó, 2015-2016, tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp ô tô vẫn đứng ở mức 2 con số thì sự thay đổi về vị trí thứ hạng của ngành này ở Việt Nam so với khu vực và thế giới chắc cũng không có biến chuyển đột xuất so với thứ hạng năm 2014.
Thực tế trên cho thấy trước hết một điều là mức thu nhập đầu người không phải là một yếu tố chủ chốt và duy nhất quyết định đến mức độ sở hữu ô tô hay là chỉ dấu cho tiềm năng phát triển của ngành công nghiệp ô tô nội địa của bất cứ một quốc gia nào. Điều này cũng có nghĩa là không thể lấy lý do Việt Nam còn là nước nghèo (hoặc chính xác hơn, là nước có thu nhập trung bình thấp) để đổ lỗi cho sự “còi cọc” của ngành công nghiệp ô tô nói riêng và thị trường  ô tô nói chung ở Việt Nam.


Lỗi tại chính sách
Với một thị trường ô tô có số lượng tiêu thụ và sở hữu tính theo dân số ở mức thấp như Việt Nam thì nguyên nhân đầu tiên có thể nghĩ đến là chính sách hạn chế sở hữu ô tô để nhằm các mục đích như bảo vệ môi trường, giảm áp lực lên cơ sở hạ tầng đã và đang bị quá tải… Những chính sách đã được thi hành hoặc đang được đề xuất thi hành như tăng thuế bảo vệ môi trường với xăng dầu, lệ phí trước bạ đều cho thấy dường như có xu hướng hạn chế sự phát triển của thị trường ô tô ở Việt Nam, đối với cả ô tô nội địa và ô tô nhập khẩu.


Một yếu tố khác cản trở sự phát triển của thị trường ô tô Việt Nam không thể không kể đến là mức “sưu cao thuế nặng” đánh lên việc sở hữu ô tô (cả nội địa và nhập khẩu) về bản chất là nhằm nuôi ngân sách nhà nước, đặc biệt là trong bối cảnh thuế quan nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam đã và đang bị giảm mạnh theo các thỏa thuận thương mại song phương và đa phương nên Nhà nước phải tìm cách bù vào bằng việc tăng các loại phí thuế áp dụng với ô tô và các hàng hóa nói chung khác.
Tuy nhiên, nếu nhìn vào mục tiêu chiến lược đặt ra cho ngành công nghiệp ô tô nội địa thì thấy các nhà hoạch định chính sách cho ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đặt ra những con số mục tiêu tham vọng không chỉ về tỷ trọng sản xuất, lắp ráp trong nước ngày càng tăng so với tổng sản lượng ô tô tiêu thụ trong nước (gồm nhập khẩu) mà còn về bản thân con số tổng sản lượng ô tô tiêu thụ (đạt 227.500 chiếc năm 2020, tăng lên 466.400 chiếc năm 2025 và 1.531.400 chiếc năm 2030) (2). Các chính sách ưu đãi dành cho ngành sản xuất, lắp ráp ô tô nội địa và công nghiệp phụ trợ trong nước cũng được thiết kế theo hướng nhằm tăng cường năng lực và sản lượng sản xuất, láp rắp của các nhà sản xuất, lắp ráp ô tô nội địa để tăng quy mô thị trường với tỷ trọng ngày càng tăng của ô tô nội địa.


Như vậy, có thể nói rằng chiến lược phát triển ngành ô tô Việt Nam không những không hề có chút e ngại nào về các tác động tiêu cực có thể có của việc sử dụng ô tô lên môi trường và hạ tầng mà, ngược lại, còn ra sức khuyến khích sự phát triển ngành này ở Việt Nam.
Phân tích trên cho thấy mâu thuẫn trong mục tiêu chính sách – vừa muốn phát triển ngành công nghiệp ô tô, thị trường ô tô, vừa muốn tăng thu, tận thu thật nhiều từ ngành này – là một trong những nguyên nhân chính làm cho ngành công nghiệp ô tô nội địa phát triển chật vật dưới tiềm năng, lệch lạc, không chỉ làm thiệt hại người tiêu dùng mà còn làm tổn hại ngay chính ngân sách khi thu từ thuế phí lên ô tô hiện tại dựa trên sản lượng tiêu thụ khiêm tốn và sức lan tỏa hạn hẹp của ngành sản xuất, lắp ráp ô tô nội địa ra toàn ngành kinh tế sẽ không thể so sánh được với khi quy mô thị trường  và mức độ lan tỏa ra nền kinh tế của ngành ô tô ở giai đoạn phát triển cao hơn.


Để giấc mơ không mãi là giấc mơ 
Thị trường ô tô Việt Nam ngày càng trở nên chật hẹp, cạnh tranh và khó khăn hơn với ngay cả những nhà sản xuất ô tô hàng đầu thế giới và khu vực, đến mức mà một số nhà sản xuất như Toyota đã sẵn sàng ngừng sản xuất, lắp ráp ở Việt Nam để nhập khẩu sản phẩm hoàn chỉnh trong những năm tới. Nhưng những điều này dường như không dập tắt được giấc mơ phát triển ô tô nội địa/thương hiệu Việt, dù đã có những tấm gương về sự thất bại.  Mới đây, Vingroup đã công bố dự án tổ hợp sản xuất ô tô Vinfast với mục tiêu ra mắt ô tô thương hiệu Việt vào năm 2019 và trở thành nhà sản xuất hàng đầu trong khu vực với sản lượng dự kiến hàng trăm nghìn chiếc ở giai đoạn 1.   


Tuy dự án trên và một số dự án phát triển ô tô nội địa khác đã nhận được sự tán đồng và ủng hộ của Chính phủ nhưng điều này cần được cụ thể hóa trước tiên bằng việc Chính phủ nhất quán về chủ trương, chính sách của mình với ngành ô tô. Như trên đã phân tích, nếu muốn phát triển ngành ô tô thì điều kiện tiên quyết là phải hạ thấp và bãi bỏ các rào cản nhằm hạn chế sự phát triển về quy mô của thị trường ô tô ở Việt Nam. Chính quy mô của thị trường mới là lực hấp dẫn lớn nhất lôi kéo những nhà đầu tư trong nước như Vingroup tính toán và đầu tư vào ngành này trong nước. Quy mô thị trường sẽ giúp họ tìm được phân khúc thị trường phù hợp, tăng hiệu quả kinh tế nhờ quy mô của dự án, hỗ trợ sự phát triển của công nghiệp phụ trợ trong nước.
Đương nhiên, song hành với nỗi lo hạ thấp phí thuế sẽ là nỗi lo cố hữu về sự chết yểu của ô tô nội địa trước làn sóng ô tô nhập khẩu giá rẻ. Nhưng trong bối cảnh hiện tại và sắp tới thì đây sẽ là một thực tế phải chấp nhận vì những gì diễn ra trong suốt hơn hai chục năm qua cho thấy bảo hộ ngành công nghiệp ô tô trong nước bằng thuế phí và các rào cản phi thuế quan là vô tác dụng và gây tổn thất lớn cho người tiêu dùng và ngân sách. Ngược lại, sự tự tin và kế hoạch đầu tư bài bản của các nhà đầu tư tư nhân trong nước như Vingroup cho thấy vẫn có nhiều cơ hội cho nhà đầu tư (trong nước) nghiêm túc, có tiềm lực, kinh nghiệm và mạng lưới, hoạt động trong một thể chế minh bạch, nhất quán.




(2)    http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/cong-nghiep-oto-20-nam-van-mot-nga-ba-duong-3205082.html

Sunday, 10 September 2017

Thấy gì qua động thái Kho bạc gửi hơn 160 nghìn tỷ đồng ở ngân hàng? (Bài đăng trên CafeF, 10/9/2017, bản gốc)

http://cafef.vn/thay-gi-qua-dong-thai-kho-bac-gui-hon-160-nghin-ty-dong-o-ngan-hang-20170910145749518.chn

Thông tin mới đây cho thấy tính đến cuối tháng 8, Kho bạc Nhà nước đã gửi khoảng 160 nghìn tỷ đồng tại các ngân hàng thương mại, trong đó có mặt các ngân hàng có vốn của nhà nước, bên cạnh một số ngân hàng thương mại cổ phần khác.

