Wednesday, 16 May 2012

Đọc báo giùm bạn

Hôm nay tớ lại mới có dịp lôi ra đây 2 đồng chí TS cũng thuộc diện có tiếng ở Việt Nam để bình luận. Nói “mới có dịp” đơn giản vì báo chí hiện vẫn như thường, tức là quanh đi quẩn lại chỉ thấy mấy khuôn mặt cũ mèm mà tớ chẳng còn thiết bình luận nữa, ngoại trừ hôm nay khi tớ đọc bài của 2 đồng chí TS, Vũ Quang Việt và Nguyễn Sĩ Dũng, lâu lâu mới thấy xuất hiện và rất đáng bình luận vì hàm lượng chất xám của chúng, dù đúng hay sai, có vẻ như nhiều hơn hẳn tác phẩm của mấy đồng chí TS khác hay/thích xuất đầu lộ diện.

Bài thứ nhất, của đồng chí Vũ Quang Việt, xuất hiện trên cả Bauxite Việt Nam và tamnhin.net, với tiêu đề “Phân tích dự án Văn Giang” (tamnhin.net) Chi phí, doanh thu và lãi cho người đầu tư ở Văn Giang” (Bauxite Việt Nam). Ngoài một số giả định đưa ra để tính toán chi phí bỏ ra và lợi nhuận thu về được nêu trong Bảng 2 của bài viết mà tớ không muốn bình luận vì có thể đúng, có thể sai, tớ thấy tác giả có một số thiếu sót/sai lầm trong bài toán lợi nhuận của mình.

Thứ nhất, về giả thiết chỉ có ½ diện tích đất thu hồi (tức 250ha trong tổng số 500ha) được xây dựng với giá 6 triệu VND/m2, tác giả đã bỏ qua mấy thực tế như diện tích xây dựng có thể nhỏ hơn 250ha nhiều vì có khản năng với những dự án loại này, diện tích xây dựng có thể chỉ là 1/3 hoặc ít hơn.

Thứ hai, tác giả giả định giá bán là 20 triệu VND/ha trong số 250ha này (giả thiết là diện tích xây dựng đúng như tác giả giả định). Giá bán này có thể là bình thường, hợp lý vào thời điểm hiện tại, nhưng có thể là quá cao khi mới quy hoạch dự án (2003-04 gì đó), nên phải công bằng hơn với chủ đầu tư rằng họ hoàn toàn có thể chỉ dự tính một con số lãi khiêm tốn hơn nhiều con số mà tác giả đưa ra, nếu căn cứ vào giá cả đất đai tại thời điểm cách đây gần chục năm. Bản thân tớ mua cái nhà vào giữa năm 2007 giá tính ra chỉ có khoảng 35 triệu VND/m2 gì đó nhưng giá tại thời điểm năm ngoái có thể gấp đến trên 5 lần, hoàn toàn nằm ngoài sức tưởng tượng của tớ! Vậy thì giá đất Ecopark chắc cũng có thể tương tự theo xu hướng tăng giá như vậy lắm chứ? Cũng cần nói thêm rằng đã có rất nhiều hộ nông dân trong khu vực Ecopark tự nguyện đồng ý nhận đền bù trước đó, chứng tỏ rằng giá đền bù (kèm các quyền lợi khác) thực sự không phải là phi lý quá mức vào thời điểm trước.

Thứ ba, tác giả cũng đã bỏ qua thực tế rằng không phải 250ha còn lại thì chủ đầu tư chẳng phải tốn tiền. Nếu không tốn tiền thì chả nhẽ để đó làm đất hoang à? (Mà thậm chí có là đất hoang thì vẫn tốn tiền thuê người trông coi). Nói cách khác, dù với bất cứ mục đích làm gì với đất đó thì chủ đầu tư chắc chắn phải bỏ ra một mớ tiền nữa, và chắc là cũng không phải nhỏ, nếu so với quy mô và tính chất cao cấp của dự án tổng thể.

Thứ tư, tác giả còn bỏ qua rất nhiều loại chi phí có tên và không tên khác liên quan đến dự án, ngoài cái 6 triệu VND/m2 xây dựng nói trên và chi phí bỏ ra làm đường cao tốc. Một trong những chi phí này chắc chắn là chi phí lobby, hối lộ, bôi trơn (vì thế dự án mới được cấp phép nhanh như vậy). Mà chắc không cần phải nhắc lại rằng những loại chi phí này đôi khi mới là chi phí đáng kể nhất ở Việt Nam.

Tóm lại, qua mấy cái thiếu sót quan trọng kia, bài toán chi phí và lợi nhuận nói trên của đồng chí Vũ Quang Việt hoàn toàn là thiên lệch, phóng đại quá mức. Đồng chí cần phải xem lại một cách hết sức nghiêm túc nhé!

 Về bài của đồng chí Nguyễn Sĩ Dũng có tiêu đề “Lạmquyền” đăng trên tờ Lao động, có mấy đoạn đập vào mắt tớ như sau.

Thứ nhất,  đồng chí Dũng viết “Lạm quyền là con bệnh đặc trưng và phổ biến của quyền lực nhà nước”.

