Friday, 13 November 2015

Tác động của TPP nhìn từ chương Quản lý hải quan và Thuận lợi hóa thương mại (Bài đăng trên CafeF, 13/11/2015)

http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/tac-dong-cua-tpp-nhin-tu-chuong-quan-ly-hai-quan-va-thuan-loi-hoa-thuong-mai-2015111308295883.chn

Một trong những chỉ trích mạnh mẽ nhất về TPP cho rằng TPP được thiết kế để làm lợi cho các công ty đa quốc gia lớn và gây hại cho công nhân, người tiêu dùng, môi trường và những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Quá trình đàm phán TPP diễn ra đằng sau những cánh cửa đóng kín với nội dung đàm phán được chuẩn bị bởi (hay có sự tham vấn với) các công ty đa quốc gia mà không được công bố cho đến tận khi việc đàm phán TPP được hoàn tất.
Tuy vậy, chương Quản lý hải quan và Thuận lợi hóa thương mại (ở bài này gọi tắt là chương Hải quan) cho thấy rằng thực ra, nếu nhìn từ góc độ hỗ trợ dòng chảy thương mại đa phương, TPP sẽ giúp ích rất nhiều cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, gồm cả các thương gia, ở các quốc gia thành viên, qua đó góp phần tạo thêm nhiều công ăn việc làm và cải thiện sự thịnh vượng chung cho nước thành viên.

Với các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung, thực hiện các quy trình và thủ tục hải quan luôn là một cơn ác mộng. Do hạn chế về khả năng tài chính và quy mô, họ không có các nhân viên chuyên trách là chuyên gia về hải quan nên luôn phải mò mẫm giữa một rừng các loại thủ tục, yêu cầu với vô số chi phí và thiệt hại cả có tên lẫn không tên phát sinh. Vì vậy, nếu quy trình và thủ tục hải quan được đơn giản hóa, nhanh chóng, thuận tiện, minh bạch, thống nhất với các nước thương mại đối tác... thì hàng hóa thương mại từ nơi sản xuất sẽ được nhanh chóng lưu thông đến các thị trường tiêu dùng với thời gian nhanh nhất và chi phí thấp nhất. Ngược lại, quy trình và thủ tục hải quan thống nhất giữa các nước đối tác cũng sẽ giúp cho việc quản lý hải quan thuận lợi hơn đồng thời bảo đảm tốt an ninh quốc gia và an toàn công cộng.

Nhận thức được rằng tính minh bạch và dễ hiểu của thủ tục hải quan là điều cơ bản để thương mại quốc tế phát triển một cách hữu hiệu nên điều khoản đầu tiên mà các nước thành viên TPP thỏa thuận trong chương Hải quan là quy định về việc các nước thành viên đảm bảo rằng thủ tục hải quan của mình là minh bạch, nhất quán và có thể dự báo được.
Theo hướng này, các nước thành viên phải công bố các quy định, luật lệ và thủ tục hải quan trên mạng, và bằng cảtiếng Anh nếu có thể để bất cứ ai cần có thể tiếp cận được các văn bản này một cách dễ dàng. Họ cũng sẽ phải công bố các đầu mối liên lạc để sẵn sàng giải đáp các vướng mắc của giới doanh nghiệp.

Các nước thành viên thống nhất trong chương Hải quan về giảm thiểu thời gian thông quan, và trong phạm vi có thể, trong vòng 48 giờ sau khi hàng hóa cần thông quan đã đến cửa khẩu. Để tránh bị chậm chễ, trì hoãn... do cán bộ hải quan chưa quyết định được mức thuế và phí phải trả, chương này cho phép hàng hóa được thông quan dựa trên sự ký quỹ và/hoặc thanh toán trước tiền thuế như hải quan yêu cầu (và sau đó được phép yêu cầu cơ quan thẩm quyền của nước nhập khẩu xem xét lại mức thuế này).

Để giảm thiểu bất trắc liên quan đến việc thông quan hàng hóa cho thương gia, chương Hải quan quy định nước nhập khẩu, nếu được yêu cầu bởi thương gia, cung cấp các thông tin trước khi thương gia vận chuyển hàng hóa đến nước nhập khẩu, về mã, chủng loại hàng hóa của thương gia đó, và liệu hàng hóa của họ có đáp ứng được điều kiện để hưởng thuế ưu đãi TPP hay không. Việc cung cấp thông tin này phải được hoàn tất trong vòng 150 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu, và thông tin cung cấp phải có giá trị áp dụng trong vòng 3 năm.

Nhận thức được tầm quan trọng của thời gian giao hàng nhanh để nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm và doanh nghiệp, chương Hải quan quy định nước nhập khẩu phải thông quan nhanh và kịp thời với hàng hóa chuyển phát nhanh nhờ giảm thiểu và đơn giản hóa thủ tục thông quan. Vì hàng chuyển phát nhanh đa dạng về giá trị, hình dạng và kích cỡ nên các nước thành viên thỏa thuận xóa bỏ mọi hạn chế hiện có về trọng lượng và giá trị trong việc thông quan hàng chuyển phát nhanh.Nước nhập khẩu cũng không được tính phí phụ trội với hàng hóa chuyển phát nhanh có giá trị nhỏ hơn mức tối thiểu theo quy định để tăng tốc thông quan và giảm bớt thủ tục.

Về việc xử phạt vi phạm hải quan, chương Hải quan quy định việc phạt này phải dự báo được và không ở mức quá đáng (phạt đúng người, đúng (mức độ) vi phạm; mức phạt phải được tính trên cơ sở không có mâu thuẫn quyền lợi trong việc ấn định mức phạt và thu phí phạt; mức phạt phải tính đến mức độ tự giác, thành khẩn của người vi phạm trước khi hành vi vi phạm bị phát giác...).Có thể thấy những nguyên tắc về xử phạt vi phạm hải quan như thế này là một điểm mới của TPP so với các hiệp định thương mại tự do hiện hành. Nhờ đó, các thương gia không bị xử phạt một cách bất công, oan uổng, và quá mức.

Ngoài ra, chương Hải quan cũng đề cập đến công tác phối hợp, trợ giúp hải quan giữa các nước như cung cấp, chia sẻ thông tin khi điều tra các hành động phạm pháp, nhằm đảm bảo hoạt động hải quan hữu hiệu, không để lợi ích của TPP được hưởng lợi một cách bất chính bởi một chủ thể nào đó bên ngoài khối.

Tóm lại, các nghĩa vụ hải quan được quy định trong chương Hải quan của TPP nếu được thực hiện nghiêm túc sẽ thúc đẩy mạnh mẽ luồng chảy thương mại giữa các nước thành viên, và đối tượng hưởng lợi sẽ bao gồm cả doanh nghiệp vừa và nhỏ và công nhân, nông dân khi sản phẩm của mình làm ra sẽ được tiêu thụ nhiều hơn ở các thị trường nhập khẩu trong khối.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).