Thursday, 17 May 2012

Bài này không phải của tớ!

Tớ trả lời phỏng vấn báo Tiền Phong về chuyện tái cơ cấu. Nhưng trả lời một đằng, Tiền Phong đăng một nẻo, thậm chí ngược lại với ý tớ. Tớ thấy cần phải post ra đây để tự thanh minh cho bản thân, để nhỡ có đồng chí nào đọc bài trên báo lại quay ra cười tớ ngớ ngẩn.

Bài trên Tiền Phong
Ngân hàng Việt Nam: ‘Đông nhưng không khỏe’

TPO - Phân tích thực trạng hoạt động của hệ thống ngân hàng trong thời gian qua chỉ ra rằng, mặc dù đóng vai trò lưu thông tiền tệ cho toàn bộ nền kinh tế, song ngân hàng Việt Nam “đông nhưng không khỏe”.

Nhiều chuyên gia phân tích kinh tế về nhận định xu thế sáp nhập ngân hàng Việt Nam, cho rằng, quá trình mua bán sáp nhập doanh nghiệp (M&A) ngành ngân hàng sẽ diễn ra sôi nổi và kịch tính hơn trong năm tới.

PV Tiền Phong đã có cuộc phỏng vấn Tiến sỹ Phan Minh Ngọc, Phó Giám đốc Phòng Nghiên cứu doanh nghiệp, Ngân hàng Sumitomo, chi nhánh Singapore, về hoạt động M&A ngành ngân hàng Việt Nam thời gian qua.

- TS nhìn nhận thế nào về xu hướng sáp nhập của các ngân hàng Việt Nam hiện nay?

Có ý kiến cho rằng, quá nhiều ngân hàng trong một nền kinh tế nhỏ như Việt Nam nên không cần thiết phải để tồn tại một số lượng ngân hàng lớn như vậy.

Một lý do khác nữa là các ngân hàng nhỏ (và thường cho rằng đi đôi với yếu kém) là nguyên nhân gây ra thiếu hụt thanh khoản, làm lãi suất tăng cao, vì các ngân hàng này lâm vào tình trạng “giật gấu vá vai”, phải bằng mọi cách lách trần lãi suất huy động để thu hút vốn đáp ứng nhu cầu thanh khoản của họ.

Thế nhưng, kết quả sáp nhập ngân hàng còn rất khiêm tốn, với chỉ 1 vụ sáp nhập 3 ngân hàng cùng yếu như nhau trong quý 1-2012, và 1 vụ khác mới hồi đầu tháng này (Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) sáp nhập với ngân hàng Habubank (HBB) – PV) . Trong khi đó thì lãi suất đã được chủ động hạ xuống bằng nhiều biện pháp của NHNN, mà thanh khoản vẫn còn thiếu hụt cục bộ.

Một lý do rất chung chung nữa rằng những ngân hàng nhỏ yếu này là nguyên nhân gây ra bất ổn cho hệ thống nên cần thiết phải sáp nhập để làm trong sạch và lành mạnh hóa hệ thống.

Theo tôi, hai vụ sát nhập đã xảy ra chỉ là giữa các ngân hàng sàn sàn, cùng tầm như nhau nên thực ra không có tác dụng tích cực gì nhiều. Thay vào sáp nhập thì biện pháp tái cơ cấu từng ngân hàng có vẻ là hợp lý hơn.

- Có ý kiến cho rằng, sau các vụ sáp nhập vừa qua, đã đến lúc Việt Nam cần thực hiện việc tái cơ cấu toàn bộ hệ thống ngân hàng?

Thực ra, các ngân hàng tham gia quá trình sáp nhập vừa qua chỉ chiếm một thị phần không đáng kể trong hệ thống (theo NHNN cho biết thì các ngân hàng nhỏ yếu chỉ chiếm chừng 10% thị phần trong toàn hệ thống), vì thế, chưa đến mức tái cơ cấu toàn bộ hệ thống ngân hàng.

- Vậy, theo TS, cần có những bước đi như thế nào đối với hoạt động M&A ngành ngân hàng, mà theo nhiều chuyên gia kinh tế, sẽ diễn ra sôi nổi và kịch tính hơn trong năm tới?

Theo tôi, tùy thuộc vào mức độ mất an toàn của hệ thống, có thể điều cần làm hiện nay chỉ là tái cơ cấu từng ngân hàng riêng lẻ, bao gồm cả biện pháp cho phá sản nếu con bệnh thực sự trầm trọng vô phương cứu chữa. Chính phủ và NHNN chỉ thực hiện việc điều tiết và định hướng cũng như đưa ra chính sách vĩ mô.