Nhận định về tác động của việc này, một số ý kiến cho rằng nguồn tiền gửi của Kho bạc Nhà nước giúp các ngân hàng thương mại có thêm nguồn lực để ổn định thanh khoản, qua đó gián tiếp làm giảm áp lực lên lãi suất. Đồng thời, nhờ có nguồn vốn dồi dào này nên các ngân hàng có điều kiện để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng.

Nhận định trên là không thỏa đáng vì đã đơn giản hóa vấn đề và bỏ qua nhiều thực tế.

Thanh khoản chẳng thay đổi

Hãy hình dung trước khi Kho bạc Nhà nước phát hành trái phiếu, trong nền kinh tế đang có 1000 đồng thanh khoản sẵn sàng để cho vay. Giả sử thêm là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) không can thiệp gì thêm vào cung tiền, để nền kinh tế tự xoay sở với số thanh khoản 1000 đồng này.

Khi Kho bạc phát hành 500 đồng trái phiếu cho các ngân hàng thương mại mua vào qua đấu giá, các ngân hàng phải bỏ ra 500 đồng từ thanh khoản của mình để mua số trái phiếu này. Kết cục lượng thanh khoản còn lại có thể cho vay ra nền kinh tế chỉ là 500 đồng.
Nay, khi Kho bạc “ế” vốn, buộc phải đem số tiền 500 đồng là số tiền thu được từ bán trái phiếu gửi vào ngân hàng để vớt vát được tiền lãi cho khỏi phí, điều này làm cho hệ thống ngân hàng có thêm 500 đồng thanh khoản. Như vậy, lượng thanh khoản có thể dùng để cho vay ra nền kinh tế sẽ quay trở lại thành 1000 đồng như lúc ban đầu, trước khi Kho bạc bán trái phiếu.

Nếu Kho bạc giải ngân được một phần trong số 500 tỷ đồng huy động được này thì đương nhiên lượng tiền gửi của Kho bạc tại các ngân hàng thương mại sẽ giảm xuống thấp hơn con số 500 đồng, chẳng hạn là 400 đồng (vì 100 đồng đã được giải ngân). Nói cách khác, tổng lượng thanh khoản trong nền kinh tế sẽ giảm xuống còn 900 đồng.

Như vậy, việc Kho bạc Nhà nước huy động vốn xong rồi lại đem gửi ngược vào ngân hàng sẽ không cải thiện được thanh khoản chút nào, và thậm chí, ngược lại, còn làm giảm thêm thanh khoản đi nếu Kho bạc đã “kịp” giải ngân một phần vốn huy động này. Ngoài ra, do thanh khoản không thay đổi hoặc thậm chí còn giảm đi, nên các ngân hàng không thể đẩy mạnh cho vay, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng như một số ý kiến vẫn nhận định.

Tất nhiên nếu xét từ thời điểm sau khi Kho bạc nhà nước đã phát hành trái phiếu và hút tiền về làm giảm thanh khoản (giảm 500 đồng như ví dụ trên), sau đó nếu Kho bạc nhà nước gửi trở lại ngân hàng số tiền huy động này thì về mặt nào đó có thể nói là hỗ trợ, ổn định thanh khoản nhưng việc ổn định, hỗ trợ này chỉ là sự “tự cởi trói” thì đúng hơn.

Khi NHNN phải “hỗ trợ”…

Trong giả định ở phần trên, NHNN không can thiệp gì vào cung tiền. Nhưng do Chính phủ luôn yêu cầu NHNN – một ngân hàng trung ương không độc lập với Chính phủ như ở các nước khác – phải “điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt” để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tức là gián tiếp yêu cầu NHNN phải hỗ trợ thanh khoản để hệ thống ngân hàng thương mại có thêm vốn mua trái phiếu Chính phủ, nên trên thực tế NHNN thường phải nới lỏng chính sách tiền tệ để bơm thêm thanh khoản vào hệ thống ngân hàng để cung ứng đủ vốn đáp ứng nhu cầu huy động của Kho bạc Nhà nước qua phát hành trái phiếu.

Trước kế hoạch của Kho bạc Nhà nước huy động một lượng vốn “khủng”, trên 240 nghìn tỷ đồng qua phát hành trái phiếu năm nay (và đã huy động được 204.500 tỷ đồng tính đến giữa tháng 8), rõ ràng NHNN không thể ngồi nhìn thanh khoản trên thị trường căng rồi đẩy lãi suất liên ngân hàng và các loại lãi suất huy động khác tăng lên. Vậy là một lượng vốn không hề nhỏ đã được NHNN bơm thêm vào nền kinh tế để phục vụ nhu cầu của Kho bạc. Chưa bàn đến lượng vốn mới này đi về đâu, bản thân việc NHNN bơm thêm một lượng tiền như vậy đã tạo ra thêm áp lực lạm phát. Nay, việc giải ngân của Kho bạc bị chậm trễ càng làm tăng thêm cái giá phải trả cho nền kinh tế, vì không những gây tổn thất cho chính ngân sách mà còn làm nhỡ các cơ hội đầu tư tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Rắn tự ăn đuôi

Việc Kho bạc Nhà nước huy động vốn xong lại gửi vào ngân hàng hưởng lãi cũng tương tự như việc một con rắn tự ăn đuôi mình. Không rõ kỳ hạn và loại hình tiền gửi của Kho bạc tại các ngân hàng thương mại cụ thể là như thế nào nhưng chắc chắn trong đó có có các khoản tiền gửi không kỳ hạn hoặc kỳ hạn ngắn. Điều này có thể là do việc chậm trễ giải ngân vốn cho các dự án đầu tư công có thể được khắc phục trong các thời điểm khác nhau, không dự tính trước được (ngay đến kế hoạch giải ngân đầu tư công lúc ban đầu cũng đã không thực hiện được, bị chậm trễ). Lúc đã thông thì các dự án này lập tức sẽ cần vốn. Do đó, Kho bạc buộc phải gửi ít nhất là một phần đáng kể vốn “ế” dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn hoặc ngắn hạn để sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu giải ngân vốn đột xuất. Nhìn rộng ra, mục đích huy động vốn qua phát hành trái phiếu là để chi tiêu công chứ không phải gửi tiết kiệm vào ngân hàng, nên sự gửi tiền ấy, nếu có, cũng chỉ là tạm thời và kỳ hạn ngắn.

Lãi suất trúng thầu trái phiếu biến động tùy thời điểm, nhưng tính sơ bộ thời gian gần đây cũng khoảng mức 5%/năm (ví dụ, lãi suất trúng thầu trái phiếu kỳ hạn 5 năm phát hành vào tháng 7 thấp ở mức kỷ lục nhưng cũng đã là 4,69%/năm, còn trước đó vào đầu tháng 5, lãi suất trúng thầu cho cùng loại trái phiếu đứng ở mức 5,22%/năm). Nếu Kho bạc Nhà nước đem gửi số tiền này vào ngân hàng, nhất là những ngân hàng thương mại có vốn nhà nước lớn vốn thường chỉ chào lãi suất huy động thấp hơn hẳn các ngân hàng thương mại cổ phần khác (kỳ hạn ngắn của 3 ngân hàng lớn nhất chỉ từ 4,3 - 5,2%/năm) thì lãi suất được hưởng thậm chí sẽ còn thấp hơn cả lãi suất mà Kho bạc huy động từ các ngân hàng. Như thế, lợi đâu chưa thấy, chỉ thấy trước mắt là ngân sách bị ảnh hưởng vì lãi tiền gửi thu về không đủ bù cho lãi phải trả cộng thêm chi phí phát hành trái phiếu.

