Saturday, 4 May 2013

Đấu thầu vàng: Mục đích và những con số

(Hôm nay đổi món tí. Bài này gửi đăng báo nhưng chưa biết có đăng được không, nên cứ post lên đây trước đã)
------------------------------------------------
Từ cuối tháng 3 đến 3/5, qua 13 phiên đấu thầu, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã bán tổng cộng 366.400 lượng vàng, tương đương gần 14 tấn. Vì chuyện đấu thầu vàng của NHNN là chuyện vô tiền khoáng hậu ngay cả trên thế giới nên có 3 câu hỏi liên quan tất yếu được đặt ra như dưới đây.

Đấu thầu vàng để làm gì?
Mục đích đấu thầu đã được NHNN giải thích đôi ba lần, gần đây nhất thì cho rằng là để bình ổn thị trường vàng (chứ không phải bình ổn giá vàng).

Để bình ổn thị trường vàng thì, về nguyên tắc, NHNN cần làm cho cung và cầu vàng trong nước ít biến động một cách tương đối. Do có sự liên thông ở một phạm vi nhất định với thị trường vàng thế giới, và do cung cầu vàng trên thế giới biến động từng giây, từng phút, nên, về nguyên tắc, NHNN cũng sẽ phải thường trực trên thị trường vàng trong nước như người bán/mua cuối cùng 24h/24h, 7 ngày/tuần, nếu họ muốn bình ổn thị trường vàng. Vì thế, thay vì mang lại sự bình ổn cho thị trường vàng, việc NHNN thỉnh thoảng thông tung ra thị trường một lượng vàng nhất định nào đó vào một số thời điểm nào đó để đấu thầu (với giá sàn đặt ra trước đó một khoảng thời gian không thể gọi là ngắn) sẽ gây ra nhiều “nhiễu” hơn, nếu không muốn nói là bất ổn hơn cho thị trường vàng trong nước, vì tính chất thời điểm, tần suất và liều lượng cần thiết có sự lệch pha, khác biệt với xu hướng vận động liên tục của thị trường trong nước có sự liên thông với thị trường quốc tế.  
Có người sẽ biện hộ rằng hành động can thiệp này của NHNN là nhằm dẹp nạn “đầu cơ” vàng. Tung vàng dự trữ quốc gia ra bán thì có thể làm cho giá vàng đi xuống và làm thiệt hại kẻ nào đó đã ôm vàng trước đó đợi giá vàng lên thì bán ra kiếm lãi. Nhưng việc tung vàng ra bản thân nó đã tạo cơ hội cho kẻ khác đầu cơ khi tin rằng khi chấm dứt đấu giá vàng hoặc giữa hai đợt đấu giá, giá vàng trong nước sẽ bật lại. Họ sẽ mua vào và đợi chờ giây phút hiện thực hóa nhận định của mình. Trừ khi NHNN vô cớ, và có khả năng, cung vàng liên tục và với số lượng lớn để giá vàng trong nước liên tục đi xuống thì giới đầu cơ mới thiệt hại không gượng được đến mức phải bỏ chạy khỏi thị trường vàng. Nhưng do số lượng vàng dự trữ rất có hạn (như tính toán dưới đây), quan trọng hơn, việc sử dụng chúng không phải chỉ để cho bình ổn thị trường vàng trong nước nên suy ra rằng “nạn đầu cơ” vàng vẫn sẽ còn đất sống và thậm chí còn sống khỏe với một thị trường vàng nay đã bị NHNN làm cho thêm bất ổn và thêm cơ hội đầu cơ.

Như vậy, xét về nguyên tắc thì mục đích của việc đấu thầu vàng mà NHNN tuyên bố xem ra không có cơ hội để thành hiện thực (bình ổn cái không thể bình ổn được về nguyên tắc). Phải chăng còn mục đích gì khác?
Đấu thầu còn có thể kéo dài bao lâu?
Trong phần này chúng ta thử làm một số ước tính số vàng có trong dự trữ ngoại hối của NHNN và số phiên đấu thầu có thể có, dựa trên các giả định và số liệu thực tế. Theo số liệu về dự trữ ngoại hối của Việt Nam do WB công bố thì từ năm 2000 đến 2010, tỷ lệ vàng trên tổng dự trữ ngoại hối của Việt Nam bình quân là 2,1% (năm cao nhất là 3,6%, thấp nhất là 1,1%). Giả sử tỷ lệ cao nhất 3,6% này được duy trì trong các năm sau đó.

