Tuesday, 15 November 2011

Bong bóng BĐS - ngân hàng: Tội đồ và nạn nhân (Đăng trên VEF; cắt thành 2 bài với tiêu đề do đồng chí biên tập đặt ở bài 2 để câu khách hơn)

VEF.VN) - Câu hỏi khó trả lời là tại sao bất chấp những kinh nghiệm đau đớn nhãn tiền về chuyện hình thành và xì hơi bong bóng bất động sản, kéo theo bao hệ lụy cho hệ thống ngân hàng từ trước đến nay, mà các nhà băng vẫn không ngán ngại, sẵn sàng dốc thêm hầu bao?

Trong các bài viết trước, tác giả đã đề cập sơ bộ sự liên can của hệ thống ngân hàng với nguồn vốn tín dụng dư giả rót vào thị trường bất động sản như là một trong những nguyên nhân chính nung nóng thị trường này.

Ở bài viết này, chúng ta sẽ xem xét một cách cặn kẽ hơn cơ chế gây sốt bất động sản và vai trò của ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nói riêng, cũng như các nguyên nhân gây ra xì hơi bất động sản và tác động của nó lên hệ thống ngân hàng để từ đó rút ra được những bài học chính sách cho việc quản trị rủi ro trong hệ thống ngân hàng; đồng thời, ngăn chặn một cuộc khủng hoảng ngân hàng xuất phát từ sự sụp đổ thị trường bất động sản (nếu có) trong tương lai.

Bong bóng bất động sản ở đâu ra?

Bên cạnh những lý do cổ điển như nguồn cung không dồi dào (một cách tương đối, ít nhất là trong ngắn hạn) và sự lạc quan thái quá vào tương lai thị trường (ví dụ như trước và sau khi công bố một đồ án quy hoạch vùng nào đó), câu trả lời cho các cơn sốt bất động sản hiển nhiên và dễ thấy là do, như đã nói, sự tiếp tay của hệ thống ngân hàng, thi nhau bơm vốn vào thị trường bất động sản.

Mặc dù số liệu của NHNN công bố cho thấy tỷ lệ dư nợ tín dụng bất động sản trong tổng dư nợ tín dụng cho nền kinh tế trong mấy năm qua chỉ ở dưới 15-16%, điều đáng chú ý là con số tuyệt đối thì tăng rất nhanh vì tổng tín dụng cũng tăng rất nhanh với tốc độ bình quân chắc cũng lên đến trên 30%. Nếu như vào năm 2008, dư nợ tín dụng bất động sản mới là 138.000 tỷ đồng thì sang năm 2009 và 2010, con số này lần lượt là 184.000 tỷ và 235.000 tỷ. Tuy NHNN đã yêu cầu cắt giảm, dư nợ tín dụng bất động sản vẫn còn khoảng 221.000 tỷ đồng vào thời điểm tháng 6 năm nay. Cũng cần lưu ý thêm, đây mới chỉ là con số báo cáo trên sổ sách từ phía các ngân hàng thương mại, cho những khoản vay bất động sản hiển nhiên, chứ chưa tính tới một bộ phận tín dụng biến dạng dưới các hình thức khác. Hơn nữa, ngoài nguồn tín dụng ngân hàng, thị trường bất động sản còn thu hút thêm một lượng vốn không nhỏ từ kiều hối (tổng kiều hối ước tính khoảng trên 8 tỷ USD/năm), vốn tiết kiệm và tự có trong dân, và các nguồn vốn đầu tư nước ngoài gián tiếp khác dưới hình thức này hay hình thức khác. Vì thế, không lấy làm lạ khi giá bất động sản đã tăng mạnh trong mấy năm qua kéo dài đến tận gần đây.

Nhưng câu hỏi liên quan và khó trả lời hơn là tại sao bất chấp những kinh nghiệm đau đớn nhãn tiền về chuyện hình thành và xì hơi bong bóng bất động sản kéo theo bao hệ lụy cho hệ thống ngân hàng từ trước cho đến gần đây mà các ngân hàng ngày nay vẫn không ngán ngại sẵn sàng dốc thêm hầu bao cho bất động sản?

Tại sao ngân hàng sẵn sàng rót vốn cho bất động sản?

Câu trả lời nằm ở lợi nhuận kỳ vọng khi đầu tư vào bất động sản. Có một số yếu tố quyết định hành vi cho vay của ngân hàng, trong đó có bất động sản, đã được nhiều học giả chỉ ra trong các mô hình lý thuyết và nghiên cứu thực chứng của họ. Trong bài này, chúng ta sẽ lựa chọn áp dụng một số trong những yếu tố đó để lý giải mối quan hệ giữa bất động sản và hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Mức tập trung cho vay vào thị trường bất động sản của các ngân hàng (tính theo tỷ lệ giữa khối lượng cho vay bất động sản với tổng vốn chủ sở hữu) sẽ càng lớn khi: (i) lợi nhuận kỳ vọng thu được từ cho vay bất động sản càng vượt trội so với chi phí cơ hội của nguồn vốn cho vay và khi lợi nhuận thu được từ các hoạt động cho vay khác không lớn và khác biệt nhiều một cách tương đối; (ii) giá trị kỳ vọng của các tài sản trong danh mục tài sản của ngân hàng tăng lên.

Ngược lại, các ngân hàng sẽ giảm mức độ tập trung này khi: (iii) xác suất kỳ vọng xảy ra mất khả năng thanh toán tăng lên; (iv) sự tương quan (xét về lợi nhuận) giữa bất động sản với các hạng mục khác trong danh mục tài sản của ngân hàng tăng lên; và (v) yêu cầu mức vốn tối thiểu tăng lên.

Dựa vào những yếu tố quyết định sự "dấn thân" của một ngân hàng nào đó vào bất động sản như nói ở trên, có thể rút ra 2 nhận định sau.

Nhận định thứ nhất, ngân hàng coi cho vay bất động sản là hấp dẫn khi họ kỳ vọng và thực tế thường là thu được lãi (gồm lãi cho vay và các loại phí) lớn hơn lãi cho vay doanh nghiệp (ví dụ, tờ SGTT cho biết các lãi suất liên quan đến bất động sản luôn cao hơn lãi suất cho vay bình thường từ 4 đến 7 điểm phần trăm). Cho vay bất động sản càng được khuyến khích khi ngân hàng được phép mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động đồng thời theo đuổi mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận.

Nhận định thứ hai, giá bất động sản tăng cũng trực tiếp khuyến khích hành vi cho vay vào thị trường này theo 2 cách.

Cách thứ nhất, tài sản bất động sản nắm giữ của ngân hàng tăng lên về giá trị sẽ làm tăng phần giá trị theo thị giá (economic value) của phần vốn chủ sở hữu của ngân hàng, từ đó làm cho ngân hàng sẵn lòng cho vay bất động sản nhiều hơn.

Cách thứ hai, khi giá trị tài sản thế chấp cho các khoản vay bất động sản tăng lên thì rủi ro thua lỗ cho danh mục các khoản vay hiện hành của ngân hàng sẽ giảm đi, làm cho ngân hàng có thêm khả năng tăng cho vay mà không sợ làm tăng xác suất mất khả năng thanh toán. Tăng giá bất động sản còn tác động đến việc áp đặt xác suất mất vốn thấp hơn lên các khoản cho vay bất động sản mới (các ngân hàng áp đặt một cách chủ quan xác suất này).

Cần thừa nhận rằng các yếu tố ảnh hưởng đến và cơ chế tác động lên quyết định cho vay bất động sản như nói trên của ngân hàng không phải là mới mẻ và khó nhận biết, nhưng rõ ràng là các ngân hàng trên thực tế đã thường không đánh giá đúng được mức độ rủi ro khi cho vay bất động sản. Bởi vậy, câu hỏi quan trọng đặt ra là tại sao ngân hàng lại ước tính không đúng mức (đánh giá thấp) các rủi ro của việc tập trung cho vay quá mức vào bất động sản? Có 2 cách giải thích phù hợp: (i) các ngân hàng đánh giá thấp đi rủi ro vì họ xem nhẹ khả năng xảy ra các cơn sốc; (ii) các ngân hàng phớt lờ rủi ro vì có những động cơ khuyến khích họ làm càn.

(i) Xem nhẹ khả năng xảy ra các cơn sốc

Khả năng ước tính được xác suất cho một cú sốc - ví dụ sự tụt dốc giá bất động sản - phụ thuộc vào 2 yếu tố quan trọng là tần suất xảy ra các cú sốc và mức độ cạnh tranh trên thị trường.

Về tần suất xảy ra các cú sốc, nếu một cú sốc nào đó xảy ra với tần suất cao thì đó thường không phải là nguồn gây ra rủi ro mất thanh khoản cho ngân hàng vì ngân hàng đó có thể ước tính được mức độ rủi ro này với một mức độ đáng tin cậy lớn, và từ đó có những biện pháp đối phó hữu hiệu. Ví dụ, rủi ro mất khả năng chi trả ở các khoản vay thẻ tín dụng và vay mua ô tô là những rủi ro thường xảy ra và vì thế ngân hàng có đủ kiến thức, kinh nghiệm và động cơ để tính đủ giá và phí cho những khoản vay này cũng như trích đủ dự phòng để giảm thiểu tác động khi xảy ra thiệt hại.

Ngược lại, câu chuyện sẽ khác đi nếu những cú sốc xảy ra không thường xuyên với xác suất không chắc chắn. Khi thời gian trôi đi, người ta có xu hướng đánh giá thấp đi xác suất xảy ra các cú sốc có tần suất thấp, ngay cả khi xác suất đó không đổi hoặc thậm chí đã tăng lên. Trong trường hợp như vậy, ngân hàng sẽ có xu hướng cho vay nhiều hơn so với trạng thái vốn của nó cho phép, và cả hệ thống ngân hàng trở nên dễ bị tổn thương hơn bởi một thảm họa nào đó. Đây là cả một quá trình âm thầm và có thể đẩy cả hệ thống ngân hàng vào thảm họa mà không một ai nhận ra mình đã tăng mức phơi nhiễm với rủi ro.

Tính dễ mắc phải căn bệnh này thường tự tăng tiến bởi một số yếu tố mang tính thể chế. Ví dụ, hệ thống kế toán quản trị có thể vô tình khuyến khích các hoạt động thuộc nhóm có các cơn sốc tần suất thấp. Mặc dù các thông lệ kế toán chuẩn mực phát huy tác dụng tốt trong việc giám sát, định giá và trích lập dự phòng cho các cơn sốc thuộc nhóm có tần suất cao, chúng lại không có mấy tác dụng trong việc kiểm soát mức phơi nhiễm đối với các cơn sốc thuộc nhóm có tần suất thấp, vì chúng xảy ra ít đến độ chúng hiếm khi được phản ánh trong giai đoạn báo cáo.

Cụ thể hơn, do trong những năm báo cáo trước đó không có/bao gồm kết quả xấu do một cơn sốc (thuộc nhóm có tần suất thấp) xảy ra được ghi nhận dưới dạng các dữ liệu kế toán nên dẫn đến xu hướng là phí bảo hiểm mất khả năng thanh toán và quỹ dự phòng ngày càng bị tính thấp đi. Hơn nữa, trong trường hợp không có trích dự phòng thích đáng cho những khoản thiệt hại tiềm năng, các hành động thuộc nhóm có cơn sốc tần suất thấp sẽ tỏ ra có tính sinh lợi cao.

Ảo giác về tính sinh lợi cao này lại tạo ra thêm những vấn đề khác. Nếu lương và thưởng của nhân viên ngân hàng được tính dựa trên lợi nhuận báo cáo ngắn hạn (không được điều chỉnh theo quỹ dự phòng cho các cơn sốc), thì nhân viên đó - là người ở vị trí thuận lợi nhất đánh giá được các hiểm họa - sẽ có lợi, và do đó, phớt lờ các hiểm họa này.

Về mức độ cạnh tranh, trong các thị trường cạnh tranh cao độ, đối với những ngân hàng không bị mắc phải căn bệnh xem nhẹ khả năng xảy ra sốc, sẽ rất khó cho họ tính đúng và đủ phí và lãi suất cho vay các khoản vay dựa trên xác suất xảy ra sốc trong khi các ngân hàng khác (mắc căn bệnh này) định giá và phí dựa trên nhận thức (sai lầm) rằng xác suất xảy ra sốc là bằng 0. Thêm nữa, trong thị trường cạnh tranh, khi có một ngân hàng nào đó đang hưởng mức lợi nhuận lớn hơn trung bình (nhờ vào việc không tính dự phòng cho sốc trong tương lai), các ngân hàng khác sẽ bị hấp dẫn và nhảy vào với hành động tương tự, làm suy giảm mức lợi nhuận mà ngân hàng kia được hưởng. Điều này buộc ngân hàng kia phải phản ứng bằng cách tăng cường các khoản cho vay rủi ro. Bởi thế, có thể nói sự cạnh tranh làm cho ngân hàng ngày càng dễ tổn thương khi có một cơn sốc lớn, ví dụ như tụt dốc giá bất động sản, xảy ra.

Một khi cơn sốc xảy ra thì căn bệnh xem nhẹ khả năng xảy ra sốc lại dễ dàng biến thành căn bệnh ngược lại, phóng đại khả năng xảy ra sốc theo nguyên lý "con chim bị tên nhìn thấy cành cong cũng sợ". Lúc này các ngân hàng sẽ hạn chế cho vay và tăng phí bảo hiểm mất khả năng thanh toán trong bối cảnh (họ tin rằng) xác suất xảy ra sốc đã tăng lên.

Sự sụt giảm đột ngột nguồn tín dụng cho thị trường bất động sản sẽ làm tăng thêm áp lực giảm giá bất động sản. Sụt giảm tín dụng cũng xảy ra tương tự trên các thị trường khác khi ngân hàng cố gắng tăng dự trữ và vốn để đối phó với rủi ro mất thanh khoản tăng lên.

Cơ quan quản lý và giám sát hệ thống ngân hàng, là NHNN trong trường hợp này, có thể cũng đã bị nhiễm căn bệnh xem nhẹ khả năng xảy ra sốc; do đó, cũng hoàn toàn có thể đã bị nhiễm căn bệnh phóng đại khả năng xảy ra sốc. Bằng chứng là ngay cả trong báo cáo hoạt động cuối năm 2010 (1), NHNN vẫn cho rằng tốc độ tăng trưởng dư nợ bất động sản 23,5% so với năm 2009 "là điều có thể chấp nhận được", và rằng chất lượng tín dụng đối với lĩnh vực này "cũng được đảm bảo". Nhưng thông điệp mà NHNN phát ra từ đầu năm nay cho đến bây giờ dường như ngày càng ở thái cực ngược lại. Trên hết, điều đáng nói ở đây là trong bối cảnh (họ tin rằng) xác suất xảy ra sốc đã tăng NHNN có thể sẽ tăng cường bảo vệ hệ thống ngân hàng bằng cách kiên quyết áp dụng tỷ lệ vốn tối thiểu cao hơn và tỷ lệ trích quỹ dự phòng cao hơn cho những khoản thiệt hại tiềm năng (và trên thực tế điều này đã xảy ra với việc NHNN áp dụng tỷ lệ trích lập dự phòng lên tới 250% cho bất động sản thay vì 50% cho vay tiêu dùng). Điều này làm khó thêm thị trường bất động sản nói riêng và các ngành kinh tế khác nói chung, tương tự như phân tích ở đoạn trên.

(ii) Những động cơ khuyến khích sự làm càn

Các dự án bất động sản thường có tỷ lệ đòn bẩy tài chính rất cao. Các chủ dự án thông thường chỉ bắt đầu dự án với một số vốn tối thiểu (ví dụ theo báo chí Việt Nam thì ở không ít trường hợp con số này chỉ là 10% giá trị dự án) nhằm đẩy rủi ro càng nhiều càng tốt sang phía chủ nợ. Các ngân hàng nói chung cố gắng tự vệ bằng cách yêu cầu duy trì tỷ lệ vốn vay/giá trị bất động sản ở mức thấp, bảo lãnh, điều khoản chiếm giữ trong cam kết cho vay dài hạn, và các quy ước hợp đồng cho vay chặt chẽ.