Wednesday, 30 August 2017

Tác động gì có thể xảy ra khi giãn lộ trình giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn? (Bài đăng trên CafeF, 30/8/2017)

http://cafef.vn/tac-dong-gi-co-the-xay-ra-khi-gian-lo-trinh-giam-ty-le-su-dung-von-ngan-han-cho-vay-trung-dai-han-20170830162616053.chn

Ngân hàng nhà nước (NHNN) đang đưa ra lấy ý kiến góp ý cho Dự thảo thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 36/2014/TT-NHNN (Sau đây gọi tắt là Dự thảo) quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn cho hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Xoay quanh câu chuyện này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với TS. Phan Minh Ngọc, chuyên gia kinh tế tài chính.


PV: Thưa ông vì sao NHNN lại đưa Thông tư 36 ra sửa đổi khi chỉ còn 4 tháng nữa là áp dụng các quy định mới về tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn theo lộ trình?
TS. Phan Minh Ngọc: Cần lưu ý rằng, Thông tư 36 đã được sửa đổi, bổ sung bằng Thông tư số 06/2016/TT-NHNN hồi tháng 6 năm ngoái. Theo Thông tư 06 từ ngày 1/1/2017 đến ngày 31/12/2017, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung hạn của các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng hợp tác xã được giảm xuống mức 50% và giảm tiếp xuống 40% từ ngày 1/1/2018. Tỷ lệ tương ứng của các tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng là 90% trong năm 2017 và 80% kể từ đầu năm 2018.


Còn theo Dự thảo lần này, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ chỉ giảm xuống còn 45% kể từ đầu năm 2018 và sẽ giảm tiếp xuống mức 40% kể từ đầu năm 2019. Các TCTD phi ngân hàng vẫn được giữ nguyên tỷ lệ này ở mức 90%.
Bên cạnh đó, Dự thảo nâng tỷ lệ tối đa mua, đầu tư trái phiếu Chính phủ so với nguồn vốn ngắn hạn của các ngân hàng thương mại nhà nước lên 25% từ mức 15% như quy định hiện hành. Mức này của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được đề xuất nâng lên 35% từ 15%...


Bối cảnh cho những thay đổi trên, theo NHNN là Nghị quyết số 46/NQ-CP ngày 9/6/2107 của Chính phủ yêu cầu NHNN phối hợp chặt chẽ với một số bộ khác để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, phấn đấu tăng trưởng tín dụng năm 2017 vượt mức kế hoạch 18% và điều chỉnh hạn mức tín dụng cho vay trung dài hạn của các TCTD…


Có nhiều ý kiến đã phân tích về những nguyên nhân rồi dự đoán tác động của việc thay đổi. Còn ông đánh giá ra sao về sự thay đổi này, ai sẽ là những người được hưởng lợi nhiều nhất?
Theo ước tính của Công ty chứng khoán VCBS, tỷ lệ vốn ngắn hạn sử dụng cho vay trung và dài hạn của hệ thống hiện nay vào khoảng 45%. Nếu ước tính này là đúng thì đương nhiên các đối tượng hưởng lợi đầu tiên là các TCTD nói chung bởi họ sẽ không phải tăng ngay từ bây giờ các lãi suất tiết kiệm trung và dài hạn để huy động cho đủ lượng vốn trung và dài hạn cần thiết nhằm đưa tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của mình xuống còn 40% vào đầu năm sau như quy định trong Thông tư 06. Nói cách khác, tính từ thời điểm này trở đi TCTD sẽ có đến 2 năm 4 tháng để đạt được tỷ lệ 40% này thay vì chỉ còn 4 tháng nếu không sửa đổi Thông tư 06.


Do cơ cấu nguồn vốn không bị thay đổi một cách khá gấp gáp, đột ngột theo hướng tăng tỷ trọng vốn trung và dài hạn với lãi suất huy động cao hơn so với vốn ngắn hạn thì chi phí vốn của các TCTD nhìn chung sẽ không có biến động nhiều so với hiện tại. Đây là một tiền đề để mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục được duy trì ổn định hoặc giảm đi nếu các nguồn vốn cho vay ngắn hạn lãi suất thấp (vay liên ngân hàng, hoạt động bơm tiền của NHNN qua thị trường mở và tái chiết khấu) tiếp tục tăng lên theo hướng mở rộng cung tiền của NHNN.
Như vậy, đối tượng hưởng lợi tiếp theo là các cá nhân và doanh nghiệp vay vốn khi mặt bằng lãi suất cho vay ổn định hoặc có xu hướng giảm đi. Suy rộng ra, nền kinh tế sẽ có thêm kích thích để tăng trưởng nhanh hơn trong những quý sau (nếu NHNN tiếp tục đẩy mạnh cung tiền).


Việc giảm lộ trình giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn cũng có thêm một cái lợi khác là NHNN sẽ không phải tăng cung tiền quá mạnh để đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng như yêu cầu của Chính phủ. Nếu thực hiện đúng lộ trình giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn trong khi phải cấp tập bơm tiền thì điều này không khác gì khi việc vừa tăng ga, vừa đạp phanh khi lái xe. Hậu quả của việc này sẽ làm nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng thấp so với yêu cầu trong khi lạm phát có nguy cơ bùng phát mạnh.
Bên cạnh đó, việc nâng tỷ lệ tối đa mua, đầu tư trái phiếu Chính phủ so với nguồn gốc vốn ngắn hạn của các TCTD như trong Dự thảo sẽ giúp Chính phủ bán được nhiều trái phiếu hơn và dễ dàng hơn, có thể với lợi suất thấp hơn so với trường hợp không được nới lỏng. Như vậy, chính sách tài khóa sẽ nhận được thêm hậu thuẫn (một cách gián tiếp) bởi chính sách tiền tệ nới lỏng.


Không chính sách nào không mang tính hai mặt, vậy “mặt bên kia” của việc sửa đổi Thông tư 36 là gì thưa ông?
Đúng vậy, không có chính sách nào là không có tính 2 mặt. Điều này cũng đúng với chính sách giãn lộ trình như trong Dự thảo. Như tôi đã chỉ ra trước đây về khả năng Thông tư 36 và 06 sẽ tiếp tục bị sửa đổi, việc đặt ra những con số mục tiêu và lộ trình trong Thông tư 36, rồi Thông tư 06 và kể cả Dự thảo phần nhiều mang tính "đối phó", dễ bị “lung lạc” bởi, hoặc chạy theo thị trường. Với tính chất như vậy, thị trường sẽ rất dễ “nhờn” với các biện pháp chính sách can thiệp khác và sau này của NHNN.


Điều này được thể hiện rõ ở chỗ là dù chỉ còn 4 tháng nữa là sẽ đến thời điểm phải thực hiện giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn nhưng tỷ lệ này hiện vẫn còn quá cao (45%), khó có khả năng hiện thực hóa mục tiêu 40% nếu Thông tư 06 vẫn tiếp tục còn hiệu lực, không bị sửa đổi bởi Dự thảo. Nói cách khác, dường như các TCTD cũng đã đoán nhận được tình hình, và thấy được tính không nhất quán trong chính sách kèm với khả năng cao là NHNN sẽ phải sửa đổi Thông tư 36 thêm một lần nữa (bằng việc sửa đổi Thông tư 06) nên họ đã không tích cực, nỗ lực giảm tỷ lệ này theo đúng lộ trình.
Ngoài ra, việc tăng cường bơm tiền cho ngân sách gián tiếp thông qua nới lỏng tỷ lệ đầu tư trái phiếu Chính phủ so với nguồn vốn ngắn hạn của các TCTD vừa làm tăng áp lực lên lạm phát (vì chính sách tiền tệ lúc này còn phải cáng đáng thêm cả nhu cầu vay mượn tăng lên, với lợi suất thấp hơn, của ngân sách), đồng thời dễ làm tăng sự thụ động, ỷ lại của các TCTD vào việc mua trái phiếu Chính phủ thay cho việc tích cực và nỗ lực cho vay ra nền kinh tế thực để thúc đẩy tăng trưởng.


