Wednesday, 18 March 2015

Áp lực tỷ giá nhìn từ động thái của các nước (Bài đăng trên CafeF, 18/3/2015)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/ap-luc-ty-gia-nhin-tu-dong-thai-cua-cac-nuoc-20150318180725058.chn


Nhiều quốc gia từ châu Âu sang châu Á, đến châu Mỹ và lan sang châu Đại Dương, không chỉ những quốc gia mà nhỏ mà còn những quốc gia có nền kinh tế lớn, có thứ hạng trên thế giới và trong khu vực như Nhật, Anh, Hàn Quốc, Trung Quốc, Brazil, Ấn Độ, Úc, Canada, Đài Loan, New Zealand, Singapore, Thái Lan, Indonesia, Malaysia v.v… đã từ sớm (trong năm 2014, đặc biệt kể từ tháng 11 hay 12/2014) hay chỉ mới đây đã phải chủ động phá giá, hoặc bắt buộc để đồng nội tệ của mình bị mất giá so với USD.
Lý do chung cho những hành động phá giá này tất nhiên là để đồng nội tệ của họ không lên giá theo một đồng USD đang mạnh lên từng ngày khi mà thời điểm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) được cho là sẽ nâng lãi suất USD đang đến gần (dự đoán là tháng 6 tới) để kiềm chế lạm phát sau khi nền kinh tế nước này đã tỏ rõ dấu hiệu hồi phục chắc chắn.

Điều cần chú ý là chủ ý chính trong việc phá giá của những nước trên không hẳn vì muốn duy trì một đồng bản tệ yếu so với USD để duy trì hay tăng tính cạnh tranh trực tiếp với doanh nghiệp nội địa Mỹ để duy trì hay tăng xuất khẩu vào Mỹ, hoặc, ngược lại, hạn chế nhập khẩu từ Mỹ vào thị trường nội địa của họ.

Vấn đề quan trọng và có tính sống còn hơn là, các nước này không muốn vì neo đồng bản tệ của họ vào USD mà làm cho đồng bản tệ của mình lên giá so với đồng bản tệ của các nước khác đã (chủ động) phá giá bản tệ của mình so với USD. Nếu để xảy ra như vậy thì xuất khẩu của họ đi khắp thế giới (không chỉ có thị trường Mỹ) sẽ bị hạn chế vì các đối thủ của mình, với một đồng bản tệ yếu hơn của họ (đều quy ra USD), có được lợi thế hơn về giá, và, do đó, giành mất thị phần xuất khẩu. Ngược lại, và cần hết sức lưu tâm, các nước có đồng bản tệ neo vào USD và lên giá so với bản tệ của các nước khác sẽ phải chứng kiến tình trạng hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu từ các nước khác trở nên cạnh tranh hơn ngay trên lãnh thổ của mình, dẫn đến những hậu quả như thu hẹp sản xuất nội địa, và gia tăng thất nghiệp.

Cần nói thêm là sẽ không tốn nhiều thời gian để cho một đồng bản tệ lên giá (so với bản tệ của các nước khác) gây ra tác động tiêu cực rõ rệt đến xuất khẩu và nhập khẩu, cũng như sản xuất nội địa như đã chỉ ra bên trên. Có không ít dẫn chứng điển hình về hậu quả của một đồng USD mạnh hơn các đồng tiền trong hầu hết phần còn lại của thế giới. Theo tin tức cho biết, Intel hồi tuần đầu tháng này đã phải cắt dự báo triển vọng doanh thu trong quý I năm nay đến gần 1 tỷ USD với một trong số những lý do là nhu cầu về máy tính cho doanh nghiệp yếu hơn dự đoán ban đầu. Trong khi đó, một doanh nghiệp thép của Mỹ, U.S.Steel, đã phải ngừng sản xuất tại một nhà máy ở Minnesota vì họ đang phải vật lộn với thép nhập khẩu giá rẻ hơn nếu quy ra USD. Trong 2 ví dụ này, tất nhiên đồng USD mạnh lên là một trong những nguyên nhân chính làm giảm tính hấp dẫn và do đó nhu cầu về hàng hóa xuất khẩu từ Mỹ, đồng thời lại góp phần mở rộng thêm cửa cho hàng nhập khẩu từ các nước khác tràn vào thị trường nội địa.

Như vậy, một đồng bản tệ mạnh, lên giá với các đồng bản tệ khác là điều mà hầu như không một quốc gia nào mong muốn. Ngay đến Mỹ, Fed cũng đã phải trù trừ, cân nhắc việc/thời điểm nâng lãi suất. Còn các nước khác thì cứ nhìn nhau để rồi, miễn cưỡng hay không, đều phải lần lượt nhảy vào cuộc chiến tranh tiền tệ - phá giá bản tệ, “làm nghèo hàng xóm” (beggar thy neighbor).

Nhìn sang Việt Nam, như đã nói trong bài trước, tình hình lại khá im ắng. Ngoài những lý do đã phân tích, vẫn còn những luồng ý kiến mới có thể là lý do để giải thích cho sự trù trừ phá giá VND.

Có người cho rằng không đủ lý do thuyết phục để phá giá VND vì dù đồng USD đang tăng giá mạnh nhưng không có nghĩa tất cả các đồng tiền khác đều bị mất giá trước USD như đồng Euro, và rằng, nhìn vào diễn biến của đồng USD phải có một cái nhìn dài hạn. Chẳng hạn như 5 năm trở lại đây đồng USD có tăng nhưng nếu so với đồng nhân dân tệ của Trung Quốc thì đang mất giá tới 10%, đồng Won của Hàn Quốc là 12%...

Đúng là không phải tất cả các đồng tiền khác đều bị mất giá trước USD. Nhưng, cũng như đã liệt kê ở trên, hầu như tất cả các nền kinh tế đáng kể trên thế giới đều phá giá bản tệ (hoặc để bản tệ mất giá), vào những thời điểm khác nhau, nhưng dồn dập từ cuối năm 2014 đến nay. Những nước còn lại có hay không phá giá thì cũng chẳng phải là điều đáng kể nữa.

Quan trọng hơn, và cũng như đã nêu dẫn chứng ở trên, tác động của phá giá hay nâng giá bản tệ lên xuất khẩu, nhập khẩu và sản xuất trong nước diễn ra nhanh chóng, có thể nói tác động này có tính thời điểm. Bởi vậy, việc đem so mức tỷ giá bây giờ với mức cách đây vài năm chẳng có nghĩa lý gì. Hơn nữa, tại sao lại chọn mốc 5 năm mà không phải là 1 năm, hay 10 năm? Mốc thay đổi sẽ làm cho bức tranh tỷ giá thay đổi, vậy thì sự so sánh kiểu này (so với quá khứ) có tác dụng gì?

Tiếp theo là ý kiến cho rằng, nếu chỉ nhìn vào biến động của cặp tỷ giá USD/Euro trên thế giới hiện nay mà phán đoán về khả năng điều chỉnh tỷ giá của ngân hàng Nhà nước là chưa có đủ cơ sở. Bên cạnh đó, thị trường xuất khẩu của Việt Nam hiện nay (kể cả xuất khẩu sang châu Âu) tuyệt đại vẫn là sử dụng đồng USD. Trong khi đó, nhìn về bức tranh ngoại hối của Việt Nam hiện nay thì dự trữ ngoại hối cũng như các nguồn cung ngoại hối khác của nước ta đang khá dồi dào, không hề có dấu hiệu khan hiếm.

Như đã nói, tác động của việc neo tỷ giá VND/USD sẽ làm cho VND mạnh lên so với bản tệ của hầu hết phần còn lại của thế giới, không chỉ có Euro. Nên, cũng như đã phân tích, việc lên giá này của VND chắc chắn sẽ tác động tiêu cực không chỉ lên xuất khẩu của Việt Nam (và không chỉ sang EU) mà còn lên cả nhập khẩu và sản xuất nội địa. Nói cách khác, phái chủ trương thúc giục NHNN phá giá không chỉ dựa vào tỷ giá USD/Euro như luồng ý kiến bên trên nêu ra một cách không chính xác, mà còn xuất phát từ thực tế là VND thực tế và thực sự đã lên giá so với rất nhiều đồng bản tệ khác do VND bị neo vào USD.

Việc nêu ra rằng xuất khẩu của Việt Nam sang châu Âu tuyệt đại đa số vẫn sử dụng USD cũng chẳng có ý nghĩa gì, vì điều quan trọng là VND neo vào USD nên lên giá so với Euro, làm cho hàng xuất khẩu của Việt Nam không cạnh tranh được với hàng sản xuất tại châu Âu nhờ đồng Euro rẻ đi so với USD (và tức là rẻ đi so với VND); ngược lại, cũng vì Euro rẻ đi so với VND nên nhập khẩu từ châu Âu vào Việt Nam sẽ tăng lên, làm khó thêm cho doanh nghiệp nội địa.

Ngoài ra, vì VND bị neo vào USD nên lên giá so với bản tệ của các đối thủ khác, hàng xuất khẩu của Việt Nam vào châu Âu còn bị “ép” thêm một cách “tức tưởi” bởi hàng xuất khẩu của các đối thủ này cũng vào thị trường châu Âu cho dù đồng tiền dùng trong các giao dịch xuất nhập khẩu với châu Âu vẫn có thể là USD.

Cuối cùng, về cái lý do dự trữ ngoại hối và các nguồn cung ngoại hối đang dồi dào nên không cần phải phá giá VND. Cần biết rằng nhiều nước đã, đang và sẽ phá giá bản tệ, đều không gặp phải vấn đề về nguồn cung ngoại tệ hay gặp áp lực lên tỷ giá vì mất cân đối cung cầu ngoại tệ theo cái nghĩa hay được hiểu ở Việt Nam. Nhưng họ vẫn phá giá và chủ động phá giá là để duy trì thị phần xuất khẩu, bảo vệ thị trường nội địa và công ăn việc làm do chính sách “làm nghèo hàng xóm” của những nước khác mang đến trong cuộc chiến tranh tiền tệ hiện nay.

Trên hết, việc nhiều nước đã, đang và sẽ phá giá bản tệ tự thân nó đã cho biết là Việt Nam hay bất cứ một nước nào khác phá giá để làm gì và có nên phá giá hay không.