Khi bối cảnh cho căn bệnh xem nhẹ khả năng xảy ra sốc nói ở trên xảy ra, ngân hàng cho rằng họ có thể chấp nhận tỷ lệ vốn vay/giá trị bất động sản cao hơn, các cam kết hay bảo lãnh yếu hơn, và các quy ước hợp đồng cho vay lỏng lẻo hơn mà không làm tăng rủi ro mất vốn. Hơn nữa, sự cạnh tranh gay gắt từ những ngân hàng mắc cùng căn bệnh này có thể buộc các ngân hàng có quản trị rủi ro tốt hoặc phải chấp nhận những chuẩn mực cho vay thấp hơn hoặc phải rút khỏi thị trường. Trong hoàn cảnh như vậy, rõ ràng lợi thế nghiêng về phía các chủ dự án khi họ có thể trục lợi từ các ngân hàng chủ nợ bằng cách lao vào các dự án có mức độ rủi ro cao hơn.

Các ngân hàng cũng có những động cơ để làm càn. Một số ngân hàng có thể phớt lờ rủi ro của việc xảy ra một thảm họa vì họ tin rằng họ sẽ được bảo vệ trong trường hợp xảy ra thảm họa (ví dụ bằng quỹ bảo hiểm tiền gửi, bằng cam kết của NHNN không để hệ thống ngân hàng đổ vỡ v.v...)

Sự bảo vệ ngầm định và công khai như vậy làm nảy sinh rủi ro đạo đức cho cả phía người gửi tiền và phía ngân hàng. Người gửi tiền thì chẳng quan tâm đến việc tìm hiểu và gây áp lực đòi hỏi các hoạt động của ngân hàng phải theo hướng an toàn hơn. Kết cục là giới quản lý ngân hàng tìm mọi cách để tăng lợi tức kỳ vọng cho cổ đông của mình thông qua, ví dụ, thay thế các tài sản an toàn hơn bằng các tài sản rủi ro hơn, chẳng hạn như bất động sản thương mại. Kể cả khi giá bất động sản tụt giảm làm tăng khả năng mất vốn, ngân hàng vẫn muốn tiếp tục mạo hiểm hơn vì lợi nhuận (nếu có) thì họ (cổ đông ngân hàng) tiếp tục được hưởng còn thiệt hại (nếu có) thì chủ nợ của họ - quỹ bảo hiểm tiền gửi và người nộp thuế - phải chịu.

Thậm chí trong trường hợp con nợ, ví dụ chủ dự án bất động sản, không còn khả năng trả lãi vay thì ngân hàng vẫn tiếp tục muốn cho vay tiếp để con nợ có tiền trả lãi vay và ngân hàng thì có thể trì hoãn việc phải ghi giảm giá trị khoản vay hiện tại trên sổ sách, một thủ thuật kế toán theo đó thì những tài sản có thị giá lớn hơn giá trị sổ sách sẽ được bán đi, còn những tài sản có thị giá thấp hơn giá trị sổ sách sẽ được giữ lại.

Động cơ khuyến khích sự làm càn còn được tìm thấy ở phía các cơ quan hữu trách (ví dụ, ngân hàng trung ương). Khi giá bất động sản tụt dốc kéo theo nguy cơ đổ vỡ của hệ thống ngân hàng, thì cái giá phải trả cực lớn từ hệ thống bảo hiểm tiền gửi. Ngân hàng trung ương, thay vì để cho ngân hàng phá sản dưới áp lực của thị trường, lại tìm mọi cách để che giấu và trì hoãn việc này. Lý do, phần vì để giải quyết đống đổ vỡ cần phải có nguồn lực vật chất và nhân sự rất lớn mà đôi khi họ không thể kham nổi, phần vì không muốn người ta đặt dấu hỏi vào khả năng quản lý của mình khi mọi chuyện vỡ ra, phần khác thì sợ rằng khi mình thú nhận khả năng đổ vỡ này sẽ làm xói mòn lòng tin công luận và châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tài chính. Sự trì hoãn và che giấu còn do họ hy vọng (mặc dù rất mong manh) vào sự hồi phục của giá bất động sản về mức trước khi tụt dốc sau một thời gian nữa. Trên thực tế, các cơ quan hữu trách thường quyết định theo kiểu "để xem sao" và đánh cược vào khả năng giá bất động sản sẽ đảo ngược trong thời gian tới.

Bài học chính sách

Tóm lại, các bong bóng bất động sản ở Việt Nam nói riêng và ở trên thế giới nói chung thường bắt nguồn từ sự lạc quan thái quá và sự tiếp tay của hệ thống ngân hàng. Phạm vi và độ dài cơn sốt giá bất động sản càng tăng chừng nào ngân hàng còn tiếp tục rót vốn vào thị trường này. Đối với ngân hàng, sự sẵn sàng rót vốn vào bất động sản sẽ còn tiếp tục chừng nào họ (ngân hàng thương mại) và cơ quan hữu trách (ngân hàng trung ương) còn mắc căn bệnh xem nhẹ khả năng xảy ra sốc.

Rủi ro đạo đức đóng một vai trò then chốt, đặc biệt khi cổ đông ngân hàng có ít thứ để bị mất (và luôn ở thế "mặt ngửa thì tớ thắng, mặt xấp thì ai đó phải thua") còn người gửi tiền thì tin tưởng rằng họ sẽ được bảo vệ (bằng bảo hiểm tiền gửi). Những động cơ khuyến khích sự làm càn này sẽ chất lên vai cơ quan hữu trách một gánh nặng lớn - thường quá sức của họ. Khi trạng thái vốn của các ngân hàng thương mại bị suy yếu đi, cơ quan hữu trách thường chọn cách "để xem sao", hy vọng vào sự hồi phục màu nhiệm của giá bất động sản.

Giải pháp này có thể gây ra nhiều thiệt hại lớn. Nếu các ngân hàng bị suy yếu về vốn vẫn được phép hoạt động thì họ rất có thể chơi trò tống tiền dân nộp thuế như nêu ở trên, để rồi thiệt hại nếu có sẽ còn lớn hơn. Nếu họ không chơi trò này, họ cũng khó có thể làm ra đủ lợi nhuận để hồi phục vốn của mình trong một thời gian ấn định bởi còn một mớ lớn nợ xấu bất động sản. Thay vào đó, họ sẽ bán tài sản, thu hẹp cho vay mọi khu vực, ngành kinh tế và từ chối gia hạn các khoản vay hiện thời đến hạn thanh toán.

Trong nền kinh tế mà hệ thống ngân hàng đóng vai trò nguồn cung cấp tài chính chủ yếu như ở Việt Nam, điều này có thể gây ra tác động lớn đến đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa, như cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã cho thấy, một nền kinh tế với một hệ thống ngân hàng yếu kém về vốn sẽ dễ bị tổn thương bởi các cú sốc ngoại lai như khủng hoảng ngoại hối, có thể hủy hoại nền kinh tế thực. Bởi vậy tầm quan trọng của hệ thống ngân hàng và mối quan hệ của nó với thị trường bất động sản không những chỉ làm hình thành bong bóng bất động sản mà còn có thể có tác động lớn đến sự ổn định chung của cả nền kinh tế.

Nhận biết được cơ chế tương tác qua lại giữa thị trường bất động sản và hệ thống ngân hàng trong việc hình thành và xì hơi bong bóng bất động sản hy vọng sẽ là cơ sở để các nhà quản lý ở các ngân hàng thương mại và NHNN có những chính sách và hành vi hoạt động hợp lý hơn, hạn chế được các rủi ro phát sinh từ sự trồi sụt của thị trường bất động sản lây lan ra hệ thống ngân hàng nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung.

Bong bóng BĐS xì hơi, ngân hàng nào sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất?

Sự tăng lên của lãi suất cho vay bất động sản và sự sụt giảm của giá bất động sản là 2 trong số các yếu tố chính làm tăng tỷ lệ con nợ không trả (được) vốn vay bất động sản. Lãi suất cho vay cao làm giảm khả năng chi trả vì chi phí vay đã tăng cao hơn. Điều này có thể xảy ra khi nền kinh tế đã phát triển quá nóng với biểu hiện là lạm phát cao, và chính sách tiền tệ vì thế được thắt chặt như một biện pháp đối phó.

Với giá bất động sản, nếu nó sụt giảm đến mức nào đó thì con nợ sẽ chọn không trả nợ vay vì lúc đó giá trị của khoản vay trở nên lớn hơn giá trị bất động sản, kể cả đã tính vào đó phí giao dịch và chữ tín. Đặc biệt với các khoản vay thế chấp, việc có hay không trả nợ sẽ phụ thuộc vào biến động về giá trị của tài sản thế chấp. Giá nhà suy yếu, ví dụ, sẽ châm ngòi cho việc không trả nợ vốn vay có nhà ở làm thế chấp.

Ở Việt Nam, lãi suất cho vay thương mại cao nhất đã tăng lên 12%/năm vào cuối năm 2009 từ mức khoảng 10%/năm đầu năm 2009 và sau đó nhảy vọt lên 20%/năm vào tháng 3 năm 2010 và nằm ở mức cao hơn thế nữa cho đến thời gian này (lưu ý rằng các con số ở đây chỉ mang tính tương đối vì có nhiều báo cáo khác nhau cho các con số khác nhau). Đáng chú ý là lãi suất cao như vậy nhưng nó chưa gây ra sự suy thoái đáng kể nào cho thị trường bất động sản cho đến tận gần đây khi trùng hợp với lãi suất cao là sự đi xuống của giá bất động sản, cùng với yêu cầu của NHNN buộc các ngân hàng thương mại giảm tỷ trọng dư nợ tín dụng bất động sản. Các yếu tố này đã đẩy thị trường bất động sản vào trạng thái khó khăn mà nhiều người còn kỳ vọng đó mới chỉ là sự khởi đầu cho một cuộc lao dốc sắp tới.

Khi giá bất động sản sụt giảm, hệ quả tất yếu là tỷ lệ không trả (được) vốn vay bất động sản sẽ tăng vọt. Nhưng điều đáng nói ở đây là tỷ lệ này lại rất khác nhau giữa các ngân hàng thương mại, mặc dù chúng cùng nằm trong một hệ thống. Nói cách khác, có sự khác biệt rất rõ ràng về tính dễ bị tổn thương của các ngân hàng trên thị trường tín dụng bất động sản.

Thông thường, người ta cho rằng những ngân hàng có tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng vốn huy động cao, đồng thời có tỷ trọng lớn dư nợ cho vay bất động sản trong tổng dư nợ sẽ là những ngân hàng có khả năng dễ bị tổn thương nhất trong bối cảnh thị trường bất động sản lao dốc, bởi lúc đó gánh nặng nợ bất động sản xấu sẽ tăng vọt. Người ta cũng tin rằng các ngân hàng nhỏ thì sẽ dễ bị tổn thương hơn so với những ngân hàng lớn vì ngân hàng nhỏ thường là yếu về vốn nên khó xoay sở khi phải đối mặt với rủi ro thị trường.

Thế nhưng, một số nghiên cứu thực chứng cho thấy những kết quả chỉ một phần ủng hộ các nhận định trên, như nêu dưới đây:

- Mặc dù các ngân hàng lớn thường có tỷ lệ không trả (được) vốn vay bất động sản thấp hơn nhưng xác suất phải đối mặt với nhiều vấn đề khi nền kinh tế đi xuống sẽ cao hơn ở những ngân hàng này, vì tỷ lệ không trả (được) vốn vay bất động sản sẽ tăng lên nhanh hơn ở các ngân hàng này so với các ngân hàng nhỏ hơn.

- Những ngân hàng với chênh lệch lãi suất huy động và cho vay cao thường là những ngân hàng có những khoản cho vay bất động sản nhiều rủi ro hơn đồng thời có tỷ lệ không trả (được) vốn vay bất động sản cao hơn. Mặc dù có tính sinh lời cao, các ngân hàng này lại là những ngân hàng dễ bị tổn thương bởi các cú sốc gây ra do lãi suất tăng kéo theo sự gia tăng tỷ lệ không trả (được) vốn vay bất động sản.

- Những ngân hàng kém hiệu quả hơn (thể hiện qua tỷ trọng phí trên doanh thu lớn) sẽ dễ có tỷ lệ không trả (được) vốn vay bất động sản tăng vọt khi nền kinh tế xấu đi, mặc dù họ không nhất thiết có tỷ lệ không trả (được) vốn vay bất động sản cao hơn. Điều này cho thấy tầm quan trọng của chất lượng quản lý và việc cải thiện nâng cao hiệu quả hoạt động.

- Những ngân hàng có tỷ trọng dư nợ cho vay bất động sản trong tổng dư nợ cao (có thể là do họ thường có một tỷ lệ thấp hơn về nợ xấu bất động sản) không phải là những ngân hàng dễ bị tổn thương hơn. Điều này thoạt nghe có vẻ nghịch lý nhưng lý do có thể là vì họ "chuyên" cho vay trong lĩnh vực bất động sản nhờ khả năng có thể cho vay các khoản vay tốt hơn trong thị trường bất động sản và, do đó, có tỷ lệ không trả (được) vốn vay bất động sản thấp hơn. Nếu họ cũng quản lý tốt được các rủi ro đi kèm thì họ cũng hoàn toàn có thể ít bị tổn thương hơn những ngân hàng "không chuyên" trong lĩnh vực cho vay bất động sản.

- Những ngân hàng mở rộng tăng trưởng tín dụng nhanh hơn thường có tỷ lệ không trả (được) vốn vay bất động sản cao hơn.

Tóm lại, các kết quả nghiên cứu thực chứng nói trên cho thấy có sự khác biệt lớn giữa các ngân hàng về khả năng chịu đựng các cú sốc mang lại từ các biến động vĩ mô trong đó có tăng lãi suất, tụt giảm giá bất động sản, và giảm tăng trưởng kinh tế v.v... là những yếu tố tác động tiêu cực đến thị trường bất động sản. Những ngân hàng dễ bị tổn thương nhất là những ngân hàng có tốc độ tăng trưởng cho vay cao, có hiệu quả hoạt động thấp, và hoạt động cho vay bất động sản một cách tích cực.

Trong khi kết luận rằng các ngân hàng có hiệu quả hoạt động kém thường có xác suất đối mặt với khó khăn cao hơn không phải là một kết luận gây ngạc nhiên, ở đây chúng ta xác định được thêm ít nhất một đặc tính thường bị bỏ qua nữa, cụ thể là, tốc độ tăng trưởng cho vay cao là dấu hiệu của sự dễ bị tổn thương khi có cú sốc vĩ mô. Ngoài ra, các kết luận trên còn chỉ ra một sai lầm về chính sách ở Việt Nam khi NHNN đang đặt con mắt cảnh giác vào những ngân hàng có tỷ trọng dư nợ cho vay bất động sản lớn và đang bắt những ngân hàng thuộc nhóm này phải hạ thấp tỷ trọng này về mức chung của cả hệ thống ngân hàng, bất chấp thực tế có thể họ là những "chuyên gia" bất động sản.

Ngoài ra, các kết luận khác cũng có thể mang lại những hàm ý chính sách cho NHNN trong công tác theo dõi, giám sát, và thanh tra các hoạt động ngân hàng thương mại nhằm giảm rủi ro đổ vỡ hệ thống xuất phát từ các ngân hàng dễ bị tổn thương nhất từ các cú sốc vĩ mô.
_____________________________
(1) http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/bat-dong-san/2010/12/3ba249fb/

Monday, 7 November 2011

Nên đối xử như thế nào với tỷ giá USD? (VEF)

(VEF.VN) - Đến hẹn lại lên, câu chuyện tỷ giá càng về cuối năm lại càng nóng bỏng, và càng nóng bỏng hơn khi: một mặt, trước đây một thời gian Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tuyên bố tỷ giá sẽ chỉ tăng dưới 1% cho đến hết năm nay; mặt khác, cho đến đầu tháng 11 này, "quota" 1% này đã dùng gần hết.

Câu hỏi lớn nhất mà dư luận đang quan tâm về chuyện tỷ giá là liệu NHNN có giữ được cái mục tiêu này hay buộc phải "điều chỉnh" hơn thế nữa.

Đứng ở góc độ NHNN nói riêng, Chính phủ nói chung, có một số lý do quan trọng để đưa tỷ giá vào vòng kiểm soát chặt chẽ.

Tỷ giá với lạm phát

Trước hết, nếu tỷ giá biến động mạnh (thường đồng nghĩa với phá giá nội tệ, hay được "điều chỉnh" mạnh ở Việt Nam), nó sẽ châm ngòi hoặc làm gia tăng vòng xoáy lạm phát, thông qua kênh nhập khẩu, cũng như vòng xoáy chuyển đổi danh mục tài sản từ/bằng VND ra đôla.