Vậy theo ông NHNN cần làm gì tiếp theo để giảm thiểu những tác động không mong muốn đó?
Cũng có thể NHNN sẽ biện minh cho sự thay đổi này với lý do phải thực hiện theo yêu cầu của Chính phủ. Như vậy, một mặt, Chính phủ cũng nên cân nhắc thế khó của NHNN để có những yêu cầu phù hợp hơn. Mặt khác, NHNN cần tiến hành những bước đi chính sách mang tính thận trọng, khả thi và thực tế hơn để giảm thiểu tính không nhất quán và chế tài yếu, thiếu tính dẫn dắt thị trường trong các chính sách của mình.


Xin cảm ơn những chia sẻ của ông!

Quản lý nợ công: Đầu mối không quan trọng bằng minh bạch (Bài đăng trên TBKTSG, 29/8/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/163909/Quan-ly-no-cong-Dau-moi-khong-quan-trong-bang-minh-bach.html


Theo dự luật Quản lý nợ công hiện tại thì sẽ có đến 3 cơ quan cùng tham gia quản lý nợ công là Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Đây là điều mà nhiều người không đồng tình, vì cho rằng khi quản lý phân tán giữa nhiều đầu mối thì sẽ khó xác định được con số thực của nợ công. Việc có đến 3 đầu mối cùng quản lý nợ công như thế này cũng không phù hợp với yêu cầu của Bộ Chính trị là phải bảo đảm tập trung thống nhất trong quản lý nợ công nhằm sớm khắc phục tình trạng quản lý nợ công còn chồng chéo, chưa gắn trách nhiệm cân đối ngân sách, vay và trả nợ với phân bổ, sử dụng vốn. Việc quy về một đầu mối còn không những giảm được biên chế, thủ tục hành chính, phiền hà mà còn giúp cho đàm phán nợ công thuận lợi hơn.
Một số ý kiến còn cho rằng thông lệ trên thế giới là quy định rõ một đầu mối quản lý tập trung, thống nhất nguồn lực nợ công. Thậm chí, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân còn cho rằng việc một người đi đàm phán, một người phân bổ số nợ vay, một người đi trả nợ là bất hợp lý, và khẳng định: “chẳng quốc gia nào giống như chúng ta”.

Ngược lại, cũng có không ít ý kiến ủng hộ dự luật, và cho rằng quy định như dự luật sẽ không làm xáo trộn chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành. Ví dụ, NHNN đã và đang làm tốt vai trò chủ trì đàm phán với Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển Châu Á nên sẽ là thuận lợi hơn nếu để NHNN tiếp tục chủ trì đàm phán, ký kết vay với các tổ chức này. Đồng thời, việc có 3 cơ quan cùng quản lý sẽ tạo ra cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực lẫn nhau, hạn chế độc quyền.
Bên cạnh đó, có ý kiến cho biết: “Nếu soi chiếu kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là các quy định của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hay WB thì cũng không có một mô hình mẫu nào về quản lý nợ công. Tùy theo thể chế, các quốc gia có thể giao một hoặc nhiều bộ, ngành khác nhau quản lý nợ công. Do đó việc tham khảo quốc tế là cần thiết nhưng cần có sự linh hoạt, không cứng nhắc”.

Không có mô hình mẫu trên thế giới
Trước tiên, cần tán đồng với ý kiến rằng không có một mô hình mẫu nào về quản lý nợ công trên thế giới, kể cả khi soi chiếu các quy định của IMF hay WB. Điều này có nghĩa là vẫn có nhiều nước đang có một cơ chế quản lý nợ công phân tán giống như Việt Nam.

Trong bản chỉ dẫn về quản lý nợ công (sau đây gọi là Bản chỉ dẫn), phiên bản sửa đổi năm 2014 được soạn thảo bởi IMF và WB (1) có nêu rõ rằng thực tế cho thấy có nhiều lựa chọn về đầu mối (cơ quan quản lý chức năng) trong việc phân bổ chức năng quản lý nợ công, gồm một hoặc nhiều hơn trong số những đầu mối sau: Bộ Tài chính, Ngân hàng Trung ương (NHTW), hay một cơ quan quản lý nợ công (DMO) độc lập.
Một nghiên cứu của IMF về quản lý nợ công ở các nước thuộc nhóm OECD trong cuối thập kỷ 80 đến thập kỷ 90 cũng cho thấy các nước này mô hình thể chế về quản lý nợ công rất khác nhau. Trong khi một số nước thành lập cơ quan quản lý nợ công độc lập (SDMO) thì một số nước khác lại không thấy có nhu cầu tại sao phải tách rời các SDMO này với Bộ Tài chính. (2) 

Quan trọng là minh bạch, phối hợp và chịu trách nhiệm
Trở lại với hai luồng ý kiến ủng hộ và phản đối dự luật nêu trên, có thể thấy luồng ý kiến phản đối việc để cả 3 đầu mối cùng quản lý nợ công là chưa có cơ sở chắc chắn, ngoài chuyện nêu không chính xác về kinh nghiệm của thế giới. Sẽ là không có gì đảm bảo rằng việc tập trung về một mối sẽ tự khắc dẫn đến giảm biên chế, tăng hiệu quả. Bởi cũng từ kinh nghiệm thực tiễn ở Việt Nam cho thấy việc sáp nhập, hợp nhất các cơ quan quản lý chỉ làm giảm số lượng đầu mối chứ thực ra không làm giảm được mấy nhân sự và vị trí (quản lý).

Việc cho rằng quy về một đầu mối sẽ tránh được tình trạng chồng chéo, chưa gắn trách nhiệm cân đối ngân sách, vay và trả nợ với phân bổ, sử dụng vốn… cũng không nhất thiết là đúng, vì ngay đến chính sách “một cửa” cũng còn lắm vấn đề để nói. Nếu trong bản thân đầu mối thống nhất này có một bộ máy phức tạp, nhập nhằng chức năng, nhiệm vụ thì rốt cuộc mọi thứ vẫn cứ rối tinh lên, vẫn kém hiệu quả, dễ lạm quyền.
Ngay cả về lợi ích đàm phán nợ công thuận lợi hơn khi tập trung về một đầu mối cũng không nhất thiết sẽ xảy ra nếu người đàm phán không phối hợp hữu hiệu với các cơ quan chức năng khác như NHNN và Bộ Tài chính để căn cứ vào tình hình và bối cảnh vĩ mô, chính sách tiền tệ, hối đoái… mà có chiến lược đàm phán phù hợp.

Cũng chính từ những cơ sở không chắc chắn nói trên, điều quan trọng rút ra được cho mô hình quản lý nợ công ở Việt Nam là các “từ khóa” sau: Phối hợp, minh bạch, và chịu trách nhiệm. Nói cách khác, phân tách thành 3 đầu mối hay hợp nhất thành một đầu mối duy nhất không quan trọng bằng việc cần thiết phải đảm bảo thực hiện tốt những yêu cầu này.
Về yêu cầu phối hợp tốt, Bản chỉ dẫn nêu rõ các cơ quan liên đới như DMO (cơ quan quản lý nợ công), Bộ Tài chính và NHTW phải cùng hiểu biết chung và chia sẻ về mục tiêu quản lý nợ công và các chính sách tài khóa, tiền tệ, do có sự liên kết chéo và phụ thuộc lẫn nhau trong các công cụ chính sách của các cơ quan này. Chẳng hạn, DMO và Bộ Tài chính cần phải chia sẻ thông tin về nhu cầu luồng tiền cho ngân sách hiện tại và tương lai; NHTW cần phải thông báo cho Bộ Tài chính về các tác động có thể có của mức nợ công lên việc đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ. Việc phối hợp này phải được đặt trong bối cảnh đảm bảo môi trường vĩ mô lành mạnh.

