Friday, 19 July 2013

Lại phải nói về câu chuyện thứ hạng 42 của nền kinh tế Việt Nam

Hôm trước tớ vừa viết về cái này xong, hôm nay đọc báo lại thấy mấy đồng chí chuyên gia Việt Nam lên tiếng về nó, đọc mà thấy thương... hại. Chuyện lẽ ra chẳng có gì, chẳng đáng bàn mà họ lại xé ra thành to, “nâng quan điểm”, hiểu theo một kiểu khác rất sai lạc.

 Đồng chí “Tiến Sỹ” Bùi Kiến Thành nói thế này:
Tuy nhiên, bày tỏ quan điểm trên báo Infonet, TS. Bùi Kiến Thành cũng cho rằng: Bảng xếp hạng này chỉ mang tính chất tham khảo là chính chứ không nên xem đó là "thành tích" mà chúng ta đã đạt được. WB là một tổ chức quốc tế, dù có cơ quan hoạt động tại Việt Nam nhưng không thể "tường tận chuyện trong nhà" được.

"Các con số thống kê chỉ thể hiện được một phần nào bức tranh, chứ không miêu tả hết được bức tranh đó. Giống như bộ quần áo mặc hàng ngày cho chúng ta thấy nhiều thứ, nhưng cũng che giấu những điểm quan trọng nhất. Nói thế để thấy phải rất thận trọng với con số thống kê, nhất là của các tổ chức quốc tế thì tham khảo là chính" – TS. Bùi Kiến Thành nêu rõ quan điểm cá nhân.


Đồng chí Thành mà đặt vấn đề “thành tích” hay không thì chứng tỏ đồng chí cũng chẳng hiểu mô tê gì chuyện này cả. Thứ hạng 42, như tớ đã nói, chỉ là thứ hạng về quy mô GDP của cả nền kinh tế, chứ bản thân WB hay những người có hiểu biết ở Việt Nam chắc không coi/nói/bình luận đó là thành tích hay không, mà chỉ coi là một thực tế, hiện thực của Việt Nam (như kiểu nhà tôi nhiều người vì đông con, có tới 10 đứa lận, nhà anh chỉ có 2 đứa, chứ không ai nói gì về chuyện nhà tôi giàu hơn nhà anh hay không). Nay đồng chí lại bẻ lái vấn đề thành ra có khả năng WB không hiểu gì về Việt Nam mà cứ đưa ra con số tầm phào, bóp méo, chỉ để tham khảo, rồi thì rằng thì là mà. Rõ chán cho đồng chí “TS” này lắm lắm!
Đồng chí TS Lê Đăng Doanh (có bằng TS thật) thì nói thế này:

Bên cạnh đó, giải thích về thứ bậc xếp hạng của nền kinh tế Việt Nam trên thế giới, Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương - TS Lê Đăng Doanh cho rằng: Cách tính của WB dựa trên phương pháp tính tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo ngang giá sức mua (PPP) chứ không phải GDP danh nghĩa (chỉ số phồn vinh, giàu có và mức độ phát triển) mà các nước vẫn công bố.

Đồng thời, TS Doanh nhấn mạnh: Cách tính toán bằng hiệu quả của sức mua nội địa của đồng tiền trong nền kinh tế, chỉ có tác dụng là tạo ra sự “lạc quan” trong báo cáo thành tích cuối năm ở những nền kinh tế mà đồng nội tệ có đặc điểm không mua được gì và ở đâu khác ngoài nội địa.  

Nói về vị trí thứ 42 về kinh tế Việt Nam so với thế giới, TS Doanh cho biết: Hạng 42 thế giới, không có nghĩa người Việt giàu hơn Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch, bởi “đỏ” không có nghĩa là “chín”.

"Thứ hạng 42 thế giới, không phải là “ngôi thứ” để chúng ta - trong tư cách những người hằng ngày, hằng giờ đang tiêu một giá trị tiền đồng với rất nhiều con số - phải vui mừng cả", TS Doanh cảnh báo.
Đồng chí Doanh rất sai ở cái chỗ rằng con số (tăng trưởng) GDP mà ta thường nói là (tăng trưởng) GDP thực, tức là tính theo giá cố định, chứ không phải (tăng trưởng) GDP danh nghĩa, tức là tính theo giá hiện tại.

Và GDP này cũng không nói lên cái gì liên quan đến chỉ số phồn vinh, giàu có, và mức độ phát triển cả! Nó chỉ nói rằng năm nào đó Việt Nam đã làm ra từng này giá trị sản lượng (theo giá cố định), giống như kiểu nhà tôi năm nay tổng thu nhập là 100 triệu VND (theo thời giá năm xxxx) và chấm hết. Nó chẳng nói lên rằng với 100 triệu đồng này thì nhà tôi là giàu hay nghèo, đứng ở bậc thang thu nhập nào trong xã hội.

Đồng chí Doanh cũng rất sai về bản chất của cách tính theo PPP. Nó là cách tính dùng để khắc phục sự chênh lệch về sức mua giữa các quốc gia trong so sánh thu nhập của quốc gia, của đầu người của các quốc gia với nhau. Nếu tôi ở Việt Nam cũng kiếm được số tiền mua được 10 ổ bánh mì/tháng, anh ở Mỹ cũng chỉ kiếm được số tiền mua 10 ổ bánh mì/tháng thì chẳng có cái lý do gì nói rằng người Mỹ giàu hơn người Việt Nam cho dù anh có kiếm được 1000 đôla/tháng, tôi chỉ kiếm được 2 triệu VND, tương đương 100 đôla/tháng.
Tớ có để ý thấy hình như chẳng ai nói rằng người Việt giàu hơn Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch mà chỉ thấy có mấy đồng chí chuyên gia như trên nói/nghĩ như vậy thôi thì phải, nên ở đây chẳng có gì là “đỏ” với “chín” như đồng chí nói cả! Dù vậy tớ cũng thở phào một cái vì ít ra đồng chí cũng không đánh đồng quy mô GDP của nền kinh tế với mức độ giàu nghèo của công dân của các quốc gia đó. Còn chuyện cảnh báo thì nên cảnh báo với mấy cái đầu có vấn đề thôi, chứ người thường như tớ là hiểu ngay vấn đề.

Đi xa hơn nữa và kinh khủng hơn nữa, làm trầm trọng vấn đề một cách không thể tiêu hóa nổi là ý kiến của đồng chí này:

Chia sẻ trên báo Hải quan, TS Đỗ Đức Định - Chủ tịch Hội đồng khoa học Trung tâm nghiên cứu kinh tế - xã hội Việt Nam lại cho rằng: "Một nền kinh tế dù xếp thứ 42 thế giới nhưng nếu giá trị gia tăng đem về chỉ giống như tỉ lệ gia công trong ngành dệt may thì nên nhìn nền kinh tế giống như tỉ lệ gia công đó thôi chứ không phải sức chúng ta làm được hoàn toàn như thế. Do đó, không nên lạc quan quá khi nhìn nhận xếp hạng GDP tính ngang giá sức mua của nước ta".

Đúng là từ chuyện nọ xọ chuyện kia, chẳng hiểu mô tê ất giáp gì cũng phán lung tung như đúng rồi. GDP chính là cái phản ánh “sức chúng ta làm được” trên cái đất Việt Nam này, chứ sao đồng chí lại bảo không phải? Không lạc quan thì đúng rồi, tớ cũng không lạc quan đâu, mà chỉ nhìn nhận đó là một thực tế, một “fact” thôi.


Đồng chí TS Nguyễn Quang A thì nói có vẻ đúng nhất (gần giống tớ nói hôm trước!):

Trả lời trên báo Nông thông ngày nay xung quanh công bố Bảng xếp hạng 177 nền kinh tế của WB mới đây, chuyên gia kinh tế Nguyễn Quang A nhấn mạnh: "Nước mình đứng về quy mô dân số hiện đứng thứ 13 trên thế giới, nên tương xứng thì nền kinh tế Việt Nam cũng phải xếp thứ 13 trên thế giới mới phải, nhưng Việt Nam lại xếp tận thứ 42 thì cho thấy nền kinh tế Việt Nam quá yếu kém".

Nhưng đồng chí A hơi quá đà khi nhấn mạnh chữ “quá yếu kém” vì cái tội Việt Nam không chịu xếp hạng thứ 13 trên thế giới về kinh tế. Sau Việt Nam vẫn còn tới hơn 100 nước có GDP nhỏ hơn Việt Nam và trong số đó cũng có không ít nước có dân số còn lớn hơn Việt Nam, đồng nghĩa với họ còn yếu kém hơn cả Việt Nam về mặt kinh tế. Nên nếu có so sánh thì chỉ nên so sánh tương đối, chứ không phải so sánh theo cái kiểu tuyệt đối hóa như vậy được, và phải hiểu rằng thứ hạng 42 chỉ là thứ hạng về quy mô, độ lớn của nền kinh tế Việt Nam so với các nền kinh tế khác trên thế giới, và chỉ thế thôi; những người xếp hạng cũng chỉ nghĩ thế thôi, đừng có phóng đại, nâng quan điểm vấn đề lên làm gì, xin các đồng chí!
Chưa dừng lại ở đó, các đồng chí TS này (toàn TS mới kinh) lại tiếp tục vui miệng phát triển thêm sang cả vấn đề làm thế nào để cải thiện thứ hạng của Việt Nam, mà lại bằng những giải pháp (lại giải pháp!) ất ơ, tầm phào đâu đâu. Thật hết muốn bình luận tiếp, dừng ở đây đi ngủ cho khỏe.

Thursday, 18 July 2013

Về thứ hạng của kinh tế Việt Nam

Hôm nay ghé mắt qua báo chí thấy cái tin WB xếp nền kinh tế VN vào hạng hình như là 42 trên thế giới về quy mô GDP tính theo PPP (sức mua ngang giá). Cái xếp hạng này gây ra một số thắc mắc trong dư luận, vì VN còn được xếp trên cả một số nền kinh tế ở châu Âu.

Tớ thấy có đồng chí Lê Đăng Doanh đăng báo trả lời ở khía cạnh rằng xếp hạng này là dựa trên PPP , là cái thường lớn hơn GDP tính theo giá cố định (đối với nền kinh tế đang phát triển như VN).

Cái này đúng nhưng chưa đủ. VN là nước nghèo nếu xét theo thu nhập đầu người của VN. Nếu so với thế giới thì thuộc dạng thấp, càng không thể so với các nước ở châu Âu. Nhưng điều đó không liên quan gì đến thứ hạng về quy mô kinh tế cả, nếu xét về quy mô GDP (nhất là khi tính theo PPP), đơn giản vì dân số VN gấp hàng (vài) chục lần so với những quốc gia nhỏ bé ở châu Âu với dân số độ vài triệu người (hoặc thấp hơn). Với quy mô dân số lớn như vậy thì cho dù VN vẫn (mãi) được coi là nước nghèo nhưng quy mô GDP thì không thể nhỏ hơn một số nước ở châu Âu, mặc dù họ là nước giàu. Và vì vậy, nền kinh tế VN đương nhiên phải đứng ở vị trí không phải là gần cuối bảng như với xếp hạng nước giầu, nghèo.