 

Tuesday, 17 March 2015

Thấy gì từ việc tư nhân hào hứng mua sân bay, cảng biển (Bài đăng trên Vnexpress, 17/3/2015)

(Bài này đã bị edit lại khá nhiều, từ tiêu đề đến nội dung. Nên các đồng chí đọc đoạn nào, ý nào mà hay thì là của biên tập báo đã thêm vào, đoạn nào dở thì là của tớ)

http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/thay-gi-tu-viec-tu-nhan-hao-hung-mua-san-bay-cang-bien-3157217.html

Từ năm 2014, Việt Nam có một số động thái mới liên quan đến cổ phần hóa, tư nhân hóa quyền sở hữu và khai thác cơ sở hạ tầng giao thông, vận tải như cảng biển, sân bay và đường cao tốc. Năm nay, xu hướng huy động vốn tư nhân vào việc xây dựng, khai thác và quản lý hạ tầng giao thông vận tải tiếp tục được kỳ vọng sẽ có bước chuyển biến mạnh hơn khi Nghị định 15 về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) ra đời ngày 14/2/2015.
Nghị định này thay thế cho các quy định hiện hành, tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất và rõ ràng cho đầu tư tư nhân vào các lĩnh vực hạ tầng giao thông vận tải, trước đây chủ yếu thuộc độc quyền Nhà nước.
 
Trong số những thương vụ tư nhân hóa cơ sở hạ tầng giao thông mới đây, đáng chú ý là sự tham gia của các nhà đầu tư ngoài ngành. Không quá ngạc nhiên khi Vietnam Airlines, Vietjet Air và Jetstar Pacifice Airlines sốt sắng đề nghị mua lại hay nhận quyền khai thác sân bay và nhà ga ở Nội Bài, Phú Quốc và Đà Nẵng, bởi khi không còn độc quyền nhà nước quản lý, họ không thể để chuyện kinh doanh của mình phải lụy một ông tư nhân nào. Thú vị nằm ở chỗ 2 tập đoàn tư nhân ngoài ngành như Vingroup hay T&T cũng tỏ ra quyết liệt không kém khi đề nghị mua lại cả sân bay và cảng biển.
cang-hai-phong.jpg
Cảng Hải Phòng đang được nhà đầu tư tư nhân để mắt đến.
 
Vingroup và T&T hiện đều chưa phải là những nhà vận hành cảng biển hay sân bay chuyên nghiệp, cũng chưa có hoạt động sản xuất kinh doanh gắn bó mật thiết với việc sở hữu và vận hành, khai thác những dịch vụ này. Do vậy, một câu hỏi đặt ra là động lực nào để hai ông lớn này sở hữu các cơ sở hạ tầng giao thông, như với trường hợp Vietnam Airlines hay Vietjet Air muốn mua Nội Bài hay Phú Quốc.
 
Với Vingroup, có ngoại lệ do họ tiếp quản cảng Nha Trang từ tay Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) khi chuyển giao về cho địa phương theo yêu cầu của Chính phủ. Nhưng việc này mới diễn ra từ nửa sau năm 2014, nên cần thời gian để chứng minh hiệu quả hoạt động của tập đoàn này trong lĩnh vực cảng biển.
 
Điểm chung của hai doanh nghiệp này và có thể có chút liên quan đến việc mua lại các cảng biển và sân bay có lẽ chỉ là chuyện họ là những đại gia trong lĩnh vực bất động sản. Điều này có thể tạo nên ý kiến liên tưởng đến khả năng mua cảng rồi chuyển đổi công năng thành dự án bất động sản như Tân Cảng. Tuy nhiên, trong trường hợp này có lẽ không hẳn như vậy.
 
Trong đề xuất của Vingroup gửi Bộ Giao thông vận tải về chủ trương đầu tư, tập đoàn này bày tỏ mong muốn điều hành, quản lý và khai thác Cảng Sài Gòn và Hải Phòng. Song song với đó, họ cũng cho biết sẽ áp dụng các mô hình quản trị tiên tiến trong việc quản lý và vận hành hai cảng này nhằm nâng cao công suất bốc dỡ, cải thiện hiệu quả kinh doanh,làm đầu mối vận chuyển hàng hóa và điều hành hoạt động xuất nhập khẩu. Hay như ở T&T, đơn vị này khi đặt vấn đề mua cảng hàng muốn thay thế Nhà nước làm cổ đông chi phối cảng Quảng Ninh đã cam kết phát triển kinh doanh cảng theo đúng định hướng của cơ quan quản lý và không chuyển nhượng cho đối tác khác trong 5 năm.
 
Đối với nhà đầu tư nước ngoài, một trường hợp hay được nhắc đến trong việc mua cơ sở hạ tầng giao thông vận tải là Công ty Cổ phần Đầu tư Việt Nam - Oman (VOI), một liên doanh giữa quỹ dự trữ quốc gia Oman và Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC). VOI đã đặt vấn đề mua 100% cảng Hải Phòng và cho biết lý do là ngoài năng lực tài chính dồi dào, họ còn nhiều quan hệ mật thiết với nhiều cảng và hãng tàu thế giới, có kinh nghiệm thiết kế đến vận hành khai thác cảng.
 
Qua tuyên bố của Vingroup và VOI như trên, có thể thấy các nhà đầu tư tiềm năng này đã nhìn ra những “điểm nghẽn” làm hạn chế khả năng sinh lời của những công trình hạ tầng khi thuộc sở hữu Nhà nước 100%. Đó là sự thiếu vốn để tái đầu tư, mở rộng và nâng cấp cơ sở vật chất và phần mềm, yếu kém về quản trị và điều hành doanh nghiệp, cũng như yếu kém về marketing, kết nối và khai thác thị trường.
 
Nói cách khác, những nhà đầu tư tiềm năng này có thể coi là những nhà đầu tư tài chính đơn thuần để phân biệt với những nhà đầu tư vì nhu cầu phát sinh từ lĩnh vực sản xuất kinh doanh hiện tại, như Vietnam Airlines. Họ để mắt đến cảng biển và sân bay vì tự tin rằng nếu dùng tiềm lực tài chính mạnh của mình để thay đổi cách quản lý, hoạt động thì các công trình chắc chắn sẽ ăn nên làm ra.
 
Như vậy, có thể khẳng định rằng một bộ phận lớn nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước để mắt đến các công trình hạ tầng cơ sở giao thông của Việt Nam chủ yếu vì họ nhìn thấy tiềm năng phát triển, sau khi rót thêm vốn, trang bị mô hình quản lý hiện đại…, nhờ đó sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn trong tương lai. Khi đó, không những thu lợi nhuận đều đều từ hoạt động của các công trình này mà họ còn có khả năng thu lời lớn hơn khi bán lại phần vốn trong các dự án sau một thời gian nhất định, do giá trị công trình đã tăng lên nhờ tình hình kinh doanh thuận lợi hơn. Do vậy, có thể nói rằng khả năng sinh lợi là yếu tố chính thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư ngoài ngành vào các dự án cơ sở hạ tầng.
 
Cũng từ nhận định trên, điều rút ra cho quá trình cổ phần hóa, tư nhân hóa các doanh nghiệp Nhà nước, các công trình hạ tầng giao thông vận tải hiện nay là không nhất thiết phải yêu cầu các doanh nghiệp Nhà nước tìm đối tác chiến lược là các doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước cùng ngành nghề, như là một yêu cầu chính trong việc lựa chọn đối tác. Điều quan trọng cần xem xét là liệu những đối tác tiềm năng này sẽ mang đến những gì, sẽ làm được gì và như thế nào để cải thiện được chất lượng và hiệu quả hoạt động của các công trình cơ sở hạ tầng giao thông vận tải trong tương lai.

Saturday, 14 March 2015

Chính sách tỷ giá của NHNN: Tiến thoái lưỡng nan (Bài đăng trên CafeF, ngày 14/3/2015)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/chinh-sach-ty-gia-cua-nhnn-tien-thoai-luong-nan-20150313233538702.chn
 
Tin tức về sự mất giá của đồng nội tệ so với USD của khu vực và trên thế giới, đặc biệt là sự lao dốc của đồng euro, đến liên tục và dồn dập trong thời gian ngắn gần đây đã làm không ít quốc gia khác chưa phá giá nội tệ ngày càng lo ngại. Một số trong số này, như Thái Lan mới hôm trước đây, cuối cùng thì cũng đã nhận thấy cái giá phải trả nếu không gia nhập cuộc chơi phá giá, và đã có những động thái nới lỏng chính sách tiền tệ thông qua hạ lãi suất để làm yếu đồng nội tệ của mình nhằm thúc đẩy xuất khẩu và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Nhưng tình hình ở Việt Nam xem ra lại khá im ắng một cách bất ngờ và đáng…khâm phục! Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thì đương nhiên là vẫn “kiên định” với chính sách tỷ giá ổn định (tỷ giá VND/USD không biến động quá 1-2% trong cả năm 2015) mà ông Thống đốc đã đặt ra từ đầu năm, làm cho tỷ giá VND/USD cứ rập rình lúc tăng, lúc lại giảm, không thể bứt phá lên được. Trong khi đó, một kiến nghị từ một tổ chức nghiên cứu đề xuất phá giá VND, dù chỉ là ở mức rất nhỏ, một vài điểm phần trăm cho cả 2,3 năm tới, đã bị dư luận và giới chuyên gia “quật” cho không thương tiếc, làm cho một vài tiếng nói tương tự từ một vài cá nhân khác rơi tõm vào hư không…

Điều hài hước là những ý kiến phản bác phá giá VND tuy đã rất cũ và sai lầm nhưng vẫn cứ “bổn cũ soạn lại”, được các chuyên gia có tiếng tăm đem ra để trấn áp cái kiến nghị phá giá xem ra nhiều phần yếu thế hơn.

Ngoài những sai lầm hiển nhiên từ góc độ kiến thức kinh tế học cơ bản, kiểu như tỷ trọng đầu vào nhập khẩu của hàng hóa Việt Nam lớn nên phá giá không có lợi ích gì cho xuất khẩu v.v…cũng có vài ý kiến phản bác mang tính ngụy biện cao mà bình thường nếu nghe lướt qua thì cứ tưởng là đúng. Chẳng hạn như ý kiến cho rằng tỷ giá bây giờ là phù hợp, không cần phá giá nữa, vì tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam vẫn ở mức khả quan, Việt Nam vẫn đạt thặng dư thương mại trong thời gian qua. Tính ngụy biện nằm ở chỗ, nếu VND yếu hơn nữa so với USD thì xuất khẩu của Việt Nam còn tăng trưởng mạnh hơn thế nữa, và/hoặc thặng dư thương mại còn lớn hơn nữa. Chẳng lẽ Việt Nam không cần tăng trưởng xuất khẩu nhanh hơn, thặng dư thương mại lớn hơn ư?

