Tuesday, 3 March 2015

Xử lý ngân hàng yếu kém: Đến lúc mạnh dạn hơn (Bài đăng trên Doanh nhân Sài Gòn, ngày 3/3/2015, bản gốc)

http://www.doanhnhansaigon.vn/van-de/xu-ly-ngan-hang-yeu-kem-den-luc-manh-dan-hon/1087086/

Sau vụ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mua lại bắt buộc Ngân hàng Xây dựng (VNCB) với cái giá 0 đồng hồi tháng trước, thị trường ngân hàng tỏ ra khá bình lặng, ngoài chút xáo động ban đầu chủ yếu do một số vấn đề liên quan đến cơ sở của cái giá mua bắt buộc 0 đồng. Theo đúng kỳ vọng, đã không có một cơn hoảng sợ đổ xô rút tiền gửi nào từ VNCB hay từ bất cứ một ngân hàng nào khác trong hệ thống, chí ít có thể là vì NHNN đã tuyên bố rõ sẽ đảm bảo hoàn toàn quyền lợi của người gửi tiền sau khi mua lại.

Và mới đây, ngày 28/2, báo chí dẫn lời của NHNN tuyên bố có thêm 2 ngân hàng khác, GPBank và Oceanbank, đã được xác định có thể là đối tượng tiếp theo để NHNN có động thái tương tự như với VNCB. Lý do là vì GPBank là 1 trong 9 ngân hàng yếu kém buộc phải tái cơ cấu từ năm 2012. Trong thời gian qua, 8 trong số 9 nhà băng đã tái cơ cấu thành công, chỉ còn duy nhất GPBank vẫn chưa có phương án khả thi. Tuy có tin GPBank sẽ được bán đứt/sáp nhập với một số ngân hàng trong và ngoài nước khác nhưng rốt cuộc đều không thành. Còn với Oceanbank, NHNN cho rằng ngân hàng này bộc lộ yếu kém sau khi một số lãnh đạo vướng vòng lao lý. Như vậy có thể hiểu rằng Ocean bank là một ngân hàng yếu kém mới xuất hiện bên cạnh danh sách 9 ngân hàng yếu kém đã từng được xác định trước đây. Suy ra tiếp, ít nhất là cho đến thời điểm hiện tại, trong hệ thống ngân hàng chỉ còn lại 2 ngân hàng này thuộc loại yếu kém, (đến mức độ) cần xử lý ngay để không gây tổn hại cho toàn hệ thống.
Đến đây nổi lên một vấn đề. NHNN phải mua lại bắt buộc GPBank và Oceanbank của NHNN chắc chắn là vì hiện tại vẫn còn nhiều người gửi tiền và với nhiều khoản tiền gửi trên 50 triệu VND là mức tối đa được bồi thường từ cơ quan Bảo hiểm tiền gửi trong trường hợp ngân hàng bị phá sản. Điều này cũng có nghĩa là người gửi tiền đã biết rõ rằng 2 ngân hàng này có vấn đề, và thuộc diện cần phải tái cơ cấu nhưng những người gửi tiền này đã không rút ngay, không rút đến gần hết số tiền gửi của mình trong 2 ngân hàng này (với số dư vẫn vượt quá 50 triệu VND), chắc chắn vì tin rằng NHNN bằng cách này hay cách khác sẽ cứu giúp ngân hàng, cứu giúp họ, xuất phát từ nỗi sợ cố hữu của các cơ quan chủ quản là nếu để cho 2 ngân hàng yếu kém này phá sản thì sẽ có thể châm ngòi cho một làn sóng hoảng loạn rút tiền tại, và gây ra đổ vỡ cho các ngân hàng lành mạnh khác. Đây là một rủi ro đạo đức thường được đề cập đến trong kinh tế học, khi mà các chủ thể của thị trường cứ mặc nhiên theo đuổi những quyền lợi riêng của mình mà không đếm xỉa gì đến những rủi ro thua lỗ cho họ do những hành vi của chính họ tạo nên, vì chi phí cho những rủi ro này đã được nhà nước gánh hộ.

Bởi vậy, đã đến lúc NHNN cần chấm dứt việc tiếp tục nuôi dưỡng rủi ro đạo đức này, bằng cách mạnh dạn thêm bước nữa là cho phá sản, giải thể GPBank và Oceanbank, cũng như các ngân hàng yếu kém phát sinh, phát hiện ra sau này, để trừng phạt không chỉ cổ đông hiện hữu mà còn cả người gửi tiền vì đã bất chấp rủi ro báo/biết trước.
Tất nhiên, nỗi lo bao trùm vẫn là nếu để phá sản như vậy thì sẽ gây ra đổ vỡ mang tính dây chuyền trong hệ thống. Nhưng xét cụ thể trong bối cảnh hiện nay, có thể thấy rằng người gửi tiền ở các ngân hàng khác đã biết/tin rằng cả hệ thống nay chỉ còn lại 2 ngân hàng này là yếu kém, không phải là ngân hàng mà họ đang gửi tiền. Cộng thêm với thực tế là quy mô nợ tại 2 ngân hàng này không phải là lớn lắm, và nếu có thêm cam kết của NHNN không để các ngân hàng lành mạnh hơn bị phá sản dây chuyền, thì cho dù người gửi tiền tại 2 ngân hàng này có đổ xô đi rút tiền về khi biết tin ngân hàng bị phá sản, sự việc này cũng không kích thích gây ra một làn sóng rút tiền tại các ngân hàng khác vốn được coi là đang lành mạnh. Nói cách khác, có hoảng sợ, có chịu thiệt hại chăng nữa thì chủ yếu chỉ diễn ra trong phạm vi những người gửi tiền tại GPBank và Oceanbank mà thôi.

Tóm lại, sau hành động mua lại bắt buộc cổ phần VNCB, hiện tại là thời điểm thích hợp và thuận lợi để NHNN cần tiếp tục tỏ rõ cho thị trường thấy lập trường cứng rắn hơn nữa của mình, bằng cách cho phá sản (bắt buộc) các ngân hàng yếu kém, để làm lành mạnh hóa thêm một bước thị trường ngân hàng. Và để làm được như vậy thì tất nhiên NHNN cần phải công khai hóa, minh bạch hóa thông tin hơn nữa về tình trạng sức khỏe của hệ thống ngân hàng nói chung và từng ngân hàng nói riêng để các chủ thể trên thị trường có cơ sở đúng đắn cho các quyết định đầu tư của mình.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).