Mặc dù, về lý thuyết, phá giá nội tệ cũng cải thiện tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu, nhưng xem ra xuất khẩu của Việt Nam cho đến nay có vẻ không bị ảnh hưởng nhiều lắm bởi biến động tỷ giá VND/USD. Trong nhiều trường hợp, tác động của những yếu tố khác mới là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu, ví dụ như sự gia tăng giá cả hàng hóa trên thế giới, thỏa thuận thương mại song phương và đa phương, các biện pháp hỗ trợ/trợ cấp xuất khẩu của Chính phủ, và thậm chí là sự chủ động bán hàng phá giá của một số doanh nghiệp và ngành nghề ở Việt Nam để giành giật thị trường và/hoặc giải phóng năng lực sản xuất dư thừa trong nước v.v...

Vì thế, nếu xét đến tác động vĩ mô như trên thì NHNN thường mong muốn xác lập tỷ giá VND/USD ở mức ổn định nhất có thể (về mặt danh nghĩa) hoặc chỉ biến động trong một biên độ hạn hẹp.

Tuy nhiên, cần phải hiểu sâu hơn một chút về quan hệ nhân quả giữa lạm phát và tỷ giá. Theo cách hiểu trên thì tỷ giá gây ra lạm phát và vì thể để chống lạm phát cần phải ổn định tỷ giá. Nhưng trên thực tế ở Việt Nam, đa phần áp lực đẩy tỷ giá tăng (nội tệ mất giá) là xuất phát từ lạm phát. Và lạm phát thì lại thường là kết quả trực tiếp của chính sách tiền tệ nới lỏng gây ra. Vì thế, có thể nói hành động ổn định tỷ giá để kiềm chế lạm phát như vậy về bản chất là vừa không trị đúng nguồn gốc căn bệnh lạm phát là do cung tiền tăng, lại vừa tốn kém một cách vô ích vì phải dùng quỹ dự trữ ngoại hối để can thiệp bình ổn tỷ giá mà rốt cuộc vẫn phải phá giá. Việc này cũng tương tự như bệnh nhân huyết áp cao tiếp tục ăn nhiều mỡ, muối trong khi lại bỏ tiền ra để mua và dùng thuốc để hạ huyết áp.

Tỷ giá với đầu cơ tiền tệ và ổn định môi trường kinh doanh

Lý do quan trọng thứ hai để NHNN ưa chuộng một chế độ tỷ giá tương đối ổn định là nhằm bảo đảm một môi trường kinh doanh tương đối ổn định để doanh nghiệp có thể tính toán được bài toán đầu tư và lợi nhuận để yên tâm đầu tư mà không sợ phải đối mặt với những rủi ro bất trắc từ biến động tỷ giá. Tuy nhiên, thiện ý này cũng chính là con dao 2 lưỡi và là một trong những nguồn gây bất ổn cho chính sách tỷ giá của NHNN hiện nay.


Chỉ còn một giải pháp xem ra ít rủi ro hơn là NHNN hoặc không tuyên bố gì/rõ về chủ trương trong chính sách ngoại hối của mình (ảnh minh họa - Lao động)


Với tuyên bố giữ tỷ giá không tăng quá 1% trong năm nay của NHNN, các doanh nghiệp đương nhiên được ngầm khuyến khích đi vay bằng ngoại tệ để sản xuất kinh doanh với lợi ích nhãn tiền rõ ràng là lãi suất đi vay ngoại tệ thấp hơn hẳn rất nhiều so với VND, trong khi đáng chú ý là nhiều trong số họ có doanh thu bằng VND. Tinh trạng bất đối xứng đồng tiền (currency mismatch) như vậy sẽ gây thêm áp lực rất lớn cho NHNN trong việc cố gắng thực hiện mục tiêu ổn định tỷ giá khi thời hạn trả nợ các khoản vay ngoại tệ đang đến dồn dập vào thời điểm cuối năm.

Ngoài ra, thiện ý trên cũng nhằm mục đích sâu xa là triệt tiêu động cơ đầu cơ tiền tệ, với quan niệm rằng khi đã tuyên bố (và trên thực tế có cố gắng thực hiện) ổn định tỷ giá như vậy thì giới đầu cơ chẳng có lý do gì để kỳ vọng tỷ giá sẽ tăng vọt nay may hòng kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, vì đây thường là cuộc chiến không cân sức giữa một bên là NHNN và bên kia là thị trường, với cán cân thường nghiêng về phía thị trường, với cả một bản ghi "thành tích" đầy đủ trong quá khứ nên rốt cuộc ý đồ này cũng trở nên phản tác dụng khi chính nó (sự kìm nén tỷ giá) lại trở thành ngòi nổ cho những đợt phá giá mạnh khi NHNN không còn cách nào khác.

Tỷ giá với gánh nặng trả nợ nước ngoài

Một lý do rất quan trọng khác góp mặt vào chủ trương ổn định tỷ giá VND/USD là chuyện liên quan đến trả nợ nước ngoài. Có thể nói cho đến nay chắc chắn gần như 100% số người được hỏi sẽ cho rằng để tỷ giá tăng mạnh (tức phá giá mạnh VND) sẽ làm cho gánh nặng nợ quốc gia, nợ của doanh nghiệp bằng ngoại tệ tăng lên. Tuy nhiên, rất tiếc đây lại là một nhận định chưa đầy đủ.

Trên bề mặt thì đúng là nếu VND bị phá giá ví dụ 5%, gánh nặng nợ bằng ngoại tệ nhưng quy ra VND sẽ tăng thêm đúng 5%. Trước đây, Chính phủ và doanh nghiệp chỉ cần huy động 20 triệu VND để mua USD và trả cho mỗi 100 USD tiền vay nợ trong và ngoài nước. Nếu phá giá VND 5% thì con số VND cần để mua được mỗi 100 USD sẽ là 21 triệu. Đúng là Chính phủ và doanh nghiệp sẽ chịu ảnh hưởng từ việc phá giá này bằng cách thu hẹp tương ứng lợi nhuận ròng của mình tính bằng VND (đối với doanh nghiệp) hoặc tăng thêm thâm hụt ngân sách (đối với Chính phủ).



Nhưng đây mới chỉ là một phần (nổi) của câu chuyện. Nếu giả sử VND bị áp lực phải phá giá 5% để lập lại cân bằng thương mại, nhưng NHNN kiên định không phá giá với nỗi e ngại nêu trên. Để kiên định làm được việc này, NHNN phải hoặc là dùng các biện pháp hành chính để duy trì mức tỷ giá danh nghĩa hiện thời (ví dụ bằng cách theo dõi, thanh tra và phạt các tổ chức tài chính tín dụng mua bán ngoại tệ vượt quá biên độ cho phép), và/hoặc là tung USD trong quỹ dự trữ ngoại hối của mình ra thị trường để ổn định tỷ giá hiện hành. Cách thứ nhất thì NHNN đã và đang làm, nhưng tất nhiên chỉ hữu hiệu được một thời gian rồi cũng phải theo cách thứ hai, như thực tế đã cho thấy.

Tóm lại, rốt cuộc, hao hụt quỹ dự trữ ngoại hối là cái giá trực tiếp phải trả để ổn định tỷ giá, và sâu xa hơn nữa là để tránh cho gánh nặng nợ nần bằng ngoại tệ (tính theo VND) của các doanh nghiệp và Chính phủ không tăng lên. Suy ra tiếp điều gì nữa? Doanh nghiệp thì có lợi vì tự nhiên được "bù lỗ", "bao cấp" một cách gián tiếp từ nguồn lực quốc gia. Đối với cả quốc gia, vì gánh nặng nợ của Chính phủ được đổ lên vai NHNN nên rút cục tiền chỉ chui từ túi nọ sang túi kia (ví dụ, từ NHNN sang Bộ Tài chính). Đến đây, ta có thể thấy rõ ai sẽ kêu gọi không phá giá và NHNN có nên phá giá không khi cần thiết phải làm thế.

Điều đáng lo ngại hơn là hành động can thiệp ổn định tỷ giá của NHNN không thể ở quy mô lớn và kéo dài được vì quỹ dự trữ ngoại hối nhỏ nhoi của mình. Cuối cùng thì NHNN cũng phải chấp nhận phá giá VND khi áp lực phá giá tiếp tục tăng lên. Càng o ép, càng "kiên định" với ổn định tỷ giá lâu thì mức phá giá sau này càng lớn, như thực tế minh họa. Và lúc đó thì cả doanh nghiệp và Chính phủ đều không tránh khỏi phải đối mặt với gánh nặng nợ nần lớn hơn quy ra theo VND, và cũng tức là cái giá phải trả lớn hơn từ dự trữ ngoại hối của NHNN.

Như vậy, có thể thấy sự chần chừ, e ngại phá giá VND, "điều chỉnh" VND thường xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ, đúng đắn về vai trò của tỷ giá trong việc kiềm chế lạm phát, về mối quan hệ giữa trả nợ nước ngoài và phá giá nội tệ, cũng như về vai trò của tỷ giá với ổn định môi trường kinh doanh, triệt tiêu động cơ đầu cơ tiền tệ v.v...

Lập trường trong chính sách tỷ giá

Với nhiều lý do, nhưng đa phần không chính đáng như phân tích ở trên, có thể thấy sẽ là điều nguy hại nếu NHNN một mặt tiếp tục thi hành chính sách tiền tệ nới lỏng để hậu thuẫn tăng trưởng, một mặt tìm mọi cách để "ổn định" tỷ giá.

Nhưng giả sử nếu NHNN buộc phải tiếp tục thi hành chính sách tiền tệ nới lỏng (không nhiều thì ít) vì một áp lực nào đó. Kết cục đương nhiên là áp lực lạm phát gia tăng và áp lực phá giá nội tệ (tăng tỷ giá) cũng gia tăng. Khi đó, nếu NHNN khiên cưỡng và cố gắng một cách thái quá không thực hiện phá giá khi tình hình đòi hỏi phải phá giá thì sự ổn định (nếu có) và sự chống đỡ của NHNN trước áp lực phá giá của thị trường cũng chỉ mang tính ngắn hạn hay chỉ thành công trong ngắn hạn, để rồi khi buộc phải phá giá, hậu quả của nó lên lạm phát sẽ ở mức trầm trọng hơn do còn có sự góp mặt của tâm lý và kỳ vọng phá giá tiếp tục do NHNN đã rơi vào thế "sức cùng lực kiệt" và sẽ dễ dàng/tiếp tục bị tấn công bởi giới đầu cơ tiền tệ.

Vậy NHNN cần có sách lược "PR" với công chúng về lập trường trong chính sách ngoại hối của mình như thế nào cho thích hợp nhất trong hoàn cảnh buộc phải tăng cung tiền (kể cả như hiện nay, mặc dù chính sách tiền tệ được nhấn mạnh là "chặt chẽ" thì tốc độ tăng M2 và tín dụng vẫn là trên chục phần trăm/năm)? Trong bối cảnh nguồn dự trữ ngoại hối mỏng và luôn trên đà cạn kiệt, năng lực xử lý và khả năng đối phó với các bất ổn vĩ mô còn rất hạn chế, (và kết quả là) thói quen hay dùng đến các công cụ hành chính thay cho công cụ thị trường, cũng như thực tế trong quá khứ NHNN đã nhiều lần phải "nói một đằng, kết quả ra một nẻo", thì việc NHNN tuyên bố cam kết giữ ổn định tỷ giá (không tăng quá 1%) như vừa rồi là điều rất không nên, chí ít vì... chẳng mấy ai tin!

Để thuyết phục công luận rằng mục tiêu phá giá này (không quá 1%) là hoàn toàn có thể đạt được, NHNN phải cho thấy cung tiền hoặc là không đổi (không tăng), hoặc là giảm đi (thắt chặt tiền tệ). Vì thế, cung cách xử lý hiện nay, thường dừng lại ở việc công bố những con số thống kê nào là FDI và kiều hối là bao nhiêu, thặng dư tài khoản vốn là thế này v.v..., sẽ chẳng mang lại hiệu quả đáng kể nào. Chừng nào còn dấu hiệu của lạm phát, với CPI ở mức dương, thì chừng đó lòng tin sẽ còn rất mong manh.

Cũng có người khuyến nghị hãy tuyên bố một chủ trương phá giá dần dần (và định kỳ) để tránh cho thị trường những cú sốc lớn khi NHNN buộc phải phá giá trong trường hợp kiên định giữ tỷ giá một cách thái quá, còn các chủ thế kinh tế thì tiên liệu được trước tình hình để có những điều chỉnh chiến lược sản xuất kinh doanh cho phù hợp. Nhưng việc này cũng là một con dao 2 lưỡi vì xu hướng thị trường được bảo đảm ngầm định như vậy sẽ là mảnh đất tốt cho sự đầu cơ với kỳ vọng tỷ giá chắc chắn sẽ càng ngày càng tăng lên.

Vậy chỉ còn một giải pháp xem ra ít rủi ro hơn là NHNN hoặc không tuyên bố gì/rõ về chủ trương trong chính sách ngoại hối của mình, hoặc là vẫn tiếp tục trung thành với "chiêu" cũ: "điều hành tỷ giá linh hoạt theo tín hiệu của thị trường" với những cú điều chỉnh tăng giảm đột ngột và bất thường, như được dùng cho đển trước thời điểm có tuyên bố giữ cho tỷ giá không tăng quá 1%, ít nhất cũng sẽ có tác dụng một phần nào đó làm nản lòng các nhà đầu cơ vì "không biết đường nào mà lần", đồng thời làm giảm áp lực lên tỷ giá do không còn bị chịu nhiều áp lực phát sinh từ chuyện bất đối xứng đồng tiền.

Friday, 4 November 2011

Tăng dự trữ bắt buộc có 'cứu' được thanh khoản? (dang tren VEF)

(VEF.VN) - TS. Phan Minh Ngọc cho rằng, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và tăng lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc tuy không làm tăng áp lực lạm phát nhưng không nhất thiết cải thiện được thanh khoản cho ngân hàng thương mại.

LTS: Phản biện một số bài viết gần đây liên quan đến đề xuất tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, TS. Phan Minh Ngọc, Phó giám đốc nghiên cứu DN của Ngân hàng Sumitomo Mitsui chi nhánh Singapore, đã có bài phân tích cụ thể, rõ ràng với ví dụ dễ hiểu về lý do tại sao hành động tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và sau đó dùng phần dự trữ bắt buộc tăng lên này cho ngân hàng thiếu hụt thanh khoản vay sẽ không nhất thiết cải thiện được thanh khoản cho ngân hàng đó.

Diễn đàn Kinh tế Việt Nam (VEF.VN) - báo VietNamNet trân trọng giới thiệu bài viết, mời độc giả cùng tham gia tranh luận.

Gần đây có một số kiến nghị nâng cả tỷ lệ dự trữ bắt buộc (chẳng hạn lên 10% từ mức 3-4% như hiện tại) và lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc (chẳng hạn lên 12-13%/năm) để giải bài toán khó khăn thanh khoản ở các ngân hàng thương mại trong bối cảnh chính sách tiền tệ vẫn phải thắt chặt (mà theo cách hiểu và cách dùng từ của Ngân hàng Nhà nước hiện nay là "chặt chẽ") để kiềm chế lạm phát. Mới đây nhất có bài trả lời phỏng vấn VEF.VN của cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN), ông Lê Đức Thúy. Còn trước đó một thời gian thì có bài viết của nhà báo Hải Lý trên TBKTSG (1).

Có thể thấy xuất phát điểm của luồng ý kiến này là việc làm sao để giảm căng thẳng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng (và nhờ đó giúp giảm lãi suất) mà không gây thêm áp lực lên NHNN để tăng cung tiền, vốn sẽ gây thêm áp lực tăng lạm phát, theo kiểu "lấy mỡ nó rán nó". Không biết vô tình hay hữu ý mà cả hai tác giả đều dùng cụm từ này (ngoài một số nội dung khác cũng giống nhau) để mô tả hành động đó, nếu có, của NHNN, nhằm lấy vốn từ những ngân hàng dư thừa vốn cho vay lại những ngân hàng đang thiếu thanh khoản.

Ý kiến trên có một số bất ổn cả về mặt khái niệm lẫn số học.