Cũng có những phân tích mang tính cơ bản hơn một chút khi đưa ra những căn cứ để cho thấy tỷ giá ổn định là có cơ sở, chủ yếu xuất phát từ quan hệ cung cầu USD (được dự đoán là ổn định trên thị trường Việt Nam). Nhưng kiểu phân tích này mới chỉ nhìn từ góc độ phòng bị, bảo vệ tỷ giá mà bỏ qua góc độ chủ động dùng tỷ giá như một công cụ chính sách kinh tế sắc bén. Cụ thể hơn, trong bối cảnh các nước trong khu vực và trên thế giới, bao gồm cả những đối thủ trường kỳ và nặng ký của Việt Nam như Trung Quốc và ASEAN, thi nhau hạ giá nội tệ của họ để dành thị phần xuất khẩu, không lẽ Việt Nam nên chăm chăm bảo vệ sự ổn định của tỷ giá, không có chủ động phá giá để cho các đối tác này giành mất thị trường xuất khẩu hay sao?

Tất nhiên, NHNN và những người ủng hộ chủ trương không phá giá có thể trưng ra cái lý do là ổn định tỷ giá sẽ ổn định niềm tin vào VND và, tức là, ổn định được lạm phát và kinh tế vĩ mô. Trong khi đó, nếu phá giá VND sẽ mang đến kết cục ngược lại, dù xuất khẩu và, do đó, tăng trưởng GDP sẽ tăng lên. Nói cách khác, có thể với họ, đây là 2 mục tiêu có tính đánh đổi, chứ không thể có sự dung hòa với nhau; và với họ thì mục tiêu ổn định vẫn là ưu tiên hơn nên họ muốn/phải chọn giữ ổn định tỷ giá.

Nhưng nếu thực sự họ quan niệm như thế thì hoàn toàn sai lầm. Ổn định tỷ giá VND trong bối cảnh các nước đang thi nhau phá giá bản tệ (mà theo kinh tế học gọi là hành vi xuất khẩu thất nghiệp sang các nước khác) sẽ tác động tiêu cực trực tiếp lên xuất khẩu của Việt Nam, đồng thời lại khuyến khích nhập khẩu, đè chết doanh nghiệp/hàng hóa nội địa. Một loạt hậu quả nguy hại sẽ nảy sinh, bao gồm tăng trưởng GDP chậm lại, thất nghiệp gia tăng, thâm hụt thương mại gia tăng gây áp lực phá giá lên ngay chính VND v.v… Liệu pháp điều trị căn bản cho nền kinh tế trong tình huống này chủ yếu vẫn chỉ là phải chấp nhận phá giá VND, theo cuộc chơi của các đối thủ để lấy lại những gì đối thủ đã lấy từ phía mình. Nói cách khác, trong bối cảnh các nước khác đang phá giá bản tệ thì sự ổn định tỷ giá nói riêng và ổn định tỷ giá vĩ mô nói chung ở Việt Nam, nếu có, chỉ là một hiện tượng mang tính tạm thời, chắc chắn sẽ sớm mất đi.

Ngoài lý do trên, cũng có thể còn một lý do nữa để NHNN lựa chọn giữ ổn định tỷ giá vì muốn tái khẳng định và duy trì lòng tin của dân chúng vào chính sách của NHNN, vào uy tín của cơ quan này, với phương châm “nói là làm” (họ nói ổn định tỷ giá thì họ sẽ ổn định tỷ giá). Nếu đúng vậy thì đây chính là một nguồn cơn cho tình trạng “tiến thoái lưỡng nan” của NHNN. Một mặt như trên đã phân tích, có thể bản thân NHNN cũng đã nhận ra sự bất ổn của cái thế “ổn định” hiện nay, nhưng, mặt khác họ lại bị mắc kẹt vào cam kết không phá giá VND quá 2% của chính mình, nên dù biết là cần thiết thì NHNN cũng không thể phá giá VND ở mức đáng kể như các nước khác đã làm.

Friday, 13 March 2015

Phải chấp nhận giá điện tăng thôi! (Bài đăng trên CafeF, 13/3/2015)

http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/phai-chap-nhan-gia-dien-tang-thoi-20150313083843927.chn

Chính phủ đã chính thức đồng ý điều chỉnh giá bán điện tăng 7,5%, tương ứng giá bán điện bình quân 1.622,05 đồng/kWh từ ngày 16/3/2015. Theo chính phủ, việc tăng giá điện lần này đảm bảo các yêu cầu EVN không bị lỗ; đảm bảo khả năng phấn đấu đạt mức tăng trưởng GDP 6,2% và bảo đảm kiểm soát lạm phát khoảng 5% v.v...

Cũng như những lần tăng giá điện trước, tất nhiên lần tăng giá điện lần này cũng vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của nhiều giới, nhiều người, vì chắc chắn giá điện tăng, cũng tương tự như khi giá xăng dầu tăng, sẽ ít hay nhiều đều làm tăng giá thành sản phẩm và dịch vụ, và rốt cuộc sẽ đổ lên đầu người tiêu dùng và gia tăng áp lực lạm phát trong nền kinh tế.

Tuy nhiên, cách thức và những luận cứ phản đối của những người phản đối này đáng tiếc là không có nhiều sức thuyết phục.

Có người cho rằng nếu buộc phải tăng giá điện thì không nên tăng cao quá, mà nên có lộ trình, mỗi lần tăng trên dưới 5% là được. Nhưng nếu nói như thế này thì EVN, hay cao hơn là Bộ Công thương và các bộ liên đới trong việc quyết định giá điện, có thể trưng ra Quyết định 2165/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ để phản biện lại. Theo Quyết định này thì từ năm 2013 đến 2015 giá bán lẻ điện bình quân sẽ được điều chỉnh nhưng cao nhất không vượt quá mức tối đa là 1.835 đồng/kwh. Như thế, EVN và các bộ sẽ có cớ để nói rằng họ đã rất “thận trọng” và “cân nhắc” trong việc tăng giá điện, khi giá điện lần này tuy tăng tới 7,5% nhưng mới chỉ tăng lên 1,622 đồng/kwh, còn thấp xa so với mức được phép tăng. Hơn nữa, EVN cũng đã khẳng định chắc sẽ không có đợt tăng giá điện thứ hai trong năm nay. Như thế thì thậm chí EVN và bộ ngành liên quan còn được tiếng là đã “quyết liệt”, nỗ lực khống chế mức tăng giá điện hơn cả mức đã được phép, vì quyền lợi của cả nền kinh tế!

Cũng có người cho rằng nếu EVN thực hiện yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ giảm bớt hao hụt đường dây, nâng cao năng suất lao động, giảm biên chế, sẽ bớt lỗ. Làm được như vậy, giá điện sẽ ít bị tăng. Cũng lại đáng tiếc rằng luồng ý kiến này cũng chỉ là kiểu nói cảm tính, vì đã không đưa ra được một bằng chứng nào vạch ra chuyện EVN không nỗ lực, không nghiêm túc thực hiện những nhiệm vụ này. Trong khi đó, ít ra thì EVN đã có những buổi giải trình với nhiều số liệu và dẫn chứng cho thấy họ đã tạo ra cạnh tranh, cắt giảm biên chế, tăng năng suất lao động, tăng chất lượng dịch vụ v.v... Tất nhiên, vấn đề còn lại là liệu những bằng chứng và dẫn giải của EVN có mức độ xác tín đến đâu. Nhưng trong chừng mực mà không có một ai khác chứng minh được rằng EVN đã lừa dối cả xã hội thì chúng ta buộc phải tin và chấp nhận những điều này như là sự thật mà thôi.

Tương tự như vậy là luồng ý kiến cho rằng thời điểm này, tất cả các tài nguyên trong nước đều còn nhiều: nước không thiếu, xăng dầu giảm giá hơn một năm qua... như vậy, không thể nói rằng chi phí sản xuất của ngành điện tăng lên. Tăng giá điện lại phụ thuộc vào các chi phí như chi phí nhân công, sản xuất thì có vẻ hơi lạ.

Dễ thấy rằng luồng ý kiến này cũng mang nặng cảm tính, và EVN cũng như một số chuyên gia trong ngành đã có những giải trình và dẫn chứng cho thấy chi phí thực sự đã tăng lên (chẳng hạn sản lượng điện chạy dầu chiếm tỷ trọng nhỏ, trong khi giá than và khí đã tăng lên v.v...). Đương nhiên là nếu không đưa ra được bằng chứng chắc chắn cho thấy giá thành điện không tăng hoặc không đến mức 7,5% thì ta chỉ còn cách chấp nhận thực tế này (giá thành sản xuất điện đã tăng) mà thôi.

Cũng có người phàn nàn rằng trong lúc giá dầu vừa giảm, chi phí đầu vào một số ngành sản xuất vừa giảm chút ít, doanh nghiệp chưa kịp mừng thì thông tin tăng giá điện khiến các doanh nghiệp thêm phần lo âu trở lại. Và rằng, mỗi khi EVN đề xuất tăng giá điện thì cuối cùng vẫn được nhà nước chấp thuận, các ý kiến phản biện của các chuyên gia kinh tế dường như không có tác dụng gì.

Những ý kiến kiểu này không có tác dụng gì hết. Thay vì, như đã nói, cần đưa ra những bằng chứng chắc chắn để buộc tội EVN đã nâng giá điện một cách vô lý, họ lại cố gắng dùng đến vòng kim cô “trách nhiệm xã hội” để làm EVN “chùn tay” trong việc tăng giá điện. Nếu thật sự trên thực tế EVN đang chịu lỗ (từ cả các năm trước) thì không phải là bất công hay sao khi kêu gọi EVN phải “nghĩ” đến các doanh nghiệp khách hàng? Khách hàng của EVN “lo âu” vì chi phí tăng lên, không lẽ EVN không được và không nên “lo âu” vì sẽ bị (tiếp tục) lỗ khi không tăng giá điện hay sao? Phản biện của các chuyên gia đúng là sẽ chẳng có tác dụng gì nếu phản biện đó cảm tính, hời hợt như đã phân tích ở trên. Như thế thì nhà nước chấp thuận đề xuất tăng giá điện của EVN với những bằng chứng thuyết phục là điều chẳng có gì đáng phê phán.

Liên quan đến “trách nhiệm xã hội” này là một lập luận cho rằng, hiện nay sức mua cũng như sức khỏe nền kinh tế vẫn chưa thực sự phục hồi. Trong lúc nhà nước cứ hô hào kêu doanh nghiệp tăng cường năng lực cạnh tranh mà giá đầu vào sản xuất cứ tăng như giá điện thì sẽ rất khó cho doanh nghiệp.