Với cùng logic như vậy, không thể coi Trung Quốc là nước giàu được mặc dù Trung Quốc đã ngoi lên đứng ở hàng thứ hai sau Mỹ về quy mô GDP. Có được điều này đơn giản vì dân số Trung Quốc chiếm hơn 1/5 thế giới, mặc dù GDP bình quân chỉ đâu như 3-4000 USD/năm. Với mức thu nhập đầu người như vậy (ở dạng trung bình thấp của thế giới) thì TQ còn phải chạy đua dài dài mới trở thành nước giàu theo đúng nghĩa là công dân phải có thu nhập cao được.

Monday, 15 July 2013

Khổ như người Nhật

Tớ sống và làm việc với người Nhật cũng khá lâu rồi nên thấy làm người Nhật cũng không sung sướng gì như người khác vẫn nhìn vào. Ngoài chuyện làm việc quên chết, coi sếp và cơ quan hơn cả bố, người Nhật còn khổ ở chuyện lấy vợ, lấy chồng, đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh tế.

Hôm lâu lâu, có dịp hàn huyên với một cô đồng nghiệp người Nhật, lứa tuổi 40s. Tự nhiên câu chuyện xoay qua chuyện lấy vợ lấy chồng của người Nhật. Cô này nói rằng hiện nay có rất nhiều phụ nữ Nhật ở tuổi 30s, 40s không lấy chồng. Bạn cô ta sống ở Sing cũng có mấy người chưa có chồng. Hỏi nguyên nhân thì được giải thích rằng đàn bà Nhật khi đã lấy chồng thì chỉ muốn, có xu hướng, ở nhà nội trợ, đẻ và nuôi dạy con, phó mặc việc kiếm tiền cho chồng. Học cao bao nhiêu chăng nữa thì rốt cuộc nhiều người cũng dừng lại ở đó. Nhiều người chưa tìm được chồng tương lai thì tìm cách giết thời gian và đợi chờ cơ hội trong những việc vô bổ (đối với tớ) như học cắm hoa, trà đạo, mặc kimono, học cái này cái kia. Nhà khá giả thì bố mẹ sẵn sang bỏ tiền cho con học đủ thứ để đợi thời/chồng. Nhà nào yếu quá thì mới để con gái đi làm một thời gian (rồi cũng sẽ bỏ khi lấy chồng, đẻ con).

Nhưng cái khổ là hiện nay nhiều đàn ông Nhật không kiếm được nhiều tiền, do kinh tế suy thoái. Nên các chị, các cô nhìn vào mấy anh/ông này mà không dám tiến gần, thà ở vậy, tìm cơ hội khác, vì lấy chồng mà chẳng được nhờ cậy gì mấy (về tiền nong). Đàn ông trong hoàn cảnh này có cố gắng tiếp cận đến mấy, như cách ta thường nói là tán tỉnh thì cũng thường chỉ được con số 0, nên rốt cuộc cũng đành từ bỏ ý định và ở vậy.

Tớ ngạc nhiên, hỏi lại, tưởng xã hội Nhật giờ cũng đã biến chuyển rồi chứ, rằng đàn bà ngày càng thích tự chủ, độc lập, nên thích ra ngoài xã hội, đi làm, phấn đấu v.v... như mấy chị, cô người Việt ta. Cô đồng nghiệp mới cười và bảo rằng không có chuyện đó đâu, mọi việc vẫn thế.

Tớ mới lăn tăn hỏi đại ý rằng, như ở Việt Nam ta vẫn thường có câu, "nồi méo úp vung méo", với những phụ nữ Nhật hấp dẫn thì đi một nhẽ, nhưng còn với những chị/cô "méo" thì chắc cũng phải hạ tiêu chuẩn, vớ lấy một anh không "méo" cái nọ thì cũng "méo" cái kia, đặc biệt là khoản kiếm tiền, để mà có một tấm chồng tạm gọi là chồng chứ? Cô đồng nghiệp lại cả cười, bảo không có đâu. Phụ nữ Nhật đa phần vẫn và luôn luôn có cái "pride", thà không có chồng còn hơn vớ lấy một anh/ông không kiếm đủ tiền cho mình và gia đình, cho dù mình có "méo" đến đâu.

Ngẫm ra, thế mới thấy đàn ông Việt Nam còn sướng chán, kiểu gì thì cũng (hầu như) lấy được vợ, thậm chí còn được vợ nuôi. Ngược lại, làm đàn bà ở Việt Nam cũng không thú vị gì lắm khi cứ phải cố kiếm tấm chồng bằng mọi giá.

Thursday, 11 July 2013

Xem họ nói gì về tỷ giá

Tớ lướt báo, thấy có 2 khuôn mặt, 2 ý kiến rất xứng đáng được lôi ra đây để bình luận. Gương mặt đầu tiên là đồng chí Lê Minh Hưng, Phó Thống đốc NHNN. Bổn cũ soạn lại, sau khi liệt kê nào là cán cân thanh toán thặng dư mấy tỉ đôla, nào là trạng thái ngoại tệ tại các ngân hàng không có đột biến, đồng chí Hưng kết luận rõ ràng luôn rằng diễn biến tỉ giá gần đây là do yếu tố tâm lý chứ không phải xuất phát từ mất cân đối cung cầu ngoại tệ.

Sai từ vừa vừa đến rất sai!
Sai vừa vừa vì yếu tố tâm lý đã hình thành từ lâu, chứ không phải đợi đến gần đây mới bộc lộ ra, mới bị cho rằng chỉ xuất hiện sau khi NHNN phá giá 1%. Yếu tố tâm lý hình thành từ lâu trên cơ sở, như tớ nói hôm trước, nhập siêu kinh niên, tỷ giá ổn định quá lâu trong khi lạm phát của Việt Nam quá cao so với các nước khác trong nhiều năm. Tâm lý càng dễ bị gây hoảng loạn/hoảng sợ hơn khi NHNN vừa trước đó cam kết không phá giá, nay lại phá giá (“điều chỉnh”), và chuyện này xảy ra không dưới ... trăm lần từ trước đến nay làm cho năng lực và uy tín của NHNN thành trò cười.

Rất sai, và ngụy biện, vì nếu cân đối ngoại tệ không xấu đi thì cớ gì NHNN phải phá giá, dù chỉ 1%, cho dù thừa biết phá giá, dù chỉ 1% cũng sẽ châm ngòi cho sự hoảng loạn?
Có nghĩa là, hoặc NHNN biết mình đang nói dối mà vẫn cứ phải trâng tráo tiếp tục, trong khi lý do thật sự nằm ở chỗ khác; hoặc rõ ràng cân đối ngoại tệ theo kiểu các đồng chí đang nói đến chẳng liên can mấy đến cái sự đi đâu về đâu của tỷ giá cả. Hoặc cũng có thể NHNN chẳng thể hiểu cái gì đang xảy ra, mình đã, đang và cần phải làm cái gì. Khả năng nào thì cũng cho thấy NHNN đang làm rất tồi công việc của mình, cả về khách quan và chủ quan.    

Rồi đồng chí Hưng lại còn khẳng định NHNN “không điều chỉnh” tỷ giá và sẽ kiên quyết ổn định tỷ giá. Nhưng tiếc rằng, rất tiếc rằng đồng chí Hưng lại nhắc lại rằng tỷ giá chỉ biến động 2%-3% trong cả năm. Nếu đã khẳng định không điều chỉnh, kiên quyết ổn định mà vẫn nói sẽ biến động vậy có nghĩa là hoặc một vài trong mấy khả năng sau: (i) khẳng định mà không chắc (có làm được hay không); (ii) khẳng định một đằng, (để rồi) làm một nẻo; (iii) khẳng định bừa (mục đích để trấn an dư luận là chính, hạ hồi phân giải); (iv) coi “không điều chỉnh” và “ổn định” tỷ giá có nghĩa tương đương với để cho tỷ giá biến động (tăng lên) nữa (từ nay đến cuối năm), là cái mà không thể hiểu được từ cách dùng tiếng Việt, buộc người ta phải đặt câu hỏi không biết đồng chí Hưng có giỏi tiếng Việt hay không.
Khả năng nào chăng nữa thì cũng chỉ có một hàm ý là hãy tiếp tục găm giữ USD vì NHNN chỉ biết/làm được đến thế thôi rồi sẽ phải buông, như đã từng chứng kiến nhiều, nhiều lần trước đây.

 
Gương mặt tiêu biểu thứ hai là của đồng chí Tiến sĩ  Trương Văn Phước. Trước khi viết tiếp, tớ phải phiền bạn đọc tìm giúp tớ đồng chí này lấy bằng TS ở đâu, vì đó là câu hỏi băn khoăn mãi của tớ từ trước đến nay, sau một đôi lần va vấp tranh luận với đồng chí này trên báo chí.
Cụ thể hơn, đồng chí TS Phước nói thế này: “Có một lý thuyết rất kinh điển về tỷ giá hối đoái là lý thuyết về bước đi ngẫu nhiên (Random Walk). Trong cơ chế tỷ giá hối đoái của Việt Nam có rất nhiều cách thức để điều hành trong bối cảnh chúng ta đã lựa chọn một cơ chế thả nổi có điều tiết. Có nhiều lựa chọn. Chúng ta có thể lựa chọn theo phương thức trườn bò của tỷ giá, có thể theo cách thức cố định trong một thời gian nào đó tỷ giá bình quân liên ngân hàng dựa trên một ngang giá trung tâm của tỷ giá hối đoái.”

Hiểu chết liền! Đúng là bước đi ngẫu nhiên có khác, đang từ lý thuyết về bước đi này nhảy một phát sang bàn về cơ chế tỷ giá ở Việt Nam mà (tớ) chẳng hề thấy mối quan hệ nào được nêu ra cả. Tớ nghiệm ra ở Việt Nam có đồng chí này và một số đồng chí khác như đồng chí Ngoạn, hay những khuôn mặt tương tự, rất sính dùng các thuật ngữ, lý thuyết đao to búa nhớn, thích trích dẫn, giảng giải (ấm ớ) về các nghiên cứu học thuật, sách vở, luận thuyết này kia.
Quay lại với bài của trả lời của đồng chí Phước. Bỏ qua cả đoạn dài sau đó từ “Vừa rồi NHNN thử nghiệm một cơ chế để cho tỷ giá hối đoái ổn định thông qua....” đến “Nhưng dù sao Ngân hàng Nhà nước cũng cần xem lại việc lựa chọn một cách thức để cho tỷ giá bình quân liên ngân hàng cố định trong một thời gian lâu sau đó điều chỉnh lên một mức nhất định, hoặc lựa chọn cách thức tỷ giá trườn bò từ từ”, mà tớ đọc chỉ thấy toát lên ý rằng điều chỉnh 1% là chưa đủ liều lượng, như gợi ý của phóng viên (thế mà vòng vo mãi).

Với câu hỏi có phải biến động tỷ giá là do đầu cơ của ngân hàng hay không, đồng chí Phước quầy quậy lắc đầu phủ nhận, với 2 lý do rằng:
(1) thế là sai luật và sẽ bị NHNN phát hiện, xử lý nghiêm túc.