Theo ông Thúy thì: "Nếu trả lãi suất cho những khoản tiền gửi bắt buộc ấy thì sẽ thu hút được lượng tiền nhàn rỗi của các ngân hàng thừa và cho vay lại đối với những ngân hàng thiếu ở mức lãi suất cao hơn, vừa đảm bảo bù đắp chi phí lại vừa không phải bơm tiền ra nền kinh tế" (người viết bôi đậm).


Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, sau đó dùng phần dự trữ bắt buộc tăng lên này cho ngân hàng thiếu hụt thanh khoản vay sẽ không nhất thiết cải thiện được thanh khoản cho ngân hàng đó (ảnh minh họa - SGTT)


Về mặt khái niệm, có thể nói ngay dự trữ bắt buộc không phải là/không liên quan gì đến "tiền nhàn rỗi của các ngân hàng thừa" như ông nói. Khi ngân hàng thương mại huy động được 100 triệu VND, giả sử với tỷ lệ dự trữ bắt buộc hiện hành là 4% thì lập tức ngân hàng thương mại đó phải trích gửi vào tài khoản dự trữ bắt buộc ở NHNN một khoản là 4 triệu VND, bất kể ngân hàng đó đang thừa hay thiếu vốn. Số tiền 4 triệu này có thể được hoặc không được NHNN trả lãi, tùy từng thời điểm. Nhưng thông thường, vì đã gọi là "bắt buộc" nên nếu có được trả thì lãi suất cũng ở mức rất tượng trưng so với lãi suất cho vay thương mại.

Còn nếu ngân hàng thương mại mà thừa vốn và giả sử nó không huy động tiền gửi nữa thì NHNN về nguyên tắc chẳng có quyền gì yêu cầu ngân hàng trên phải nộp dự trữ bắt buộc (tất nhiên nếu NHNN "lạm quyền" thì có thể bắt buộc ngân hàng thương mại mua tín phiếu hay một loại hình bắt buộc tương tự mà hình như đã từng xảy ra để giảm (dư thừa) thanh khoản của (một số) ngân hàng thương mại).

Cần nói thêm, dự trữ bắt buộc là một công cụ nặng ký của chính sách tiền tệ của NHNN để điều tiết cung tiền vào nền kinh tế. Vì thế mục đích của việc tăng hay giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc là để giảm hay tăng (theo chiều ngược lại) cung tiền, tương ứng là hút thêm tiền về két sắt của NHNN hay tung thêm tiền ra lưu thông. Do đó, về khái niệm và bản chất, dự trữ bắt buộc không phải là công cụ vi mô, điều tiết vốn từ chỗ này/ngân hàng này sang chỗ khác/ngân hàng khác như các tác giả này hiểu.

Tiếp theo, vì các quy định về dự trữ bắt buộc, theo nguyên tắc, là áp dụng chung cho cả hệ thống ngân hàng nên khi NHNN công bố rằng sẽ nâng cả tỷ lệ dự trữ bắt buộc lẫn lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc thì các mức mới này sẽ phải được áp dụng đồng đều cho tất cả các ngân hàng, chứ không chỉ riêng một ngân hàng nào đó. Hành động này có thể sẽ làm tăng khối lượng dự trữ bắt buộc ròng mà NHNN thu được từ hệ thống ngân hàng nhưng không nhất thiết sẽ làm cho thanh khoản của một ngân hàng nào đó được cải thiện, về mặt số học, kể cả khi NHNN đem cho vay lại một phần dự trữ bắt buộc thu được này.

Cụ thể hơn, giả thiết NHNN nghe theo khuyến nghị trên và chấp nhận tăng cả tỷ lệ dự trữ bắt buộc và lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc. Giả sử ngân hàng thương mại A đang thiếu hụt thanh khoản, và ngân hàng B thì ngược lại. Giả định rằng cả A và B đều đã huy động được 100 triệu VND tiền gửi. Giả sử thêm rằng hiện tại tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 4% thì khối lượng dự trữ bắt buộc mà NHNN thu được từ A là 4 triệu, và từ B cũng là 4 triệu. Trừ số này đi thì mỗi ngân hàng chỉ huy động ròng được 96 triệu (chưa tính lãi do NHNN trả cho phần dự trữ bắt buộc).

Nếu NHNN tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc hiện nay lên 10% thì NHNN sẽ thu về 10 triệu dự trữ bắt buộc từ A và 10 triệu từ B trước khi trả lãi cho khoản dự trữ bắt buộc này. Với 10 triệu dự trữ bắt buộc phải nộp này, A hay B chỉ thu được 90 triệu vốn ròng từ số vốn huy động 100 triệu. Giả thiết NHNN trả lãi cho dự trữ bắt buộc một lần sau 1 năm nữa nên tại thời điểm tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, NHNN đã thu được từ A hay B một khoản chênh lệch dự trữ bắt buộc so với trước khi tăng dự trữ bắt buộc là 10 - 4 = 6 triệu.

Sau đó, giả thiết rằng NHNN dùng một phần của 6 triệu chênh lệch nói trên thu được từ B và cho A vay (vì NHNN phải trích lại một phần trong số 6 triệu nói trên đã trả cho dự trữ bắt buộc của B sau 1 năm nữa). Trước khi tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì A sẽ chỉ huy động được 96 triệu. Sau khi NHNN tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 10% thì A cũng sẽ chỉ có <96 triệu, là tổng số của 90 triệu (là vốn ròng từ 100 triệu huy động) cộng với <6 triệu cho vay thêm từ NHNN.

Như vậy, so sánh thời điểm trước và sau khi NHNN tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì A vẫn chỉ thu ròng được <96 triệu vốn, và vì thế người viết mới nói ở phần trên rằng thanh khoản của A không nhất thiết được cải thiện kể cả khi NHNN "rán mỡ" B chia cho A.

Tất nhiên, tính toán trên sẽ cho kết quả khác nếu NHNN còn thêm ưu ái A bằng cách hoàn lại phần dự trữ bắt buộc thu của A cho A. Kết quả cũng sẽ khác đi tuỳ thuộc vào số vốn huy động của A và B (A có thể được thêm thanh khoản nếu số vốn huy động của A nhỏ hơn B; và ngược lại).

Do đó, nếu các tác giả trên muốn khuyến nghị NHNN "chơi" công cụ dự trữ bắt buộc theo kiểu riêng của mình, không theo thông lệ quốc tế, thì thay vì đề xuất nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc như trên (là cái không chắc chắn mang lại kết quả như mong muốn), họ nên đề xuất NHNN trực tiếp áp đặt tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho mỗi (nhóm) ngân hàng, cho giản tiện, dễ hiểu, dễ áp dụng mà vẫn thu được kết quả như ý muốn là "dùng mỡ nó rán nó". Cụ thể hơn, với A là ngân hàng đang bị thiếu thanh khoản thì thay vì áp dụng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc 4% như hiện tại, NHNN nên áp dụng tỷ lệ 0%, thế là đương nhiên lượng vốn ròng thu được từ huy động 100 triệu vẫn là 100 triệu, nhiều hơn 4 triệu so với trường hợp phải trả 4% dự trữ bắt buộc. Điều này cũng có nghĩa là A đã có thêm thanh khoản.

Còn với B là ngân hàng đang dư thừa thanh khoản thì NHNN áp luôn mức 10% như đề xuất ban đầu (đồng thời để cho công bằng hơn thì có thể trả lãi suất 12%, thậm chí là 15%/năm cho khoản dự trữ bắt buộc này). Như vậy, NHNN lập tức có ngay thêm 10 triệu dự trữ bắt buộc, cũng tức là có nhiều hơn 10 - 4 - 4 = 2 triệu so với khi áp tỷ lệ dự trữ bắt buộc 4% lên A và B cho khoản huy động 100 triệu của họ. NHNN có thể đem một phần lớn trong số 2 triệu trên (để lại một phần nhỏ để trả lãi cho B sau một năm nữa) cho A vay thêm để cải thiện hơn nữa thanh khoản của nó.

Có điều, dù giản tiện, dễ hiểu, dễ thi hành nhưng hành động trên của NHNN thuần túy mang tính chất hành chính, chủ quan, áp đặt và không minh bạch, dễ gây bất đồng, phản đối, và hoàn toàn rất có thể bị lợi dụng bởi một nhóm lợi ích nào đó. Khi đó, tuy có thể đạt được mong muốn trước mắt nhưng liệu NHNN có còn muốn áp dụng nữa không, và hậu quả về lâu dài có đong đếm được hay không là một số vấn đề mà NHNN cần suy nghĩ hai lần trước khi quyết định.
______________________
(1). Xem: http://www.thesaigontimes.vn/epaper2010/TB-KTSG/645/#/17.

Saturday, 29 October 2011

Cắt sốt giá vàng - việc cần làm hơn là bình ổn (Bài đăng trên VEF)

(VEF.VN) - Điều cần nhấn mạnh ở đây là cắt sốt vàng là điều nên làm, chứ không phải là "bình ổn" giá. Hai chuyện này khác nhau về bản chất. Cắt sốt vàng là chặn vòng xoáy đổ xô mua vàng để làm cho chính sách tiền tệ phát huy tác dụng, còn "bình ổn" như ở Việt Nam là liên tục mua hoặc bán để "neo" giá vàng trong nước vào giá vàng thế giới.

Những cơn sốt vàng trong quá khứ, hiện tại, và chắc cả tương lai luôn làm đau đầu các nhà quản lý ở Việt Nam. Và để cắt cơn sốt vàng thì Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thường tìm cách can thiệp trực tiếp và gián tiếp vào chuyện mua bán vàng trong nước và thông qua kênh xuất nhập khẩu vàng. Gần đây, khi giá vàng trong nước cao hơn quá nhiều so với giá thế giới, NHNN đã đưa ra một số giải pháp "bình ổn" giá vàng mới nhằm tăng nguồn cung để thu hẹp khoảng cách này lại.

Tại sao vàng sốt?

"Sốt" vàng hay sốt bất cứ một loại hàng hóa nào khác là biểu hiện của cung cầu đột nhiên mất cân đối với chênh lệch nghiêng hẳn về phía cầu, cho dù cung có thể giảm đi, không đổi và tăng lên (nhưng vẫn nhỏ hơn tốc độ tăng của cầu). Cầu về vàng (và ngoại tệ) tăng lên thường là kết quả của một (số) biến động vĩ mô và được đốt nóng thành cơn sốc cầu bởi tâm lý bày đàn. Những biến động vĩ mô gần đây có thể kể đến là lạm phát cao, lãi suất tiền gửi bị áp trần, khả năng đổ vỡ của hệ thống ngân hàng với sự hoang mang không biết gửi tiền vào đâu cho an toàn của dân chúng, bất động sản và chứng khoán suy sụp và kém thanh khoản, thâm hụt thương mại lớn trong khi tỷ giá lại bị kìm giữ một cách khiên cưỡng, triển vọng kinh tế đầy bất trắc và rủi ro..v.v...

Trong hoàn cảnh như thế, giữ VND là có vẻ là một lựa chọn ít khôn ngoan nhất, và đương nhiên cái mà người ta thường nghĩ đến là vàng và ngoại tệ, là những nơi trú ẩn an toàn cho tài sản của mình. Khi một số người làm thế sẽ kéo theo nhiều người khác làm theo, với nhiều đồn đoán rằng giá vàng sẽ còn tăng lên nữa. Yếu tố tâm lý xuất hiện và hoàn thiện vòng xoáy tăng giá vàng (và ngoại tệ), biến việc đầu tư vào vàng thành cơn sốt.

Lý do cho việc cắt sốt vàng

Điểm lại báo chí thì thấy chỉ có một số ít lý do không nhất quán mà giới hữu trách và các chuyên gia đưa ra để biện hộ cho việc tại sao phải cắt cơn sốt vàng và bình ổn giá vàng, như tóm tắt dưới đây.

1. Nếu sốt giá (vàng) tiếp tục kéo dài và thu hút sự quan tâm ngày một lớn của dân cư sẽ khiến lượng vốn dùng để sản xuất kinh doanh nằm chết trong vàng (và không tạo ra một đồng GDP nào cho xã hội) (1).

2. Khi người dân mua vàng sẽ có những trường hợp rút tiết kiệm ra mua, gây ảnh hưởng xấu tới thanh khoản của hệ thống ngân hàng vốn chưa hết khó khăn. Theo đó, các ngân hàng có thể thiếu vốn cục bộ. Hệ quả là họ có thể tiếp tục phải nâng lãi suất lên cao để giữ chân khách hàng trong khi chúng ta đang mong muốn ổn định lãi suất.

3. Khi nhu cầu mua gom vàng tăng cao, nguồn cung trong nước thiếu thì ngân hàng và doanh nghiệp sẽ lại phải dùng đôla để đi nhập khẩu. Tỷ giá khi đó sẽ chịu nhiều áp lực. Cùng với niềm tin mong manh vào tiền đồng, sốt giá vàng sẽ càng làm tăng thêm áp lực lên lạm phát.

4. Sốt vàng sẽ rút bớt vốn ra khỏi thị trường chứng khoán, và vì thế ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất đang trầy trật vì thiếu vốn.

Chúng ta sẽ lần lượt xem xét tính chính đáng của từng lý do.

Về lý do thứ nhất, khi đem ra trao đổi (mua bán) thì người mua vàng sẽ phải trả cho người bán vàng một lượng tiền (nội tệ hoặc ngoại tệ) có giá trị tương đương tại thời điểm mua bán. Giả thiết sau khi mua vàng xong, chủ sở hữu mới không bán nữa. Khi đó đúng là vàng nằm chết ở trong két sắt hoặc đâu đó. Nhưng những đồng tiền dùng để mua vàng không nhất thiết phải nằm chết theo vàng! Loại trừ một số rất ít trường hợp người bán vàng xong thì cất tiền vào tủ hoặc dưới chiếu, trong những trường hợp còn lại thì tiền đó có thể lại quay vòng để mua vàng mới, để mua cái gì khác, hoặc đầu tư vào đâu đó, kể cả gửi ở ngân hàng. Tức là, lượng vốn dùng để trao đổi vàng hoàn toàn có thể quay lại lưu thông, đi vào sản xuất, và do đó vẫn tạo ra giá trị thặng dư (GDP) cho xã hội. Vì vậy, không thể kết luận rằng cơn sốt vàng làm giảm lượng vốn cho sản xuất kinh doanh và làm giảm GDP.

Về lý do thứ hai, khi dân "chẳng may" có rút tiền tiết kiệm ra mua vàng thì cũng không nhất thiết làm ảnh hưởng đến thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Tương tự như phân tích ở đoạn trên, hoàn toàn có khả năng người bán vàng xong sẽ gửi lại tiền vào ngân hàng. Cũng hoàn toàn có khả năng lượng tiền thu được sau khi bán vàng lại được gửi vào hệ thống ngân hàng nhiều hơn là lượng tiền rút ra từ ngân hàng để mua vàng (ví dụ, có thêm người bán vàng gửi tiền vào ngân hàng). Do đó, vì thanh khoản trong hệ thống ngân hàng có thể không thay đổi, hoặc thậm chí tốt hơn, nên nếu dù một ngân hàng nào đó có bị rút tiền gửi ra để mua vàng thì về nguyên tắc hành động tăng lãi suất cục bộ để giữ chân khách hàng sẽ nhanh chóng bị dung hòa bởi lượng thanh khoản lớn trong hệ thống và cuối cùng lãi suất cả hệ thống sẽ trở về trạng thái cân bằng như trước.

Nếu "chẳng may" lượng tiền rút ra mua vàng có lớn hơn lượng tiền gửi vào sau khi bán vàng và dẫn đến thiếu hụt thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, thì điều này chỉ đơn giản nói lên rằng tiền gửi tiết kiệm không còn là kênh đầu tư hấp dẫn nữa. Nên nếu người ta không đầu tư vào vàng và dẫn tới cơn sốt vàng thì sẽ lại đầu tư vào một (số) tài sản khác và dẫn đến cơn sốt cho những tài sản đó, kết cục hệ thống ngân hàng vẫn sẽ phải chịu ảnh hưởng. Cho nên sẽ là quá vội vã và cảm tính khi kết luận cơn sốt vàng là nguyên nhân trực tiếp và/hoặc sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

Đối với lý do thứ ba, sốt vàng đúng là sẽ làm tăng nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu vàng. Nhưng suy cho cùng, Việt Nam không phải là nước có nguồn cung vàng lớn để coi vàng như một thứ "của nhà trồng được". Vì thế, trên khía cạnh này có thể coi vàng là một loại ngoại tệ (có đủ 3 chức năng của tiền tệ là phương tiện thanh toán, đo lường, và lưu trữ giá trị, cộng thêm chuyện Việt Nam không can thiệp được vào cung cầu của nó), tuy có thể coi nó là ngoại tệ đặc biệt. Vậy thì việc hoán chuyển từ USD (dùng để nhập khẩu vàng) sang vàng cũng nên coi là một việc bình thường, cũng tương tự như khi NHNN thay đổi cấu thành ngoại tệ trong quỹ dự trữ ngoại hối của mình (gồm USD, Yen, Euro, vàng, và có thể một số ngoại tệ mạnh khác). Vấn đề cần và đáng tìm hiểu hơn là tại sao người ta lại muốn chuyển đổi tài sản của mình từ nội tệ sang ngoại tệ (và vàng), là cái mà ta sẽ bàn thêm dưới đây.

