Wednesday, 29 May 2013

Kích thích kinh tế và lạm phát – nhìn từ Nhật (Bài đăng trên TBKTSG số 22-2013)

(Bản gốc, không rõ TBKTSG edit thế nào)
           
            Nước Nhật gần đây đã tiến hành một loạt các biện pháp tiền tệ và tài chính mạnh tay để đưa nước này thoát ra khỏi vũng lầy thiểu phát. Các biện pháp này đã làm đồng yen mất giá đáng kể so với trước đây nhưng lạm phát tại Nhật vẫn đang ở mức âm. Đối với một nền kinh tế phụ thuộc nặng nề vào nhập khẩu nhiều mặt hàng chiến lược, trong đó có dầu mỏ, như Nhật, điều này tỏ ra là một nghịch lý, và càng là nghịch lý hơn nếu khi so với Việt Nam, nơi mà mỗi khi phá giá tiền đồng, mối lo lớn nhất luôn là lạm phát gia tăng mạnh. Trong bài này, chúng ta sẽ thử đưa ra một vài giải thích cho nghịch lý này.

Các biện pháp kích thích của Nhật

Sau nhiều năm vật lộn với thiểu phát không thấy tương lai, đột nhiên Nhật đang chứng kiến những dấu hiệu khởi sắc không ngờ. Những doanh nghiệp như Sony nay đã báo lãi lần đầu tiên sau 5 năm thua lỗ, một phần lớn nhờ đồng yen đã mất hơn ¼ giá trị, cải thiện mạnh thu nhập và lãi ròng của Sony nói riêng và các doanh nghiệp xuất khẩu của Nhật nói chung. Trong khi đó,  giá cổ phiếu đã tăng hơn 60% so với 1 năm trước . Còn về phía người tiêu dùng Nhật vốn thích giữ tiền hơn là chi tiêu trong thời kỳ thiểu phát, nhiều người nay cũng đã sẵn lòng mở hầu bao mua những món hàng xa xỉ tại các trung tâm thương mại.

Lý do đằng sau sự khởi sắc này có thể quy cho liệu pháp sốc kinh tế của Thủ tướng Shinzo Abe, còn được gọi bằng cái tên lóng “Abenomics”. Kế hoạch của ông, một thử nghiệm kinh tế táo bạo nhất trong thế giới đương đại, bao gồm biện pháp bơm vào nền kinh tế một lượng lớn tiền mặt cực lớn với lãi suất thấp (tăng gấp đôi cung tiền sau mỗi 2 năm để hướng đến mục tiêu lạm phát tăng lên 2%), biện pháp kích thích tài khóa truyền thống nhằm mục đích đưa thâm hụt ngân sách lên khoảng 11%-12% GDP, và biện pháp tự do hóa văn hóa doanh nghiệp khép kín, hướng nội nổi tiếng của Nhật. Mục đích nhằm tới của kế hoạch này là tăng thu nhập cho doanh nghiệp, nhờ đó tăng thu nhập cho người lao động, đồng thời tăng kỳ vọng lạm phát nhằm kích thích chi tiêu, đầu tư, và phá vỡ vòng xoáy thiểu phát gây ra bởi sự tụt giảm giá cả và theo đó là tụt giảm kỳ vọng, niềm tin của người tiêu dùng và nhà đầu tư vào tương lai kinh tế. Lạm phát tăng sẽ là một cú hích buộc người ta phải mở hầu bao ra chi tiêu trước khi tiền của họ mất giá vì lạm phát, nhờ đó dập tắt tâm lý dẫn đến thiểu phát rằng càng trì hoãn chi tiêu hôm nay thì càng có cơ hội mua được hàng hóa với giá rẻ hơn vào ngày sau.

Kết quả bước đầu

Xem ra kế hoạch này đã bước đầu thành công. Tăng trưởng kinh tế trong quý I đã đạt 3.5% tính theo năm, và, quan trọng hơn, trọng tâm trong kế hoạch của Abe là phục hồi lòng tin của người tiêu dùng đã được hiện thực hóa khi chi tiêu hộ gia đình đã chiếm tỷ trọng chính trong mức tăng trưởng này.
 
