Tuesday, 7 May 2013

Quản lý vàng: Từ ngụy biện đến ngụy biện hơn!

(Lời nhờ vả bạn đọc: Tớ đang có nhu cầu sưu tập email của (thành viên) ban biên tập/thư ký tòa soạn của một số tờ báo như Lao Động, Thanh Niên, Tuổi Trẻ, VnExpress, SGTT, Diễn đàn Doanh nghiệp, Sài Gòn Đầu tư v.v... Ai biết và sẵn lòng giúp đỡ thì xin gửi về email cho tớ với. Tớ xin cám ơn và có thể có... hậu tạ, nếu có yêu cầu).
-----------------------------------------------------------

Trong chuyên mục “Dân hỏi, Bộ trưởng trả lời”, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình đã giải đáp một số vấn đề liên quan đến chính sách quản lý vàng của NHNN hiện nay.  Tuy vậy, chắc chắn đối với nhiều người dân các chính sách về vàng của NHNN, trong đó có đấu thầu vàng, càng ngày càng trở nên khó hiểu.
Trước  ý kiến của người dân về việc Ngân hàng Nhà nước cho rằng “bình ổn thị trường vàng nhưng không nhằm mục tiêu bình ổn giá” là không hợp lý, ông Bình thừa nhận một trong những nội dung bình ổn thị trường là làm sao ổn định được giá cả. Tuy nhiên, ông nói thêm rằng với một thị trường như thị trường vàng, tức là thị trường không phải là các mặt hàng ưu tiên, thì giá cả phải do lực lượng thị trường quyết định nhưng không bị chi phối bởi các nhóm lũng đoạn.  

Ở đoạn trên, ông  Bình đã nói rất đúng rằng vì nó không phải là một thị trường của mặt hàng ưu tiên nào đó nên cần để thị trường vàng biến động theo quy luật cung cầu. Nhưng nếu đã vậy, tại sao NHNN phải nhảy vào can thiệp và quản lý với tư cách độc quyền là người mua bán cuối cùng? Với những việc NHNN đang làm trên thị trường vàng, chẳng phải NHNN đang chính là một lực lượng lũng đoạn thị trường hay sao, khi giá vàng không còn phản ánh đúng quy luật cung cầu nữa mà bị bóp méo theo mỗi hành động can thiệp của NHNN?
Tiếp theo, ông Bình cho rằng người dân đã hiểu nhầm giữa khái niệm ổn định giá với khái niệm chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới. Nói thế này thì oan cho dân quá, vì dân chỉ là nạn nhân của mớ bòng bong chính sách về vàng của NHNN. Lúc thì NHNN nói là cần quản lý để giữ khoảng cách giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới không quá 400.000 đồng, lúc thì nói là không cần phải bình ổn giá, lúc thì nói là bình ổn thị trường chứ không bình ổn giá, và nay thì lại quay lại nói rằng cần bình ổn giá vàng (để cho giá vàng trong nước ít biến động, không liên thông với giá thế giới). Trong mớ bòng bong của mục tiêu quản lý thị trường vàng với sự giải thích nửa vời, kém thuyết phục, không đến nơi đến chốn của những người đại diện NHNN thì người dân không hiểu sai mới là chuyện lạ!

Ông Bình cũng đã rất đúng khi nói rằng vàng về bản chất là ngoại tệ nên không nên/cần để thị trường vàng trong nước liên thông với  thị trường vàng thế giới, để tỷ giá được ổn định. Nhưng nếu chỉ vì mục đích ổn định tỷ giá như thế thì tại sao cần phải bình ổn giá vàng trong nước? Chẳng phải là vì thị trường vàng trong nước đã bị cách ly với thị trường thế giới nên dù giá thế giới có biến động thế nào chăng nữa cũng chẳng ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ giá và kinh tế vĩ mô hay sao? Sao NHNN phải bán vàng qua đấu thầu để làm gì nữa?
Còn nếu vì mục đích ổn định giá vàng, như ông Bình nói ở đoạn tiếp theo, để làm cho biến động giá vàng trong nước không lớn dẫn đến giảm đầu cơ thì cũng có điều khó hiểu. Thông thường về nguyên tắc, người ta sẽ đầu cơ một cái gì đó khi biết/đoán giá của nó sẽ tăng lên trong tương lai (gần). Quả là chừng nào NHNN còn cho đấu thầu vàng để tăng cung ra thị trường (giả sử với giá tương đối ổn định trong mỗi đợt đấu thầu) thì giá vàng sẽ có xu hướng ít nhất là không đi lên, và giới đầu cơ chẳng còn cơ hội để đầu cơ (mua thấp bán cao), đúng như ông Bình nói. Nhưng vấn đề là liệu NHNN sẽ bán đấu thầu được bao lâu, và giá bán của NHNN có ổn định tương đối ở một mức nào đó không (chẳng hạn xoay quanh mức 42 triệu đồng/lượng với biên độ cộng trừ không đáng kể, ví dụ, 400.000 đồng/lượng, không đáng để đầu cơ)? Nếu NHNN ngừng bán đấu thầu giữa chừng (vì lo ngại cạn kiệt vàng dự trữ, suy giảm dự trữ ngoại tệ do phải mua vàng, hay vì một lý do nào đó v.v...) thì không thể phủ nhận hoàn toàn khả năng giá vàng sẽ tăng bật lại và tạo cơ hội đầu cơ.