Ô hay, đồng chí Phước không biết rằng đã có bao nhiêu vụ phạm luật của ngân hàng xảy ra hàng ngày hay sao? Chuyện báo chí nêu về mua bán ngoại tệ vượt trần trong ngân hàng khá công khai, chẳng nhẽ các ngân hàng không nhận thức được đó là phạm luật và sẽ bị phát hiện, xử lý hay sao? Sao họ vẫn cố tình làm? Mà đã như thế thì việc đầu cơ ngoại tệ cũng chỉ là chuyện nhỏ với họ thôi chứ, sợ gì?
(2) trước đây ngân hàng chuyển đổi từ USD ra VND để cho vay, giúp giảm lãi suất VND (là đáng khen), nay tỷ giá căng thẳng mà lãi suất VND liên ngân hàng thấp nên họ phải chuyển đổi ngược lại (nhu cầu rất chính đáng).

Hệ hệ, chí lí nhưng không đúng! Đầu cơ nó khác lắm ạ. Đầu cơ là mua gom USD để đó, đợi giá lên thêm mới bán (có thể là trong ngắn hạn), hiểu đơn giản là vậy. Nó không nhất thiết liên quan đến chuyện chuyển đổi đi, chuyển đổi lại như đồng chí Phước đang thuyết giảng. Nếu ngân hàng cho rằng tỷ giá sẽ còn tăng lên, ví dụ, 2% nữa trong tuần tới, tháng tới, thì chẳng có lý do gì mà họ không huy động VND (kể cả tăng thêm một chút lãi suất để dễ huy động) và mua gom USD rồi giữa trong vòng 1 tuần, 1 tháng nữa (trong thời gian đó họ vẫn cho vay số USD này) rồi sau đó bán lại để thu 2% lãi, trong khi lãi suất phải trả cho khoản VND huy động ban đầu chẳng đáng kể nếu tính theo năm, chưa kể lãi suất ngắn hạn thu được từ cho vay USD.
Tóm lại, tớ đã nói vài lần rồi về chuyện tỷ giá ở Việt Nam, thà cứ lẳng lặng mà làm, đừng có lên tiếng thanh minh thanh nga gì, cam kết với quyết tâm/quyết liệt gì, chỉ có tác dụng ngược mà thôi. Lực bất tòng tâm. Cả trí tuệ và thực lực chỉ có vậy thì đừng mong xoay chuyển được thời cuộc.

Monday, 8 July 2013

Chuyện cũ rích: giữ đôla hay VND?

Hôm nay cáo ốm, rách việc nên viết hơi nhiều, thêm cả chuyện này nữa. Mới mấy hôm trước tớ nói rằng tớ có ít lòng tin nên cứ giữ USD cho chắc ăn thay vì giữ VND vì sợ những cú "điều chỉnh" tỷ giá đột ngột như trước, làm cho việc gửi/giữ VND trở nên trò cười so với giữ USD. Hôm nay đọc báo thấy tỷ giá có lúc lên tới 22.000 mới thấy quả là mình không phải không có lý. Cho nên tớ đã nhiều lần nói rằng đừng có nghe những chuyên gia với chuyên vào, cả quan chức nữa rằng thì là giữ VND có lợi hơn vì lãi suất cao hơn, vì NHNN cam kết ổn định tỷ giá, rằng NHNN sẽ can thiệp, rằng biến động tỷ giá đó chỉ là nhất thời, bất thường vì cán cân ngoại hối thặng dư, vì dự trữ ngoại tệ đã tăng, vì cái nọ cái kia.

Chỉ riêng một chuyện là VND đã lên giá thực (real appreciation) so với USD quá nhiều, cộng với nhập siêu kinh niên, cũng đủ xui khiến người ta (nhất là những người có chút kiến thức kinh tế) giữ USD thay vì VND vì người ta biết thế nào rồi thì VND cũng sẽ bị phá giá về danh nghĩa, đơn giản vì sự thâm hụt và lên giá thực này không thể tồn tại mãi, bất chấp những lời quân sư quạt mo rằng thì là phá giá là, chỉ mang lại bất lợi cho nền kinh tế (học ở đâu ra mà đến nông nỗi thế không biết?).

Còn nếu ai vẫn muốn tin vào những phân tích quạt mo này thì cũng nên nhớ rằng Việt Nam đang phải nhờ cậy đến cả hệ thống công an để "ổn định" tỷ giá, mà bất cứ khi nào, cái gì mà cứ phải dùng đến công quyền để can thiệp thì có nghĩa là có gì đó rất bất ổn đằng sau, và một mình hệ thống công quyền thôi không đủ xử lý được những bất ổn đó. Cuối cùng thì cái gì của Cesar phải trả lại cho Cesar, thị trường (đen) sẽ điều chỉnh tất cả mà không một hệ thống công quyền nào có thể can thiệp thô bạo được.

Sunday, 7 July 2013

Đầu gấu - cá nhân và quốc gia

Hôm trước về Hà Nội công tác xong về quên không kể chuyện đầu gấu mà tớ là người trong cuộc. Chả là buổi chiều tối họp hành xong việc tớ hay ghé về nhà ăn cơm với các cụ và các anh em (sống quay quần xung quanh nhà các cụ). Hôm đó như thường lệ, ăn xong, đang chuyện gẫu với cô em nhà ngay đối diện qua con ngõ rộng độ 4m, thì thằng hàng xóm đánh ô tô lùi ra. Vướng mấy cái xe máy dựng trước cửa nhà cô em nhưng thằng này - gần đây làm ăn phát đạt nên phát tướng, cắt đầu đinh, chơi với toàn lũ bạn cũng tương tự, trông (và thực tế) rất đầu gấu, chửi bới hàng xóm bất kể già trẻ - phát huy tính đầu gấu nên cứ ngồi trên xe bấm còi. Cô em cũng dạng đầu gấu làng nên tức, kệ không thèm ra dắt xe máy dọn đường cho nó đi qua. Thế là thằng đầu gấu ngõ lùi xe sát vào cửa nhà cô em, làm vỡ mất viên đá lát bậc tam cấp. Cô em lên tiếng, nó thò mặt ra khỏi ô tô hỏi thách đố, đại loại vỡ rồi thì sao, làm gì nó v.v...

Tớ đứng đó, lúc đầu cũng run như cầy sấy vì điệu bộ đầu gấu ngõ của thằng hàng xóm, chỉ phụ họa yếu ớt theo cô em để phản kháng một cách rất ngoại giao, vốn là tính cách không phải là bản chất của tớ mà là tớ học lỏm được từ thiên hạ sau mấy chục năm vào đời. Sau thấy thằng hàng xóm này làm càn quá, tự nhiên tớ hăng máu lên (nói thêm là tớ từ nhỏ đến lúc trước khi đi Nhật khai hóa văn minh đã gây sự, đánh, chửi nhau với cả xóm, để các đồng chí rõ tại sao tớ lại như bây giờ nhé), ra đứng trước mặt thằng này quyết ăn thua với nó. Nó đang lèm bèm chửi đ.m đ. cha, tớ hỏi lại: "Mày chửi đ.m ai đấy hở thằng ôn con? Mày định làm đầu gấu ở cái xóm này à?" Thằng kia vẫn hùng hổ nhưng lại nói: "Tôi đ/éo chửi anh". Haha, tớ biết thóp thằng này là con hổ giấy rồi, bèn cũng hùng hổ xông tới, làm bộ quyết làm ra lẽ phải trái với nó. Thế rồi hàng xóm và người nhà 2 bên xông ra ngăn cản, làm tớ phải rất hậm hực vì không có dịp dạy cho nó bài học :). Còn thằng kia thì chắc lần đầu tiên (ít ra là ở cái xóm này) gặp một thằng dám đối mặt với nó (tuy già hơn và nhẹ cân hơn nó nhiều) nên chắc nó lần sau cũng phải lịch sự hơn với hàng xóm.

Chuyện cá nhân tớ là vậy, nhưng suy ra chuyện quốc gia chắc cũng không khác là mấy. Nếu đã biết thằng hàng xóm chỉ là con hổ giấy, hoặc ít ra thấy nhục quốc thể quá không thể chịu được thì sự phản kháng (có vẻ) là quyết liệt không hiếm khi được việc. Nếu tớ và người nhà tớ mà nhún, sợ thì có lẽ thằng hàng xóm lần sau còn cán cả vào cửa nhà hoặc lên xe máy dựng ở cửa nữa chứ chẳng chơi. Suy ra cả nước thì cũng chắc thế thôi.

Sunday, 30 June 2013

Cập nhật thêm về TPP và chuyện linh tinh

1. Tớ vừa quay trở về sau mấy ngày đi Hà Nội điều nghiên chuyện TPP và implications cho ngành dệt may Việt Nam. Trong các địa chỉ tớ đến gặp hỏi chuyện có một vài tổ chức chính phủ và phi chính phủ của Mỹ, bên cạnh các tổ chức và doanh nghiệp của Việt Nam. Một trong những kết luận nhanh rút ra từ chuyến đi này là Việt Nam vẫn cứ là Việt Nam, vẫn tự cho mình là rất quan trọng, rất đáng kể để các bên nước ngoài, nhất là Mỹ phải lôi kéo vào vòng ảnh hưởng của mình, dùng đủ cà rốt để lấy lòng Việt Nam. Mang điều này confirm lại với phía Mỹ thì chỉ nhận được cái lắc đầu quả quyết! Rõ nản, giá mà có cách gì truyền đạt lại lời phủ nhận này đến những nơi có thẩm quyền, có liên quan ở Việt Nam để họ tỉnh lại, thực tế hơn, khôn ngoan hơn trong đàm phán thì tốt quá nhỉ. Chứ với cái tinh thần lạc quan cách mạng, quả cà với mo cau tiến lên chủ nghĩa xã hội như hiện nay thì có mà tiến lên thiên đường sớm!

2. Tuy bận rộn với chuyện đi lại, họp hành nhưng tớ vẫn ghé mắt qua tình hình thời sự ở Việt Nam, trong đó có chuyện "điều chỉnh" tỷ giá VND. Chuyện này với tớ bây giờ quá nhàm rồi, vì đã nói mãi rồi, chỉ "băn khoăn" tại sao người ta vẫn không dám dùng cụm từ "phá giá" để phản ánh đúng bản chất của sự việc. Phá giá rồi, dù chỉ là 1% (chắc chỉ là một bước trong nhiều bước phải đi trong năm nay và năm sau?), nay nhìn lại những lời phát biểu của mấy đồng chí chuyên gia, quan chức và quân sư quạt mo ở các nơi mới thấy đúng là mấy cái lưỡi không xương, mấy cái đầu rỗng tuyếch, cho dù có một số người ma lanh hơn khi nói kiểu nước đôi "không phá giá" nhưng "chỉ điều chỉnh" để tỷ giá biến động khoảng 3% trong năm nay v.v...

3. Bản thân tớ có it tiền tiết kiệm còm, muốn chuyển về Việt Nam để mua cái lều làm chỗ trú chân nếu sau này có phải hồi hương vì thất nghiệp. Nhưng tính toán dại dột thế nào đó mà tớ cứ toàn chuyển hết qua USD và gửi hoặc ngân hàng, hoặc người thân để họ kinh doanh, sau đó khi mua thì mới chuyển ra VND, kể ra cũng (có thể) thiệt hại kha khá vì giá nhà hay lều thì cũng vậy, người bán thường chào bằng VND. Cũng nhiều người khuyên hay băn khoăn hỏi tớ, tại sao lại không gửi/giữ bằng VND cho lợi hơn. Tớ cũng chịu, chẳng biết trả lời ra sao, chỉ hỏi lại một cách rất yếu ớt được mỗi câu: Thế khi độp một phát NHNN phá giá tới cả gần chục % như năm 2011 (mặc dù trước đó cam kết rất mạnh, cũng chẳng kém bây giờ là mấy) thì sao?