Cám ơn TS!

 Bài nguyên bản
1. Anh nhìn nhận thế nào về xu hướng sáp nhập của các ngân hàng Việt Nam hiện nay?

Có thể nói xu hướng sáp nhập ngân hàng Việt Nam hiện nay đang và sẽ diễn ra theo ý muốn chủ quan của các nhà làm chính sách mà rất có thể đã không được hậu thuẫn bằng những lý do thỏa đáng. Bản thân tôi chưa bao giờ cắt nghĩa được tại sao phải tái cơ cấu hệ thống ngân hàng bằng cách sáp nhập các ngân hàng với nhau. Trước đây thì thấy có nêu ra lý do rằng hiện có quá nhiều ngân hàng trong một nền kinh tế nhỏ như Việt Nam nên không cần thiết phải để tồn tại một số lượng ngân hàng lớn như vậy. Nhưng lý do này có thể thấy rõ ràng không ổn. Tôi có thể hỏi vặn những người có quan niệm như thế này rằng liệu có cần thiết phải cho ra đời đến gần 700.000 doanh nghiệp trong nền kinh tế chỉ có hơn 100 tỷ đôla như Việt Nam, và còn lập mục tiêu tiến tới 1 triệu doanh nghiệp không? Nếu câu trả lời của họ là cần thiết (ví dụ, với lý do vì đa phần các doanh nghiệp này là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên cần phải bù lại bằng con số số lượng) thì họ sẽ tự phủ định lý do của mình khi muốn xóa bỏ bớt số lượng ngân hàng (nhỏ).
Sau đó thì lý do trên chìm đi và nổi lên lý do các ngân hàng nhỏ (và thường cho rằng đi đôi với yếu kém) là nguyên nhân gây ra thiếu hụt thanh khoản, làm lãi suất tăng cao, vì các ngân hàng này lâm vào tình trạng “giật gấu vá vai”, phải bằng mọi cách lách trần lãi suất huy động để thu hút vốn đáp ứng nhu cầu thanh khoản của họ. Vì thế, sáp nhập các ngân hàng nhỏ, yếu kém này (chứ không phải cho giải thể, theo cam đoan của Ngân hàng Nhà nước (NHNN)) được xác định là một trong những yếu tố then chốt để hạ lãi suất cho vay. Thế nhưng, kết quả sáp nhập ngân hàng còn rất khiêm tốn, với chỉ có 1 vụ sáp nhập 3 ngân hàng cùng yếu như nhau trong quý I, và 1 vụ khác mới hồi đầu tháng này. Trong khi đó thì lãi suất đã được chủ động hạ xuống bằng nhiều biện pháp của NHNN, trong khi thanh khoản vẫn còn thiếu hụt cục bộ. Những điều này cho thấy bản thân việc sáp nhập ngân hàng trên thực tế và cả trong nhận thức của nhiều người làm chính sách không liên quan đến thanh khoản hay lãi suất, và cũng không phải phải là mấu chốt để hạ lãi suất.

Cũng có thể đâu đó nêu ra một lý do rất chung chung nữa rằng những ngân hàng nhỏ yếu này là nguyên nhân gây ra bất ổn cho hệ thống nên cần thiết phải sáp nhập để làm trong sạch và lành mạnh hóa hệ thống. Nhưng tiêu chí cho việc sáp nhập này lại không rõ theo hướng này. Hai vụ sát nhập đã xảy ra chỉ là giữa các ngân hàng sàn sàn, cùng tầm như nhau nên thực ra không có tác dụng tích cực gì nhiều. Thay vào sáp nhập thì biện pháp để cho phá sản thì có vẻ là hợp lý hơn, nếu thực sự đến mức phá sản.
Quan trọng hơn, các ngân hàng đối tượng này chỉ chiếm một thị phần không đáng kể trong hệ thống (theo NHNN cho biết thì các ngân hàng nhỏ yếu chỉ chiếm chừng 10% thị phần (không rõ là của cái gì) trong toàn hệ thống), nên thay vì sáp nhập, biện pháp tái cơ cấu từng ngân hàng này (chứ chưa đến mức tái cơ cấu toàn bộ hệ thống ngân hàng như đang được cổ xúy hiện nay) là biện pháp cần thiết và có tác dụng hơn.