Không cần nói đến sự vô lý nếu thực sự EVN đang lỗ mà lại đòi hỏi nó phải hy sinh vì quyền lợi của các doanh nghiệp khác, mà chỉ cần phản biện lại rằng nếu EVN thực sự bị lỗ mà nhà nước nghe theo những lời phản đối này để không cho EVN tăng giá điện thì rốt cuộc nhà nước sẽ lại phải bù lỗ bằng cách này hay cách khác, nếu không muốn EVN phá sản. Mà khi đã phải bù lỗ thì rốt cuộc mọi chi phí cũng sẽ lại đổ lên đầu doanh nghiệp và người tiêu dùng dưới hình thức tăng thuế, phí, hoặc tăng gánh nợ quốc gia mà người chi trả cuối cùng cũng vẫn là doanh nghiệp và dân chúng.

Và cuối cùng là một luồng ý kiến đòi hỏi EVN phải giải trình tại sao lại làm ăn thua lỗ, con số lỗ cụ thể, chứ không thể giấu nhẹm đi các số liệu liên quan để rồi báo lỗ và đòi tăng giá điện như vậy.

Nhưng, như đã nói ở trên, không chỉ EVN và cả các cơ quan quản lý liên đới đã có những giải trình bằng con số ở nhiều mức độ khác nhau. Quan trọng hơn, những người phản đối đứng trước những con số này lại không xoáy được vào mức độ chính xác, khả tín của chúng, mà lại xoay sang dùng những lý lẽ cảm tính như trên để mong nói chuyện “phải quấy” với EVN!

Bản thân người viết, tuy không có điều kiện để kiểm chứng các con số giải trình của EVN và các cơ quan chủ quản, nhưng dựa vào những bằng chứng thô sơ để cho rằng sự tăng giá của EVN là điều phải/nên chấp nhận. Lần cuối cùng EVN được tăng giá điện là vào thời điểm tháng 8/2013. Nếu đến tháng này EVN mới được tăng giá điện lên thêm 7,5%, thì mức tăng này thậm chí còn nhỏ hơn mức tăng CPI trong thời gian từ 8/2013 đến 3/2015. Với giả thiết (một cách hợp lý) rằng chi phí sản xuất điện tăng theo mức CPI thì việc tăng giá điện 7,5% là điều không có gì quá đáng.

Người viết cũng đã tham dự một vài hội thảo về năng lượng để biết được giá mua điện của EVN đang ở mức thấp, không khuyến khích được nguồn cung điện, đặc biệt là từ những nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng xanh. Nếu sau khi tăng giá bán điện mà EVN cũng tăng giá mua điện thì đây là điều rất đáng khuyến khích.

Và cũng cần nói thêm một điều để thay cho lời kết là qua các cuộc phỏng vấn nhiều doanh nghiệp thép Việt Nam và nước ngoài, người viết thấy một trong những yếu tố thu hút các doanh nghiệp thép nước ngoài đến Việt Nam là giá điện ở Việt Nam thấp, và vì thế không có gì lạ khi năng lực sản xuất thép ở Việt Nam hiện nay vượt xa so với nhu cầu tiêu thụ. Bởi vậy, một sự tăng giá điện hợp lý là điều cần thiết để cơ cấu lại nền kinh tế nói chung và các ngành tiêu hao nhiều năng lượng nói riêng theo hướng xanh, sạch và bền vững hơn.

Tuesday, 10 March 2015

Hạ lãi suất là trách nhiệm của ai và như thế nào? (Bài đăng trên CafeF, 10/3)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/ha-lai-suat-la-trach-nhiem-cua-ai-va-nhu-the-nao-20150310155436225.chn
 
Mới đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã công bố kế hoạch tiền tệ cho năm 2015. Một trong những điều thu hút được sự quan tâm nhiều nhất của dư luận là chuyện NHNN có kế hoạch giảm tiếp mặt bằng lãi suất cho vay trung, dài hạn từ 1 - 1,5 điểm %/năm. Xung quanh định hướng này có 3 vấn đề đáng nói.

Vấn đề đáng nói đầu tiên là dường như việc giảm lãi suất này lại được cho là trách nhiệm của và phụ thuộc vào ý chí của các ngân hàng thương mại (NHTM), là quả bóng nằm trong chân các NHTM này. Cần phải khẳng định luôn rằng điều hành lãi suất như thế nào và muốn mặt bằng lãi suất trong nền kinh tế ở mức bao nhiêu v.v... luôn là trách nhiệm và cũng là quyền năng của NHNN với tư cách là một ngân hàng trung ương.

Cụ thể, khi NHNN nhận thấy rằng lãi suất trong nền kinh tế đang ở mức cao quá mức, gây tổn hại cho tăng trưởng kinh tế và việc làm do nhiều chủ thể kinh tế bị lãi suất đi vay cao làm cho nản lòng, không muốn vay mượn để chi cho tiêu dùng và đầu tư nữa, điều NHNN có thể làm là nới lỏng chính sách tiền tệ, tức là bơm thêm tiền vào nền kinh tế, với hy vọng lãi suất đến tay người đi vay sẽ giảm đi theo mong muốn của NHNN. Tất nhiên, để quyết định mức bơm tiền thêm vào nền kinh tế là bao nhiêu và trong bao lâu sẽ là phù hợp, NHNN phải xem xét và cân nhắc một loạt các chỉ số vĩ mô như tăng trưởng GDP hiện tại, tăng trưởng GDP tiềm năng, lạm phát hiện tại, (chính sách) tỷ giá, cán cân thương mại và vốn, cũng như mức độ hấp thu vốn của nền kinh tế v.v...

Việc cân nhắc những chỉ số vĩ mô trên là điều thiết yếu để có được một chính sách lãi suất phù hợp với các biến số kinh tế vĩ mô khác trong khuôn khổ một chính sách phát triển kinh tế tổng thể của đất nước trong từng thời kỳ. Để cho dễ hình dung, hãy xem 2 ví dụ sau.

Ví dụ thứ nhất. Giả sử lạm phát ở Việt Nam vẫn đang ở mức cao so với mức trung bình của khu vực và thế giới, trong khi tăng trưởng GDP đã tiệm cận với hoặc vượt mức tăng trưởng GDP tiềm năng. Lúc này, vì NHNN cho rằng (hoặc do bị áp lực từ dư luận buộc phải tin rằng) mặt bằng lãi suất cho vay ở Việt Nam quá cao so với khu vực và thế giới (lưu ý, đây là điều hiển nhiên, và là hậu quả tất yếu của lạm phát cao), nên NHNN lại bơm mạnh cung tiền để hạ lãi suất thì việc hạ lãi suất sẽ hun nóng thêm nền kinh tế, và chủ yếu dẫn đến các cơn sốt về bất động sản, vàng và chứng khoán và làm lạm phát gia tăng mạnh hơn nữa, trong khi tăng trưởng GDP hầu như không tăng thêm vì đã tiệm cận hoặc vượt quá tăng trưởng GDP tiềm năng.

Ví dụ thứ hai. Với định hướng chính sách tỷ giá ổ định trong cả thời gian dài tính bằng năm để khôi phục lòng tin vào tiền đồng, nếu NHNN lại nới lỏng chính sách tiền tệ để hạ lãi suất thì việc này vô hình trung lại gây ra tác động phá vỡ sự ổn định của tỷ giá mà NHNN mong muốn và đang nỗ lực thực hiện, do VND trở nên kém hấp dẫn hơn so với USD và xui khiến người có tiền chuyển sang nắm giữ USD thay vì VND.

Qua 2 ví dụ để thấy lạm phát chỉ là một trong nhiều yếu tố quan trọng để (NHNN) xem xét liệu có nên hạ lãi suất nữa hay không. Xét trên ý nghĩa này, sẽ là sai lầm và phiến diện khi NHNN tuyên bố “điều chỉnh (lãi suất) theo diễn biến CPI”, mà quên đi diễn biến và sự ràng buộc của các biến số vĩ mô khác như trong 2 ví dụ trên. Bởi vậy, cho dù hiện nay CPI vẫn đang theo xu hướng giảm nhưng không thể chỉ vì thế mà NHNN lại nới lỏng thêm chính sách tiền tệ để hạ lãi suất. Hậu quả nhãn tiền có thể nhìn thấy trước nếu NHNN nới lỏng tiền tệ để hạ lãi suất vào thời điểm này sẽ là việc nó phải chấp nhận để VND bị mất giá mạnh hơn mức 1%-2% trong cả năm nay mà nó đã tuyên bố. Và cũng bởi những lý do như thế này nên sẽ không ngạc nhiên khi NHNN vẫn phải tiếp tục thận trọng với nới lỏng chính sách tiền tệ mặc dù tuyên bố sẽ giảm lãi suất cho vay trung và dài hạn.

Vấn đề đáng nói thứ hai liên quan đến sự sai biệt kỳ hạn giữa vốn huy động và cho vay ở các NHTM. Người ta cho rằng nếu NHNN tăng cung tiền vào nền kinh tế thì thường đây là vốn ngắn hạn (ví dụ, thông qua cho vay tái chiết khấu với kỳ hạn ngắn). Bởi vậy, dù cung tiền có tăng lên và chảy vào hệ thống ngân hàng thì các NHTM cũng chỉ có thêm một nguồn vốn chủ yếu là ngắn hạn mà thôi. Cộng thêm với thực tế là vốn huy động từ tiền gửi tại các NHTM cũng có một tỷ trọng áp đảo là tiền gửi ngắn hạn, nên cho dù có hạ lãi suất huy động để làm tiền đề hạ lãi suất cho vay trung và dài hạn thì các NHTM cũng không thể có đủ nguồn vốn cho việc này, làm cho lãi suất cho vay trung và dài hạn khó mà giảm đi được.

Nhưng tình hình sẽ không xảy ra đúng như trên nếu, thay vì tăng cung tiền và bơm thanh khoản trong ngắn hạn, NHNN tuyên bố sẽ hành động theo một kịch bản tương tự, ví dụ như Chương trình nới lỏng định lượng của Ngân hàng dự trữ Liên bang Mỹ (FED), theo đó gia tăng cung tiền sẽ được duy trì trong thời hạn kéo dài hàng năm. Lúc này, các khoản vốn của NHNN cấp cho nền kinh tế mang tính trung và dài hạn, tạo điều kiện để các NHTM có được nguồn vốn cho vay mang tính trung và dài hạn với lãi suất thấp. Người gửi tiền, với kỳ vọng lãi suất không chỉ ngắn hạn mà cả trung và dài hạn sẽ ổn định theo hướng bị hạ thấp dần đi, sẽ có xu hướng chọn kỳ hạn trung và dài hạn hơn ngay từ bây giờ để được hưởng lãi suất hấp dẫn hơn so với gửi ở thời điểm sau này.