Năm 2012, số liệu ước tính từ Việt Nam cho thấy dự trữ ngoại hối của Việt Nam vào khoảng từ 20 tỷ đến 23 tỷ đôla. Lấy con số 23 tỷ đôla, tỷ lệ vàng là 3,6% và giá vàng vào ngày 31/12/2012 là 1.660 đôla/ounce để tính thì ra số vàng dự trữ đến cuối năm 2012 là khoảng 414 nghìn lượng. So với lượng vàng đã bán ra qua 13 phiên (366,4 nghìn lượng) thì có thể thấy ở kịch bản khả quan nhất, NHNN cũng chỉ còn khoảng 48 nghìn lượng trong kho dự trữ.
Đây chỉ là con số ước tính đến thời điểm cuối năm 2012. Vì dự trữ ngoại hối được Ủy ban Kinh tế Quốc hội công bố là đã tăng 3,18 tỷ đôla trong quý 1 năm nay, nên có thể suy ra dự trữ ngoại hối của Việt Nam vào cuối quý 1 là 26,2 tỷ đôla. Dựa vào tỷ lệ 3,6% và tổng dự trữ ngoại hối là 26,2 tỷ đôla, ta có tổng giá trị vàng trong quỹ dự trữ ngoại hối là khoảng 943 triệu đôla.

Nếu tính với giá vàng quốc tế trung bình là 1.500 đôla/ounce trong thời gian đấu thầu vàng vừa qua thì số vàng dự trữ trước khi đấu thầu là 629 nghìn ounce (522 nghìn lượng). Trừ đi 366,4 nghìn lượng đã đấu thầu thì NHNN chỉ còn trong tay tối đa là 156 nghìn lượng sau 13 phiên đấu thầu, tức tương đương khoảng trên dưới 5 phiên đấu thầu nữa, dựa trên số vàng đấu thầu trung bình qua 13 phiên.
Con số 156 nghìn lượng này vẫn còn chưa bằng số lượng vàng ước tính mà các ngân hàng còn phải tất toán vào 30/6 lên tới hơn 6 tấn, tức là hơn 160 nghìn lượng (theo báo chí, tổng số vàng cần tất toán tạm ước tính là 20 tấn, trừ đi gần 14 tấn các ngân hàng đã mua vào qua đấu thầu). Nói cách khác, theo  những giả định và ước tính “hào phóng” nhất thì nếu NHNN có bán sạch quỹ vàng dự trữ, họ cũng mới chỉ gần làm thỏa cơn khát mua vàng của các ngân hàng để tất toán.

Hậu quả sẽ ra sao?
Vì số vàng có trong dự trữ quốc gia mà NHNN nắm giữ rất có hạn, dù chỉ là so với số vàng mà các ngân hàng có nhu cầu mua vào để tất toán, nên NHNN chắc chắn sẽ phải dùng đến dự trữ ngoại tệ, vừa để nhập vàng bổ sung vào quỹ vàng đã bị hao hụt nặng, vừa có vàng để cung cấp tiếp cho các ngân hàng tất toán vàng. Việc dùng đến dự trữ vàng và ngoai tệ quốc gia sẽ được coi là thỏa đáng nếu nó phục vụ lợi ích chung, nhưng trong trường hợp này xem ra khó có thể giải thích thỏa đáng khi các ngân hàng mới là đối tượng được phục vụ chính trong các cuộc đấu thầu.

Điều quan trọng hơn, hành động bán vàng dự trữ quốc gia này của NHNN làm tăng nạn “vàng hóa” khi một lượng lớn vàng được tung vào nền kinh tế, làm suy yếu thêm tính hiệu quả của chính sách tiền tệ của NHNN. Dùng dự trữ ngoại tệ để mua vàng cũng làm suy yếu quỹ dự trữ ngoại hối của Việt Nam, làm giảm khả năng can thiệp bình ổn tỷ giá và lạm phát mà NHNN đang theo đuổi.
Trong khi đó, NHNN lặp đi lặp lại rằng họ cần can thiệp bình ổn thị trường vàng để tránh nạn “vàng hóa”, tránh nhập lậu vàng làm thâm hụt dự trữ ngoại tệ, ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định của tỷ giá và lạm phát. Nhưng việc NHNN đấu thầu vàng và dùng dự trữ ngoại tệ để nhập vàng như hiện nay chẳng phải là sẽ dẫn đến những hậu quả này hay sao?

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).