             Tuy vậy, mục tiêu đưa lạm phát lên 2%/năm xem ra chưa có mấy khả năng thành hiện thực. Chỉ số CPI lõi vẫn tiếp tục giảm 0.9% hồi tháng 3 sau khi đã giảm 1% trong tháng 2 năm nay so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tháng 3 là tháng giảm thứ 5 liên tiếp của giá cả ở Nhật, cho thấy Nhật vẫn chưa thoát khỏi vũng lầy thiểu phát đã kéo dài 15 năm nay.

Một trong những giải thích hợp lý cho sự “cứng đầu” của thiểu phát ở Nhật nằm ở yếu tố địa chính trị. Tuy động cơ của liệu pháp Abenomics là tạo ra lạm phát nhưng một “tác dụng phụ” của nó là làm đồng yen suy yếu so với đồng won Hàn Quốc, và đặc biệt là đồng yuan của Trung Quốc, ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu của 2 nước này, vốn là những nước đối tác thương mại lớn nhất của Nhật. Việc “làm nghèo hàng xóm” này của Nhật, dù có vẻ là không cố ý, có khả năng sẽ dẫn đến xung đột thương mại với 2 nước này, đặc biệt là Trung Quốc vốn đang rất nhạy cảm với Nhật kể từ sau vụ Nhật quốc hữu hóa mấy hòn đảo có tranh chấp với Trung Quốc. Sự trả đũa từ 2 nền kinh tế này (dưới dạng chiến tranh tiền tệ, hàng rào thương mại cho nhập khẩu từ Nhật, và sự kiểm soát chặt với đầu tư từ Nhật v.v...) tại một thời điểm nào đó là điều khó tránh khỏi.

Bởi thế, sự phục hồi kinh tế dựa vào một đồng yen yếu của Nhật xem ra khó có thể kéo dài. Và một thực tế là vốn đầu tư cố định của các công ty Nhật đã không tăng đáng kể dù xuất khẩu của họ tăng mạnh cho thấy ngay bản thân giới quản lý các công ty Nhật cũng không tin tưởng vào khả năng kéo dài của một đồng yen yếu làm điểm tựa lâu dài cho tăng trưởng xuất khẩu và lợi nhuận của họ.

Nói cách khác, liệu pháp Abenomics vẫn chưa chế ngự được sự hoài nghi vào tương lai đã ăn sâu ở một bộ phận lớn trong xã hội Nhật sau cả gần 2 thập kỷ mất mát, hoặc vẫn còn sớm để chứng kiến tác dụng của nó trên lĩnh vực này, và vì thế giá cả tại Nhật vẫn tiếp tục sụt giảm bất chấp đồng yen đã mất giá mạnh cho đến nay.

 Khác biệt ở Việt Nam

            Ở Việt Nam, với cơ chế neo tỷ giá, việc chủ động phá giá tiền đồng thường khá hãn hữu trong những năm qua. Nếu có, việc phá giá thường chỉ là một hành động bắt buộc, miễn cưỡng phải làm dưới áp lực của thị trường sau mỗi thời kỳ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nới lỏng chính sách tiền tệ quá mức gây áp lực lên lạm phát và sự lên giá thực của tiền đồng so với ngoại tệ. Bởi thế, không phải ngẫu nhiên, những thời điểm phá giá tiền đồng lại trùng hợp với những thời điểm lạm phát đang có xu hướng đi lên. Điều này vừa gây ra ngộ nhận rằng phá giá là nguyên nhân chính gây ra lạm phát ở Việt Nam, vừa phóng đại tác động của phá giá lên lạm phát thông qua kênh nhập khẩu lên quá mức thực tế.

            Mặt khác, lòng tin tiêu dùng, đầu tư ở Việt Nam hầu như chưa bao giờ bị làm thui chột hoàn toàn như ở Nhật, vì Việt Nam kể từ sau Đổi mới đến nay đều liên tục tăng trưởng với tốc độ khá, chưa phải trải qua một năm thiểu phát nào theo đúng nghĩa của nó. Vì vậy, không như ở Nhật, ở Việt Nam khi chính sách tiền tệ được nới lỏng, kết hợp với tăng thu nhập từ tăng xuất khẩu nhờ phá giá tiền đồng, thông thường chi tiêu, tổng cầu và nhập khẩu sẽ tăng theo, từ đó làm tăng áp lực lạm phát. Ngược lại, dấu hiệu suy giảm tăng trưởng tổng cầu và lòng tin 2 năm gần đây ở Việt Nam cho thấy áp lực từ phá giá hay tăng giá xăng dầu, điện nước v.v... lên lạm phát xem ra không còn lớn như trước nữa, trong khi cung tiền vẫn tăng mạnh.