Tất nhiên, cần lặp lại rằng NHNN có nên thực thi những chính sách nới lỏng kiểu này hay không vẫn phải phụ thuộc vào nhiều biến số vĩ mô như nêu ở bên trên. Nhưng thông điệp ở đây là sự chênh lệch kỳ hạn huy động và cho vay vẫn có thể khắc phục được nếu NHNN thực sự mong muốn (và có thể) hạ lãi suất cho vay trung và dài hạn. Nói ngược lại, nếu NHNN không có động thái hỗ trợ gì về nguồn vốn và lãi suất thì không thể yêu cầu lãi suất cho vay trung và dài hạn giảm đi được.

Vấn đề đáng nói thứ ba về định hướng hạ lãi suất trung và dài hạn của NHNN là phản ứng của các NHTM trước mỗi hành động chính sách của NHNN. Cứ như quan niệm hiện nay của nhiều người thì NHTM có trách nhiệm và nghĩa vụ tuân thủ đúng theo định hướng của NHNN. Nói cách khác, họ cho rằng nếu NHNN ra định hướng từ đầu năm nay rằng sẽ giảm lãi suất cho vay trung và dài hạn thì có nghĩa là các NHTM phải phấn đấu và nỗ lực giảm lãi suất cho vay trung và dài hạn của mình. Nếu không làm được như vậy thì các NHTM sẽ bị buộc tội là không tuân thủ định hướng của NHNN, không có trách nhiệm, không có thiện chí, hoặc vô cảm với nền kinh tế và xã hội v.v...

Trên thực tế, NHTM chỉ nên và phải hành động theo những tín hiệu thị trường, một phần do NHNN tạo ra. Nếu NHNN muốn hạ lãi suất thì nó phải chủ động thực hiện việc này bằng quyền năng và những công cụ chính sách hữu hiệu của mình, chứ không phải bằng cách yêu cầu, bắt buộc, hay “vận động”, thuyết phục các NHTM phải hạ lãi suất cho vay của chúng. Nếu gặp hoàn cảnh thuận lợi và “đầy thiện chí”, chẳng hạn như khi NHNN tăng cung vốn trung và dài hạn với lãi suất thấp, thì các NHTM cũng có thể hạ lãi suất cho vay của mình. Trong bối cảnh thuận lợi như vậy, nếu có NHTM nào đó không chịu hạ lãi suất cho vay thì nó sẽ tự động bị thị trường cạnh tranh tự do đào thải, do các NHTM khác sẵn sàng hạ lãi suất cho vay.

Nếu vì một lý do nào đó mà các NHTM miễn cưỡng, hoặc không thể hạ lãi suất cho vay được kể cả khi bị NHNN yêu cầu, bắt buộc, hay “vận động”, thì phải hiểu rằng đó không hẳn là chúng không có thiện chí, hoặc “không tuân lệnh” của NHNN. Có nhiều lý do cho việc các NHTM không hạ lãi suất cho vay được, ví dụ như NHNN không cung cấp đủ nguồn vốn cho vay trung và dài hạn (với lãi suất thấp), NHTM đang bị “vướng” nợ xấu và, do đó, cần một nguồn vốn đáng kể giữ lại (không cho vay) để xử lý nợ xấu v.v... Vì thế, không thể chỉ căn cứ vào hiện tượng, ví dụ, trong khi tiền gửi trong hệ thống ngân hàng tăng 16,31% năm 2014 thì cho vay ra chỉ tăng trên 14%, để kết luận rằng hệ thống ngân hàng đang ứ đọng, dư thừa thanh khoản, nhưng  các NHTM không thiện chí, không chịu hạ lãi suất cho vay nói chung và cho vay trung, dài hạn nói riêng.

Nói tóm lại, trong cả 3 vấn đề nêu ra bên trên ta đều thấy vai trò quyết định của NHNN trong việc hạ lãi suất cho vay trung và dài hạn ở Việt Nam. Nếu vì một lý do nào đó mà lãi suất cho vay trung và dài hạn không giảm đi theo đúng định hướng của NHNN thì đó hoàn toàn là trách nhiệm của NHNN chứ không phải của NHTM, cũng như không nên trông chờ hay đá quả bóng trách nhiệm sang các NHTM.

 

 

Friday, 6 March 2015

Giảm phát: Đừng để quan niệm sai lầm xui khiến (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, ngày 7/3/2015)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=342869

Một diễn biến đáng chú ý của nền kinh tế trong tháng 2.2015 là lần đầu tiên sau nhiều năm, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2 – tháng có Tết Nguyên đán – giảm so với tháng trước. Đây cũng là tháng thứ tư liên tiếp chứng kiến CPI giảm. Như thường lệ, dư luận lại tiếp tục lo ngại đây là dấu hiệu giảm phát của nền kinh tế. Và theo lẽ thông thường, một khi nền kinh tế bị rơi vào tình trạng giảm phát thì người ta thường tự động nghĩ ngay đến các biện pháp kích thích kinh tế, gồm kích thích chi tiêu của dân chúng và Chính phủ, thông qua nới lỏng chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa để CPI tăng trưởng ở mức dương trở lại.
 
Lý do để người ta hay gắn chuyện giảm phát với kích thích chi tiêu vì người ta tin rằng giảm phát là hậu quả của việc tổng cầu yếu, mà đến lượt nó lại một phần do chi tiêu suy yếu của dân chúng và Chính phủ yếu hoặc suy giảm tạo nên. Tổng cầu yếu hoặc suy giảm thì đương nhiên sẽ đồng nghĩa với tăng trưởng GDP yếu hoặc suy giảm. Bởi thế, giảm phát thường được coi là một điều có hại, cần phải tích cực phòng chống mỗi khi nền kinh tế có triệu chứng giảm phát, và biện pháp phòng chống chủ yếu vẫn là thông qua kích thích chi tiêu nhằm tăng tổng cầu của nền kinh tế.
 
Cũng cần lưu ý rằng, hiện vẫn có quan chức định nghĩa giảm phát là do tình trạng cung vượt cầu. Đây là cách hiểu sai lầm về giảm phát. Theo cách hiểu chính thống, giảm phát là hiện tượng giá cả giảm đi, hay nói cách khác, lạm phát tăng trưởng ở mức âm.
 
Lý thuyết là như vậy, và đúng là nếu muốn tiếp tục có tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng thu nhập và việc làm thì phải nuôi dưỡng tổng cầu, không được để tổng cầu suy yếu kéo theo giảm phát xảy ra. Nhưng trên thực tế, cái gọi là giảm phát ở Việt Nam hiện nay có bản chat hoàn toàn khác với lý thuyết nói ở trên.
 
Hãy khoan nói đến tổng cầu có yếu hay không ở Việt Nam. Cần phải nhấn mạnh ngay rằng sẽ là một thiếu sót, sai lầm lớn nếu chỉ quy hiện tượng CPI giảm là do duy nhất tổng cầu yếu. CPI tổng thể (của cả một rổ hàng hóa và dịch vụ trong cả nền kinh tế) giảm còn có thể là vì CPI của một, hay một số hàng hóa và dịch vụ trong cả rổ hàng hóa và dịch vụ được dùng để tính CPI tổng thể suy giảm mạnh hơn sự gia tăng CPI của những hàng hóa và dịch vụ còn lại.
 
Cụ thể hơn, trong trường hợp của Việt Nam thời gian qua, trong rổ hàng hóa và dịch vụ dùng để tính CPI tổng thể, hầu như chỉ có nhóm vận tải, nhà ở và vật liệu xây dựng có CPI giảm, song hành với sự sụt giảm của giá dầu thô thế giới. Các nhóm hàng hóa, dịch vụ còn lại hầu như đều tăng  so với các tháng cùng kỳ của năm 2014. Nếu chỉ căn cứ vào CPI để suy ra tình trạng tổng cầu thì rõ ràng không thể nói tổng cầu ở Việt Nam yếu vì giá cả của hầu hết hàng hóa và dịch vụ, trừ nhóm vận tải, nhà ở, vật liệu xây dựng, đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Ngay cả với nhóm vận tải, nhà ở, vật liệu xây dựng, giá cả giảm cũng không đồng nghĩa là nhu cầu tiêu dùng về nhóm này yếu đi, đơn giản vì giá xăng dầu – một trong những yếu tố chi phối mạnh nhất đến sự biến động giá cả của nhóm này – đã sụt giảm mạnh, tới 40 - 50% kể từ tháng 6.2014.
 
Trở lại với câu chuyện tổng cầu có yếu hay không. Như đã dẫn chứng bởi Tổng cục Thống kê, có một số chỉ số, trong đó có tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ của 2 tháng đầu năm nay tăng tới 10,7% so với cùng kỳ các năm trước (2 tháng đầu năm 2014 chỉ tăng 6,2%; còn 2 tháng đầu năm 2013 tăng 3,6%), cho thấy không những không có chuyện tổng cầu yếu mà ngược lại, tổng cầu còn tăng mạnh.
 
Điều đáng nói hơn là nguy cơ đến từ quan niệm sai lầm nói trên về giảm phát ở Việt Nam. Với niềm tin sai lầm rằng nền kinh tế đang phải trải qua giai đoạn giảm phát mà hậu quả để lại sẽ là suy giảm tăng trưởng GDP và thu nhập của dân, cũng như tình trạng công ăn việc làm, đã và đang có nhiều người và nhiều tổ chức lên tiếng kêu gọi, vận động Chính phủ có những hành động nhằm cứu nền kinh tế ra khỏi tình trạng lạm phát đang ám ảnh trong đầu họ.
 
Nếu Chính phủ nghe theo lời kêu gọi này và tung ra những gói kích thích, những biện pháp thúc đẩy tổng cầu tăng hơn nữa thì nền kinh tế chắc chắn sẽ phải đối mặt với tình trạng tăng trưởng nóng (tăng trưởng thực tế vượt mức tăng trưởng tiềm năng), biểu hiện ở việc lạm phát quay lại, thâm hụt thương mại và ngân sách nới rộng, áp lực lên tỷ giá gia tăng. Nói cách khác, nền kinh tế sẽ lại rơi vào trạng thái bất ổn vĩ mô như suốt cả một thời gian dài tăng trưởng nóng trước đây.
 
Hiện tại, dường như Chính phủ đang nhận thức đúng và do đó đã mạnh mẽ phủ nhận chuyện tổng cầu yếu và giảm phát hiện nay. Nhưng ta vẫn chưa thể hoàn toàn yên tâm vì đây dường như chỉ là sự chuyển biến về nhận thức mới diễn ra gần đây. Cần nhớ lại, cho đến tận trước đây không lâu đã không ít lần vài quan chức hữu trách của Chính phủ còn để cập đến tình trạng tổng cầu yếu để lý giải cho nguyên nhân CPI tăng trưởng thấp. Chính phủ cần phải duy trì được lập trường đúng đắn và thống nhất về giảm phát như hiện nay để không bị lung lạc trước áp lực bắt nguồn từ quan niệm sai lầm về giảm phát của nhiều người đòi hỏi có những chính sách có nguy cơ gây bất ổn vĩ mô trong tương lai.

