Thursday, 16 May 2013

Bình luận nhanh về khẳng định của Vinacomin

Không hiểu sao tớ rất ngán ai hay nói cái từ “khẳng định”, mà thường về mức độ, nó cũng tệ hại không kém từ “quyết tâm” hay “quyết liệt”, vốn là những sáo ngữ rất được ưa chuộng của các quan từ lớn đến bé ở xứ ta.

Quay lại với khẳng định của Vinacomin về tính hiệu quả của 2 dự án bauxite của nó. Ông có tên là Chỉnh thì khẳng định rằng dự án có hiệu quả vì được ... tính trên nhiều thông số, chứ không phải 1 thông số (nên chắc là tin cậy?), vì giá sau này sẽ tăng lên nên sẽ có lãi...
Ông phải hiểu rằng đương nhiên không ai nghi ngờ/kỳ vọng Vinacomin chỉ tính hiệu quả dự án với 1 thông số (mà ai nghi ngờ/kỳ vọng vậy thì cũng không nên nói chuyện với họ làm gì). Vấn đề là ở chỗ không phải là có nhiều hay ít thông số, mà là sử dụng các thông số đó thế nào, với những giả định nào, có hợp lý hay không, phương pháp tính toán thế nào v.v... Vinacomin không công khai những yếu tố này thì bố ai biết được là Vinacomin đã tính đúng chưa, đủ chưa, và người ta có quyền nghĩ ngược lại, khi một số người khác đã thử tính toán hiệu quả của dự án một cách độc lập để cho kết quả là lỗ chổng vó.

Một trong những tham số quan trọng nhất trong tính hiệu quả của dự án là giá bán sản phẩm. Ông Chỉnh hay bất cứ ai ở Vinacomin, hoặc bất cứ ai khác chẳng có cái lý do/cơ sở gì để khẳng định như đinh đóng cột rằng giá alumina/aluminum sẽ tăng lên sau này, nhất là hàng chục năm nữa, và/hoặc giá thành sản phẩm không tăng tương ứng hoặc nhanh hơn làm cho dự án vẫn là lỗ dù giá bán có tăng v.v... Tất cả những thông số về giá đưa vào tính hiệu quả hiện nay đều chỉ là các giả định, có nghĩa là có thể xảy ra hoặc không xảy ra trên thực tế. Mà đã là giả định thì không thể khẳng định được kết quả rằng dự án sẽ có lãi sau x năm nữa.
Còn nực cười hơn nữa là cái chuyện khẳng định sẽ chịu trách nhiệm trước Đảng và nhà nước (sao không phải là dân nhỉ?). Sau mấy năm nữa thì các ông đã về hưu ráo trọi, hạ cánh an toàn hết rồi, túm vào ai để mà quy trách nhiệm nữa đây? Hơn nữa, nhìn những tấm gương đàn anh đi trước, làm dối, làm láo, thiệt hại liểng xiểng cho cái đất nước khốn khó, bất hạnh này mà hầu như chẳng ai bị quy kết trách nhiệm, bị bỏ tù vì cái tội "dốt", hay “tính sai” cả nên chắc các ông khôn ra, cứ mạnh  dạn mà học tập, phát huy các tấm gương sáng láng đó mà mạnh miệng cam kết chịu trách nhiệm chăng? Mà chịu trách nhiệm như thế nào mới được cơ chứ? Không nhẽ chịu trách nhiệm chính trị như đồng chí gì ấy nhi? Thế thì tớ cũng chịu được và cũng xin cam đoan là sẽ tích cực và quyết liệt khẳng định trách nhiệm của tớ mọi lúc, mọi nơi.

Về bùn đỏ, đồng chí Chỉnh cũng mạnh miệng khẳng định rằng đã tính toán kỹ hết cả rồi, có phương án lường trước hết cả rồi. Ô hô, chủ dự án nào mà chẳng nói vậy, lại dại mà không nói vậy? Vấn đề là, như trên tớ đã nói, tính toán thế nào và chất lượng tính toán ra sao mới là quan trọng. Khỏi cần nhắc lại các tai nạn ở những nơi tưởng như an toàn nhất quả đất này để các đồng chí thấy “bản lĩnh mặt dầy” của các đồng chí. Ngay cả Vinacomin cũng đã tưởng như tính toán đâu vào đó hiệu quả của dự án cảng Kênh Gà để rồi cuối cùng phải thừa nhận là không hiệu quả đấy thôi?

Vân vân và vân. Tóm lại, trong buổi giải trình của Vinacomin người nghe được dịp no bụng miễn phí một loạt các “khẳng định” với “khẳng định” hết chuyện này đến chuyện khác để rồi phải tự vả vào mồm mình một hay nhiều phát vì không biết mà còn thích vặn vẹo, và phải rút ra kết luận quả là Vinacomin sẽ có lý.
Nhưng hãy chờ xem!

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).