Thôi, vì lòng tin của tớ mong manh nên cứ giữ USD cho lành, dù có thể thiệt (một tí hay vô khối). Các đồng chí có tiền chắc phải nên trả lời được câu hỏi của tớ rồi hay quyết định giữ cái gì nhỉ?

Monday, 17 June 2013

TPP

Tớ bận rộn cả tháng nay về vấn đề này, đã và đang đi công tác để tìm hiểu thêm về nó và hàm ý đối với Việt Nam. Phỏng vấn một số đối tượng từ công ty dệt, may trong nước và FDI, ngân hàng, công ty chứng khoán, tổ chức nước ngoài, hội thảo quốc tế v.v... ở Sài Gòn, tớ mới rút ra một số nhận xét ban đầu (một phần) như sau:

1. Đa phần giới lãnh đạo các doanh nghiệp dệt may VN (các doanh nghiệp lớn) quả là làm cho tớ ngạc nhiên về tầm hiểu biết của họ. Nhiều trong số này là các doanh nghiệp nhà nước (nay đã cổ phần hóa) nhưng người lãnh đạo làm cho tớ khá thích thú và cám ơn khi được nói chuyện với họ vì biết thêm nhiều góc cạnh mà chẳng đọc được ở đâu cả, trái với ấn tượng không mấy tốt của tớ về đồng nghiệp của họ ở các doanh nghiệp nhà nước khác. Tự nghĩ những người thế này mà không làm doanh nghiệp ăn nên làm ra mới là điều lạ.

2. Ngược lại, một số doanh nghiệp FDI, kể cả ngân hàng trong nước, và tổ chức nước ngoài làm cho tớ sốc khi hầu như họ không có mấy khái niệm về TPP và các tác động của nó, để tớ phải nói tóm tắt cho họ hiểu nó là cái gì rồi từ đó tớ mới gợi mở họ về những chuyện liên quan, nhất là tình hình hoạt động của ngành và doanh nghiệp của họ. Tớ buộc phải tự suy đoán lý do. Có lẽ một phần do những doanh nghiệp và ngân hàng này đã đặt chân trong ngành, vào VN đã lâu, có mối quan hệ khách hàng ổn định và/hoặc khách hàng cần họ chứ họ không cần khách hàng. Phần còn lại có lẽ là do ít đọc, ít trao đổi, không quan tâm (mặc dù là vấn đề lớn, có ảnh hưởng trực tiếp đến business của mình), cho rằng đó là chuyện vĩ mô, của nhà nước, của ai đó chứ không phải của mình.

3. Cái nhìn về TPP ở phía cơ sở và từ bên thứ 3 thực ra không lạc quan như chính phủ, mấy chuyên gia, mấy ông công chức ngồi tại các hiệp hội phán và tin tưởng. Nhiều người bày tỏ mối hoài nghi và liên hệ với chuyện WTO. Lãnh đạo các doanh nghiệp dệt may mà tớ gặp thì có cái nhìn khách quan hơn, thiết thực hơn, chỉ ra một số lĩnh vực có thể làm được và làm đến đâu... chứ tình hình không hẳn một mầu hồng như người ta vẫn nói trên đài báo, tính toán và trích dẫn tùm lum v.v... Có cả những chuyện thuộc "thâm cung bí sử" mà chỉ có người trong cuộc mới nói được, không nên nói ra với người ngoài mà cuối cùng lại nói với tớ, đến nỗi mấy đồng chí Nhật cứ hỏi tớ làm thế nào mà moi được những chuyện như vậy.... Chuyện, thế mới là tớ!

4. Tóm lại, tớ vẫn tiếp tục hành trình điều nghiên, thẩm vấn và viết lách của mình trong tháng này, hy vọng rút ra được một cái nhìn toàn diện hơn, từ nhiều góc độ liên quan đến TPP. Đồng chí bạn đọc nào có ý kiến đóng góp gì, có nhã ý giúp tớ thì cho tớ biết ngay với nhé, vô cùng đa tạ.




Wednesday, 29 May 2013

Kích thích kinh tế và lạm phát – nhìn từ Nhật (Bài đăng trên TBKTSG số 22-2013)

(Bản gốc, không rõ TBKTSG edit thế nào)
           
            Nước Nhật gần đây đã tiến hành một loạt các biện pháp tiền tệ và tài chính mạnh tay để đưa nước này thoát ra khỏi vũng lầy thiểu phát. Các biện pháp này đã làm đồng yen mất giá đáng kể so với trước đây nhưng lạm phát tại Nhật vẫn đang ở mức âm. Đối với một nền kinh tế phụ thuộc nặng nề vào nhập khẩu nhiều mặt hàng chiến lược, trong đó có dầu mỏ, như Nhật, điều này tỏ ra là một nghịch lý, và càng là nghịch lý hơn nếu khi so với Việt Nam, nơi mà mỗi khi phá giá tiền đồng, mối lo lớn nhất luôn là lạm phát gia tăng mạnh. Trong bài này, chúng ta sẽ thử đưa ra một vài giải thích cho nghịch lý này.

Các biện pháp kích thích của Nhật

Sau nhiều năm vật lộn với thiểu phát không thấy tương lai, đột nhiên Nhật đang chứng kiến những dấu hiệu khởi sắc không ngờ. Những doanh nghiệp như Sony nay đã báo lãi lần đầu tiên sau 5 năm thua lỗ, một phần lớn nhờ đồng yen đã mất hơn ¼ giá trị, cải thiện mạnh thu nhập và lãi ròng của Sony nói riêng và các doanh nghiệp xuất khẩu của Nhật nói chung. Trong khi đó,  giá cổ phiếu đã tăng hơn 60% so với 1 năm trước . Còn về phía người tiêu dùng Nhật vốn thích giữ tiền hơn là chi tiêu trong thời kỳ thiểu phát, nhiều người nay cũng đã sẵn lòng mở hầu bao mua những món hàng xa xỉ tại các trung tâm thương mại.

Lý do đằng sau sự khởi sắc này có thể quy cho liệu pháp sốc kinh tế của Thủ tướng Shinzo Abe, còn được gọi bằng cái tên lóng “Abenomics”. Kế hoạch của ông, một thử nghiệm kinh tế táo bạo nhất trong thế giới đương đại, bao gồm biện pháp bơm vào nền kinh tế một lượng lớn tiền mặt cực lớn với lãi suất thấp (tăng gấp đôi cung tiền sau mỗi 2 năm để hướng đến mục tiêu lạm phát tăng lên 2%), biện pháp kích thích tài khóa truyền thống nhằm mục đích đưa thâm hụt ngân sách lên khoảng 11%-12% GDP, và biện pháp tự do hóa văn hóa doanh nghiệp khép kín, hướng nội nổi tiếng của Nhật. Mục đích nhằm tới của kế hoạch này là tăng thu nhập cho doanh nghiệp, nhờ đó tăng thu nhập cho người lao động, đồng thời tăng kỳ vọng lạm phát nhằm kích thích chi tiêu, đầu tư, và phá vỡ vòng xoáy thiểu phát gây ra bởi sự tụt giảm giá cả và theo đó là tụt giảm kỳ vọng, niềm tin của người tiêu dùng và nhà đầu tư vào tương lai kinh tế. Lạm phát tăng sẽ là một cú hích buộc người ta phải mở hầu bao ra chi tiêu trước khi tiền của họ mất giá vì lạm phát, nhờ đó dập tắt tâm lý dẫn đến thiểu phát rằng càng trì hoãn chi tiêu hôm nay thì càng có cơ hội mua được hàng hóa với giá rẻ hơn vào ngày sau.

Kết quả bước đầu

Xem ra kế hoạch này đã bước đầu thành công. Tăng trưởng kinh tế trong quý I đã đạt 3.5% tính theo năm, và, quan trọng hơn, trọng tâm trong kế hoạch của Abe là phục hồi lòng tin của người tiêu dùng đã được hiện thực hóa khi chi tiêu hộ gia đình đã chiếm tỷ trọng chính trong mức tăng trưởng này.
 
             Tuy vậy, mục tiêu đưa lạm phát lên 2%/năm xem ra chưa có mấy khả năng thành hiện thực. Chỉ số CPI lõi vẫn tiếp tục giảm 0.9% hồi tháng 3 sau khi đã giảm 1% trong tháng 2 năm nay so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tháng 3 là tháng giảm thứ 5 liên tiếp của giá cả ở Nhật, cho thấy Nhật vẫn chưa thoát khỏi vũng lầy thiểu phát đã kéo dài 15 năm nay.

Một trong những giải thích hợp lý cho sự “cứng đầu” của thiểu phát ở Nhật nằm ở yếu tố địa chính trị. Tuy động cơ của liệu pháp Abenomics là tạo ra lạm phát nhưng một “tác dụng phụ” của nó là làm đồng yen suy yếu so với đồng won Hàn Quốc, và đặc biệt là đồng yuan của Trung Quốc, ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu của 2 nước này, vốn là những nước đối tác thương mại lớn nhất của Nhật. Việc “làm nghèo hàng xóm” này của Nhật, dù có vẻ là không cố ý, có khả năng sẽ dẫn đến xung đột thương mại với 2 nước này, đặc biệt là Trung Quốc vốn đang rất nhạy cảm với Nhật kể từ sau vụ Nhật quốc hữu hóa mấy hòn đảo có tranh chấp với Trung Quốc. Sự trả đũa từ 2 nền kinh tế này (dưới dạng chiến tranh tiền tệ, hàng rào thương mại cho nhập khẩu từ Nhật, và sự kiểm soát chặt với đầu tư từ Nhật v.v...) tại một thời điểm nào đó là điều khó tránh khỏi.

Bởi thế, sự phục hồi kinh tế dựa vào một đồng yen yếu của Nhật xem ra khó có thể kéo dài. Và một thực tế là vốn đầu tư cố định của các công ty Nhật đã không tăng đáng kể dù xuất khẩu của họ tăng mạnh cho thấy ngay bản thân giới quản lý các công ty Nhật cũng không tin tưởng vào khả năng kéo dài của một đồng yen yếu làm điểm tựa lâu dài cho tăng trưởng xuất khẩu và lợi nhuận của họ.

Nói cách khác, liệu pháp Abenomics vẫn chưa chế ngự được sự hoài nghi vào tương lai đã ăn sâu ở một bộ phận lớn trong xã hội Nhật sau cả gần 2 thập kỷ mất mát, hoặc vẫn còn sớm để chứng kiến tác dụng của nó trên lĩnh vực này, và vì thế giá cả tại Nhật vẫn tiếp tục sụt giảm bất chấp đồng yen đã mất giá mạnh cho đến nay.