Làm sao để thực sự yên tâm về an ninh, an toàn bay? (Bài đăng trên Doanh nhân Sài Gòn, ngày 6/3/2015, bản gốc, tiêu đề do báo đặt lại)

http://www.doanhnhansaigon.vn/van-de/lam-sao-de-thuc-su-yen-tam-ve-an-ninh-an-toan-bay/1087131/

Nỗi lo an ninh khi bán sân bay – cần hiểu cho đúng!

Trước thông tin nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ được mua hoặc nhượng quyền khai thác các sân bay và nhà ga sân bay như Phú Quốc và Nội Bài, nhiều người tỏ ý lo ngại vấn đề về độc quyền, và đặc biệt là an ninh, an toàn bay. Đáp lại lo ngại này, mới đây một lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải (GTVT) tuyên bố trên báo chí rằng nhà nước chỉ bán, nhượng quyền phần dịch vụ khai thác thương mại và một phần đầu tư xây dựng, còn toàn bộ hoạt động quản lý bay, cũng như an ninh quốc phòng đều thuộc chủ quyền quốc gia, do nhà nước (thông qua Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam, VTAM) nắm giữ.
Vấn đề an ninh liên quan đến việc bán và nhượng quyền sân bay, nhà ga có thể xuất phát từ một nỗi lo rằng khi đã thuộc quyền sở hữu tư nhân, nhất là người nước ngoài, các nhà ga hay sân bay này có thể bị lợi dụng để phục vụ các mục đích, ý đồ xấu, có lợi cho một thế lực nào đó trong hoặc ngoài nước, xâm phạm và gây tổn hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia. Từ suy nghĩ này, sự tin cậy, phó thác việc quản lý, đảm bảo an ninh, an toàn bay vào bàn tay của các cơ quan quản lý nhà nước là điều tất yếu, vì người ta cho rằng các cơ quan này do là của nhà nước nên không có động cơ chạy theo các lợi ích thương mại và chính trị khác, ngoài lợi ích của quốc gia. Các cơ quan này sẽ không thỏa hiệp với bất cứ ai, lực lượng nào để gây phương hại cho an toàn bay, an ninh và chủ quyền quốc gia.

Mọi chuyện dường như đã rõ ràng, hiển nhiên nếu không có một chi tiết nhỏ liên quan đến VTAM. Tuy là một doanh nghiệp công ích do nhà nước nắm giữ 100% vốn và được xác định là không thuộc diện cổ phần hóa trong giai đoạn hiện nay, nhưng, theo các phương tiện truyền thông trích lời Tổng giám đốc VTAM cho biết, VTAM cũng đang xây dựng và triển khai một số đề án cổ phần hóa.
Trong cơ cấu tổ chức hiện tại của VTAM, ngoài các phòng ban chức năng và 3 công ty quản lý bay ở 3 miền Bắc, Trung, Nam, cùng với Trung tâm Hiệp đồng điều hành bay và Trung tâm Thông báo tin tức hàng không, và một công ty con trực thuộc là công ty TNHH Kỹ thuật quản lý bay, còn có một đơn vị thực hiện cổ phần hóa mà VTAM nắm trên 50% vốn điều lệ là Trung tâm dịch vụ thương mại quản lý bay. Như thế có nghĩa là ngoài Trung tâm dịch vụ thương mại này ra, VTAM có thể còn đang xây dựng và triển khai công tác cổ phần hóa (hiện tại hoặc trong tương lai gần) cả những công ty con và/hoặc bộ phận khác mà qua cái tên của chúng đều cho thấy chúng dính dáng đến công tác quản lý an ninh, an toàn bay nói chung.

Bởi thế, cho dù VTAM đã và sẽ chỉ cổ phần hóa một số công ty con và/hoặc bộ phận trong số những đơn vị kể trên, và cho dù VTAM có thể sẽ vẫn nắm giữ cổ phần chi phối trong các công ty và bộ phận này sau cổ phần hóa, thì về bản chất, hoạt động của VTAM đã vương mùi thương mại, chịu phần nào ảnh hưởng của các đối tác tư nhân là các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Và cũng cần phải nhấn mạnh rằng dù các nhà đầu tư này có thể chỉ nắm cổ phần không chi phối nhưng họ không dễ dàng bỏ vốn ra mà lại chấp nhận không có tiếng nói, không có ảnh hưởng gì trong hoạt động của các công ty và bộ phận của VTAM.
Do đó, nếu cứ suy từ logic chỉ có sở hữu 100% nhà nước mới đảm bảo được an ninh, an toàn bay thì không nên cổ phần hóa các công ty/bộ phận của VTAM. Còn nếu đã chủ trương cổ phần hóa chúng thì phải chấp nhận một khái niệm mới về thế nào là, và ai đảm bảo, an ninh, an toàn bay, vốn không thể và không nên cứng nhắc và cực đoan như người ta vẫn nghĩ.

Trên hết, những lo ngại về an ninh, an toàn bay đứng từ góc độ chính trị, an ninh, và chủ quyền quốc gia hoàn toàn có thể xử lý tách rời khỏi doanh nghiệp liên đới là VTAM. Suy cho cùng, cho dù là doanh nghiệp nhà nước 100% thì VTAM vẫn chỉ là một doanh nghiệp theo đuổi đồng thời cả mục tiêu doanh thu. Nó càng không phải là một cơ quan quản lý nhà nước, mà chỉ là một công cụ để thông qua đó cơ quan quản lý nhà nước chủ quản của nó – Cảng vụ hàng không hoặc một tổ chức tương tự như vậy của Bộ GTVT – thực hiện quản lý nhà nước về an ninh, an toàn bay trên lãnh thổ Việt Nam. Cơ quan chủ quản này có trách nhiệm ban hành các quy chế, luật lệ liên quan và thanh tra, giám sát việc thực thi. Các doanh nghiệp như của VTAM hoặc bất cứ một doanh nghiệp tư nhân nào khác, nếu có trong tương lai, tham gia vào công tác điều hành, quản lý bay đều phải tuân thủ nghiêm những quy chế và luật lệ này và phải báo cáo, chịu sự theo dõi, giám sát thường xuyên của cơ quan quản lý nhà nước này. Nếu làm được như vậy thì nỗi lo mất an ninh, an toàn bay khi trao quyền cho tư nhân có thể yên tâm gạt sang một bên được!

Nguồn tài chính nào cho các dự án theo hình thức PPP? (Bài đăng trên CafeF, ngày 6/3/2015)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/nguon-tai-chinh-nao-cho-cac-du-an-theo-hinh-thuc-ppp-20150305233325513.chn

Nghị định 15/2015/NĐ-TTg ban hành mới đây đã dọn đường thúc đẩy sự tham gia của vốn tư nhân, bên cạnh đối tác là nhà nước, trong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP). Tuy vậy, nguồn tài chính cho các dự án PPP không chỉ đơn giản đến từ 2 bên đối tác của dự án PPP là nhà nước và nhà đầu tư như thường quan niệm. Trên thực tế, tùy thuộc vào từng dự án mà nguồn tài chính cung cấp cho việc thực hiện dự án có thể rất đa dạng, với quy mô và độ phức tạp khác nhau, và lôi kéo sự tham gia của nhiều chủ thể và nhiều bên hữu quan.

Nguồn tài chính đầu tiên phải kể đến là phần góp vốn dưới dạng vốn cổ phần của các nhà bảo trợ dự án và công ty thực hiện dự án. Những đối tác góp vốn cổ phần có thể là những bên tham gia vào dự án, các nhà đầu tư địa phương, chính phủ nước sở tại, nhà tài trợ, chính phủ các nước khác có quan tâm, có quyền lợi liên quan, các nhà đầu tư tổ chức, và các tổ chức song phương và đa phương.

Vốn cổ phần là điều kiện tiên quyết để cho các nhà cho vay thực hiện việc rót vốn vay, theo đó vốn cổ phần phải được hình thành/trả trước (có thể theo tiến độ ) để cho thấy rõ mức độ cam kết của các bên đối tác trong dự án, cũng như tính khả thi của dự án v.v… thì các nhà cho vay, các chủ nợ tiềm năng mới giải ngân các khoản vay của mình.

Nguồn tài chính thức hai đến từ các nguồn vay nợ, dưới dạng vay thương mại, cho vay từ các nhà đầu tư tổ chức, từ các cơ quan tín dụng xuất khẩu, từ các tổ chức song phương và đa phương, từ việc phát hành trái phiếu dự án, và đôi khi từ chính phủ sở tại v.v… Việc trả nợ vay thường được ràng buộc về lãi suất (thả nổi hay cố định) và theo chương trình trả nợ định kỳ.

Các ngân hàng thương mại thường được ưa chuộng hơn với tư cách là nhà cung cấp vốn vay dài hạn, do các ngân hàng này thường uyển chuyển hơn trong việc đàm phán lại các khoản vay, cũng như trong việc đối phó với các tình huống mới hay bất ngờ xảy ra. Ngược lại, các chủ nợ nắm giữ trái phiếu dự án thì thường không có được những sự uyển chuyển này.

Các nhà cung cấp các thiết bị cũng có thể là một trong số các chủ nợ của dự án, bằng cách tài trợ cho công ty dự án để họ mua thiết bị của mình, nhiều khi với những điều kiện rất hấp dẫn. Tương tự như vậy, các nhà cho thuê tài chính mua tài sản về rồi cho thuê lại công ty dự án với chi phí cạnh tranh.

Các ngân hàng có thể cho vay riêng lẻ hoặc hợp sức với nhau để cho công ty dự án vay một khoản vay hợp vốn (syndicated loan) có quy mô lớn nhằm vừa kiểm soát được nguồn tín dụng cho vay vừa chia sẻ rủi ro giữa các ngân hàng.

Nguồn tài chính thứ ba nằm ở dưới dạng bảo lãnh hay thư tín dụng của ngân hàng. Nhờ có các bảo lãnh và thư tín dụng từ phía ngân hàng, các đối tác, ví dụ nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ, sẽ nhận ngay được tiền thanh toán từ công ty dự án, trong khi công ty dự án không cần phải thu xếp tiền sẵn sang cho thanh toán thì mới nhận được các hàng hóa và dịch vụ đó.