Về lý do cuối cùng, tiền mặt, vàng, chứng khoán, bất động sản, các loại giấy tờ có giá hoặc bất cứ một loại tài sản có tính thanh khoản nào khác suy cho cùng đều là hàng hóa và được người ta nắm giữ trong danh mục phân bổ tài sản tối ưu theo tính toán riêng của mình. Mà như đã nói ở phần trên, khi bán xong một loại tài sản nào đó, lượng vốn (tiền) thu được hoàn toàn có thể quay lại những thị trường hàng hóa nói trên (gồm thị trường chứng khoán) hoặc trực tiếp/gián tiếp đầu tư vào sản xuất kinh doanh, hoặc bất cứ vào thị trường tiền tệ hàng hóa nào khác nếu nó mang lại lợi nhuận lớn hơn theo cách tính của chủ nhân của lượng vốn đó. Nói cách khác, các loại thị trường chỉ là nơi giao lưu và sang tên đổi chủ các dòng vốn, chứ không phải là "ao tù" để cầm tù những dòng vốn theo nghĩa là chúng phải nằm chết ở đó. Và kể cả nếu thị trường chứng khoán có bị rút ra một phần vốn thì đó là do lợi nhuận tiềm năng thu được từ thị trường này không còn hấp dẫn nữa, và không có lý do gì để cố tìm cách bảo vệ thị trường này bằng cách "chặt" đi các kênh đầu tư khác trong một nền kinh tế thị trường.

Như vậy, có thể thấy các lý do trên hoàn toàn không thỏa đáng để biện minh cho hành động can thiệp cắt cơn sốt vàng (về bản chất là cắt/giảm đi tính hấp dẫn của kênh đầu tư vàng), và đặc biệt là khi phải trực tiếp hoặc gián tiếp dùng đến nguồn lực quốc gia (dự trữ ngoại hối của NHNN) để mua vàng về bán "bình ổn". Thực tế này đòi hỏi trước khi "bình ổn" cần phải hiểu nguyên nhân sâu xa tại sao lại có cơn sốt vàng, tại sao người ta lại muốn chuyển đổi tài sản của mình từ nội tệ sang vàng (hoặc ngoại tệ nói chung), để rồi từ đó mới có quyết định có nên bình ổn hay không và làm thế nào để hiệu quả nhất.

Có nên cắt sốt và "bình ổn" giá vàng?

Khác với 4 lý do nói ở trên, người viết cho rằng lý do đáng kể duy nhất để cắt sốt vàng (hay ngoại tệ) là tăng cường tính hữu hiệu của chính sách tiền tệ của NHNN. Khi cắt được cơn sốt vàng (tức là làm cho vàng mất đi tính hấp dẫn tương đối so với các loại tài sản khác, và vì thế, người ta không còn thi nhau đổ dồn vốn vào vàng nữa) nền kinh tế sẽ bớt bị "vàng hóa", cũng tương tự như bớt bị đôla hóa. Lúc đó, nhu cầu nắm giữ tài sản bằng nội tệ sẽ tăng lên và do đó mọi thay đổi trong chính sách tiền tệ của NHNN sẽ có hiệu quả như mong muốn hơn (chẳng hạn chính sách hạ lãi suất - lưu ý là chỉ so sánh về mặt tương đối).

Nhưng điều cần nhấn mạnh ở đây là cắt sốt vàng là điều nên làm, chứ không phải là "bình ổn" giá vàng. Hai chuyện này là khác nhau về bản chất. Cắt sốt vàng là chặn vòng xoáy đổ xô mua vàng để làm cho chính sách tiền tệ phát huy được tác dụng hơn. Còn "bình ổn" giá vàng như ở Việt Nam đang thực hiện là liên tục mua hoặc bán để "neo" giá vàng trong nước vào một cái neo nào đó, mà ở đây là giá vàng thế giới, với hy vọng rằng khi giá vàng đã "ổn định" thì tâm lý đầu cơ không còn và vàng sẽ mất đi tính hấp dẫn.

Nhưng vì giá vàng thế giới biến động mạnh từng phút từng giờ nên tự nhiên giá vàng "bình ổn" trong nước cũng phải biến động theo, làm mất đi ý nghĩa của việc bình ổn giá vàng theo cái nghĩa như việc bình ổn giá thịt lợn trong nước (không tăng, ít tăng, hoặc tăng chậm), và do đó không dập tắt được tâm lý đầu cơ, và vì thế cũng không làm giảm được tính hấp dẫn của việc đầu tư vào vàng (với hy vọng giá vàng sẽ lên trong tương lai để mang lại lợi nhuận cho người đầu tư hiện tại).

Thêm nữa, kể cả khi đã "bình ổn" được giá vàng trong nước (tức là giá vàng trong nước tiệm tiến gần sát giá vàng thế giới) thì điều này cũng không đồng nghĩa với việc làm bớt đi sức hấp dẫn của vàng như một nơi trú ẩn an toàn cho tài sản của người dân thay cho nội tệ. Nếu tính hấp dẫn của kênh đầu tư vàng ở khía cạnh này (bảo toàn giá trị tài sản so với việc lưu giữ tài sản bằng nội tệ) không thay đổi trước và sau khi giá vàng được "bình ổn", khi giá vàng thế giới tăng lên thì giá vàng trong nước cũng sẽ phải tăng lên theo, kéo theo thêm một lượng tài sản được chuyển từ nội tệ sang vàng, vô hình trung càng tăng nạn "vàng hóa".

Nói cách khác, Việt Nam đang dùng liệu pháp sai cho căn bệnh sốt vàng, "vàng hóa"!

Giải pháp căn bản nào?

Từ phân tích trên, có thể thấy nguyên nhân căn bản cho căn bệnh này là sự mất lòng tin vào các tài sản bằng nội tệ (gồm cả tiền gửi ở ngân hàng), và sâu xa hơn nữa là các bất cân đối vĩ mô và vai trò và trách nhiệm của Chính phủ. Chỉ sau khi có các chính sách xử lý đúng đắn, lập lại các cân đối vĩ mô thì lòng tin vào nội tệ mới quay trở lại, và nội tệ sẽ lên ngôi thành công cụ thanh toán, đo lường và lưu trữ giá trị chính thay cho vàng hay ngoại tệ.

Nếu tiếp tục (cố tình) hiểu sai bản chất vấn đề và chỉ xử lý phần ngọn như bây giờ (cấm đoán, hạn chế, cấp giấy phép v.v...) thì nếu không dẫn đến cơn sốt vàng thì cũng sẽ dẫn đến cơn sốt những cái khác, trong khi một nguồn lực lớn của nhà nước tiếp tục được đổ ra một cách vô ích để can thiệp, như chuyện "bình ổn" giá vàng hiện nay.
______________________
Tham khảo
(1). http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2011/08/con-sot-vang-va-nhung-thu-thach-doi-voi-nen-kinh-te/

Friday, 28 October 2011

Tiến sĩ để làm gì? (Bài gửi đăng báo nhưng không được đăng; vì gửi báo nên giọng điệu mới tử tế thế này)

Biết rằng nếu viết ra thì sẽ đụng chạm đến rất nhiều người. Biết rằng rất nhiều người trong số đó chọn cách im lặng AQ vì ít nhiều nó vận vào mình đúng. Biết rằng nhiều người trong số còn lại thì nổi đóa và “hãy đợi đấy” bằng cách này hay cách khác. Và biết rằng chỉ một số ít người trong số còn lại thì sẽ đàng hoàng lên tiếng phản biện. Thế nhưng vẫn cứ viết vì... tức! Vẫn cứ viết vì những người đàng hoàng lên tiếng phản biện sẽ tạo thành một cuộc thức tỉnh xã hội, tuy chỉ dám hy vọng là một đốm lửa nhỏ, để mong có một số thay đổi nhỏ về chuyện tiến sĩ ở Việt Nam.
Tức vì lẽ tại sao tiến sĩ lại nhiều thế?
Tức vì lẽ tại sao thành tiến sĩ lại dễ thế?
Tức vì lẽ cho đến giờ vẫn không hiểu được tiến sĩ thì để làm gì, làm được cái gì ở Việt Nam?
Hàng ngày, hàng tuần, có biết bao sự kiện, vấn đề quan trọng chỉ riêng trong lĩnh vực kinh tế thồi. Thế nhưng quanh đi quẩn lại chỉ có một số ít khuôn mặt và cái tên “thân thuộc” đến độ hầu như mở báo nào ra cũng thấy của một số ít người nói ra, viết ra. Và trong số đó có một số người là tiến sĩ.
Lạ cái là, tức cái là một số trong họ (và một số tiến sĩ ít xuất đầu lộ diện khác) nói ra, viết ra có lúc thì như học sinh trả bài (nhưng không thuộc), lúc thì chung chung, chẳng chết ai nhưng cũng chẳng có ích cho ai, lúc thì sai lầm, ngớ ngẩn đến độ người dân bình thường cũng phải tự hỏi học ở đâu mà ra cái nông nỗi thế?
Một bạn là phóng viên của một tờ báo phải than trời, nguyên văn rằng: “bản thân em là người đi phỏng vấn chuyên gia và viết mấy bài về .... vừa rồi, nhưng em thấy các bác ấy nói chung chung và còn lý thuyết quá.”
Lạ thêm nữa, tức thêm nữa ở những chỗ khác không cần phải là tiến sĩ hoặc lòe ra cái mác tiến sĩ lại thấy lắm tiến sĩ thế. Đến độ, người ta phải sửa lại thành “phổ cập tiến sĩ”.
Các vị, có ai đủ dũng cảm để lên tiếng tại sao xã hội phải tốn tiền “đào tạo” và dung dưỡng các vị không?

Tuesday, 25 October 2011

Phác đồ trị 'bệnh' cho hệ thống ngân hàng (Phần tiếp theo; phải cảm ơn đồng chí biên tập viên VEF đặt cho cái tiêu đề rất câu khách)

(VEF.VN) - Phương pháp tái cấu trúc hệ thống ngân hàng để ngăn ngừa một sự đổ vỡ trước mắt và phục hồi lòng tin thì có nhiều, nhưng quan trọng là chúng không ảnh hưởng xấu hoặc đảo ngược tiến trình cải cách và lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng trong dài hạn.

Khi nào thì cần tái cấu trúc?

Trước khi bắt đầu, cần nói qua một chút về khái niệm. Cụm từ "tái cấu trúc hệ thống ngân hàng" chỉ dùng khi có bằng chứng mất khả năng thanh toán của một bộ phận trong hệ thống ngân hàng thương mại ở một quy mô nhất định nào đó, mà theo như một số tác giả thì tương đương với 20% tổng lượng tiền gửi trong hệ thống ngân hàng. Nếu ở quy mô nhỏ hơn thì cụm từ "tái cấu trúc ngân hàng" là chính xác hơn, liên quan đến việc xử lý khả năng mất thanh khoản của từng ngân hàng riêng biệt.

Ở Việt Nam, vì chưa/không có những số liệu đáng tin cậy về rủi ro mất thanh khoản của từng ngân hàng và cả hệ thống ngân hàng nên sự cần thiết phải tiến hành "tái cấu trúc hệ thống ngân hàng" đã chưa được minh chứng đầy đủ, gợi cho ta thấy cái gì đó như có tính phong trào, cũng như kiểu gần đây rộ lên cụm từ "tái cấu trúc nền kinh tế", mặc dù không có nhiều người hiểu đúng thế nào là tái cấu trúc nền kinh tế và, quan trọng hơn, là nên bắt đầu từ đâu, làm như thế nào, bằng phương tiện gì..v.v...

Giả thiết rằng hệ thống ngân hàng Việt Nam đang trên bờ vực khủng hoảng, mất khả năng thanh toán do nợ xấu tăng mạnh và thiếu hụt thanh khoản (ở một số ngân hàng, và có khả năng lây lan rộng và nhanh chóng), cần phải thực thi ngay việc tái cấu trúc nó. Lúc này, tình hình đã vượt khỏi phạm vi trách nhiệm và can thiệp của NHNN.

Chính phủ cần phải đưa ra một gói chính sách và giải pháp, bao gồm chuẩn đoán ở tầm vĩ mô các nguyên nhân gây ra rủi ro đổ vỡ hệ thống cũng như các giải pháp ở tầm vi mô để tăng cường giám sát hoạt động ngân hàng, sửa chữa những thiếu sót trong hệ thống pháp lý, luật lệ và trong công tác kế toán, kiểm toán, và cứu vớt hay giải thể các ngân hàng mất khả năng thanh toán. Sự thành công của việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào một chiến lược toàn diện xử lý hữu hiệu tất cả các vấn đề này.


Trị "bệnh" cho ngân hàng cần một gói chính sách và giải pháp.

Mất khả năng thanh toán - Khó thấy, khó thừa nhận

Trở ngại đầu tiên khi tái cấu trúc ngân hàng, cho dù là tái cấu trúc một ngân hàng hay cả hệ thống, là sự thiếu động lực cho cả giới quản lý ngân hàng lẫn giới giám sát ngân hàng để nhận ra và xử lý các ngân hàng mất khả năng thanh toán. Mặc dù người ta đã cố gắng áp dụng các chuẩn mực vốn theo khuyến nghị của Ủy ban Giám sát ngân hàng Basle (Basle Committee) để đánh giá rủi ro tài sản ngân hàng nhưng sẽ vấn rất khó để giới quản lý và giám sát ngân hàng nhận ra và thừa nhận rằng một ngân hàng nào đó đang phải đối mặt với thua lỗ không thể khắc phục được trong một thời gian định trước theo luật định hiện hành.

Lý do đằng sau việc này một phần là bởi sự thiếu vắng các chuẩn mực kế toán dẫn đến các khoản vay xấu tiếp tục được gia hạn, một phần là bởi người ta e ngại rủi ro chính trị khi phải tuyên bố dùng tiền thuế của dân để cứu vớt ngân hàng phá sản, và phần nữa là do các ông chủ ngân hàng cũng như Chính phủ muốn duy trì một ngân hàng nào đó để cấp vốn cho một nhóm lợi ích hoặc một bộ phận kinh tế nào đó bằng mọi giá cho đến lúc nào có thể. Điều không may là việc không nhận ra và có hành động kịp thời đối với một ngân hàng có vấn đề nào đó thường dẫn tới sự tích tụ các tài sản xấu và ở trong các ngân hàng làm tăng khả năng đổ vỡ cho toàn hệ thống, để rồi người ta lại càng tìm cách che đậy và do đó vòng xoáy che giấu - tích tụ tài sản xấu - che giấu càng ngày càng tăng mãnh liệt đến lúc sụp đổ cả hệ thống.

Ở Việt Nam, trong tình hình tù mù thông tin với những lời đồn đoán, người ta chỉ được nghe những lời tuyên bố của giới quản lý ngân hàng nào đó rằng ngân hàng của họ chỉ có tỷ lệ nợ xấu dăm ba phần trăm gì đó, còn lâu mới đạt đến giới hạn nguy hiểm. Hy vọng rằng tình hình thực tế không giống như những gì mô tả ở đây.