 Khác biệt ở Việt Nam

            Ở Việt Nam, với cơ chế neo tỷ giá, việc chủ động phá giá tiền đồng thường khá hãn hữu trong những năm qua. Nếu có, việc phá giá thường chỉ là một hành động bắt buộc, miễn cưỡng phải làm dưới áp lực của thị trường sau mỗi thời kỳ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nới lỏng chính sách tiền tệ quá mức gây áp lực lên lạm phát và sự lên giá thực của tiền đồng so với ngoại tệ. Bởi thế, không phải ngẫu nhiên, những thời điểm phá giá tiền đồng lại trùng hợp với những thời điểm lạm phát đang có xu hướng đi lên. Điều này vừa gây ra ngộ nhận rằng phá giá là nguyên nhân chính gây ra lạm phát ở Việt Nam, vừa phóng đại tác động của phá giá lên lạm phát thông qua kênh nhập khẩu lên quá mức thực tế.

            Mặt khác, lòng tin tiêu dùng, đầu tư ở Việt Nam hầu như chưa bao giờ bị làm thui chột hoàn toàn như ở Nhật, vì Việt Nam kể từ sau Đổi mới đến nay đều liên tục tăng trưởng với tốc độ khá, chưa phải trải qua một năm thiểu phát nào theo đúng nghĩa của nó. Vì vậy, không như ở Nhật, ở Việt Nam khi chính sách tiền tệ được nới lỏng, kết hợp với tăng thu nhập từ tăng xuất khẩu nhờ phá giá tiền đồng, thông thường chi tiêu, tổng cầu và nhập khẩu sẽ tăng theo, từ đó làm tăng áp lực lạm phát. Ngược lại, dấu hiệu suy giảm tăng trưởng tổng cầu và lòng tin 2 năm gần đây ở Việt Nam cho thấy áp lực từ phá giá hay tăng giá xăng dầu, điện nước v.v... lên lạm phát xem ra không còn lớn như trước nữa, trong khi cung tiền vẫn tăng mạnh.

            Tóm lại, có thể không nói quá rằng điều nghịch lý ở Nhật so với Việt Nam phần lớn là do sự thiếu vắng lòng tin vào tương lai làm người dân và doanh nghiệp tiếp tục thận trọng với việc mở hầu bao chi tiêu.

 
Phụ lục

 Có nhiều người thắc mắc rằng, vể mặt kỹ thuật, khi đồng yen mất giá làm giá hàng nhập khẩu tăng lên, tại sao CPI của Nhật vẫn không tăng?
Trả lời: Thực tế này diễn ra không chỉ ở Nhật mà còn có thể xảy ra ở nhiều nước khác, kể cả Việt Nam trong một số hoàn cảnh (đặc biệt khi tăng trưởng tổng cầu suy yếu). Trong bảng số liệu về  giá trị và chỉ số giá nhập khẩu dưới đây, giá trị nhập khẩu được nêu ở cột A và B của bảng (đơn vị là tỷ yen). Cột C và D cho biết chỉ số giá nhập khẩu. Nhìn vào các cột này ta thấy, quả thật, đi kèm với sự mất giá của đồng yen là sự tăng lên về giá trị nhập khẩu và giá hàng hóa nhập khẩu nói chung đắt lên.

Giá trị và lượng nhập khẩu của Nhật
  Giá trị nhập khẩu Chỉ số giá nh.khẩu Lượng nhập khẩu 
  2012 2013 2012 2013 2012 2013
  A B C D E=A/C F=B/D
Tháng 1 5992 6429 104 116 57 56
Tháng 2 5413 6062 106 120 51 50
Tháng 3 6285 6634 113 122 56 54
Tháng 4 6090 6657 113 124 54 54
Nguồn:  tradingeconomics.com
 
Đem chia cột A cho C và B cho E ta có được những con số có thể coi là tổng lượng nhập khẩu. So sánh năm 2013 với năm 2012 (cột E và F), ta thấy lượng nhập khẩu thực tế giảm đi trong năm 2013 so với cùng kỳ năm 2012. Điều này có nghĩa là rất có thể vì giá hàng nhập khẩu tính bằng yen đã tăng nên rốt cuộc, vì gánh nặng chi tiêu tăng lên, người Nhật phải cắt giảm lượng nhập khẩu (chẳng hạn họ phải tìm cách tiêu dùng ít đi, ví dụ như tắt điều hòa hoặc để điều hòa ở nhiệt độ cao hơn để giảm lượng điện tiêu thụ từ đó giảm lượng than hay dầu chạy máy phát điện; dùng hàng trong nước sản xuất thay thế hàng nhập khẩu – là điều mà tác giả đã giải thích rõ trong bài trên TBKTSG đầu tháng 4).

Với lượng hàng nhập khẩu ít đi để bù trừ cho giá hàng nhập khẩu tính bằng yen đã tăng lên, rốt cuộc tác động lên lạm phát từ kênh nhập khẩu sẽ không lớn như người ta vẫn tưởng. Quan trọng hơn, một phần của hàng nhập khẩu nay đã được thay thế bởi hàng sản xuất trong nước đã trở nên rẻ hơn sau khi yen mất giá, làm cho mặt bằng giá cả trong nước không tăng nhiều, và thậm chí còn giảm nếu mức độ thay thế đủ lớn. Nhu cầu hàng nhập khẩu yếu đi cũng làm cho nhà nhập khẩu không dám điều chỉnh tăng giá bán tại Nhật theo sự mất giá của yen (cũng tương tự tình trạng xảy ra với mặt hàng ô tô nhập khẩu ở Việt Nam). Họ sẽ có thể phải cắt giảm bớt lợi nhuận, chịu phần thiệt về phía mình để giữ khách. Tất cả các yếu tố này kết hợp với lòng tin tiêu dùng nói chung vẫn còn yếu ở một bộ phận lớn trong xã hội Nhật đã kìm giữ lạm phát của Nhật ở mức thấp, thậm chí là thiểu phát mặc dù yen đã mất giá mạnh.

Friday, 24 May 2013

Tìm cách giảm rủi ro trong tiếp cận và cho vay vốn (Bài trả lời phỏng vấn báo Đại biểu Nhân dân)

http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=281400

08:22 | 25/05/2013
Thay vì tìm cách hạ lãi suất hơn nữa và rồi đi kèm với rủi ro là lạm phát quay lại, theo TS PHAN MINH NGỌC, Phó giám đốc Nghiên cứu doanh nghiệp của Ngân hàng Sumitomo Mitsui, chi nhánh Singapore, điều cần làm là tìm cách giảm được mức độ rủi ro trong tiếp cận và cho vay từ phía doanh nghiệp và ngân hàng, để vốn ngân hàng đến được nơi cần đến.
Tin ai, ngân hàng hay doanh nghiệp?
- Đang có hai luồng ý kiến khác nhau về lãi suất cho vay. Phía ngân hàng cho rằng, tín dụng không thể tăng trưởng là do khả năng hấp thụ của nền kinh tế, và lãi suất hiện giờ không còn là vấn đề chính của doanh nghiệp. Trong khi đó, vẫn có những tiếng nói của doanh nghiệp kêu rất khó tiếp cận vốn và lãi suất hiện vẫn cao. Theo ông, nên tin ai, ngân hàng hay doanh nghiệp?
 
- Cả 2 bên đều phóng đại hoặc cực đoan hóa vấn đề. Đúng là, hạ lãi suất có thể sẽ không tự động dẫn đến tăng đáng kể đầu tư và nhu cầu tín dụng, gọi là tình trạng bẫy thanh khoản nếu nền kinh tế đang bị nợ xấu làm khó, lòng tin của ngân hàng vào doanh nghiệp giảm sút và ngân hàng nhìn đâu cũng thấy rủi ro nên không, không muốn cho doanh nghiệp vay nữa hoặc xét nét hơn khi cho vay. Tình trạng nền kinh tế hiện nay có thể làm cho một số người liên hệ đến tình trạng bẫy thanh khoản này. 
 
Nhưng không thể tuyệt đối hóa, cực đoan hóa hiện tượng này và nói tất cả các doanh nghiệp đều khó tiếp cận vốn và với lãi suất cao. Khó hay không và cao hay không phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng của doanh nghiệp và mục đích và tính khả thi của dự án vay vốn của doanh nghiệp. Không ngân hàng nào dại dột ngoảnh mặt với những doanh nghiệp tốt cả. Và việc tín dụng vẫn tăng trưởng dương là một bằng chứng đầy thuyết phục rằng ngân hàng vẫn cho vay, hoặc nói cách khác, nhiều doanh nghiệp vẫn vay được và với lãi suất chịu được đấy chứ? Tất nhiên cũng phải công nhận con số doanh nghiệp vay được này không thể bằng được trước đây, nhưng đó là sự việc tất yếu đi kèm với mỗi giai đoạn suy giảm tăng trưởng.
 
Ngược lại, ý kiến cho rằng khả năng hấp thụ của nền kinh tế suy yếu nên doanh nghiệp vay tiền cũng không biết để làm gì dù lãi suất đã không còn là vấn đề nữa cũng không hoàn toàn đúng. Một khi nền kinh tế vẫn tăng trưởng dương, và không thể nói là tăng trưởng thấp được khi tốc độ vẫn là trên dưới 5%/năm, điều đó có nghĩa là cầu của nền kinh tế vẫn tăng lên, vẫn tạo ra nhiều cơ hội mới để hấp thụ các dự án sản xuất kinh doanh mới. Và thậm chí cho dù tăng trưởng có chững lại, tụt xuống dưới âm thì mọi người trong xã hội vẫn cần phải ăn, mặc, đi lại và tiêu dùng cái gì đó, có nghĩa là chí ít các doanh nghiệp vẫn nhìn thấy cơ hội, từ đó sẽ vay vốn nhằm duy trì sản xuất kinh doanh đáp ứng được những nhu cầu này của xã hội. Và tất nhiên cũng cần phải thừa nhận nhu cầu đó có thể nhỏ đi và, do đó, quy mô sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp có thể cũng sẽ nhỏ đi so với trước. Nhưng đây cũng là điều tất yếu đi kèm với tăng trưởng suy giảm.
 
- Dòng vốn bị tắc, theo ông, có phải là nút thắt của nền kinh tế hiện nay không?
 
- Đương nhiên, đối với một nền kinh tế đang phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng để đáp ứng nhu cầu vốn của mình như nền kinh tế Việt Nam, bất kể trở ngại nào đó cản trở đến luồng chảy này đều gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của nền kinh tế đó và làm suy giảm tăng trưởng kinh tế, ít nhất trong ngắn hạn. 
 
Song, điều quan trọng là phải thấy rằng sự việc là như vậy nhưng không thể giải quyết nhanh chóng bằng những biện pháp cực đoan mà một số người đang hô hào như dùng mệnh lệnh buộc ngân hàng thương mại phải hạ tiêu chuẩn cho vay xuống hoặc cấp thẳng vốn từ ngân sách hay từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho các doanh nghiệp được. Giải quyết tình trạng này cần thời gian không phải ngắn, tính bằng tháng, mà tính theo vài quý đến hàng năm, cũng như cần nhiều giải pháp kinh tế và ít giải pháp hành chính nếu không muốn mọi sự phục hồi của nền kinh tế, nếu có, chỉ là tạm thời để rồi lại nhanh chóng rơi vào suy sụp ở mức độ còn lớn hơn.
 