Tất nhiên, tình hình sẽ khác nếu thực sự con số nợ xấu và các chỉ tiêu an toàn của toàn hệ thống ngân hàng thực sự là xấu hơn rất nhiều so với những gì công bố thì chuyện sáp nhập ngân hàng này cũng chỉ là một trong những biện pháp có thể xem xét đến, và tiêu chí phải khác đi, rõ ràng hơn.

2. Trong thời gian tới xu hướng này sẽ tiếp tục diễn ra theo kịch bản nào?

Câu trả lời đến từ phần phân tích nói trên. Nói cách khác, sáp nhập bao nhiêu ngân hàng trong thời gian tới sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của các nhà làm chính sách. Nếu muốn tiếp tục sáp nhập thì sẽ chẳng có gì lạ khi con số các ngân hàng bị sáp nhập sẽ tăng lên trong năm nay vì các nhà làm chính sách muốn vậy. Còn nếu đến một lúc nào đó người ta chợt nghĩ lại trước những phản biện như trên thì có lẽ xu hướng sáp nhập sẽ dừng lại giữa chừng.

3. Xu hướng này có cho thấy điều gì bất thường ở nền kinh tế Việt Nam không?

Tôi chỉ thấy một xu hướng là người ta đang muốn “chôn” đi các chứng tích của một thời quản lý lỏng lẻo để cho nhiều ngân hàng ra đời mà không được quản trị, giám sát nghiêm túc, lành mạnh, trong khi các bất ổn vĩ mô do chính sách kinh tế sai lầm lại góp phần đẩy chúng nhanh đến bờ vực khủng hoảng. Thay vì để cho phá sản (nếu đến mức độ đó) hoặc sáp nhập tự nguyện thì người ta chọn con đường ít “tai tiếng” và có vẻ an toàn, dễ làm hơn là đạo diễn/bắt buộc sáp nhập các ngân hàng yếu kém với nhau, bên cạnh những biện pháp hỗ trợ của NHNN để duy trì sự tồn tại của các ngân hàng có vấn đề.

4. Các chuyên gia nước ngoài, ví dụ như nơi anh đang công tác, nhận định như thế nào?

Tôi là người Việt, đọc tiếng Việt, có hiểu biết nhất định và làm việc trong lĩnh vực liên quan, thường xuyên theo dõi tình hình ở Việt Nam mà tôi còn không biết được nhiều chi tiết liên quan đến chuyện sát nhập thì chắc quý báo cũng có thể hình dung ra sự hiểu biết của các chuyên gia nước ngoài, ở chỗ tôi hay ở các nơi khác, về nền kinh tế Việt Nam đến đâu. Có chuyên gia (tạm gọi như vậy) thậm chí còn nhờ tôi truy cập vào trang web của NHNN để dịch các thông tin từ đó ra tiếng Anh vì trang web bằng tiếng Anh hầu như chẳng có mấy thông tin (cập nhật).

Có thể có nhiều người quan tâm, nhưng chỉ ở khía cạnh muốn biết điều gì đang xảy ra ở Việt Nam. Một số bình luận, nếu có, của họ hay của những người khác, chỉ dừng lại ở mức nói theo các tuyên bố và giải thích của các quan chức liên đới ở Việt Nam, đại loại là sáp nhập là biện pháp thích hợp để giải quyết khó khăn thanh khoản và là một biện pháp để tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Nhưng điều này lại làm hại họ vì bản thân lập trường chính sách của các quan chức hữu trách Việt Nam cũng thường xuyên thay đổi.

5. Theo anh ở tầm vĩ mô, chính phủ cần phải có những bước đi như thế nào trong bối cảnh hiện nay?
Cũng đã có một số người lên tiếng phê phán chủ trương của NHNN không để cho ngân hàng nào phá sản. Tôi ủng hộ sự phê phán này, và, như nói ở trên, nếu cần thiết thì phải để cho một số ngân hàng phá sản. Tùy thuộc vào mức độ mất an toàn của hệ thống, có thể điều cần làm hiện nay chỉ là tái cơ cấu từng ngân hàng riêng lẻ, bao gồm cả biện pháp cho phá sản nếu con bệnh thực sự trầm trọng vô phương cứu chữa. Tóm lại, hãy để thị trường lên tiếng nhiều hơn nữa và trừng phạt các hành vi sai trái nhiều hơn nữa.

Tất nhiên, ở đây tôi mới chỉ bình luận liên quan đến chuyện tái cơ cấu, sáp nhập ngân hàng thôi, chứ chưa đề cập đến những vấn đề khác.


Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).