Các kịch bản đối phó

Chính phủ nếu không muốn đóng cửa các ngân hàng phá sản thì thường sử dụng đến mấy giải pháp như: (i) gửi tiền vào tổ chức ngân hàng có vấn đề, biến nó thành vốn góp chủ sở hữu. Việc này thường dẫn đến tổn thất lớn về ngân sách và dự trữ ngoại hối quốc gia; (ii) sáp nhập dưới bàn tay đạo diễn của Chính phủ. Chính sách này đặc biệt hay được dùng khi Chính phủ bị hạn chế bởi nguồn vốn dùng để xử lý hậu quả của việc đóng cửa ngân hàng và khi toàn hệ thống ngân hàng có đủ lực tài chính để hấp thu ngân hàng phá sản. Tuy nhiên, khi phần lớn hệ thống bị suy sụp thì việc sáp nhập trở nên bất khả; và (iii) Chính phủ trực tiếp hỗ trợ. Có một số hình thức hỗ trợ, tùy thuộc vào mức độ khủng hoảng thanh khoản của các ngân hàng. Nếu tình hình chưa đến mức độ nghiêm trọng thì chính phủ có thể hỗ trợ thanh khoản, áp đặt trần lãi suất huy động (để chuyển một phần tổn thất vốn do nợ xấu cho người gửi tiền gánh chịu), kết hợp với việc cấm chuyển tiền gửi ra nước ngoài hoặc mở rộng loại hình kinh doanh hợp pháp cho ngân hàng (với hy vọng rằng các ngân hàng sẽ thành công ở những mảng kinh doanh phi ngân hàng này hơn là ở những mảng kinh doanh ngân hàng truyền thống). Dường như Chính phủ và NHNN đã có một số kinh nghiệm áp dụng cả 3 biện pháp này trong một vài thời điểm ở Việt Nam.

Khi tình hình thiếu hụt thanh khoản ở mức khủng hoảng thì các biện pháp can thiệp và hỗ trợ trực tiếp của Chính phủ phải nhằm xử lý các vấn đề về thiếu hụt vốn (điều lệ) và mất cân đối trên bảng cân đối tài sản của các các ngân hàng. Điển hình của các biện pháp này là sự bơm vốn trực tiếp của Chính phủ vào ngân hàng có vấn đề thông qua việc mua lại các tài sản xấu và cổ phần của các cổ đông (chính) và đưa người của mình vào các vị trí quản lý chủ chốt. Kèm theo đó, Chính phủ cũng có thể tuyên bố bảo lãnh cho tất cả các khoản tiền gửi (theo đó là tăng rủi ro đạo đức, như nói ở phần trên).



Bốn bước tái cấu trúc

Như vậy, phương pháp tái cấu trúc hệ thống ngân hàng để ngăn ngừa một sự đổ vỡ trước mắt và phục hồi lòng tin thì có nhiều, nhưng điều quan trọng hơn là việc sử dụng chúng không được làm ảnh hưởng xấu hoặc đảo ngược tiến trình cải cách và lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng trong dài hạn. Để tái cấu trúc thành công trong dài hạn cần sử dụng các phương pháp thỏa mãn được các tiêu chí: tiết kiệm tối đa phí tổn, đơn giản khi thực hiện, phân bổ tổn thất một cách công bằng, giảm thiểu gánh nặng tài chính cho khu vực công, tránh tạo ra thêm các rủi ro đạo đức, và nâng cao chất lượng quản trị ngân hàng.

Khó có thể biết những biện pháp tái cơ cấu một hay một số ngân hàng có vấn đề nào đó của NHNN từ trước cho đến nay có thỏa mãn được các tiêu chí này không, cũng do vì sự không công khai thông tin từ NHNN. Thậm chí, theo lời nguyên Thống đốc NHNN Lê Đức Thúy, khi ông tại vị đã tiến hành một loạt các vụ sáp nhập các ngân hàng thương mại với nhau mà người ta chỉ biết được khi ông tiết lộ gần đây.

Về mặt pháp lý, quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng sẽ bao gồm 4 công việc có liên quan đến nhau:

1. Phục hồi lòng tin vào hệ thông ngân hàng (thông qua bảo lãnh tiền gửi, củng cố cơ cấu thể chế, thi hành các chuẩn mực kiểm toán và kế toán quốc tế, nhất là chi tiêu phân loại tài sản, thắt chặt công tác giám sát tuân thủ luật lệ, đào tạo cán bộ thanh tra giám sát của Chính phủ và nhân lực kiểm toán.

2. Thiết lập một khuôn khổ pháp lý cho can thiệp của Chính phủ nhằm đảm bảo rằng hệ thống bảo hiểm tiền gửi có đủ vốn để xử lý khủng hoảng và có thể được sử dụng một cách nhanh chóng và hiệu quả, và Chính phủ có được một quy trình toàn diện về theo dõi và đánh giá liên tục tình trạng nợ xấu và mất thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, tránh được tình trạng bị động.

3. Thiết lập một khuôn khổ pháp lý cho can thiệp của Chính phủ vào ngân hàng mất khả năng thanh toán. Quá trình can thiệp của Chính phủ sẽ làm nảy sinh một số vấn đề về pháp lý liên quan đến việc nắm giữ cổ phần của các cổ đông hiện tại và vì thế cần có luật tương ứng để điều chỉnh. Ví dụ, khi Chính phủ bơm vốn vào cho một ngân hàng và nếu muốn các cổ đông hiện tại phải rút bớt cổ phần tương ứng để Chính phủ trở thành cổ đông chính có quyền bổ nhiệm người của mình vào các vị trí quản lý thì cần phải có một luật cho phép Chính phủ làm như vậy nếu họ không tự nguyện xin rút.

4. Thiết lập một cơ cấu để phục hồi tối đa các khoản nợ xấu. Phần nợ xấu (đáng kể) sau khi đã được phân loại thì chuyển giao xử lý cho (i) một bộ phận độc lập trong ngân hàng, chuyên trách về việc phục hồi tài sản; hoặc (ii) một cơ quan chuyên trách của Chính phủ như công ty quản lý tài sản (ACM) chuyên tiếp nhận, quản lý và thanh lý tài sản xấu.

Như vậy, có thể thấy quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là một quá trình lâu dài, bao gồm nhiều biện pháp pháp lý triển khai theo từng bước từ những biện pháp khẩn cấp lập lại lòng tin đến việc tạo dựng những cơ chế để xử lý những ngân hàng đổ vỡ và giải quyết tài sản tồn đọng của chúng.

Bên cạnh tính pháp lý, yếu tố con người cũng rất quan trọng. Những cán bộ thanh tra giám sát ngân hàng cần phải được đào tạo và trang bị các kỹ năng để thực thi các luật định, và các nhà quản lý ngân hàng cần phải thấy được các lợi ích thiết thực khi tuân thủ nghiêm túc các luật định phòng ngừa rủi ro và thi hành các tiêu chuẩn kế toán, kiểm toán quốc tế. Nói cách khác, khuôn khổ pháp lý xung quanh viêc tái cấu trúc ngân hàng cần đảm bảo một cơ cấu thưởng phạt nhất quán để trừng trị các hành động gian lận, đầu cơ, đồng thời tưởng thưởng thái độ tuân thủ pháp luật về phòng ngừa rủi ro.

Rất mong là trên thực tế NHNN và rộng hơn là Chính phủ đã có những bước chuẩn bị và đã xây dựng được những thể chế và khuôn khổ pháp lý cần thiết, áp dụng và thực thi được các chuẩn mực quốc tế trong phòng ngừa rủi ro, và xây dựng được đội ngũ nhân lực chuyên môn để sẵn sàng phục vụ cho quá trình tái cấu trúc ngân hàng khi cần thiết, và trên hết hiểu rõ được nguyên nhân và cách xử lý vấn đề ..v.v... là những thứ mới nêu được một phần trong bài này.

Cũng mong rằng những bên hữu quan trên thực tế đã thực hiện được một số công việc cần làm liên quan đến tái cấu trúc mà không chỉ dừng lại ở việc tranh luận xem tái cấu trúc thì cần xóa bỏ ngân hàng nào, xóa bỏ bao nhiêu ngân hàng thì là đủ, xóa bỏ xong rồi thì làm gì... như đang diễn ra sôi nổi hiện nay, vốn chỉ làm cho người ta nghi hoặc rằng rốt cuộc hiểu biết về vấn đề tái cấu trúc còn quá hạn chế, mâu thuẫn, bất nhất, trong khi chưa có nhiều việc cần làm đã làm xong để sẵn sàng đối mặt với nguy cơ của một cuộc khủng hoảng thật sự có thể diễn ra nay mai.

Monday, 24 October 2011

Ngân hàng Việt đã lún sâu vào khó khăn (bài đăng trên VEF 24/10/2011, có edit tí chút, ngày 25/10 đăng tiê'p kỳ 2)

Link: http://vef.vn/2011-10-22-ngan-hang-viet-da-lun-sau-vao-kho-khan

(VEF.VN) - Yếu kém về quản trị cũng như thực thi chưa nghiêm việc đánh giá, phòng ngừa rủi ro đã đẩy hệ thống ngân hàng lún sâu vào khó khăn khi có các biến động vĩ mô mang lại - TS. Phan Minh Ngọc, Phó giám đốc nghiên cứu DN của Ngân hàng Sumitomo Mitsui chi nhánh Singapore, phân tích.

Vấn đề tái cấu trúc hệ thống ngân hàng lại một lần nữa được đặt ra gần đây với sức nóng ngày càng tăng theo hiện trạng xấu đi của nền kinh tế. Có điều, dường như người ta nhìn nhận nguyên nhân gây ra bất ổn hiện nay trong hệ thống ngân hàng là những nguyên nhân có tính ngắn hạn, mới xảy ra gần đây, và quan trọng hơn, nằm ở phía ngân hàng thương mại chứ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nói riêng và Chính phủ nói chung không có liên quan gì mấy. Việc tái cấu trúc ngân hàng xem ra cũng chưa được hiểu đúng, đầy đủ, đôi khi được đơn giản hóa tối đa thành chuyện NHNN tìm các ngân hàng nào nhỏ, có vẻ bí thanh khoản để tái cấp vốn (mua lại), biến thành sở hữu nhà nước và đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của NHNN, hoặc buộc các ngân hàng này sát nhập vào những ngân hàng lớn hơn, có vẻ "ổn" hơn, và tiến trình này chỉ cần ngày một ngày hai là kết thúc.

Bài viết bàn về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ bắt đầu với việc phân tích những nguyên nhân gây ra thực trạng bất ổn của hệ thống ngân hàng, có những nguyên nhân dài hạn bên cạnh những nguyên nhân ngắn hạn, có nguyên nhân từ phía NHNN nói riêng và Chính phủ nói chung, đồng thời cũng có nguyên nhân từ phía các ngân hàng thương mại.

Phần tiếp theo, bài viết sẽ nêu một số công việc cụ thể phải làm khi tiến hành tái cấu trúc hệ thống ngân hàng với giả thiết rằng hiện tại hệ thống ngân hàng đã lâm vào tình trạng sắp đổ vỡ mang tính hệ thống, chủ yếu nhìn từ góc độ thể chế và pháp lý, trong đó có những việc phải làm ngay, trong ngắn hạn, và có những việc phải thực hiện trong cả một quá trình lâu dài hơn.

Lưu ý rằng, do đăng tải trên tờ báo phổ thông nên bài viết sẽ ở dưới dạng cố gắng giản lược hóa, không có nhiều số liệu minh họa, và cũng không hoàn toàn đầy đủ, tổng quát, chỉ nêu ra một số ý chính mà tác giả thấy cần đưa ra thảo luận.

Có 3 tập hợp yếu tố dẫn đến sự hình thành và tích tụ các rủi ro gây đổ vỡ mang tính hệ thống cho hệ thống ngân hàng.

Bùng nổ về số lượng, "quên" chất lượng

Thứ nhất, đó là sự mở rộng nhanh chóng của hệ thống ngân hàng trong những năm gần đây, nhưng không đi kèm với sự tăng cường và hoàn thiện công tác quản lý và phòng ngừa rủi ro, quản trị ngân hàng, cũng như công tác thanh tra giám sát của NHNN.


Có 3 tập hợp yếu tố dẫn đến sự hình thành và tích tụ các rủi ro gây đổ vỡ mang tính hệ thống cho hệ thống ngân hàng.

Ở Việt Nam, chỉ trong vòng mấy năm gần đây đã chứng kiến sự bùng nổ của hệ thống ngân hàng với sự tăng mạnh về con số ngân hàng và chi nhánh được thành lập cũng như về tốc độ tăng trưởng tín dụng bắt nguồn từ tăng trưởng cao của cung tiền là hậu quả của chính sách tiền tệ nới lỏng. Đến lượt mình, gia tăng tăng trưởng tín dụng lại dẫn đến tăng trưởng kinh tế nóng và tăng áp lực lạm phát. Điều đáng nói là sự mở rộng nhanh chóng của hệ thống ngân hàng không đồng hành với sự cải thiện đáng kể trong công tác phòng ngừa rủi ro (như không áp dụng các chuẩn mực quốc tế về phân loại vốn vay, trích lập dự phòng, và công bố thông tin) cũng như việc giám sát, thanh tra và xử phạt của NHNN, lại còn bị tác động bởi nạn tham nhũng, can thiệp bởi chính quyền và các nhóm lợi ích. Công tác quản trị yếu kém ngoài lý do xem nhẹ tầm quan trong của nó trước áp lực mở rộng về lượng còn do bởi việc không có hoặc không hoạt động hiệu quả của các cơ quan thanh tra, giám sát của NHNN cũng như của các tổ chức xếp hạng rủi ro tín dụng.

Tệ hại hơn, nhiều ngân hàng được thành lập bởi các tập đoàn kinh tế hay một nhóm lợi ích - mà nòng cốt là một số cá nhân tư bản với mục đích là cung cấp vốn cho nội bộ tập đoàn đó, nhóm lợi ích đó - mà vì thế chất lượng các khoản cho vay, cũng như hạn mức cho vay, không bao giờ là điều đáng quan tâm.

Thêm nữa, khi thị trường chứng khoán và nhà đất có dấu hiệu tăng trưởng mạnh, các ngân hàng thi nhau đổ vốn vào đó, tự mình đặt vào vị trí chịu cả rủi ro tín dụng lẫn rủi ro thị trường và do đó rất dễ tổn thương nặng bởi sự lên xuống của giá cả ở hai thị trường đầy rủi ro này.

Sự tăng trưởng quá nhanh của hệ thống ngân hàng về lượng nhưng không đi kèm với sự tăng trưởng tương ứng về chất, trong đó có nguồn nhân lực ngân hàng, với nạn thiếu hụt nhân sự lành nghề đánh giá được mức độ rủi ro là một trong những nguyên nhân đẩy hệ thống ngân hàng Việt Nam vào tình thế khó khăn như hiện nay.

Nhân đây, cũng cần nói thêm đôi điều về luồng ý kiến quy kết nguyên nhân gây ra rủi ro đỗ vỡ cho hệ thống ngân hàng Việt Nam là từ chủ trương cho thành lập mới một loạt ngân hàng, nhất là các ngân hàng được nâng cấp từ nông thôn lên thành thị.

Ông Lê Đức Thúy, nguyên Thống đốc NHNN và là tác giả của chủ trương đó chỉ biện hộ một cách yếu ớt tại sao lại làm như vậy (1) mà không thể phản biện được rằng về bản chất chủ trương này chẳng có gì sai trái (thậm chí là ngược lại vì làm tăng tính cạnh tranh và nhờ đó tăng cường hiệu quả hoạt động của các ngân hàng) NẾU song song với sự ra đời của hàng loạt ngân hàng mới, các điều kiện cần cho nó, ví dụ như chuyện đào tạo nhân lực và tăng cường công tác quản lý, phòng ngừa rủi ro theo chuẩn mực quốc tế ..v.v... cũng được thỏa mãn.

Bất cân đối cơ cấu và rủi ro đạo đức

Tập hợp yếu tố thứ hai làm tăng tính dễ tổn thương của hệ thống ngân hàng Việt Nam là sự bất cân đối về thị phần cũng như sở hữu chi phối, rủi ro đạo đức, và thiếu vắng cơ chế khuyến khích thực thi các biện pháp quản trị đúng đắn.

Mặc dù số lượng ngân hàng đã tăng lên nhanh chóng gần đây, có thể nói hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn bị chi phối bởi một số "ông lớn" ngân hàng thương mại nhà nước vốn chiếm thị phần đa số trong thị trường ngân hàng. Tuy nhiên, sự tập trung quá mức này cũng sẽ chẳng có gì đáng nói nếu đi kèm với nó là động lực khuyến khích các hoạt động đúng đắn. Sự bất đối xứng còn hiện diện ngay trong cơ cấu sở hữu của một ngân hàng thương mại, nơi một hoặc một vài cá nhân cổ đông vẫn chiếm đa số cổ phần của ngân hàng. Sự tập trung quá mức này còn dẫn đến tình trạng bất đối xứng thông tin giữa các cổ đông và vì thế những cổ đông chi phối là người hưởng lợi. Cho dù việc cung cấp thông tin là bắt buộc thì thông tin cung cấp cũng không được đảm bảo là chính xác do công tác kiểm toán và các tiêu chuẩn kế toán yếu kém.