- Đánh giá về lãi suất cho vay hiện nay, ông thấy đã hợp lý chưa? 
 
- Như đã nói ở trên, khi bẫy thanh khoản đã xảy ra thì dùng công cụ lãi suất để kích thích đầu tư quả thật sẽ không còn nhiều tác dụng. Cũng phải nhắc lại luận điểm đầy cảm tính của nhiều chuyên gia trước đây, coi hạ lãi suất là chìa khóa cho sự phục hồi đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Lúc đó, lãi suất cho vay vượt trên 20%/năm, họ cho rằng để doanh nghiệp sống được và kinh doanh có lãi thì lãi suất phải ở mức 15%. Thế rồi lúc lãi suất hạ xuống 15% thì họ lại kêu gọi NHNN hạ lãi suất xuống nữa thì doanh nghiệp mới có lãi. Và nay thế nào thì đã rõ. Vậy, lãi suất thấp không luôn luôn là đũa thần cho phục hồi kinh tế. 
 
Cần theo đuổi chính sách tiền tệ, tài khóa thận trọng 
- Để khơi dòng vốn, chính sách tiền tệ giờ đã không còn dư địa nữa, vì thế, đến lúc phải dùng cả chính sách tài khóa, ví dụ, tăng bội chi, nới giới hạn nợ công... Ông có ủng hộ quan điểm này không?
 
- Vì lãi suất không còn là đũa thần cho vấn đề nữa, nên trong tình cảnh hiện nay, thay vì chăm chăm tìm cách hạ lãi suất hơn nữa, và rồi đi kèm với rủi ro là lạm phát quay lại, điều cần làm là tìm cách giảm được mức độ rủi ro trong tiếp cận và cho vay cả từ hai phía, doanh nghiệp và ngân hàng, để vốn ngân hàng đến được nơi cần đến, nơi có nhu cầu. Ở nghĩa này thì quả đúng hạ lãi suất hơn nữa cũng không làm tăng đáng kể mức đầu tư vào nền kinh tế. Có nghĩa là dư địa của chính sách tiền tệ quả là không còn mấy nữa và đừng nên “tận thu” trong lĩnh vực này.
 
Ngược lại, có nên dùng bội chi ngân sách để kích thích đầu tư, tiêu dùng và tăng trưởng hay không là câu hỏi không dễ trả lời. Vấn đề là chúng ta có nên chấp nhận đánh đổi lòng tin vào chính sách, vào các cam kết ổn định vĩ mô bước đầu đã ra hình hài, có nên hy sinh những nỗ lực ổn định hóa trong suốt 2 năm qua trong khuôn khổ của một nỗ lực lớn hơn, bao trùm lên trên hết – tái cơ cấu toàn diện nền kinh tế - để đổi lấy sự phục hồi kinh tế chắc chắn sẽ là mong manh, ngắn hạn, nếu có?
 
Trong khi đó, như đã nói ở trên, làm cách nào đó để giảm thiểu rủi ro tiếp cận và cho vay vốn là những biện pháp tuy khó nhưng không phải là không thể, và chắc chắn là sẽ với phí tổn ít hơn rất nhiều và bền vững hơn cũng rất nhiều so với biện pháp tăng chi tiêu Chính phủ thông qua tăng bội chi. Thực ra, nhiều trong số các biện pháp tái cơ cấu cái này cái kia mà người ta vẫn nhắc đến thành câu cửa miệng trong suốt hơn 2 năm qua cũng chính là những biện pháp sẽ góp phần cải thiện tiếp cận vốn từ cả 2 phía ngân hàng và doanh nghiệp. Có điều, nay dường như chuyện tái cơ cấu đã bị gạt sang bên.
 
- Theo ông, chính sách tài khóa và tiền tệ nên phối hợp với nhau như thế nào trong hoàn cảnh hiện nay?  
 
- Thực sự tôi không bi quan quá như những người trong cuộc, căn cứ vào những con số thống kê do Chính phủ báo cáo. Nếu tình hình đúng như những gì Chính phủ báo cáo thì việc thực hiện các chính sách tiền tệ và tài khóa theo hướng thận trọng như và hơn hiện nay vẫn là điều cần theo đuổi, vì luôn cần nhớ rằng mọi sự phục hồi theo kiểu giật gấu vá vai đều chỉ có tính ngắn hạn, để rồi phí tổn giải quyết hậu quả còn tốn kém hơn nhiều so với một sự phục hồi từ từ bằng những biện pháp kinh tế lành mạnh, dài hơi.
- Xin cảm ơn ông!
Hồng Loan thực hiện

Tuesday, 21 May 2013

Các đồng chí có biết mình đang nói gì không?

Tớ đã không dưới dăm lần phải lên tiếng trên báo chí để phản đối ý tưởng thành lập một cái ủy ban nào đó của một đồng chí nào đó, thường là nghị sĩ cứ mỗi khi thấy có một vấn đề gì đó nổi cộm. Lúc thì là lời kêu gọi thành lập Ủy ban tái cơ cấu kinh tế, lúc thì Ủy ban tái cơ cấu ngân hàng, Ủy ban tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, và mới đây thì là Ủy ban quốc gia giải cứu doanh nghiệp của đồng chí nghị Trần Hoàng Ngân. Tóm lại là kính thưa các loại ủy ban.

Trộm nghĩ, giá mà Quốc hội, Chính phủ nghe theo lời quân sư của mấy đồng chí này thì nay ở Việt Nam phải có thêm đến cả chục cái ủy ban ra đời (và sẽ ra đời tiếp), mà cái nào cũng cấp thiết, quan trọng đến độ phải có một đồng chí mèng ra thì cũng phải là Phó Thủ tướng đứng đầu. Thế có nghĩa là phải bầu ra thêm không cả chục thì cũng phải dăm đồng chí Phó Thủ tướng nữa để chuyên trách đứng đầu các ủy ban vì xem ra 4 Phó Thủ tướng hiện nay chỉ có 2 tay, 1 đầu cho một người, khó mà đảm đương kiêm nhiệm mỗi người thêm 1, 2 cái ủy ban nữa, bên cạnh một lô một lốc các loại chức trách kiêm nhiệm khác mà hiện họ đang phải/được gánh.

Rồi nữa, vì các vấn đề nổi cộm này không phải là độc lập với nhau nên cũng lại phải cần một cái siêu ủy ban, đứng trên các ủy ban khác để phối hợp các ủy ban này lại với nhau, không thì, theo logic đòi thành lập ủy ban, các ủy ban này hoạt động rời rạc, mạnh ai người ấy làm, không giải quyết một cách hữu hiệu các vấn đề nổi cộm có mối quan hệ đan chéo chằng chịt lẫn nhau. Rồi nữa, lại phải cần bầu ra thêm một đồng chí chức to hơn, quyền to hơn chục đồng chí Phó Thủ tướng thì mới có đủ thẩm quyền để gõ đầu mấy đồng chí Phó Thủ tướng bên dưới này để cho công việc được chạy hanh thông. Nếu đồng chí to này là Thủ tướng, thì về nguyên tắc Thủ tướng khó mà có thể làm chủ tịch ủy ban của mấy cái ủy ban cùng một lúc (vì cũng chỉ có 2 tay và 1 đầu), nên rốt cuộc khéo mà phải bầu ra thêm it nhất là một đồng chí Thủ tướng nữa để chuyên trách/kiêm nhiệm cái nhiệm vụ thống nhất quản lý các loại ủy ban.

Kinh khủng hơn nữa là những đề xuất như của đồng chí Ngân không chỉ dừng lại ở việc thành lập ủy ban cấp trung ương, mà còn đòi thành lập ủy ban cấp tỉnh nữa. Ối mẹ ơi, xã hội hiện nay mới có song song 2 bộ máy cho cùng một việc mà đã chẳng ra đâu rồi mà nay thêm 1 bộ máy nữa cùng nhúng mũi vào, ví dụ, hoạt động kinh doanh của một ngân hàng, thì quả thật là tớ không dám hình dung tiếp.

Còn về mặt nhân sự cho bộ máy ủy ban từ trung ương đến cấp tỉnh (sao không đề xuất luôn đến cấp xã nhỉ, cho sâu sát, chứ không thì ai giải quyết sự vụ ở cấp dưới tỉnh?), phải hoan nghênh đồng chí Ngân vì với ý tưởng này nếu được thực thi thì sẽ có thêm hàng ngàn chỗ làm mới cho các ủy ban viên từ chức danh (Phó) Thủ tướng trở xuống, góp phần giải quyết hữu hiệu tình trạng suy giảm việc làm do các doanh nghiệp đóng cửa. Và vì nguồn kinh phí cần có chắc phải đo lường bằng con số nghìn tỷ đồng (lương, phụ cấp, trụ sở, xe cộ, phương tiện làm việc, công tác phí, đào tạo, bồi dưỡng v.v...) nên đây là một nguồn kích cầu quan trọng một công vài ba việc, bù đắp còn hơn những gì mà khối kinh tế tư nhân đang đánh mất do phải đóng cửa.

Đi sâu hơn nữa vào đề xuất của đồng chí Ngân, càng nghiên cứu tớ càng thấy khâm phục trí tưởng tượng trình độ cao của đồng chí. Đồng chí Ngân lấy ví dụ: "Chẳng hạn khi doanh nghiệp kêu lãi suất vẫn cao, cơ quan này phải đứng ra dàn xếp mối quan hệ với ngân hàng để đảm bảo có lãi suất hợp lý cho những dự án tốt. Rồi doanh nghiệp than rằng họ tiếp cận vốn rất khó vì còn kẹt nợ cũ. Vậy thì ủy ban cần đứng ra dàn xếp để khoanh khoản nợ cho doanh nghiệp vay vốn triển khai dự án mới." (Xem tại đây.)

Và (ở một phiên bản báo khác): "Chẳng hạn, doanh nghiệp còn nợ mà chưa được khoanh để vay mới tái đầu tư sản xuất thì người đứng đầu ủy ban có thể chỉ đạo ngay Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính phải tính toán và quyết ngay, tức là đi thẳng vào từng sự vụ hoặc những sự vụ phổ biến một cách rốt ráo." (Xem tại đây.)
Ở phiên bản nào thì cũng cho thấy rằng mỗi ủy ban tương tự thế này cần phải, sẽ làm việc với từng doanh nghiệp một để xác định khó khăn của doanh nghiệp là gì, sau đó thì làm công văn hay gọi điện ngay sang NHNN hoặc Bộ Tài chính (hoặc một ngân hàng nào đó) để yêu cầu/ra lệnh/can thiệp bên đó phải có hành động vì quyền lợi của doanh nghiệp. Hệ hệ, tớ quả thật là không đủ trí tưởng tượng để theo kịp với trí tưởng tượng của đồng chí Ngân. Tớ chỉ mới hình dung được ra được rằng vì có vài trăm nghìn doanh nghiệp, trong số đó có phải đến vài chục phần trăm doanh nghiệp (tức cũng phải đến cả trên trăm nghìn doanh nghiệp) hiện đang kêu khó, than khổ, cần sự giúp đỡ, can thiệp của ủy ban này (và nhiều loại ủy ban khác). Vì mỗi ủy ban viên chỉ có 1 đầu và 2 tay nên 1 người phụ trách chừng chục doanh nghiệp có vấn đề là đã hết ngày làm việc, lịch làm việc kín hết cả mấy quý. Cứ vậy suy ra con số ủy ban viên trực tiếp xử lý các doanh nghiệp đã lên đến hàng chục nghìn, chưa kể con số ủy ban viên gián tiếp.