Nguồn tài chính thứ tư là từ thị trường trái phiếu và chứng khoán. Việc phát hành trái phiếu cho phép, ví dụ, công ty dự án tiếp cận trực tiếp được với các cá nhân và tổ chức nắm giữ vốn mà không cần phải thông qua kênh trung gian là các ngân hàng thương mại. Thông thường, vào giai đoạn ban đầu của dự án thì việc phát hành trái phiếu không được thuận lợi do nhà đầu tư chưa tin tưởng vào khả năng hoàn thành dự án. Nhưng một khi rủi ro hoàn thành dự án đã giảm thiểu thì việc phát hành trái phiếu để huy động trở nên phổ biến.

Lợi ích của việc phát hành trực tiếp các công cụ nợ này là lãi suất thường thấp hơn lãi suất vay ngân hàng, có kỳ hạn vay dài hơn (điều rất thuận lợi cho các dự án có vòng đời dài). Ngược lại, trái phiếu có những bất lợi như phải trả lãi ngay từ ngày phát hành cho đến hết kỳ hạn của nó (bất kể người phát hành đã giải ngân, dùng đến vốn huy động hay chưa); trái phiếu không có tính uyển chuyển như các khoản vay ngân hàng (trong việc nhà phát hành thương lượng lại với chủ nợ).

Ngoài ra, các đối tác của dự án có thể phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán để huy động vốn phục vụ cho nhu cầu đầu tư của mình vào dự án có liên quan. Khác với trái phiếu, nguồn vốn huy động từ phát hành cổ phần không phải trả lãi, và không có thời hạn thanh toán.

Wednesday, 4 March 2015

Một số vấn đề liên quan đến đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP) (Bài đăng trên CafeF, ngày 4/3/2015)

http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/mot-so-van-de-lien-quan-den-dau-tu-theo-hinh-thuc-doi-tac-cong-tu-ppp-20150304151956768.chn

Tiếp theo bài “Luật mới về đối tác công – tư PPP: cơ hội và trở ngại”, tác giả nhận được một số câu hỏi liên quan từ độc giả. Trong bài này, tác giả tập hợp lại những câu hỏi của độc giả và cố gắng giải đáp trong chừng mực hiểu biết của mình.

Vì sao nhà nước lại mở rộng đối tượng tham gia đầu tư vào các lĩnh vực xưa nay vẫn độc quyền?

Như đã biết, Nghị định 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP) cho phép và khuyến khích đầu tư tư nhân theo hình thức PPP trong hàng loạt lĩnh vực như hạ tầng giao thông vận tải, điện, nước, y tế, môi trường, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, văn hóa, thể thao, công trình kết cấu hạ tầng thương mại, khoa học và công nghệ, khu kinh tế, khu công nghiệp và ứng dụng công nghệ thông tin v.v… Nhiều trong số này, ví dụ như hạ tầng giao thông vận tải, gồm đường cao tốc, cảng biển, hàng không…, vốn thuộc độc quyền xây dựng, quản lý, điều hành và khai thác của nhà nước.

Bởi vậy, câu hỏi liên quan đầu tiên của không ít người là, tại sao nhà nước lại phải mở rộng đối tượng tham gia đầu tư vào lĩnh vực xưa nay nhà nước độc quyền?

Câu trả lời cho câu hỏi này có thể tóm gọn ở mấy chữ: Nhà nước không đủ nguồn lực, không đủ khả năng, năng lực để “ôm” hết các lĩnh vực độc quyền “béo bở” này.
Về nguồn lực, như đã thấy, mỗi năm theo kế hoạch phát triển, Việt Nam cần đầu tư hàng nhiều tỷ USD vào các công trình, dự án mới, đồng thời vẫn phải chi thường xuyên cho duy tu, bảo trì các công trình, dự án hiện tại. Trong khi đó, với tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm trong khoảng từ 5% - 7%/năm cho một quy mô GDP chưa đến 200 tỷ USD, hàng năm Việt Nam chỉ có thể tự tài trợ một phần rất khiêm tốn cho nhu cầu đầu tư khổng lồ này từ nguồn tiết kiệm và tích lũy nội tại. (Lưu ý rằng một tỷ trọng áp đảo trong ngân sách nhà nước hàng năm là dành cho chi tiêu thường xuyên (tức chi trả lương cho đội ngũ công chức, viên chức)). Bởi vậy, phần lớn nguồn tài chính dùng cho đầu tư và duy tu nói trên là từ nguồn đi vay trong và ngoài nước, tính vào nợ công. Và cũng bởi thế, không có gì lạ khi nợ công đã tăng nhanh và Chính phủ phải tăng cường đi vay để đảo nợ.

Về khả năng, năng lực, ngoài yếu tố hiển nhiên là sự yếu kém về năng lực dẫn đến yếu kém về chất lượng hoạt động của các dự án hạ tầng và dịch vụ công, tình trạng độc quyền (của nhà nước) không có cạnh tranh còn làm cho doanh nghiệp nhà nước quản lý, khai thác hạ tầng và cung cấp các dịch vụ công không có động lực gì để cải thiện chất lượng và hiệu quả hoạt động của chúng.

Lời giải tất yếu cho tình trạng thiếu hụt nguồn lực tài chính và năng lực hoạt động của khu vực nhà nước trong các lĩnh vực độc quyền là tư nhân hóa, một phần hoặc toàn bộ, các cơ sở hạ tầng và dịch vụ công. Nhưng tư nhân hóa không phải tự nhiên diễn ra. Nhà đầu tư tư nhân luôn đặt bài toán lợi nhuận lên trên hết, nên buộc nhà nước phải có hình thức đảm bảo, bảo lãnh, cam kết chia sẻ rủi ro, đặc biệt trong các dự án có vòng đời khai thác lâu dài, để nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn đầu tư. Vì vậy hình thức PPP đã được hình thành, trong đó nhà nước đóng vai một đối tác trong dự án, như là một giải pháp hữu hiệu cho việc khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào các lĩnh vực xưa nay vẫn thuộc độc quyền (của các doanh nghiệp nhà nước).

Vì sao phải tìm vốn tư nhân?

Câu hỏi thứ hai liên quan đến PPP, mà thực ra cũng đã được trả lời một phần ở trên, là, vì sao tư nhân huy động được vốn mà nhà nước lại không.

Chính xác ra thì nhà nước vẫn luôn có thể huy động (tức đi vay) được vốn. Nhưng đi vay cho đến một lúc/ngưỡng nào đó thì việc đi vay trở nên rất đắt đỏ và có nguy cơ không trả được nợ. Vậy việc đầu tư mới chỉ còn có thể trông chờ chủ yếu vào nguồn vốn tư nhân mà thôi.

Giải quyết vấn đề vốn cho các dự án ra sao?

Câu hỏi thứ ba liên quan đến việc thu xếp của nhà đầu tư tư nhân. Theo các hiểu của nhiều người, vốn đầu tư cho các dự án theo PPP thì cần phải là vốn dài hạn; doanh nghiệp lại phải vay ngân hàng nhưng ngân hàng và doanh nghiệp chưa tìm được tiếng nói chung (ý nói ngân hàng chủ yếu chỉ cho vay ngắn hạn, còn doanh nghiệp thì cần vay dài hạn cho dự án của mình). Vậy vấn đề này sẽ được giải quyết thế nào?

Thực ra vẫn có nhiều ngân hàng thương mại sẵn sàng cung cấp các khoản vay cho các dự án lớn, trong dài hạn, 5 năm, hoặc thậm chí 10 năm. Ngoài ra, các doanh nghiệp không chỉ vay từ một ngân hàng, mà còn vay từ nhiều ngân hàng ở nhiều thời điểm khác nhau. Bởi vậy, họ có thể vay từ ngân hàng này để trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng kia khi các nghĩa vụ nợ đến hạn thanh toán. Như thế, không nhất thiết các doanh nghiệp phải thu xếp ngay được một khoản vay ngân hàng dài hạn (hết cả vòng đời dự án) thì mới bắt tay vào đầu tư. Thêm nữa, bên cạnh nguồn vốn vay ngân hàng, các doanh nghiệp còn có thể phát hành trái phiếu, cổ phiếu để huy động vốn dài hạn.

Tuesday, 3 March 2015

Xử lý ngân hàng yếu kém: Đến lúc mạnh dạn hơn (Bài đăng trên Doanh nhân Sài Gòn, ngày 3/3/2015, bản gốc)

http://www.doanhnhansaigon.vn/van-de/xu-ly-ngan-hang-yeu-kem-den-luc-manh-dan-hon/1087086/

Sau vụ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mua lại bắt buộc Ngân hàng Xây dựng (VNCB) với cái giá 0 đồng hồi tháng trước, thị trường ngân hàng tỏ ra khá bình lặng, ngoài chút xáo động ban đầu chủ yếu do một số vấn đề liên quan đến cơ sở của cái giá mua bắt buộc 0 đồng. Theo đúng kỳ vọng, đã không có một cơn hoảng sợ đổ xô rút tiền gửi nào từ VNCB hay từ bất cứ một ngân hàng nào khác trong hệ thống, chí ít có thể là vì NHNN đã tuyên bố rõ sẽ đảm bảo hoàn toàn quyền lợi của người gửi tiền sau khi mua lại.

Và mới đây, ngày 28/2, báo chí dẫn lời của NHNN tuyên bố có thêm 2 ngân hàng khác, GPBank và Oceanbank, đã được xác định có thể là đối tượng tiếp theo để NHNN có động thái tương tự như với VNCB. Lý do là vì GPBank là 1 trong 9 ngân hàng yếu kém buộc phải tái cơ cấu từ năm 2012. Trong thời gian qua, 8 trong số 9 nhà băng đã tái cơ cấu thành công, chỉ còn duy nhất GPBank vẫn chưa có phương án khả thi. Tuy có tin GPBank sẽ được bán đứt/sáp nhập với một số ngân hàng trong và ngoài nước khác nhưng rốt cuộc đều không thành. Còn với Oceanbank, NHNN cho rằng ngân hàng này bộc lộ yếu kém sau khi một số lãnh đạo vướng vòng lao lý. Như vậy có thể hiểu rằng Ocean bank là một ngân hàng yếu kém mới xuất hiện bên cạnh danh sách 9 ngân hàng yếu kém đã từng được xác định trước đây. Suy ra tiếp, ít nhất là cho đến thời điểm hiện tại, trong hệ thống ngân hàng chỉ còn lại 2 ngân hàng này thuộc loại yếu kém, (đến mức độ) cần xử lý ngay để không gây tổn hại cho toàn hệ thống.
Đến đây nổi lên một vấn đề. NHNN phải mua lại bắt buộc GPBank và Oceanbank của NHNN chắc chắn là vì hiện tại vẫn còn nhiều người gửi tiền và với nhiều khoản tiền gửi trên 50 triệu VND là mức tối đa được bồi thường từ cơ quan Bảo hiểm tiền gửi trong trường hợp ngân hàng bị phá sản. Điều này cũng có nghĩa là người gửi tiền đã biết rõ rằng 2 ngân hàng này có vấn đề, và thuộc diện cần phải tái cơ cấu nhưng những người gửi tiền này đã không rút ngay, không rút đến gần hết số tiền gửi của mình trong 2 ngân hàng này (với số dư vẫn vượt quá 50 triệu VND), chắc chắn vì tin rằng NHNN bằng cách này hay cách khác sẽ cứu giúp ngân hàng, cứu giúp họ, xuất phát từ nỗi sợ cố hữu của các cơ quan chủ quản là nếu để cho 2 ngân hàng yếu kém này phá sản thì sẽ có thể châm ngòi cho một làn sóng hoảng loạn rút tiền tại, và gây ra đổ vỡ cho các ngân hàng lành mạnh khác. Đây là một rủi ro đạo đức thường được đề cập đến trong kinh tế học, khi mà các chủ thể của thị trường cứ mặc nhiên theo đuổi những quyền lợi riêng của mình mà không đếm xỉa gì đến những rủi ro thua lỗ cho họ do những hành vi của chính họ tạo nên, vì chi phí cho những rủi ro này đã được nhà nước gánh hộ.