Rủi ro đạo đức tồn tại phổ biến trong hệ thống ngân hàng Việt Nam thông qua việc Chính phủ trực tiếp can thiệp, chỉ đạo, hoặc bảo lãnh cho vay một số dự án, doanh nghiệp, ngành nghề, bộ phận kinh tế nào đó, dẫn đến việc các ngân hàng cho vay mà không cần bận tâm đến tính khả thi của dự án, khả năng sống còn của doanh nghiệp (đây cũng có thể coi là biểu hiện của việc tước đi động cơ buộc ngân hàng thực thi chính sách phòng ngừa rủi ro đúng đắn). Theo đó là cho vay quá mức, lợi nhuận thấp, dòng tiền hạn chế, và kết cục phát sinh các khoản nợ xấu. Rủi ro đạo đức cũng phá sinh từ việc Chính phủ tuyên bố công khai sẽ cứu giúp các ngân hàng có nguy cơ mà không hề đưa ra một lộ trình thoái lui nào. Bảo hiểm tiền gửi công khai và ngầm định cũng là một nguồn khác cho rủi ro đạo đức, làm cho giới quản lý ngân hàng ở Việt Nam càng thêm mạo hiểm đầu tư vào những lĩnh vực đầy rủi ro mà họ sẽ không bao giờ dám làm khi khác đi.

Tính hai mặt của chính sách vĩ mô và hội nhập

Tập hợp yếu tố thứ ba góp phần tạo ra sự đổ vỡ của hệ thống ngân hàng là các chính sách kinh tế vĩ mô và sự hội nhập tài chính. Trong những năm trước, nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế, chính sách tiền tệ và tài khóa được nới lỏng tối đa, và tín dụng vì thế tràn ngập nền kinh tế, không những làm tăng áp lực lạm phát mà còn chảy vào các lĩnh vực đầu cơ đầy rủi ro như chứng khoán và bất động sản, kéo theo sự tăng nóng về giá cả của những mặt hàng này, lại kích thích thêm nữa tín dụng ngân hàng chảy vào đó.

Sang năm nay, khi lạm phát đã có dấu hiệu nguy hiểm thì gánh nặng kiềm chế lạm phát lại bị dồn lên vai chính sách tiền tệ. Lãi suất tăng cao, còn tín dụng cho chứng khoán và bất động sản bị thắt lại. Giá chứng khoán và bất động sản sụt giảm làm cho giá trị các khoản thế chấp cũng sụt giảm tương ứng. Đi kèm với đó là tình trạng nhiều nhà đầu cơ mất khả năng thanh toán đã làm tăng tỷ lệ nợ xấu trong lĩnh vực này và làm xấu đi nghiêm trọng bảng cân đối tài sản của nhiều ngân hàng.

Lãi suất VND cao còn dẫn đến chênh lệch lãi suất cho vay bằng VND và USD tăng lên trong khi NHNN tuyên bố là sẽ giữ ổn định tỷ giá. Trong môi trường đó, các doanh nghiệp và ngân hàng được khuyến khích vay nước ngoài, vay bằng ngoại tệ thay vì nội tệ (trong khi nguồn thu trả nợ lại bằng nội tệ) và không bận tâm đến việc hedging phòng ngừa rủi ro biến động tỷ giá. Nếu trong những tháng tới, tỷ giá vì một lý do nào đó tăng vọt, chắc chắn tỷ lệ nợ xấu của những con nợ vay bằng ngoại tệ nhưng lại có nguồn thu chủ yếu bằng nội tệ sẽ tăng vọt.

Hội nhập tài chính cũng là một lý do quan trong làm tăng khả năng bị tổn thương của hệ thống ngân hàng nội địa. Sự cho phép thành lập và hoạt động các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam, một mặt, mang lại những lợi ích thiết thực như chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực, mặt khác lại làm tăng tính cạnh tranh trong hệ thống. Do sự ưu việt hơn trong hoạt động và tập trung vào khu vực doanh nghiệp, tập đòan kinh tế trong và ngoài nước hàng đầu, các ngân hàng nước ngoài đã lấn át các ngân hàng nội địa ở phân khúc này, buộc các ngân hàng nội địa phải lấn sâu thêm vào phân khúc hạng trung gồm những doanh nghiệp hạng hai, doanh nghiệp vừa và nhỏ và khách hàng cá nhân, là phân khúc tất nhiên có độ rủi ro cao hơn.

Như một vòng luẩn quẩn, vì rủi ro cao hơn nên các ngân hàng thường áp dụng lãi suất cao hơn cho các đối tượng vay này (không hiếm khi vượt quá sức chịu đựng của họ khi có biến động vĩ mô) và dùng thế chấp là bất động sản hay một số tài sản có tính thanh khoản khác. Hai yếu tố này sẽ làm ngân hàng dễ bị tổn thương hơn nữa trong môi trường kinh tế vĩ mô bất ổn với lãi suất tăng cao và giá bất động sản giảm dẫn đến tỷ lệ nợ xấu tăng thêm.

Ngoài ra ngân hàng nội địa còn cạnh tranh với nhau theo khu vực địa lý, mở thêm nhiều chi nhánh và địa điểm giao dịch ở những vùng sâu, vùng xa hơn, đồng nghĩa chi phí họat động tăng lên trong khi mức độ rủi ro cũng tăng lên.

Tuy vậy, đáng chú ý là bất chấp rủi ro tăng lên, nhiều ngân hàng vẫn tiếp tục có phần trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu thấp hơn bản thân các khoản nợ xấu đó vì được phép khấu trừ giá trị tài sản thế chấp vào giá trị khoản nợ xấu.

Để kết luận cho phần đầu bài viết, có thể thấy tình trạng yếu kém hiện tại trong hệ thống ngân hàng Việt Nam bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân phức hợp, đan xen lẫn nhau, và diễn ra trong cả một quá trình kéo dài ít nhất từ vài năm trước. Nổi lên trong đó là sự yếu kém về quản trị trong từng ngân hàng, quản trị cả hệ thống ngân hàng, cũng như sự thiếu vắng các động cơ khuyến khích các ngân hàng thực thi nghiêm túc việc đánh giá, công tác phòng ngừa rủi ro đúng đắn. Chính khiếm khuyết về cấu trúc đó đã đẩy hệ thống ngân hàng lún sâu vào khó khăn khi có các biến động vĩ mô mang lại từ bản thân các chính sách kinh tế trong nước lẫn biến động đến từ bên ngoài.

(Còn tiếp)

Bài 2: Phác đồ trị 'bệnh' cho hệ thống ngân hàng
____________________
Tham khảo:

(1). Chưa phải thời điểm sáp nhập ngân hàng, Tiền Phong, ngày 19/10/2011. http://www.tienphong.vn/Kinh-Te/555466/Chua-phai-thoi-diem-sap-nhap-ngan-hang-tpp.html

Thursday, 13 October 2011

Nói thêm về chuyện làm từ thiện của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia

Tớ quên không, đúng hơn là không buồn, đọc kỹ nội dung của bài báo đưa tin về chuyện này, phần liên quan đến nguồn kinh phí để làm từ thiện, vì nghĩ rằng chỉ có thể trích ra từ lợi nhuận hoặc hạch toán nhập nhằng vào thành những khoản chi hợp lý. Nay ngồi đọc lại thì thấy nguyên văn là thế này: “Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, ông Phùng Đình Thực, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam cho biết: Chương trình an sinh xã hội của Tập đoàn khi thực hiện đều đạt được sự thống nhất cao trong Đảng ủy, Hội đồng thành viên Tập đoàn. Những mục tiêu khi thực hiện các chương trình an sinh xã hội đã trở thành một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm, song hành với nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Kinh phí để thực hiện các chương trình an sinh xã hội của Tập đoàn được hình thành từ nguồn thu do cán bộ CNVC trong cơ quan tự đóng góp. Hàng năm, Tập đoàn tổ chức vận động CBCNV làm thêm 5 ngày vào các ngày nghỉ để ủng hộ các hoạt động an sinh xã hội của Tập đoàn.”

Có thật vậy không? Có thật là tiền làm từ thiện là từ tiền túi của cán bộ CNVC trong TDDK hay không? Không khó để thấy là KHÔNG!

Giả sử toàn TDDK có 10.000 cán bộ CNVC, và tất cả số người này đều (bị, bắt buộc) tham gia hoạt động từ thiện. Theo bài báo thì: “... từ năm 2006 đến năm 2010, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã tài trợ hơn 1.902 tỷ đồng để hỗ trợ xây nhà Đại đoàn kết, trường học, bệnh viện, cơ sở y tế, tham gia các chương trình đền ơn, đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn, chương trình biển đảo...” Như vậy trong 4 hoặc 5 năm, bình quân mỗi cán bộ CNVC đã đóng góp là 1.902 tỷ/10.000 = 190,2 triệu đồng. Và bình quân mỗi năm, mỗi người này đã đóng góp 190,2 triệu/4 (hoặc /5) = 47 triệu (hoặc 38 triệu). Đâu ra mà lắm thế? Thu nhập bình quân ròng (sau thuế) của cán bộ CNVC của TDDK có được 100 triệu/năm không? Thôi cứ cho hẳn là 200 triệu năm đi. Liệu họ có đủ hào hiệp để cắt nghiến ra ¼, 1/5 thu nhập của mình để làm từ thiện không, trong nhiều năm không?

Nếu câu trả lời là không thì có nghĩa là kinh phí làm từ thiện này không phải là do cán bộ CNVC của TDDK tự đóng góp (nên hiểu là đóng góp từ thu nhập của mình) như bác Thực phát biểu. Chính xác hơn, nguồn kinh phí này có thể có một phần từ nguồn đóng góp của cán bộ CNVC, nhưng không phải là tất cả từ đó. Suy ra tiếp là phần còn lại phải lấy ra từ lợi nhuận hoặc hạch toán thành các khoản chi phí hợp pháp, hợp lý của TDDK và kết cục là khoản nộp ngân sách và hoặc lợi nhuận trích nộp lại cho nhà nước phải giảm tương ứng. Mà như vậy thì phần viết trước của tớ chẳng có gì sai cả.

Wednesday, 12 October 2011

Cải cách, tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước cần bắt đầu từ đâu?

Chẳng cần phải nghĩ ngợi lôi thôi, nhìn đâu xa, suy xét rắc rối làm gì mà hãy nhìn vào ngay và chấm dứt ngay những việc có thể gọi là “lố bịch” như thế này. Chẳng là hôm nay nhân cáo ốm ở nhà, đọc báo chơi tớ thấy có bài này: "Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam: Chăm lo cho người nghèo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm" (http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1372&Style=1&ChiTiet=40391).

Càng đọc càng thấy mị dân và đúng nghĩa là lố bịch.

“Chăm lo cho người nghèo” không phải là nhiệm vụ, và càng không phải là “một trong những nhiệm vụ trọng tâm” của tập đoàn này hay bất cứ tập đoàn nào khác ở Việt Nam. Tớ không đọc các văn bản liên quan đến việc thành lập và hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (TDDK) nên không dám chắc rằng có bác lãnh đạo nào đó hứng chí lên phang luôn điều này vào trong điều lệ hoạt động của nó hay không. Nhưng nếu đúng có như vậy thì cần phải cắt bỏ ngay điều khoản này nếu muốn bắt đầu thực hiện nghiêm túc quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước. Vì:

Thứ nhất, về chức năng, chăm lo cho người nghèo là nhiệm vụ của các cơ quan chuyên trách của Chính phủ, của các tổ chức phi Chính phủ. Đã là doanh nghiệp thì nhiệm vụ chủ yếu là kinh doanh mang lại lợi nhuận cho cổ đông. Vì là doanh nghiệp nhà nước, mà lại là doanh nghiệp đầu mối, nên nhiệm vụ của TDDK chắc là có thêm chuyện đảm bảo an ninh năng lượng cho quốc gia, chứ không nên và không được có thêm chức năng “chăm lo cho người nghèo”.

Thứ hai, về nguyên tắc, nếu quả đúng TDDK có lòng thương người đến như vậy thì cũng không thể đem tiền cho người nghèo như vậy một cách vô nguyên tắc như vậy được. Kể cả khi biện hộ rằng tiền này là trích từ lợi nhuận của nó. Tại sao ư? Vì kể cả tiền trích từ lợi nhuận thì cũng đều là tiền thuộc về chủ sở hữu của nó, tức là nhà nước, và tức là toàn dân Việt Nam, và chi tiêu thế nào là thuộc về quyết định của nhà nước mà đại diện là Chính phủ, chứ không phải là thuộc quyết định của TDDK. Làm từ thiện kiểu này có nghĩa là mị dân nhưng lại theo kiểu “của người phúc ta”, tiền của dân trích ra mang cho (một bộ phận) dân còn mình thì được tiếng thơm là hào hiệp, tử tế.

Thứ ba, về tính kinh tế, cứ cho là TDDK được phép làm cái việc sai chức năng và vô nguyên tắc này thì việc làm này rất phi kinh tế. Hoạt động từ thiện không chuyên nghiệp của TDDK sẽ không thể hiệu quả bằng các tổ chức chuyên trách của Chính phủ và phi Chính phủ. Nếu muốn có hiệu quả hơn thì TDDK phải lập ra một cái ban chuyên trách, đại loại như “Ban từ thiện”. Như vậy, hoạt động của ban này sẽ gây tốn kém, tiêu tốn thêm nguồn lực cho TDDK, và cuối cùng là gặm vào phần lợi nhuận trích nộp ngân sách (tức là liên quan đến phần để lại cho dân), chưa nói đến chuyện tính hiệu quả của cái ban này cũng không thể bằng được các cơ quan chuyên trách khác vì tính quy mô của nó.

Thứ tư, về tính minh bạch, các doanh nghiệp nhà nước thường có những lời biện bạch đại loại rằng doanh nghiệp bị thua lỗ, khó khăn là vì phải thực hiện “nhiệm vụ an sinh xã hội”, “ổn định kinh tế vĩ mô”. Thế là tất cả các yếu kém, ngu dốt, sai lầm trong bộ máy quản lý được xóa nhòa bởi nhiệm vụ cao cả này.

Tóm lại, chỉ nói sơ qua như vậy thôi cũng đủ thấy cái sự “vớ vẩn” trong những cái chủ trương kiểu này từ doanh nghiệp nhà nước và từ những “đại diện” cho ông chủ thật sự của chúng. Cải cách và tái cơ cấu doanh nghiệp không phải nhìn đâu xa mà hãy bắt đầu từ việc cắt bỏ những cái vớ vẩn như thế này.