Lại nữa, vì các ngân hàng, NHNN và Bộ Tài chính sẽ bị các ủy ban viên này gõ đầu can thệp nên họ sẽ phải bố trí từng đó nhân viên để sẵn sàng giải quyết ngay lập tức các vụ việc được chuyển sang từ các ủy ban viên này. Nói cách khác, sẽ phải có hàng chục ngàn nhân viên được bổ sung vào các cơ quan và ngân hàng chỉ để xử lý vấn đề của các doanh nghiệp do ủy ban giải cứu doanh nghiệp các cấp chuyển đến.

Lại chưa kể đến những lĩnh vực vướng mắc khác, ngoài lĩnh vực ngân hàng, có liên quan đến doanh nghiệp (vì doanh nghiệp hiện nay kêu khó đủ thứ, chẳng hạn, ngoài vốn còn thị trường tiêu thụ hàng hóa của họ nữa), nên rốt cuộc số chỗ làm trong các cơ quan nhà nước và khối doanh nghiệp tư nhân sẽ tăng theo cấp số nhân, chứ không phải cấp số cộng nữa. Kèm với đó là kinh phí hoạt động cũng tăng tương ứng.

Vân vân và vân vân. Viết đến đây tớ mới chợt thấy hóa ra trí tưởng tượng của mình cũng đi xa phết (và vẫn còn có thể đi xa hơn nữa, nhưng không dám tưởng tượng thêm). Chợt thở phào một cái, rơi bụp phát xuống đất, đau nhưng mừng và hy vọng khấp khởi rằng nếu đồng chí Ngân cũng tưởng tượng được xa như và hơn tớ thì chắc cũng sẽ biết sợ và đồng chí từ nay về sau sẽ phải cố gắng học được cái thói quen suy nghĩ kỹ 2 lần trước khi nói, tuy rằng bây giờ thì đã muộn rồi (không học được nữa, không có khả năng học).

Monday, 20 May 2013

Lạm phát mục tiêu có áp dụng được ở Việt Nam?

Hôm trước, ở trong entry về Vinacomin, có đồng chí bạn đọc hỏi tớ về lạm phát mục tiêu (theo tớ thì dùng mục tiêu lạm phát là chuẩn hơn khi dịch từ tiếng Anh cụm từ "inflation target"). Tớ đã trả lời, và nhớ lại mình cũng đã viết về vấn đề này từ năm 2006 đăng trên tạp chí Tia sáng, với câu trả lời là: (i) chưa nên áp dụng mục tiêu lạm phát ở Việt Nam hiện nay, nếu chỉ vì lo ngại rằng lạm phát sẽ tác động tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng (vì lý thuyết và thực tế chưa có bằng chứng rõ ràng), (ii) dù muốn cũng chưa thể áp dụng được mục tiêu lạm phát ở VN trong hoàn cảnh hiện nay vì một số điều kiện tiên quyết để áp dung nó chưa được thỏa mãn (tính độc lập của NHNN, tỷ giá linh hoạt, chưa tự do hóa thị trường tài chính). Để tiện bạn đọc theo dõi, tớ post lại tất cả lên đây. Mời các đồng chí xem và comment.

I. Câu hỏi của bạn đọc
....
Bữa nay, mấy bác ở VN tổ chức cái hội thảo về lạm phát mục tiêu, em cũng quan tâm vụ này, nhưng thật lòng ko biết NHTW các nước xác định mức lạm phát mục tiêu này như thế nào. Họ chỉ ước lượng định tính rồi công bố và thực hiện này có phương pháp kinh tế lượng thế nào. Còn ở VN, chưa có con số này, giờ muốn tính lạm phát kỳ vọng dựa trên lạm phát thực tế hay dựa trên con số quốc hội duyệt hàng năm ko bác nhỉ, cách tính thế nào. Bác giúp em cũng là giúp nhiều người quan tâm nhưng bí rị đấy bác ạ.

II. Trả lời của tớ
Tớ nghĩ cách làm của VN rất đơn giản, xác định áng chừng theo thời thế, xu thế, áp lực của dư luận/Quốc hội theo thời điểm, hoặc đơn giản hơn, nhiều khi là do cách hiểu sai/ngớ ngẩn của NHNN hay của Quốc hội, Chính phủ v.v...

Chẳng hạn trước đây GDP vẫn còn khả năng tăng trưởng trên 7%/năm thì, do hiểu sai, người ta nghĩ lạm phát phải không cao quá 7%/năm, vì cho rằng nếu cao hơn thì có nghĩa tăng trưởng GDP "không còn ý nghĩa". Họ không nói thẳng thế nào là "không có ý nghĩa", nhưng tớ hiểu ý của họ cho rằng như vậy có nghĩa là tăng trưởng như thế là tăng trưởng thực tế ÂM. Các đồng chí chắc biết họ sai ở chỗ nào chứ?

Nay thì tăng trưởng GDP khó mà vọt lên được mức như xưa, trái lại mức tăng trưởng GDP 5% là hiện thực có vẻ gần gũi hơn. Nhưng ngay cả ở mức tăng trưởng GDP thấp vậy mà lạm phát theo kế hoạch, hoặc có thể gọi/hiểu là lạm phát mục tiêu theo như cách hiểu của VN (tớ đoán thế, mặc dù tớ chẳng hiểu NHNN hay QH định nghĩa nó là cái gì) cũng khó dưới mức 6%-7%. Thực tế này đòi hỏi người ta phải xem xét lại quan hệ giữa GDP mục tiêu và lạm phát mục tiêu, chấp nhận việc lạm phát mục tiêu có thể phải cao hơn tăng trưởng GDP mục tiêu/thực tế.

Thế còn nên đặt lạm phát mục tiêu là 6% hay 7% thì lại cũng là điều hết sức cảm tính, lựa thời cơ mà phán xét. Càng gần về cuối năm, nếu thấy mục tiêu GDP và lạm phát khó đạt được thì người ta càng có xu hướng kêu gọi nới lỏng/sửa đổi lại lạm phát mục tiêu v.v...

Tóm lại, cái gọi là lạm phát mục tiêu, về bản chất là lạm phát theo kế hoạch (kiểu như tăng trưởng GDP theo kế hoạch), và hoàn toàn linh động, biến thiên theo tình huống, theo ý muốn chủ quan của những người hoạch định chính sách hoặc đơn giản hơn, của những người thích can thiệp, có quyền can thiệp, ví dụ như Quốc hội hoặc đảng.

Kinh tế lượng nếu có được dùng trong việc xác định lạm phát mục tiêu thì tớ nghĩ chắc chỉ có khả năng là dùng để tính mối quan hệ tuyến tính giữa tăng trưởng GDP và lạm phát ở VN (chẳng hạn GDP tăng trưởng 1% thì lạm phát tăng x%, hoặc ngược lại) dựa trên số liệu lịch sử của GDP và lạm phát, có thể cùng với một số biến kinh tế khác, để từ đó vạch ra, chẳng hạn GDP năm nay kế hoạch là 6% thì lạm phát sẽ là/phải là 7% hoặc 8% v.v... Nhưng đương nhiên là tớ không nghĩ mối quan hệ mà họ tìm ra nhờ kinh tế lượng như vậy, nếu có, là chuẩn xác, có ý nghĩa, luôn đúng mọi năm. Vì thế đã và tất sẽ có sự điều chỉnh lạm phát mục tiêu theo cảm tính theo thậm chí là hàng quý, nửa năm, và hàng năm, cho dù tăng trưởng GDP dự tính vẫn là một con số nào đó đặt ra từ trước đó.


III. Bài tớ đăng trên tạp chí Tia sáng 20/6/2006
link (dead): http://www.tiasang.com.vn/news?id=588
Một link khác ở đây: http://niemtin.free.fr/lamphat.htm
--------------------
Lạm phát, mục tiêu lạm phát và tăng trưởng kinh tế

Thực chất của quan hệ giữa lạm phát với năng suất và tăng trưởng là thế nào? Mục tiêu lạm phát (MTLP) có phải là điều kiện cần trong chính sách tiền tệ không? Bài viết này sẽ cung cấp những cơ sở lý luận và kết quả thực chứng cho những vấn đề này và liên hệ với Việt Nam.
 
Trong quan niệm của nhiều người, lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế vì làm giảm năng suất lao động. Lạm phát bóp méo mức độ khan hiếm tương đối (phản ánh qua giá cả) của các nguồn lực sản xuất và do đó bóp méo các quyết định đầu tư và sự phân bổ các nguồn lực khan hiếm này. Lạm phát còn làm giảm mức khấu trừ thực tế cho phép trong thuế doanh nghiệp đối với khấu hao tài sản cố định và làm tăng giá thuê tư bản, do đó làm giảm tích lũy vốn, dẫn đến giảm năng suất. Hàm lượng thông tin liên quan đến biến động giá cả giảm đi kể cả trong thời kỳ lạm phát ổn định. Như vậy, các nhà đầu tư thường có xu hướng mắc lỗi trong quyết định của mình và chọn những “gói” yếu tố sản xuất không phải là tối ưu, làm giảm hiệu quả kinh tế và, do đó, giảm năng suất.

Tuy nhiên, không ít người lại lập luận rằng lạm phát ở một mức nhẹ lại có tác dụng tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Chẳng hạn, nhà kinh tế học nổi tiếng Tobin cho rằng lạm phát làm cho nhà đầu tư tái phân bổ danh mục đầu tư của mình từ tiền sang chứng khoán, làm giảm lãi suất thực tế và do đó làm tăng đầu tư và nâng cao năng suất lao động. Ông lập luận thêm rằng “một chút lạm phát giúp bôi trơn nền kinh tế” vì nó giúp thị trường lao động điều chỉnh cho phù hợp. Một số khác cũng chỉ ra rằng nhu cầu tăng lên ổn định sẽ gây ra lạm phát ở mức nhẹ, là cái mà thực ra lại làm tăng, chứ không phải giảm, năng suất lao động và, do đó, tăng tốc độ tăng trưởng. Vì thế, động thái nhằm đạt mức lạm phát bằng 0 chẳng qua là chính sách trả trước ngay bây giờ cho nhiều thiệt hại hơn sau này.

Từ một khía cạnh khác, một số người cho rằng lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế nếu xét đến mối quan hệ giữa tính bất trắc của lạm phát trong tương lai với tăng trưởng sản lượng. Họ cho rằng tính bất trắc của lạm phát càng cao thì tăng trưởng sản lượng càng thấp. Sở dĩ có điều này bởi vì nhà sản xuất khai thác triệt để tính bất đối xứng về thông tin trên thị trường – thông tin có được của người tiêu dùng bị hạn chế so với nhà sản xuất – để tăng biên độ lợi nhuận, do đó làm tăng doanh thu kể cả cho những nhà sản xuất không thật sự hiệu quả. Việc phân bổ các nguồn lực sản xuất tới những nhà sản xuất không hiệu quả như vậy sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng. Nhưng ngược lại với dòng lập luận này, một số nhà kinh tế chỉ ra rằng tính bất trắc của lạm phát lại có tác động tích cực đến tăng trưởng, nhờ vào động thái tăng tiết kiệm để phòng ngừa lạm phát. Họ cũng chỉ ra thêm rằng trên thực tế, quan hệ nhân quả giữa hai biến số này là không nhất quán ở từng trường hợp nghiên cứu quốc gia.