Bởi vậy, đã đến lúc NHNN cần chấm dứt việc tiếp tục nuôi dưỡng rủi ro đạo đức này, bằng cách mạnh dạn thêm bước nữa là cho phá sản, giải thể GPBank và Oceanbank, cũng như các ngân hàng yếu kém phát sinh, phát hiện ra sau này, để trừng phạt không chỉ cổ đông hiện hữu mà còn cả người gửi tiền vì đã bất chấp rủi ro báo/biết trước.
Tất nhiên, nỗi lo bao trùm vẫn là nếu để phá sản như vậy thì sẽ gây ra đổ vỡ mang tính dây chuyền trong hệ thống. Nhưng xét cụ thể trong bối cảnh hiện nay, có thể thấy rằng người gửi tiền ở các ngân hàng khác đã biết/tin rằng cả hệ thống nay chỉ còn lại 2 ngân hàng này là yếu kém, không phải là ngân hàng mà họ đang gửi tiền. Cộng thêm với thực tế là quy mô nợ tại 2 ngân hàng này không phải là lớn lắm, và nếu có thêm cam kết của NHNN không để các ngân hàng lành mạnh hơn bị phá sản dây chuyền, thì cho dù người gửi tiền tại 2 ngân hàng này có đổ xô đi rút tiền về khi biết tin ngân hàng bị phá sản, sự việc này cũng không kích thích gây ra một làn sóng rút tiền tại các ngân hàng khác vốn được coi là đang lành mạnh. Nói cách khác, có hoảng sợ, có chịu thiệt hại chăng nữa thì chủ yếu chỉ diễn ra trong phạm vi những người gửi tiền tại GPBank và Oceanbank mà thôi.

Tóm lại, sau hành động mua lại bắt buộc cổ phần VNCB, hiện tại là thời điểm thích hợp và thuận lợi để NHNN cần tiếp tục tỏ rõ cho thị trường thấy lập trường cứng rắn hơn nữa của mình, bằng cách cho phá sản (bắt buộc) các ngân hàng yếu kém, để làm lành mạnh hóa thêm một bước thị trường ngân hàng. Và để làm được như vậy thì tất nhiên NHNN cần phải công khai hóa, minh bạch hóa thông tin hơn nữa về tình trạng sức khỏe của hệ thống ngân hàng nói chung và từng ngân hàng nói riêng để các chủ thể trên thị trường có cơ sở đúng đắn cho các quyết định đầu tư của mình.

Luật mới về đối tác công - tư PPP: Cơ hội và trở ngại (Bài đăng trên CafeF, 3/3/2015)

http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/luat-moi-ve-doi-tac-cong-tu-ppp-co-hoi-va-tro-ngai-2015030313370363.chn


Ngày 14/02/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/2015/NĐ về đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP), thay thế cho các quy định pháp lý hiện hành để tạo 1 khuôn khổ pháp lý thống nhất và rõ ràng nhằm dọn đường thúc đẩy đầu tư khu vực tư nhân và các dự án hạ tầng và dịch vụ công tại Việt Nam.
Một trong những khác biệt lớn giữa nghị định 15 với các quy định hiện hành liên quan đến PPP, gồm Quyết định số 71/2010/QĐ – TTg ban hành quy chế thí điểm về đầu tư theo hình thức PPP và Nghị định 108/2009/NĐ – CP (và các Nghị định sửa đổi Nghị định này, số 24/2011) về đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT, BTO và BT, là việc Nghị định 15 đã mở rộng thêm nhiều lĩnh vực đầu tư dành cho PPP, không chỉ hạn chế trong hạ tầng giao thông vận tải, điện, nước, y tế, môi trường, mà còn trong các lĩnh vực như giáo dục, đào tạo, dạy nghề, văn hóa, thể thao, công trình kết cấu hạ tầng thương mại, khoa học và công nghệ, khu kinh tế, khu công nghiệp, và đáp ứng công nghệ thông tin…

Cũng trong Nghị định 15, các hình thức hợp đồng đầu tư dự án như BOT, BTO và BT, vốn ở nhiều nơi, nhiều lúc trước đây được coi là những hình thức đầu tư riêng biệt song với hình thức PPP ( đang trong giai đoạnh thí điểm) nay đã được chính thức coi là các dạng thức của hợp đồng đầu tư theo hình thức PPP và chịu sự điều chỉnh thống nhất bởi cùng một luật định, Nghị định 15.

Nghị định 15 ra đời và được kỳ vọng khắc phục được một trong những trở ngại lớn nhất trong việc hấp thụ đầu tư của khu vực tư nhân, và các dự án PPP; đó là chuyện chia sẻ rủi ro mà các nhà đầu tư tư nhân sẽ phải đối mặt, cũng như các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Ví dụ trong các dự án giao thông vận tải có thu phí, theo quy định trước đây thì nhà đầu tư phải bỏ ra tối đa 70% vốn cho dự án trong khi không được quyết định thu phí và mức phí. Bởi vậy, với nhà đầu tư đây là rủi ro quá lớn trong việc thu hồi vốn đầu tư của họ. Nay, Nghị định 15 đã bỏ qua điều khoản hạn chế mức góp vốn tối đa của nhà nước, không quá 30% tổng mức đầu tư của dự án, đồng thời chỉ quy định tối thiểu về tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư không thấp hơn 15% tổng mức đầu tư dự án, và không thấp hơn 10%, nếu dự án có quy mô trên 15 nghìn tỷ đồng.

Bên cạnh đó, Nghị định 15 có nhiều điều khoản quy định rõ các chính sách ưu đãi, đảm bảo đầu tư, bao gồm bảo lãnh vốn vay và nghĩa vụ của nhà đầu tư, thế chấp tài sản và quyền kinh doanh dự án, đảm bảo cân đối ngoại tệ, và tạo thuận lợi cho nhà đầu tư thu đúng và thu đủ và phí dịch vụ, cũng như quy định rõ trách nhiệm tài chính và quản lý của nhà nước… Như vậy, Nghị định 15 đã tạo ra 1 cơ chế rõ ràng, thống nhất, hợp lý và minh bạch hơn về việc nhà nước chia sẻ rủi ro, và tạo thêm thuận lợi và ưu đãi cho nhà đầu tư tư nhân.

Một trở ngại khác cho việc triển khai PPP trước đây là việc nhà đầu tư yêu cầu được chủ động đưa ra danh mục dự án nhưng không được chấp thuận rộng rãi. Trong Nghị định 15 đã có thêm một quy định chi tiết các dự án do nhà đầu tư đề xuất, ngoài các dự án do nhà nước đưa ra. Tương tự như vậy, trở ngại liên quan đến đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư cũng đã được khắc phục bằng các điều khoản rõ ràng và minh bạch hơn trong Nghị định 15.

Với một cơ chế pháp lý theo hướng tăng tính hấp dẫn cho nhà đầu tư, có thể kỳ vọng sau khi Nghị Định 15 có hiệu lực vào ngày 10/4/2015 sự tham gia của khu vực tư nhân dưới hình thức PPP vào các dự án hạ tầng và dịch vụ công trong rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, mà bình thường không có tính hấp dẫn (vì rủi ro cao và khả năng sinh lợi kém), sẽ được đẩy mạnh hơn, với hiệu quả cao hơn, phạm vi mở rộng, và bền vững hơn.

Tuy vậy, để Nghị định 15 phát huy được tác dụng trên thực tế, cần khẩn trương ban hàng thông tư hướng dẫn cụ thể. Nếu việc này kéo dài như đã từng xảy ra với nhiều luật định mới thì sẽ không thể có được khung pháp lý về PPP, mặc dù đã có luật tiến bộ và thông thoáng về nó (Nghị Định 15). Ngoài ra, cần có biện pháp khắc phục yếu kém về nhân sự, chủ yếu do cán bộ thực hiện chưa được đào tạo bài bản về lĩnh vực PPP và chưa có kinh nghiệm về triển khai các mô hình đầu tư này. Yếu kém về nhân sự cũng sẽ làm hạn chế việc đề xuất và đàm phán hợp đồng PPP.

Cũng cần phải nói thêm rằng tuy mô hình PPP trong việc đầu tư nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công được coi là hướng đi đúng và cần thiết của Việt Nam hiện nay nhưng nó không phải và không nên được coi là liều thuốc vạn năng. Một trong những hạn chế chủ yếu của mô hình PPP là nhà nước vẫn phải bố trí vốn tham gia vào các dự án PPP. Nhưng với vấn đề nợ công đã và đang tăng mạnh tiếp cận ngưỡng trần cho phép, khả năng thu xếp vốn của nhà nước chỉ dựa vào các nguồn vay nợ, dù là từ vốn ODA hay vay ưu đãi… sẽ tiếp tục còn bị hạn chế trong thời gian tới. Điều này cũng có nghĩa mức độ phổ cập của mô hình PPP ở Việt Nam sẽ bị hạn chế.

Để khắc phục được sự phụ thuộc quá lớn vào khả năng thu xếp vốn từ vay nợ, Chính phủ cần chủ động các nguồn tài chính phi vay nợ khác như nguồn thu từ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, bán/nhượng quyền vận hành, khai thác các cơ sở hạ tầng có thu phí như đường cao tốc, bến cảng, sân bay, song song với các biện pháp cắt giảm chi tiêu công bao gồm cắt giảm biên chế và hạn chế đầu tư trực tiếp (và toàn bộ) từ ngân sách và các dự án và các tổ chức kinh tế xã hội.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).