Cũng cần lưu ý rằng việc phối hợp này không có nghĩa là NHTW tạo điều kiện cung cấp tín dụng lãi suất thấp cho Chính phủ bằng cách thi hành chính sách tiền tệ nới lỏng bất cẩn với lý do là hỗ trợ ngân sách, vì đây không phải là sứ mệnh của NHTW. Bởi vậy, chức năng và mục tiêu quản lý nợ công cần được tách bạch khỏi chức năng và mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Về yêu cầu minh bạch và gắn trách nhiệm, Bản chỉ dẫn nêu rằng cần phân bổ trách nhiệm một cách rõ ràng giữa Bộ Tài chính, NHTW, hay SDMO (cơ quan quản lý nợ công độc lập) trong công tác quản lý nợ công. Bên cạnh đó, các mục tiêu của quản lý nợ công cũng cần được quy định rõ ràng và được công bố minh bạch. Tương tự như vậy là các hoạt động quản lý nợ công, thông qua báo cáo thường niên và báo cáo định kỳ ra công chúng… Quan trọng không kém, các hoạt động quản lý nợ công, gồm cả quy trình quản lý rủi ro và hệ thống thông tin cần được kiểm toán hàng năm bởi tổ chức kiểm toán độc lập để đảm bảo trách nhiệm giải trình trong các hoạt động của này của cơ quan liên đới.

Tóm lại, Việt Nam vẫn có thể duy trì cơ chế 3 bên cùng quản lý nợ công như hiện tại, nhưng phải đảm bảo rằng không có sự thỏa hiệp hay xung đột về lợi ích và sứ mệnh, có sự gắn và giải trình trách nhiệm rõ ràng, minh bạch, và cùng phải hướng đến mục tiêu chung là duy trì môi trường kinh tế vĩ mô lành mạnh.
-----------
(1)   https://www.imf.org/en/Publications/Policy-Papers/Issues/2016/12/31/Revised-Guidelines-for-Public-Debt-Management-PP4855
(2)http://treasury.worldbank.org/bdm/pdf/6_Institutional_Arrangements_PDM_CurrieDethierTogo.pdf

Friday, 25 August 2017

Chưa có cơ sở thuyết phục để tăng thuế giá trị gia tăng (Bài đăng trên TBKTSG Online, 25/8/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/164038/Chua-co-co-so-thuyet-phuc-de-tang-thue-gia-tri-gia-tang.html



Chưa có cơ sở thuyết phục để tăng thuế giá trị gia tăng
Phan Minh Ngọc


(TBKTSG Online) - Đề xuất nâng thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) từ 10% lên 12% là chưa có cơ sở thuyết phục như được chỉ ra trong bài dưới đây.
Bộ Tài chính đang đưa ra lấy ý kiến rộng rãi về dự án luật sửa đổi, bổ sung các luật thuế, trong đó có việc tăng thuế GTGT. Giải trình cho sự cần thiết của luật này, Bộ Tài chính đưa ra ba lý do, đó là: (1) Thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về hoàn thiện chính sách thuế nhằm mục tiêu cơ cấu lại nguồn thu ngân sách nhà nước, (2) Thực hiện mục tiêu cải cách, xây dựng hệ thống thuế đồng bộ, phù hợp thông lệ quốc tế, và (3) Khắc phục những vướng mắc của các luật thuế hiện hành, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp
Riêng với thuế GTGT, Bộ Tài chính nêu thêm rằng: "Mức thuế suất thông thường 10% tương đối thấp, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, khó đảm bảo an toàn tài chính quốc gia”, để rồi lấy đó làm lý do chính cho đề xuất nâng thuế suất thuế GTGT từ 10% lên 12%.
Tuy nhiên, ngoài những yếu tố không hợp lý đằng sau đề xuất nâng thuế suất thuế GTGT như đã được nhiều người chỉ ra, kể cả nếu chiếu theo ba lý do mà Bộ Tài chính lấy làm cơ sở cho sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung các luật thuế như nêu ở trên thì vẫn có thể thấy rằng đề xuất nâng thuế suất thuế GTGT từ 10% lên 12% là chưa có cơ sở thuyết phục, như được chỉ ra dưới đây.
Cơ cấu lại nguồn thu không có nghĩa là tăng thuế
Cụ thể hơn, với lý do thứ nhất, cơ cấu lại nguồn thu ngân sách theo Nghị quyết số 07-NQ TW của Bộ Chính trị mà Bộ Tài chính trích dẫn có đề ra mục tiêu cơ cấu lại ngân sách nhà nước theo hướng bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
Các giải pháp thực hiện mục tiêu là tập trung cơ cấu lại nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, tăng tỷ trọng thu nội địa. Tuy nhiên các giải pháp này không có nghĩa là phải tăng thuế suất. Chẳng hạn, việc tăng thu từ thuế có thể đạt được thông qua tăng đối tượng chịu thuế và tăng cường các biện pháp chống trốn thuế, gian lận thuế.
Không có cái gọi là “thông lệ quốc tế”
Về lý do thứ hai, xây dựng hệ thống thuế đồng bộ, phù hợp thông lệ quốc tế. Cần lưu ý rằng ngay ở các nước châu Âu có thuế suất thuế GTGT cao như Đức và Czech thì họ vẫn áp dụng các mức thuế suất GTGT khác nhau cho các loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau.
Quan trọng hơn, lý do này cũng không có nghĩa là phải tăng thuế suất thuế GTGT, bởi ngay trong thống kê mà Bộ Tài chính đưa ra hoặc trích dẫn trong dự thảo vẫn có sự khác biệt rất lớn giữa các nước và khu vực để có thể nói thực ra là chẳng có cái gọi là “thông lệ quốc tế" nào, trừ một thực tế là có nhiều nước đang có thuế suất thuế GTGT cao hơn của Việt Nam.  Thực ra, thuế GTGT ở mỗi nước như thế nào là tùy vào hoàn cảnh cụ thể của nước đó, chứ chẳng có mô hình chung nào để áp dụng cho “phù hợp” cả!
Tăng thuế sẽ làm khó thêm cho doanh nghiệp
Đối với lý do thứ ba, “khắc phục những vướng mắc của các luật thuế hiện hành, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp”, thì sự tăng thuế GTGT là đi ngược lại tinh thần mà Bộ Tài chính nêu ra. Vì sự tăng thuế này chắc chắn sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp khi người tiêu dùng buộc phải thu hẹp hành vi mua sắm, tiêu dùng để đương đầu với chi phí đắt đỏ hơn do tăng thuế.
“Khó đảm bảo an toàn tài chính quốc gia” là lý do na vời, chưa được kiếm chứng
Theo dự thảo nói trên, Bộ Tài chính cho rằng mức thuế suất 10% là “khó đảm bảo an toàn tài chính quốc gia” để có thêm căn cứ đề xuất tăng thuế GTGT. Tuy vậy, nếu muốn chứng minh mức thuế 10% này là thấp, chưa đủ để bảo đảm nguồn thu ngân sách thì Bộ Tài chính cần chứng minh thêm rằng việc tăng thuế GTGT lên, ví dụ 12%, sẽ không gây tác động tiêu cực đến thu ngân sách, dù vẫn biết rằng tăng thuế hầu như chắc chắn sẽ làm giảm tiêu dùng, giảm các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế, và thậm chí còn làm giảm ngay cả số thuế GTGT có thể thu được do các hoạt động kinh tế bị tác động.
Nói cách khác, Bộ Tài chính cần phải đưa ra những tính toán khoa học cho thấy tác động của các kịch bản khác nhau về thuế GTGT lên nền kinh tế và thu ngân sách để cho thấy muốn tăng thu, giảm thâm hụt ngân sách thì chỉ còn cách tăng thuế.
Và lẽ ra Bộ cũng cần tính toán liệu việc tăng thuế có làm giảm tăng trưởng GDP, dẫn đến sự đánh đổi giữa “giải cứu” ngân sách với "hy sinh" tăng trưởng, vốn rốt cuộc lại làm giảm “an toàn tài chính quốc gia” nếu căn cứ vào tỷ lệ nợ công tính trên GDP sẽ tiếp tục tăng lên do GDP sẽ tăng chậm lại vì tăng thuế.
Về tư duy về quản trị tài chính quốc gia, để đảm bảo tài chính quốc gia được lành mạnh, thể hiện ở việc cải thiện không ngừng mức thâm hụt ngân sách tiến tới cân bằng và ít chịu tác động từ bên ngoài thì không chỉ có duy nhất một giải pháp là tăng thuế, phí. Các giải pháp hữu hiệu thường phải làm là cắt giảm chi tiêu, nâng cao hiệu quả chi tiêu, giảm thất thoát, lãng phí trong chi tiêu và đầu tư công.
Tóm lại, qua dự thảo, vẫn chưa thấy được một lý do thỏa đáng nào để giải thích cho sự cần thiết phải tăng thuế GTGT, dù là để tăng thu nhằm cứu nguy cho ngân sách (khi đó thì việc tăng thuế cũng phải xếp sau việc cắt giảm chi tiêu).