Wednesday, 17 August 2011

Nợ công của Việt Nam – Lo sợ do sai lầm ngớ ngẩn

Đọc bài này mới thấy cái nguy của những tay mơ viết về kinh tế, nhất là các vấn đề to tát (http://vneconomy.vn/20110813041842652p0c6/hau-hoa-no-cong-va-bai-hoc-tu-luoi-dao-sp.htm). Trước tiên, tớ cần phải rào ngay rằng tớ không có ý định bình luận con số nợ tuyệt đối và tương đối hiện nay của Việt Nam là cao hay thấp, mà chỉ tập trung vào việc chỉ ra cái sai lầm ngớ ngẩn của tác giả bài viết trên, hoặc là của một nguồn cung cấp số liệu nào đó mà tác giả sử dụng nhưng không thể tự mình biết là đúng hay sai (tớ thiên về cái sau này hơn, vì thấy có một số báo khác cũng có bài viết sử dụng số liệu tương tự).
Bài báo cho biết: “Theo Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, năm 2007, nợ công là 33,8% GDP nhưng từ 2008, tỷ lệ này nâng lên 36,2%; 2009: 41,9%; 2010: 56,7%. Năm 2011, Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) dự kiến nợ công sẽ đạt 1.375 nghìn tỷ đồng, tương đương 58,7% GDP. Như vậy, từ năm 2007 đến hết 2011, nợ công đã tăng khoảng 25%, đạt mức trung bình 5%/năm. Với đà tăng này, chỉ cần 8 năm nữa, nợ công Việt Nam sẽ lên tới 100% GDP”.
Xin thưa các đồng chí nhà báo là nợ công tăng trung bình 5%/năm trong 4 năm qua thì với đà tăng đó cũng không thể có con số nợ công bằng 100% sau 8 năm nữa. Lý do rất đơn giản là GDP là một con số biến động theo năm (thường là tăng lên, ở trường hợp của Việt Nam trong mấy thập kỷ qua), chứ không phải là một con số tuyệt đối, bất biến qua các năm. Trong 4 năm qua, GDP của Việt Nam tăng trưởng với tốc độ trung bình trên thực tế (chắc là) trên 6%/năm, lớn hơn tốc độ tăng trưởng nợ công. Nếu trong vòng 8 năm nữa mà cả nợ công và GDP đều tăng trưởng như với tốc độ trung bình trong 4 năm qua thì cái thương số tổng nợ công/GDP làm sao mà tăng lên sau 8 năm được hở giời? Nếu GDP có tăng trưởng bằng với tốc độ tăng trưởng nợ công (tức là 5%/năm) thì tỷ lệ nợ công trên GDP sẽ là không đổi trong suốt thời gian nghiên cứu. Còn nếu GDP chỉ tăng trưởng ở mức thấp hơn 5%/năm thì cũng “còn khướt” mới đến thời điểm mà nợ công bằng 100% GDP, chứ không phải 8 năm đâu ạ (xem thêm tính toán ở phần sau).
Còn nếu các đồng chí (hoặc ai đó như Ủy ban Giám sát tài chính hoặc Bộ Tài chính) lại ngây thơ hơn, đi tính thời gian cần thiết để con số nợ công tương đối tăng từ mức 58.7% GDP lên 100% GDP thì cũng không thể ra con số 8 năm được (mặc dù phép tính này là hoàn toàn không có ý nghĩa). Cụ thể (chỉ để minh họa về mặt toán học), để một con số (trị tuyệt đối) 58.7 tăng lên thành 100 với tốc độ tăng trung bình 5%/năm thì cần log(100/58.7)/log(1.05) = 10,9188 năm.
Phép tính trên chỉ để minh họa thời gian cần thiết để một con số tuyệt đối nào đó đạt đến một giá trị tuyệt đối nào đó với tốc độ tăng trung bình hàng năm cho trước. Quay lại với trường hợp tỷ trọng nợ công trên GDP của Việt Nam. Như nói ở phần trên, vì GDP cũng tăng trưởng nên thời gian cần thiết để tỷ trọng nợ công của Việt Nam đạt đến 100% GDP từ mức 58.7% GDP sẽ phải dài hơn số 10,9188 năm tính ra như ở trên. Tốc độ tăng GDP trung bình hàng năm càng cao (nhưng dưới 5%/năm) thì thời gian cần thiết càng phải dài ra. Nếu “chẳng may” mà GDP tăng trưởng với tốc độ trung bình lớn hơn 5%/năm thì sẽ chẳng bao giờ có cái thời điểm mà ở đó nợ công bằng 100% GDP cả, vì lúc đó đơn giản là nợ công liên tục giảm đi so với GDP qua các năm.
Khổ lắm cơ! Sai sót một cách ngây ngô như thế nhưng đã đủ làm cho khối người sợ rồi.
Có bạn đọc nào đủ tốt thì giúp tớ chuyển cái comment này đến những nơi cần đến với. Tớ ngán cái việc tự mình gửi comment đến giới báo chí lắm rồi.

Friday, 12 August 2011

Nản với mấy bác quá

Đọc bài này xong thấy nản với mấy ông chuyên gia với (cựu) quan chức nhà ta quá chừng (http://www.baomoi.com/Home/TaiChinh/tinnhanhchungkhoan.vn/Ha-lai-suat-bang-ap-tran-lai-suat-cho-vay/6801334.epi). Các ông này đang kêu gọi áp trần lãi suất cho vay thay vì áp trần lãi suất huy động. Giá mà các ông chỉ dừng lại ở việc kêu gọi xóa trần lãi suất huy động mà không động chạm gì đến việc áp trần lãi suất cho vay thì nền kinh tế này được nhờ lắm lắm!
Hẳn các ông biết rõ rằng áp trần lãi suất nào cũng là một biện pháp hành chính. Mà đã là biện pháp hành chính thì không bao giờ có được hiệu quả (bền vững) như mong muốn. Hình như ngay ông Nghĩa đã có lần phát biểu (đại loại) rằng các ngân hàng thương mại rất thích NHNN áp dụng các biện pháp hành chính vì họ càng “rộng cẳng” để lách luật, kiếm lợi trên những quy định hành chính đó. Còn ông Kiêm thì… thôi rồi. Ông chính là người mỗi khi NHNN thắt chặt chính sách tiền tệ là y rằng lại lên tiếng rằng xx% doanh nghiệp (vừa và nhỏ) đang ngắc ngoải, sắp chết tươi nếu NHNN tiếp tục duy trì thắt chặt tiền tệ. Tớ nhớ điều này vì nghe ông nói mãi thành quen từ thời điểm nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính 2008. Mà giời ạ, các doanh nghiệp ông kêu hộ chắc không chết (hết), và không hiểu ông đi điều tra ở đâu, lúc nào, được bao nhiêu doanh nghiệp mà ông tuyên bố chắc nịch rằng xx% doanh nghiệp sắp chết thế không biết? Đến Tổng cục Thống kê cũng chẳng mấy khi có được một cuộc điều tra về “sự sống và cái chết” của doanh nghiệp tường tận đến như vậy. Ông còn là một trong những tác giả của lời phát biểu “bất hủ” (đại loại) là các doanh nghiệp chỉ đạt được lợi nhuận bình quân dưới 20% (bây giờ lạm phát cao nên ông nâng mức lợi nhuận bình quân lên 20% chứ, trước đây ông tuyên bố chỉ là 15% hay gì đó!) mà lãi suất đi vay vượt quá 20% thì doanh nghiệp càng làm càng lỗ! (xem phản biện của tớ về chuyện này ở các entry trước).
Quay lại chuyện tại sao tớ nản với mấy ông này, đúng hơn là đề xuất áp trần lãi suất cho vay của họ. Chắc họ không lạ lẫm gì với tình trạng “đi đêm” mặc cả lãi suất giữa người gửi tiền và ngân hàng, mặc dù trên danh nghĩa lãi suất tiền gửi chỉ dừng lại ở con số 14% đúng như quy định của NHNN. Đương nhiên, NHNN biết rõ chuyện này đang xảy ra trước mũi mình. Lý do tại sao có chuyện “đi đêm” này và chuyện đó lại thành công, lại phổ biến thì họ thừa hiểu, bạn đọc cũng thừa hiểu, khỏi nhọc công nhắc lại.
Chưa hết, ở đây tớ chỉ nêu thêm ra mấy điều để họ và những người tán đồng với đề xuất này tự thấy mình vô lý . Thứ nhất, nếu đã áp trần lãi suất cho vay thì chắc chắn chẳng ngân hàng nào dám cho các vay các giao dịch thẻ tín dụng, tiêu dùng, các dự án đầu tư mạo hiểm, nhiều rủi ro, các con nợ tiềm năng có lịch sử tín dụng không tích cực lắm v.v... Vì bản chất những đối tượng, những dự án vay vốn này cần phải được tính với lãi suất cao hơn (nhiều) lãi suất cho vay thương mại thông thường cho những dự án lành mạnh, ít rủi ro hơn. Rồi còn chuyện kỳ hạn cho vay nữa. Với trần lãi suất cho vay, điều tương tự cũng sẽ xảy ra như với trần lãi suất huy động. Đến một lúc nào đó lãi suất cho vay sẽ bị cào bằng giữa các đối tượng, giữa các kỳ hạn, giữa các hình thức sản xuất kinh doanh... là điều cực kỳ phi lí trong nền kinh tế thị trường.
Thứ hai, nếu áp trần lãi suất cho vay trong khi giả sử NHNN kiên định với chính sách tiền tệ thắt chặt của mình, và giả sử rằng trần lãi suất huy động cũng được hủy bỏ, nhưng lạm phát (tính theo năm) vẫn ở mức cao hơn nhiều so với trần lãi suất cho vay (như mức lạm phát hiện tại). Điều gì sẽ xảy ra? Người gửi tiền chắc chắn sẽ không mặn mà chuyện gửi tiền vào ngân hàng để hưởng một lãi suất còn thấp hơn trần lãi suất cho vay (và tức là thấp hơn nhiều nữa so với mức lạm phát hiện tại và lạm phát kỳ vọng). Ngân hàng do không huy động (được đủ nhiều) nên buộc phải giảm thiểu tăng trưởng, thậm chí là co hẹp, tín dụng, trầm trọng hơn thì lâm vào khủng hoảng thanh khoản. Đến đây thì không chỉ hệ thống ngân hàng lãnh đủ mà còn cả giới sản xuất kinh doanh nữa vì tín dụng từ hệ thống ngân hàng đã bị thắt chặt. Hậu quả tiếp theo là chính cái điều mà mấy ông này nói riêng và Chính phủ nói chung lo sợ rằng sản xuất kinh doanh sẽ bị đình đốn, tăng trưởng suy giảm, an sinh xã hội không được đảm bảo v.v...
Nếu NHNN không thể đứng nhìn tình trạng này xảy ra và can thiệp bằng cách “hỗ trợ” thanh khoản, dù bằng nghiệp vụ thị trường mở, hay hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hay tái cấp vốn hay gì gì đi chăng nữa thì rốt cuộc cung tiền sẽ tăng lên (nhấn mạnh lại là không thể gọi khác đi bản chất của việc “hỗ trợ” này) và áp lực lạm phát sẽ tiếp tục gia tăng, là điều “húy” đối với không chỉ NHNN lúc này.
Nhân tiện nói đến chuyện lãi suất huy động trong quan hệ với lạm phát, có một số người phán rằng không cần thiết phải áp dụng lãi suất thực dương (tức là có thể áp lãi suất tiền gửi thấp hơn lạm phát) vì hiện nay đầu tư vào đâu cũng khó khăn (chứng khoán, nhà đất, vàng...) nên người gửi tiền vẫn buộc phải gửi vào ngân hàng dù lãi suất có thấp hơn lạm phát. Xin thưa rằng các vị đừng dại dột mà thử thách trí thông minh của người có tiền gửi/đầu tư. Và cũng xin thưa rằng giá vàng, nhà đất, chứng khoán và các tài sản khác có biến động nhưng không có nghĩa là không nên/không được đầu tư vào đó, và nếu có thì không có lãi (bằng hoặc cao hơn lãi suất tiền gửi). Điều này đặc biệt đúng với một nước như Việt Nam nơi mà lạm phát cao thường xuyên nổ ra và người ta (người có tài sản) đã có quá nhiều kinh nghiệm đối phó với nó. Do đó, nếu kém cỏi, mù quáng đến nỗi cố tình hạ lãi suất trong bối cảnh lạm phát đang nóng như hiện nay thì không khác gì đem dầu đổ vào lửa.
Đến đây, lại thấy rất buồn cười với phát biểu của ông Kiêm về chuyện rằng NHNN không dễ thực hiện hạ lãi suất bằng các công cụ thị trường (như công cụ tái chiết khấu), mà phải kết hợp với một số biện pháp hành chính. Không hiểu ông dựa vào đâu để nghi ngờ tính hiệu quả của các công cụ điều hành chính sách tiền tệ của NHNN như vậy? Nếu không làm được điều tối thiểu này thì NHNN còn tồn tại để làm gì nhỉ? Có lẽ thay vào đó, ông nên trả lời câu hỏi là NHNN có thực sự muốn giảm lãi suất hay không mà thôi.
Tóm lại, chỉ nói sơ sơ như trên thôi mà thấy bật ra một số vấn đề không hề đơn giản mà chắc là những người đề xuất ra trần lãi suất cho vay không/chưa hề nghĩ đến. Chỉ mong NHNN nói riêng, Chính phủ nói chung không phạm phải một sai lầm khác khi đi nghe những “kiến nghị” với “đề xuất” kiểu này.
Tái bút: Nhân nói về chủ đề “nản với chuyên gia và quan chức Chính phủ”, tớ nhất định có dịp sẽ phải mang thêm mấy ông như ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục quản lý giá ra phân tích (trong một entry riêng sau này). Thú thực là tớ nản với mấy ông này lắm lắm mỗi khi nghe các ông ấy lý luận! Bạn đọc nhớ đón xem nhé!

Monday, 8 August 2011

Chuyện bằng giả của bác Vũ Viết Ngoạn

Cũng hơi bị sốc khi đọc thấy cái tin bác Ngoạn xài bằng giả! Sốc vì tiếc cho bác ấy. Chẳng là mấy hôm trước cũng đọc được cái phỏng vấn ngắn bác ấy trên một tờ báo nào đó về chuyện chính sách tiền tệ. Trong mấy khuôn mặt của các quan chức hữu trách và kể cả giới chuyên gia, xem ra có bác này và một số rất ít bác khác là có được một số phát biểu đúng đắn mà người đọc như tớ mong đợi cần phải có từ miệng các vị. Đọc thấy bác này có học vị TS thì cũng tự nhủ quả cũng không uổng công học hành, nghiên cứu.
Nhưng rồi khi chuyện vỡ ra mới biết bác này cũng không “ngoan” hơn các bác chưa hoặc đã bị “vỡ”. Bác ấy chống chế rằng (đại loại) chuyện bằng cấp với bác ấy không quan trọng, rằng là bác ấy học để cho gia đình và cho (kiến thức) bản thân bác ấy. Vậy mà bác ấy vẫn trưng cái bằng dỏm này ra để làm gì? Biết là nó dỏm, nó không phải là mục đích của bác ấy thì sao không cất vào đáy hòm để cho chỉ mỗi bác ấy, vợ bác ấy, và một số quan chức phê duyệt kinh phí cho bác ấy “đi học” mua cái của dỏm này biết là được?
Tớ cam đoan rằng bác ấy có ngày hôm nay là có phần (lớn) nhờ cái bằng dỏm này, trong bối cảnh nhiều đồng chí khác cũng theo con đường đó mà đi lên. Chuyện bác ấy kể khổ về quá trình học cũng chỉ là chuyện vớ vẩn. Trên hết, chẳng thấy bác ấy nói gì đến luận án nghiên cứu hay công trình khoa học đã xuất bản trong vòng có nhõn 1 năm “học” thì suy ra là bác ấy chẳng làm được cái gì sất về những cái thứ xa xỉ này, và suy ra tiếp rằng cho dù bác ấy có xin thêm được kinh phí của mấy ông gà mờ ở Việt Nam để tiếp tục “học” thêm vài ba năm nữa cho... đủ dài, đủ để lừa thiên hạ, thì bác ấy mãi mãi vẫn chẳng đủ điều kiện tối thiểu để được gọi là Tiến sĩ. Tất nhiên chỉ trừ cái trường đã cấp bằng cho bác ấy! Tớ mà là bác ấy thì thôi cứ thành thật mà nhận rằng thời của bác Ngoạn, chuyện xin học bổng nước ngoài để làm TS không dễ (dù có “tầm cỡ” như bác Ngoạn chăng nữa!) nên đành âm thầm đi đường vòng, miễn sao là đạt được mục đích có cái bằng TS về nộp cho cơ quan để “hoàn thiện” hồ sơ, chứ không dám nghĩ tới những cái mục đích khác. Không ngờ về sau mọi thứ vượt quá tầm kiểm soát (kể cả chức tước cũng đến nhanh quá, cao quá) đến mức “thay đổi về chất”, trở thành một thứ tai tiếng như bây giờ, là cái bác ấy tuyệt đối không mong muốn. Đại loại vậy.
Lại thấy có một số comment rằng bác ấy xứng đáng gọi là TS tuy chỉ có cái bằng dỏm TS, rằng đại loại vậy. Thì ngay tớ cũng phải công nhận rằng phát ngôn của bác ấy tỏ ra hơn hẳn nhiều đồng chí TS ở Việt Nam (chẳng nhẽ không hơn được những đồng chí học bổ túc cấp 2, cấp 3, một năm nhảy mấy lớp, học tiếp lên Tại chức rồi thừa thắng xông lên làm một lèo TS kiểu tương tự này?) Nhưng chuyện nào ra chuyện đó ạ. Xanh ra xanh, đỏ ra đỏ, không thì các thang giá trị trong xã hội lộn tùng phèo hết.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).