Như vậy có thể nói rằng về lý luận, quan hệ nhân quả giữa lạm phát với năng suất lao động và/hoặc tăng trưởng chưa hoàn toàn sáng tỏ. Thực tế, kết quả nghiên cứu thực chứng trong nhiều nghiên cứu cấp quốc gia và nhóm quốc gia cũng chỉ ra một quan hệ phức tạp giữa 2 nhóm biến số này. Các nghiên cứu thực chứng ban đầu chỉ tập trung vào nhóm G7, hoặc các nước trong tổ chức OECD, và kết quả nghiên cứu không chỉ ra được một kết luận rõ ràng về quan hệ này. Tùy theo dữ liệu sử dụng là chuỗi thời gian (cho trường hợp nghiên cứu từng quốc gia cụ thể), hay dữ liệu cho nhóm quốc gia sẽ có các kết quả đối ngược nhau. Về sau này, một số tác giả bắt đầu nghiên cứu thêm nhóm các nước ở châu Á. Kết quả nghiên cứu cũng không khác mấy so với kết quả từ các nghiên cứu trước đó đối với nhóm OECD hay G7. Cụ thể, ở một số nước như Nhật, Thái Lan, Sri Lanca, Philippines, và Indonesia, lạm phát và năng suất không hề có quan hệ gì với nhau. Ở một số nước khác như Malaysia, lạm phát có tác động tiêu cực đến năng suất. Ở những nước như Hàn Quốc, Ấn Độ, và Singapore, 2 biến số này tác động lẫn nhau.

Căn cứ vào kinh nghiệm của những quốc gia như nêu trên, có thể rút ra một số bài học cho Việt Nam liên quan đến MTLP ở ta như hiện nay:
Ảnh hưởng của lạm phát là không rõ ràng lên tăng trưởng kinh tế. Ở một nước/nhóm nước nào đó lạm phát (và tính bất trắc lạm phát) có thể làm giảm năng suất (và giảm tăng trưởng), nhưng ở một nước/nhóm nước khác điều này là không đúng. Vì vậy, trước khi đưa ra một MTLP để kiềm chế lạm phát ở nước ta (mà chủ yếu dựa vào chính sách tiền tệ), cần phải có những nghiên cứu thực chứng công phu để có một đánh giá đúng về quan hệ giữa lạm phát và năng suất (và tăng trưởng) ở nước ta. Khi chưa có những nghiên cứu này thì không thể loại trừ khả năng lạm phát ở ta tuy cao nhưng tác động của nó lên tăng trưởng là không đáng kể, và do đó chính sách thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát là không cần thiết và chỉ dẫn đến suy giảm tăng trưởng.

Cũng giống như nhiều quốc gia, lạm phát ở ta cũng do một nguyên nhân quan trọng là ngân sách nhà nước liên tục ở mức thâm hụt. Hầu như từ khi thống nhất đất nước đến nay chưa bao giờ ngân sách đạt được cân bằng thu chi, đặc biệt trong những thời kỳ khủng hoảng kinh tế vĩ mô trước thập kỷ 90. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực, thâm hụt ngân sách tăng dần, từ mức 0.13% GDP năm 1998 lên đến 3.23% năm 2001, sau đó giảm xuống, nhưng vẫn còn đứng ở mức khá cao, trên 2% trong vòng 2, 3 năm gần đây. Như vậy, kiềm chế thâm hụt tài khóa sẽ góp phần đáng kể vào việc kiềm chế lạm phát và do đó làm giảm bớt tầm quan trọng của chính sách thắt chặt tiền tệ. Dường như lâu nay ở ta có một quan niệm sai lầm và nguy hại rằng lạm phát chủ yếu bắt nguồn từ các cơn sốt giá nguyên nhiên liệu chiến lược đầu vào. Một số ít người thì tỉnh táo hơn đã nhắc đến sự tăng trưởng tín dụng mạnh để kích cầu trong những năm trước là một nguyên nhân khác của xu hướng lạm phát tăng cao trong những năm gần đây. Thế nhưng hầu như không ai đả động đến một nguyên nhân cũng rất quan trọng là thâm hụt tài khóa đã và đang ở mức khá cao như hiện nay. Từ nhận thức đầy đủ về nguồn gốc lạm phát này, có thể thấy chính sách kiềm chế lạm phát nhờ thắt chặt tín dụng và kiềm chế giá của các nguyên nhiên liệu đầu vào không cho tăng lên là chưa đủ, chưa thật thích hợp, thậm chí là có hại (vì, ví dụ, giá các loại yếu tố đầu vào này sớm hay muộn cũng phải tăng lên cho phù hợp với giá cả thực tế của chúng).

Để có cơ sở áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát như hiện nay, cần phải có thêm một nghiên cứu thực chứng đầy đủ về quan hệ giữa cung tiền và lạm phát trong bối cảnh cụ thể Việt Nam. Điều này là cần thiết vì tăng cung tiền không nhất thiết sẽ gây ra lạm phát. Và nghiên cứu thực chứng ở một số nước (chẳng hạn Ấn Độ và Hàn Quốc) cũng khẳng định rằng tăng cung tiền không phải là nguyên nhân của lạm phát ở những nước này.

Để cho chính sách tiền tệ có hiệu lực trong việc kiềm chế lạm phát, có một số điều kiện tiên quyết. Đó là một thị trường tài chính được tự do hóa, một ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ, và một cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn, tiến gần đến cơ chế thả nổi hoàn toàn. Ở Việt Nam, 3 điều kiện này chưa (hoàn toàn) được xác lập. Chúng ta mới bắt đầu tự do hóa thị trường tài chính qua một số động thái, trong đó có việc xóa bỏ trần lãi suất, nhưng hoạt động trong các ngành tài chính và ngân hàng chưa hoàn toàn dựa trên các nguyên tắc thị trường. Ngân hàng Nhà nước, với tư cách là một ngân hàng trung ương, vẫn là một thành viên của chính phủ và chịu nhiều chi phối từ đây. Cơ chế tỷ giá vẫn rất cứng nhắc, hầu như là gắn chặt giá đồng nội tệ với đôla Mỹ.


Thursday, 16 May 2013

Bình luận nhanh về khẳng định của Vinacomin

Không hiểu sao tớ rất ngán ai hay nói cái từ “khẳng định”, mà thường về mức độ, nó cũng tệ hại không kém từ “quyết tâm” hay “quyết liệt”, vốn là những sáo ngữ rất được ưa chuộng của các quan từ lớn đến bé ở xứ ta.

Quay lại với khẳng định của Vinacomin về tính hiệu quả của 2 dự án bauxite của nó. Ông có tên là Chỉnh thì khẳng định rằng dự án có hiệu quả vì được ... tính trên nhiều thông số, chứ không phải 1 thông số (nên chắc là tin cậy?), vì giá sau này sẽ tăng lên nên sẽ có lãi...
Ông phải hiểu rằng đương nhiên không ai nghi ngờ/kỳ vọng Vinacomin chỉ tính hiệu quả dự án với 1 thông số (mà ai nghi ngờ/kỳ vọng vậy thì cũng không nên nói chuyện với họ làm gì). Vấn đề là ở chỗ không phải là có nhiều hay ít thông số, mà là sử dụng các thông số đó thế nào, với những giả định nào, có hợp lý hay không, phương pháp tính toán thế nào v.v... Vinacomin không công khai những yếu tố này thì bố ai biết được là Vinacomin đã tính đúng chưa, đủ chưa, và người ta có quyền nghĩ ngược lại, khi một số người khác đã thử tính toán hiệu quả của dự án một cách độc lập để cho kết quả là lỗ chổng vó.

Một trong những tham số quan trọng nhất trong tính hiệu quả của dự án là giá bán sản phẩm. Ông Chỉnh hay bất cứ ai ở Vinacomin, hoặc bất cứ ai khác chẳng có cái lý do/cơ sở gì để khẳng định như đinh đóng cột rằng giá alumina/aluminum sẽ tăng lên sau này, nhất là hàng chục năm nữa, và/hoặc giá thành sản phẩm không tăng tương ứng hoặc nhanh hơn làm cho dự án vẫn là lỗ dù giá bán có tăng v.v... Tất cả những thông số về giá đưa vào tính hiệu quả hiện nay đều chỉ là các giả định, có nghĩa là có thể xảy ra hoặc không xảy ra trên thực tế. Mà đã là giả định thì không thể khẳng định được kết quả rằng dự án sẽ có lãi sau x năm nữa.
Còn nực cười hơn nữa là cái chuyện khẳng định sẽ chịu trách nhiệm trước Đảng và nhà nước (sao không phải là dân nhỉ?). Sau mấy năm nữa thì các ông đã về hưu ráo trọi, hạ cánh an toàn hết rồi, túm vào ai để mà quy trách nhiệm nữa đây? Hơn nữa, nhìn những tấm gương đàn anh đi trước, làm dối, làm láo, thiệt hại liểng xiểng cho cái đất nước khốn khó, bất hạnh này mà hầu như chẳng ai bị quy kết trách nhiệm, bị bỏ tù vì cái tội "dốt", hay “tính sai” cả nên chắc các ông khôn ra, cứ mạnh  dạn mà học tập, phát huy các tấm gương sáng láng đó mà mạnh miệng cam kết chịu trách nhiệm chăng? Mà chịu trách nhiệm như thế nào mới được cơ chứ? Không nhẽ chịu trách nhiệm chính trị như đồng chí gì ấy nhi? Thế thì tớ cũng chịu được và cũng xin cam đoan là sẽ tích cực và quyết liệt khẳng định trách nhiệm của tớ mọi lúc, mọi nơi.

Về bùn đỏ, đồng chí Chỉnh cũng mạnh miệng khẳng định rằng đã tính toán kỹ hết cả rồi, có phương án lường trước hết cả rồi. Ô hô, chủ dự án nào mà chẳng nói vậy, lại dại mà không nói vậy? Vấn đề là, như trên tớ đã nói, tính toán thế nào và chất lượng tính toán ra sao mới là quan trọng. Khỏi cần nhắc lại các tai nạn ở những nơi tưởng như an toàn nhất quả đất này để các đồng chí thấy “bản lĩnh mặt dầy” của các đồng chí. Ngay cả Vinacomin cũng đã tưởng như tính toán đâu vào đó hiệu quả của dự án cảng Kênh Gà để rồi cuối cùng phải thừa nhận là không hiệu quả đấy thôi?

Vân vân và vân. Tóm lại, trong buổi giải trình của Vinacomin người nghe được dịp no bụng miễn phí một loạt các “khẳng định” với “khẳng định” hết chuyện này đến chuyện khác để rồi phải tự vả vào mồm mình một hay nhiều phát vì không biết mà còn thích vặn vẹo, và phải rút ra kết luận quả là Vinacomin sẽ có lý.
Nhưng hãy chờ xem!

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).