Wednesday, 16 August 2017

Dự trữ ngoại hối: Kỷ lục nhưng đừng chủ quan! (Bài đăng trên CafeF, 16/8/2017)

http://cafef.vn/du-tru-ngoai-hoi-ky-luc-nhung-dung-chu-quan-20170816050108413.chn

Quả thật, nếu so với những năm trước thì dự trữ ngoại hối của Việt Nam năm nay đã cao hơn rất nhiều, như được thể hiện ở đồ thị dưới đây. Cụ thể, vào năm 2012, dự trữ ngoại hối của Việt Nam tụt xuống còn 25,4 tỷ USD. Con số này chỉ tăng mạnh vào năm 2014 lên mức 34,3 tỷ USD nhưng rồi lại giảm mạnh còn 28,4 tỷ năm 2015. Từ đó trở đi thì nó mới có xu hướng tăng ổn định như dự báo của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), đạt 36,7 tỷ năm 2016, 42,2 tỷ năm 2017 và 48,6 tỷ năm 2018.



Nguồn: IMF Country Report No. 17/190 (7/2017); Ghi chú: Số liệu từ năm 2016 là dự báo

Tuy nhiên, điều đáng lưu tâm hơn là dự trữ ngoại hối trên quy ra tương đương với bao nhiêu tháng nhập khẩu. Đây là một chỉ tiêu phản ánh quy mô dự trữ ngoại hối của một quốc gia ở mức cao hay thấp, an toàn hay không an toàn.

Trong đồ thị trên, đường màu da cam cho biết dự trữ ngoại hối của Việt Nam vẫn chưa vượt quá mức 2,5 tháng nhập khẩu trong suốt mấy năm qua và một số năm tới (theo IMF, phải đến năm 2020 thì mức này mới đạt 2,7 tháng). Mà theo quy ước quốc tế thì dự trữ ngoại hối của một quốc gia phải tương đương với ít nhất là 3 tháng nhập khẩu thì mới an toàn để chống đỡ với các cơn sốc về cầu ngoại tệ. Như vậy, mặc dù dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã có những bước cải thiện đáng kể từ năm 2016 để đạt những “kỷ lục” mới trong những năm tiếp theo, nhưng những “kỷ lục” này vẫn chưa đủ lớn theo tiêu chuẩn chung của thế giới.

Quan trọng không kém là tuy về con số tuyệt đối thì đúng là dự trữ ngoại hối của Việt Nam năm 2017 là năm cao kỷ lục (42,2 tỷ USD) nhưng cần lưu ý là mức này chỉ tương đương với 2,3 tháng nhập khẩu của cùng năm, chỉ nhỉnh hơn một chút so với năm 2016 (2,2 tháng) và thậm chí còn thấp hơn cả năm 2014 (2,4 tháng).

Lý do của tình trạng trên là thực ra dự trữ ngoại hối của Việt Nam tuy có tăng lên nhưng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam còn tăng mạnh hơn, nên tỷ lệ giữa dự trữ ngoại hối và kim ngạch nhập khẩu hầu như không có biến chuyển nhiều. Hàm ý của điều này một lần nữa cho thấy rằng dự trữ ngoại hối – chiếc gối đỡ giảm sốc cho nền kinh tế Việt Nam khỏi những biến động bên ngoài – vẫn còn “mỏng”, chưa an toàn, chưa đủ dập tắt mọi cơn sóng trồi sụt trên thị trường ngoại hối cũng như sự ổn định của tỷ giá.

Do đó, chính sách tiền tệ và ngoại hối trong thời gian tới cần tránh sự chủ quan, đừng chỉ nhìn con số tuyệt đối đang ở mức cao kỷ lục, để có những bước đi thích hợp nhằm tiếp tục cải thiện dự trữ ngoại hối hiểu theo mức tương đối (quy theo tháng nhập khẩu của Việt Nam) và không tạo thêm áp lực cho tỷ giá nếu muốn duy trì sự ổn định của nó trong những tháng tới.

Tuesday, 15 August 2017

Ứng xử với nạn “thích” tuyển lao động nước ngoài (Bài đăng trên TBKTSG, 15/8/2017)

http://www.thesaigontimes.vn/163464/Ung-xu-voi-nan-thich-tuyen-lao-dong-nuoc-ngoai.html

Tỉnh Bình Thuận mới đây đã chấp thuận cho Công ty TNHH Vận hành kinh doanh Vĩnh Tân Điện lực Trung Quốc được tuyển 196 lao động nước ngoài để đáp ứng nhu cầu sử dụng của Nhà máy Nhiện điện Vĩnh Tân 1 ở xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong.
Thông tin trên một lần nữa lại gây quan ngại trong dư luận bởi liên quan đến lao động Trung Quốc, mặc dù tin tức cho biết trước đó công ty này đã thông qua Trung tâm Dịch vụ việc làm của tỉnh đăng tuyển rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng trên phạm vi cả nước nhưng không tuyển được người nào nên buộc phải chuyển sang tuyển lao động nước ngoài. Cũng cần biết thêm là tiêu chuẩn tuyển dụng là tốt nghiệp đại học trở lên, thông thạo tiếng Trung, tiếng Anh.


Trước khi bàn vào chủ đề chính, xin nói chuyện ngoài lề một chút. Cách đây vài năm người viết có tham gia một chuyến đi thăm thực địa tại một nhà máy nhiệt điện phía Bắc được xây dựng, lắp đặt thiết bị và vận hành bởi nhà thầu Trung Quốc. Bước vào các phòng điều hành, dễ nhận thấy toàn bộ ê kíp điều hành là người Trung Quốc. Máy móc, thiết bị, hệ thống phần cứng và phần mềm điều hành đương nhiên là được ghi bằng tiếng Trung.
Khách quan mà nói, trong môi trường như vậy mà “lọt” vào đó một vài người Việt không nói, đọc và viết thạo được tiếng Trung thì quả là chuyện không tưởng, không chỉ vì họ sẽ không làm được (một cách hiệu quả) công việc, mà còn gây khó dễ, thiệt hại cho phía nhà điều hành, nhà máy, bởi không lẽ phải bố trí cho mỗi một vị trí làm việc của người Việt một người phiên dịch Trung - Việt hay sao? Đó là chưa kể việc truyền đạt qua phiên dịch sẽ dễ dẫn đến tình trạng “chữ tác đánh chữ tộ” để rồi chất lượng công việc bị ảnh hưởng, thậm chí gây đình trệ.