Hình như đồng chí Dũng nhầm lẫn lung tung trong cách sử dụng các cụm từ “lạm quyền” với “quyền lực”. Lạm quyền là lạm dụng quyền lực. Không thể nói nó (lạm quyền) là con bệnh đặc trưng và phổ biến của quyền lực nhà nước, đơn giản vì quyền lực nhà nước không phải là chủ thể có thể sử dụng quyền lực một cách sai trái (lạm quyền). Nếu đồng chí Dũng nói nhà nước lạm (dụng) quyền (lực) của mình thì nghe còn lọt lỗ tai một chút.

Thứ hai, đồng chí Dũng viết: “Vấn đề không phải là chỉ ở ta quyền lực mới như vậy, mà là chỉ ở ta quyền lực mới chưa bị kiểm soát đến như vậy.” Cái câu này thật như đánh đố. Nhưng tớ vẫn cố gắng diễn giải một chút. Có vẻ như khi viết “Vấn đề không phải là chỉ ở ta quyền lực mới như vậy”, đồng chí Dũng muốn nói rằng “ở ta quyền lực mới lạm quyền”? Nếu đúng vậy thì miễn bàn!

Khi viết “Mà là chỉ ở ta quyền lực mới chưa bị kiểm soát như vậy”, phải chăng đồng chí Dũng có ý muốn nói rằng vì “quyền lực chưa bị kiểm soát như vậy nên quyền lực mới sinh ra lạm quyền”? Nếu đúng vậy thì cũng miễn bàn! Ngoài ra, lưu ý rằng quyền lực “chưa bị kiểm soát” không luôn dẫn đến/liên quan gì đến cái chuyện “lạm quyền” ta đang nói ở đây cả. Quyền lực tuyệt đối như vua chúa (bắt chết là phải chết) nhưng cũng sẽ không có lạm quyền nếu sự bắt chết này là theo đúng luật (ví dụ các võ sĩ giác đấu theo luật khi thua thì sẽ có thể bị giết, và nếu vua đồng ý cho giết thì sẽ bị giết; vua đâu có gì là lạm quyền ở đây?)

Đồng chí Dũng viết: “Mà như vậy thì oan khuất, khổ đau của người dân, bất công trong xã hội vẫn còn rất khó bị loại trừ. Các vụ việc lạm quyền liên tiếp xảy ra trong thời gian gần đây cho chúng ta nhận thức sâu sắc hơn bao giờ hết sự cần thiết phải xác lập cho bằng được nhà nước pháp quyền trên đất nước ta. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần có được một khái niệm về nhà nước pháp quyền đúng đắn hơn so với khái niệm mà chúng ta đang có.

Nhà nước pháp quyền không phải là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật (muốn quản lý như thế nào thì cứ đặt ra pháp luật như thế ấy). Một nhà nước như vậy sẽ gần với nhà nước chuyên quyền hơn là nhà nước pháp quyền. Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà ở đó mọi quyền lực nhà nước đều bị pháp luật chế ước chặt chẽ, bao gồm cả quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Người dân có thể làm bất cứ điều gì pháp luật không cấm, nhưng Nhà nước dứt khoát chỉ được làm những gì pháp luật cho phép.”

Tớ chịu chẳng hiểu được tại sao đồng chí Dũng nói rằng Nhà nước pháp quyền không phải là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Không quản lý bằng pháp luật thì quản lý bằng gì? Bằng ý thích của những nhân viên công lực à?

Nhà nước cũng không thể đơn giản tự đặt ra pháp luật, mà hình như phải dựa vào Hiến pháp, thông qua Quốc hội. Mà Hiến pháp và Quốc hội là ai, là gì, do ai dựng nên, đặt ra (trên lý thuyết)? Một khi nhân dân (và đại diện của dân) đã thông qua, đã phê chuẩn pháp luật rồi và nếu nhà nước thực hiện chế tài theo đúng pháp luật rồi thì chuyện này (trên lý thuyết) có gì là sai trái, đáng phê phán?

Đồng chí Dũng lý luận: “Người dân có thể làm bất cứ điều gì pháp luật không cấm, nhưng Nhà nước dứt khoát chỉ được làm những gì pháp luật cho phép.” Tớ thấy đây cũng chỉ là sự đánh tráo khái niệm. “Không cấm” cũng có nghĩa là “được phép”, và như vậy thì vẫn có thể nói “nhà nước có thể làm bất cứ điều gì pháp luật không cấm”.

Cuối cùng, đồng chí Dũng kết luận: “Pháp luật không cho phép đập phá nhà của công dân. Pháp luật không cho phép đánh hội đồng các nhà báo (và bất cứ công dân nào khác). Những hành vi lạm quyền nói trên là vi phạm nghiêm trọng pháp quyền. Chúng phải bị loại trừ khỏi đời sống của chúng ta.”

Nói luôn cho nhanh là những hành vi trên không phải là lạm quyền mà là phạm pháp vì làm những việc mà pháp luật cấm. Và thay vì nói là “vi phạm nghiêm trọng pháp quyền” thì tác giả cần nói là “vi phạm nghiêm trọng pháp luật”.

Chuyện chỉ có thế thôi mà nói loanh quanh, chơi chữ, lẫn lộn lung tung!


Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).