Và nếu NHNN thay vì giữ giá đấu thầu ổn định tương đối như nói ở trên lại điều chỉnh giá đấu thầu qua mỗi phiên với mức độ đủ lớn (như đã chứng kiến trong 13 phiên đấu thầu vừa rồi với mức chênh lệch giá đấu thầu qua các phiên tới hàng triệu đồng/lượng) thì đồng nghĩa với việc tiếp tục tạo ra các cơ hội cho giới đầu tư, chứ không làm giảm đầu cơ như ông Bình tin tưởng.
Liên quan đến câu hỏi ai được hưởng chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới, ông Bình diễn giải rằng do NHNN độc quyền nhập khẩu vàng nên chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới hiện nay sẽ thuộc về ngân sách, thay vì chui vào túi giới nhập khẩu vàng như trước đây.

Về lời diễn giải này, có 3 điểm bất ổn. Thứ nhất, thu chi ngân sách nhà nước  cũng như dự trữ ngoại hối quốc gia có những luật và nguyên tắc quy định chặt chẽ của chúng, không phải thích mang dự trữ ngoại hối (trong trường hợp này là vàng quốc gia) ra bán lúc nào thì bán, cho dù là với danh nghĩa để bổ sung vào ngân sách. Nói cách khác, dự trữ ngoại hối không phải là/không được phép trở thành nguồn thu của ngân sách, trừ những trường hợp đặc biệt theo luật định.
Thứ hai, có thể với tư cách là người mua bán cuối cùng, NHNN sẽ thu lợi khi xuất ngoại tệ dự trữ ra để nhập khẩu vàng về bán đấu thầu trong nước với giá bằng tiền đồng quy theo tỷ giá thì cao hơn hẳn giá nhập khẩu vàng bằng USD. Nhưng cần lưu ý rằng vì NHNN không thể mang tiền đồng thu được từ đấu thầu vàng ra thị trường thế giới để mua vàng hay ngoại tệ về bổ sung vào quỹ dự trữ ngoại hối (trong đó có vàng và USD) đã bị hao hụt do nhập khẩu vàng về đấu thầu, nên rốt cuộc doanh thu bán vàng đấu thầu và “lợi nhuận” từ việc này nếu có nộp vào ngân sách thì cả quốc gia sẽ phải trả giá khi quỹ dự trữ ngoại hối bị hao hụt nặng vì không có nguồn bổ sung từ hành động đấu thầu vàng trong nước.

Cái giá phải trả để đổi lấy phần “lợi nhuận” từ đấu thầu vàng chưa dừng lại ở đó. Khi dự trữ ngoại tệ hao hụt, đồng nghĩa với chảy máu ngoại tệ, làm cho khả năng can thiệp ổn định tỷ giá của NHNN trở nên yếu ớt hơn, vi phạm chính cái mục tiêu mà NHNN luôn nhấn mạnh rằng đấu thầu vàng để tránh chảy máu ngoại tệ làm ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ giá.
Và khi NHNN đấu thầu vàng cũng chính là NHNN đang tăng cung vàng vào nền kinh tế. Nói cách khác, bên cạnh tiền đồng, ngoại tệ, nay lại có thêm một lượng vàng lớn đi vào lưu thông trong nền kinh tế, đồng nghĩa với làm tăng nạn “vàng hóa”, một thực tế mà NHNN cũng luôn nhấn mạnh là sẽ tránh được khi NHNN trực tiếp quản lý thị trường vàng như cung cách hiện nay.

Cuối cùng, theo nguyên tắc, trong quỹ dự trữ ngoại hối luôn cần phải duy trì một tỷ lệ vàng nhất định để đa dạng hóa danh mục tài sản nhằm giảm thiểu rủi ro. Giả sử đến thời điểm trước khi đấu thầu vàng, NHNN nắm giữ trong tay 20 tấn vàng dự trữ và 22 tỷ USD dự trữ ngoại tệ khác. Lưu ý thêm rằng số vàng dự trữ này là cả một quá trình tích lũy trải qua nhiều năm trước, với giá mua vào (bằng USD) ở những năm trước thấp xa so với giá của thời điểm trước khi đấu thầu (ví dụ, có thời điểm chỉ là 400 USD/lượng). Sau khi dùng vàng dự trữ cho đấu thầu, NHNN cần phải bổ sung lại 20 tấn vàng này. Với giá vàng thế giới hiện tại, tuy đã thấp hơn khá nhiều so với trước khi đấu thầu, nhưng so với giá vàng trung bình đã mua trước đây thì vẫn cao hơn nhiều, nên NHNN phải tung ra một lượng USD lớn hơn trước đây từ quỹ dự trữ ngoại tệ để mua lại cùng số vàng 20 tấn này. Nói cách khác, có thể NHNN có lãi khi bán vàng dự trữ với giá bằng VND cao sau đó nhập khẩu vàng về bù lại, nhưng lại chịu lỗ khi tính theo nguyên giá USD của số vàng có trong dự trữ và cần bổ sung lại, thể hiện qua tổn thất dự trữ ngoại tệ dùng để mua vàng.
Tóm lại, dù xét trên nghĩa nào, với mục đích gì thì rốt cuộc những lập luận và giải thích của NHNN về chuyện vàng càng ngày càng trở nên rắm rối, khó hiểu, và khó thuyết phục.

 

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).