Từ chuyện nhỏ trên, quay trở lại với chủ đề, có thể thấy vấn đề đầu tiên nằm ở việc phía Việt Nam dùng nhà thầu Trung Quốc, thiết bị, tài liệu và phần mềm của Trung Quốc (vốn để dùng trong nội địa Trung Quốc) nên mới dẫn đến tình trạng phải tuyển lao động Trung Quốc. Giả sử nếu các thiết bị máy móc, tài liệu và phần mềm bằng tiếng Anh, tiếng Việt, và nếu nhà thầu Trung Quốc sẽ tiến hành đào tạo, chuyển giao vận hành cho lao động Việt Nam thì có lẽ sẽ không mấy khó khăn để tuyển được số nhân viên cần thiết cho công việc tại nhà máy nhiệt điện ở Vĩnh Tân. Tương tự như vậy, nếu Việt Nam không chọn các nhà thầu xây dựng Trung Quốc thì chắc cũng không dẫn đến tình trạng các công trường xây dựng này “thích” tuyển lao động Trung Quốc, ít nhất là bởi, nói một cách công bằng, giao tiếp với nhau giữa các nhân viên quản lý, điều hành (là người Trung Quốc, đương nhiên) với công nhân xây dựng bằng cùng một thứ tiếng, tiếng Trung, sẽ là thuận lợi hơn rất nhiều cho công việc.
Nhưng từ vấn đề trên không thể tùy tiện suy ra một cách dễ dãi rằng Việt Nam không nên, không cần tuyển dụng, sử dụng nhà thầu và thiết bị Trung Quốc nữa thì sẽ tránh được tình trạng này. Vì, cũng phải nói một cách công bằng rằng trong không ít trường hợp việc sử dụng các yếu tố Trung Quốc này là có những lý do chính đáng.


Vậy thì vấn đề tiếp theo là phải bàn đến biện pháp “sống chung với lũ”, nếu không còn lựa chọn nào khác ngoài nhà thầu và thiết bị Trung Quốc. Biện pháp căn bản nhất đương nhiên sẽ là trực tiếp và gián tiếp khuyến khích nhà tuyển dụng Trung Quốc (trong ví dụ trên là các nhà thầu, nhà điều hành) tự giác tuyển dụng ít lao động Trung Quốc và thay vào đó là lao động Việt Nam. Nói cách khác, phải làm cho nhà tuyển dụng tự giác, thấy rõ được rằng họ sẽ có lợi hơn, ít tốn kém hơn nếu thực sự họ tìm thấy và tuyển được lao động Việt Nam đáp ứng được điều kiện tuyển dụng đặt ra như với lao động Trung Quốc.
Trên thực tế, việc nhà tuyển dụng Trung Quốc có tạo cơ hội bình đẳng trong tuyển dụng lao động người Việt tại Việt Nam hay không đang là “vùng xám”, gây nghi ngờ, thắc mắc, lo ngại trong dư luận, vì cho đến nay ở không ít công trường, cơ sở công nghiệp đã có sự hiện diện của nhiều lao động Trung Quốc mà nhìn vào công việc họ đang làm thì khó có thể nói đó là lao động kỹ thuật (cao) mà lao động địa phương không đáp ứng được. Ngay chính từ thông báo tuyển dụng tại nhà máy điện Vĩnh Tân trên cũng làm người ta nghi ngờ thực tâm của nhà tuyển dụng, vì tại sao đòi hỏi không chỉ tốt nghiệp đại học trở lên, không những phải thông thạo tiếng Trung mà còn cả tiếng Anh nữa? Những người đáp ứng được tất cả các tiêu chuẩn này có lẽ không nhiều, và chắc cũng chẳng mặn mà với công việc tại nhà máy này. Quan trọng hơn, những lao động Trung Quốc được tuyển dụng bởi nhà máy này nay mai sẽ có mấy người tốt nghiệp đại học và thông thạo tiếng Anh?


Đến đây, sẽ là hữu ích nếu tham khảo kinh nghiệm của các nước phải đương đầu với vấn đề lao động nước ngoài. Trong số này phải kể đến Singapore với nhiều biện pháp hữu hiệu được đưa ra trong vòng mấy năm qua để hạn chế lao động tay nghề thấp hoặc lao động giản đơn từ nước ngoài tràn vào, gây nhiều hệ lụy xã hội. Tất nhiên, tiền đề tham khảo ở đây là không có chuyện “tiếp tay” cho nhà tuyển dụng Trung Quốc của cán bộ ở các cơ quan quản lý hữu trách địa phương, một khả năng khó có thể phủ nhận hoàn toàn trên thực tế ở Việt Nam.
Những biện pháp hạn chế lao động nước ngoài của Singapore bao gồm: Hạ thấp hạn mức (hay trần) số lượng lao động nước ngoài mà công ty tại Singapore được phép tuyển dụng trên tổng số lao động của công ty; Nâng mức thuế đánh lên việc tuyển dụng lao động nước ngoài không có kỹ năng hoặc kỹ năng thấp; Hạn chế số lượng giấp phép lao động cấp mới hay hạn chế việc gia hạn giấy phép lao động hiện thời đối với những công ty nào không chứng tỏ được rằng đã nỗ lực tuyển dụng, đào tạo và phát triển cơ hội nghề nghiệp cho lao động bản địa (các công ty này sẽ bị liệt vào danh sách đen của Bộ Lao động nước này, và sẽ bị cấm vĩnh viễn tuyển lao động nước ngoài nếu một thời gian sau đó vẫn không cải thiện được tình hình).      


Các công ty trước khi tuyển dụng lao động nước ngoài cũng bị yêu cầu phải đăng quảng cáo việc làm cùng với mức lương dự kiến lên trang web quốc gia về việc làm tối thiểu trong 14 ngày để qua đó đánh giá được khả năng đáp ứng và mức độ hưởng ứng của lao động bản địa. Mức lương tối thiểu để lao động nước ngoài được cấp phép làm việc tại Singapore cũng được nâng lên đáng kể, làm tốn kém thêm cho các công ty tuyển dụng nếu họ vẫn cứ “thích” lao động nước ngoài.
Quan trọng không kém, để giảm thiểu khả năng “lách luật” của các công ty, Chính phủ Singapore tăng cường thanh tra, hậu kiểm việc tuyển dụng lao động nước ngoài và tăng nặng hình phạt với các công ty vi phạm. Nếu là trong ví dụ trên ở Việt Nam, việc thanh tra, hậu kiểm có thể sẽ tập trung vào yếu tố như trình độ ngoại ngữ và mức lương có đúng như đã quảng cáo trên mạng việc làm quốc gia hay không, có thật là không có lao động bản địa nào đáp ứng được hay quan tâm đến công việc này không…


Tóm lại, trong khi Việt Nam vẫn phải chấp nhận mở cửa cho lao động nước ngoài, gồm cả lao động Trung Quốc trong thời hội nhập, chứ không thể ngăn chặn với những lý do không mấy hợp pháp, chính đáng như họ sẽ lấy vợ Việt Nam, sinh con đẻ cái rồi lập ra “phố Tầu” ở Việt Nam…, điều mà Việt Nam cần và có thể làm được là ban hành và thực thi nghiêm các chính sách quản lý việc tuyển dụng lao động nước ngoài theo hướng đảm bảo ưu tiên cơ hội nghề nghiệp cho lao động Việt Nam theo kinh nghiệm quốc tế. Song song với đó, chất lượng thực thi và giám sát thực thi pháp luật của các cơ quan hữu trách địa phương cũng cần phải được đảm bảo để không dẫn đến tình trạng thỏa hiệp với nhà tuyển dụng nước ngoài gây phương hại đến lợi ích quốc gia.