            Tóm lại, có thể không nói quá rằng điều nghịch lý ở Nhật so với Việt Nam phần lớn là do sự thiếu vắng lòng tin vào tương lai làm người dân và doanh nghiệp tiếp tục thận trọng với việc mở hầu bao chi tiêu.

 
Phụ lục

 Có nhiều người thắc mắc rằng, vể mặt kỹ thuật, khi đồng yen mất giá làm giá hàng nhập khẩu tăng lên, tại sao CPI của Nhật vẫn không tăng?
Trả lời: Thực tế này diễn ra không chỉ ở Nhật mà còn có thể xảy ra ở nhiều nước khác, kể cả Việt Nam trong một số hoàn cảnh (đặc biệt khi tăng trưởng tổng cầu suy yếu). Trong bảng số liệu về  giá trị và chỉ số giá nhập khẩu dưới đây, giá trị nhập khẩu được nêu ở cột A và B của bảng (đơn vị là tỷ yen). Cột C và D cho biết chỉ số giá nhập khẩu. Nhìn vào các cột này ta thấy, quả thật, đi kèm với sự mất giá của đồng yen là sự tăng lên về giá trị nhập khẩu và giá hàng hóa nhập khẩu nói chung đắt lên.

Giá trị và lượng nhập khẩu của Nhật
  Giá trị nhập khẩu Chỉ số giá nh.khẩu Lượng nhập khẩu 
  2012 2013 2012 2013 2012 2013
  A B C D E=A/C F=B/D
Tháng 1 5992 6429 104 116 57 56
Tháng 2 5413 6062 106 120 51 50
Tháng 3 6285 6634 113 122 56 54
Tháng 4 6090 6657 113 124 54 54
Nguồn:  tradingeconomics.com
 
Đem chia cột A cho C và B cho E ta có được những con số có thể coi là tổng lượng nhập khẩu. So sánh năm 2013 với năm 2012 (cột E và F), ta thấy lượng nhập khẩu thực tế giảm đi trong năm 2013 so với cùng kỳ năm 2012. Điều này có nghĩa là rất có thể vì giá hàng nhập khẩu tính bằng yen đã tăng nên rốt cuộc, vì gánh nặng chi tiêu tăng lên, người Nhật phải cắt giảm lượng nhập khẩu (chẳng hạn họ phải tìm cách tiêu dùng ít đi, ví dụ như tắt điều hòa hoặc để điều hòa ở nhiệt độ cao hơn để giảm lượng điện tiêu thụ từ đó giảm lượng than hay dầu chạy máy phát điện; dùng hàng trong nước sản xuất thay thế hàng nhập khẩu – là điều mà tác giả đã giải thích rõ trong bài trên TBKTSG đầu tháng 4).

Với lượng hàng nhập khẩu ít đi để bù trừ cho giá hàng nhập khẩu tính bằng yen đã tăng lên, rốt cuộc tác động lên lạm phát từ kênh nhập khẩu sẽ không lớn như người ta vẫn tưởng. Quan trọng hơn, một phần của hàng nhập khẩu nay đã được thay thế bởi hàng sản xuất trong nước đã trở nên rẻ hơn sau khi yen mất giá, làm cho mặt bằng giá cả trong nước không tăng nhiều, và thậm chí còn giảm nếu mức độ thay thế đủ lớn. Nhu cầu hàng nhập khẩu yếu đi cũng làm cho nhà nhập khẩu không dám điều chỉnh tăng giá bán tại Nhật theo sự mất giá của yen (cũng tương tự tình trạng xảy ra với mặt hàng ô tô nhập khẩu ở Việt Nam). Họ sẽ có thể phải cắt giảm bớt lợi nhuận, chịu phần thiệt về phía mình để giữ khách. Tất cả các yếu tố này kết hợp với lòng tin tiêu dùng nói chung vẫn còn yếu ở một bộ phận lớn trong xã hội Nhật đã kìm giữ lạm phát của Nhật ở mức thấp, thậm chí là thiểu phát mặc dù yen đã mất giá mạnh.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).