Tuesday, 8 August 2017

Những bất cập có thể thấy trước (Bài đăng trên TBKTSG, 8/8/2017, bản gốc, tiêu đề do báo đặt)

http://www.thesaigontimes.vn/163206/Nhung-bat-cap-co-the-thay-truoc.html

Mới đây Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam (AVR) đã đề xuất Chính phủ thành lập một tập đoàn bán lẻ trên cơ sở “bắt tay” của bốn đại gia hàng đầu trong các nhà bán lẻ hiện nay, gồm Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại Sài Gòn (Saigon Co.op), Tập đoàn Phú Thái (PhuThai Group), Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (Satra) và Tổng Công ty Thương mại Hà Nội (Hapro). (1)


Đã từng thất bại


Theo AVR, trước đây Chính phủ từng rất ủng hộ, kỳ vọng mô hình trên sẽ hỗ trợ rất nhiều cho thị trường bán lẻ, tuy nhiên mô hình đó đã thất bại. Một trong những nguyên nhân chính là không tiếp cận được mặt bằng tại các tỉnh muốn phát triển.


Tuy AVR không nói rõ mô hình thất bại là mô hình nào nhưng đó có thể là mô hình Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam (VDA) – một sản phẩm được cho ra đời từ năm 2007 bởi sự “bắt tay” giữa chính bốn đại gia nêu trên. Đại diện VDA cho biết, (theo định hướng) VDA sẽ trở thành công ty mẹ và đảm nhận những việc mà một doanh nghiệp đơn lẻ không thể làm được. Việc tập hợp lại cơ sở vật chất, hệ thống mặt bằng, vốn, kinh nghiệm, thị trường, hàng hóa… của bốn đại gia trên sẽ rất lớn. Khi VDA thành công thì các nhà đầu tư nước ngoài phải cân nhắc khi muốn thâu tóm hệ thống phân phối, logistic tại Việt Nam.


Phân trần cho sự thất bại của mô hình VDA, đại diện công ty này đổ lỗi cho cơ chế, chính sách không đồng bộ và từ chính sách đến thực tiễn còn một khoảng cách xa. Cụ thể, về chính sách đất đai, một số địa phương sẵn sàng ủng hộ mặt bằng, một số địa phương thì không. Đồng thời, chủ trương thoái vốn của Nhà nước đã buộc Satra và Hapro phải thoái vốn khỏi VDA, trong khi hai thành viên còn lại thì không đủ tiềm lực.


Hình dong của mô hình “bắt tay” kiểu mới


Trong khi không thấy AVR nói gì thêm về mô hình mới sẽ cụ thể là như thế nào, đại diện VDA lại cho biết họ đang kêu gọi thành lập một tập đoàn bán lẻ kiểu mới với nhiều điểm khác với mô hình cũ. Ví dụ, bất cứ thành phần nào cũng có thể tham gia mô hình này. Đặc biệt là không thực hiện theo cơ chế đồng thuận như mô hình cũ nữa - mỗi thành viên góp vốn 25% - mà ai bỏ vốn vào nhiều sẽ điều hành.


Bên cạnh đó, tập đoàn bán lẻ mới cũng có ý định thành lập hệ thống siêu thị nông nghiệp. Nông dân khi vào siêu thị này sẽ mua được tất cả từ con giống, phân bón đến thức ăn, máy móc… đúng giá, không sợ mua hàng giả.


Những bất cập


Có thể thấy chủ trương thành lập một mô hình “bắt tay” kiểu mới như nêu ở trên vẫn chủ yếu nhằm mục đích thành lập cho được một tập đoàn có quy mô lớn tận dụng lợi thế thuộc tốp đầu về doanh thu của cả bốn thành viên trên. Tuy nhiên, sự cùng bỏ vốn bởi các thành viên, bất kể tỷ lệ sở hữu bao nhiêu, sẽ luôn chỉ cho ra đời một công ty con có quy mô nhỏ hơn quy mô của các công ty thành viên này cộng lại. Hơn nữa, tùy thuộc vào mức độ có thể đóng góp vốn của các công ty thành viên, bất chấp quy mô lớn, dẫu đầu thị trường của chúng, quy mô của công ty con của chúng hoàn toàn có thể rất khiêm tốn.


Cụ thể hơn, mặc dù quy mô doanh thu hợp nhất của bốn đại gia nói trên được cho là lên tới 4-5 tỷ đô la Mỹ nhưng nếu mỗi đại gia trong số này chỉ có thể huy động và góp được trung bình là 100 triệu đô la thì quy mô vốn của “tập đoàn” mới cũng chỉ là 400 triệu đô la mà thôi, có khi chỉ tương đương hoặc nhỉnh hơn quy mô của một trong bốn thành viên này, tức là còn lâu mới đủ sức dẫn dắt thị trường và làm e ngại các đại gia bán lẻ nước ngoài đang nhòm ngó, thôn tính thị trường bán lẻ Việt Nam như ý đồ của AVR và VDA.


Đến đây, một vấn đề nảy sinh khác là dù có quy mô nhỏ hay lớn nhưng do vì hoạt động trong cùng lĩnh vực, thị trường, và địa bàn nên “tập đoàn” bán lẻ mới này sẽ tự nhiên trở thành một đối thủ cạnh tranh mới, quay trở lại đối đầu trực tiếp với các “đấng sinh thành” ra nó. Điều này có nghĩa là bên cạnh nỗi chật vật phải đối phó với các đối thủ nội và ngoại hiện có, bốn đại gia trên lại còn thêm vất vả đối mặt với một đối thủ mới mà rất có thể là ghê gớm vì nó được thừa hưởng tất cả những yếu tố lợi thế được “di truyền” từ các doanh nghiệp bố mẹ. Tính bất trắc và xung đột lợi ích như thế này đương nhiên sẽ là điều không được bốn đại gia bán lẻ hoan nghênh nếu họ nhìn ra, thấy trước được vấn đề.


Giải pháp ổn thỏa duy nhất cho những vấn đề trên là bốn đại gia trên tự nguyện sáp nhập, hợp nhất với nhau tạo ra một “đại tập đoàn” bán lẻ mới hầu như không có đối thủ trong nước, và tha hồ rảnh tay đối phó với các tập đoàn bán lẻ nước ngoài. Nhưng giải pháp này chắc chắn là bất khả thi không chỉ vì khó có thể tìm tiếng nói chung giữa cả bốn bên và các cổ đông của họ trong vấn đề này, mà còn bởi luật pháp sẽ không cho phép sự hình thành của một tổ chức như vậy khi dẫn đến khả năng thâu tóm, lũng đoạn thị trường, hạn chế và triệt tiêu cạnh tranh.


Ngay cả với dự định tốt đẹp về thành lập siêu thị nông nghiệp mà đại diện VDA nêu ra cũng không có gì đảm bảo là sẽ xảy ra đúng như ý đồ, như tuyên bố. Với kiểu “một mình một chợ” nhờ quy mô lớn (nếu đúng như kế hoạch), đánh bại các doanh nghiệp phân phối nhỏ lẻ hơn trong ngành thì điều chắc chắn là giá bán trong siêu thị này sẽ là “đúng giá”, nhưng mà là giá của họ niêm yết, chứ không phải là giá trên thị trường khi có sự cạnh tranh giữa nhiều nhà cung cấp, phân phối! Và trong trường hợp này thì lại càng cần có sự tham gia của các nhà bán lẻ, phân phối ngoại để làm đối trọng với vị thế lũng đoạn thị trường của “tập đoàn” mới này.


Tóm lại, đề xuất các đại gia bán lẻ nội địa bắt tay với nhau để cho ra đời một “tập đoàn” bán lẻ quy mô lớn, đặc biệt là khi lôi kéo theo sự can thiệp của nhà nước, không chỉ tự thân là điều bất khả thi, thậm chí gây tác dụng ngược, mà còn không phải là giải pháp đối phó với sự cạnh tranh từ các nhà bán lẻ, phân phối nước ngoài.


(1)   http://cafef.vn/bon-dai-gia-viet-bat-tay-dau-voi-doanh-nghiep-ngoai-20170721071906953.chn

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).