Sunday, 29 June 2014

Phá giá không nhất thiết gây bất ổn vĩ mô!

Một phiên bản của bài này được đăng trên Doanh nhân Sài Gòn, 30/6/20 ở link sau:
http://www.doanhnhansaigon.vn/online/dien-dan-doanh-nhan/thoi-su/2014/06/1082245/dieu-chinh-ty-gia-co-gay-bat-on-vi-mo/
-----------------------------------

Sau khi  Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều chỉnh tỷ giá ngày 19/6 với lý do là để hỗ trợ xuất khẩu, có một số người đã lo ngại rằng việc điều chỉnh này sẽ tác động tiêu cực lên ổn định vĩ mô. Chẳng hạn, theo tác giả Hồ Quốc Tuấn trên TBKTSG Online ngày 26/6, giữa chính sách ổn định vĩ mô (và duy trì niềm tin vào VND) và chính sách điều chỉnh tỷ giá (phá giá) để hỗ trợ xuất khẩu vốn tồn tại mâu thuẫn ở mức độ nhất định.
Lý do đằng sau quan hệ mâu thuẫn này là do, theo ông Tuấn, “...khi phá giá và mở đường cho nới lỏng tiền tệ hơn nữa, sẽ tạo nguy cơ lạm phát và khiến cầu mua USD tăng lên. Một sự mất ổn định trong giá cả tiêu dùng và giá VND có thể dẫn đến kỳ vọng lạm phát sẽ tăng càng cao và VND sẽ càng mất giá. Nếu rủi ro càng cao, kỳ vọng về phá giá và lạm phát sẽ càng lớn, tạo thành một vòng xoáy liên tục. Như vậy, có sự mâu thuẫn ở một mức độ nào đó giữa việc muốn giữ ổn định vĩ mô và việc phá giá đồng tiền (ở một qui mô lớn) để cải thiện sức cạnh tranh. NHNN không thể lựa chọn cả hai”.

Trên thực tế, phá giá chỉ gây ra/làm tăng áp lực lạm phát khi đi kèm với phá giá là một chính sách tiền tệ nới lỏng quá mức bình thường. Nếu song hành với phá giá mà NHNN thu hút lượng VND thặng dư phát sinh do phá giá về kho quỹ của mình thì áp lực lạm phát không hề tăng lên so với trước khi phá giá.
Để dễ hiểu, hãy xem ví dụ sau. Kế hoạch tăng cung tiền của NHNN trong năm 2014, trước khi phá giá, là 100 đơn vị (để tương ứng với mục tiêu lạm phát là 5%/năm, tăng trưởng tín dụng là 10%), và giả sử là NHNN đã sử dụng hết hạn mức cung tiền này vào quý 1. Nhận thấy VND đã bị lên giá thực so với USD ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu, NHNN quyết định phá giá VND thêm 1 điểm phần trăm. Để phá giá VND 1 điểm phần trăm, NHNN cần phải và sẵn sàng mua USD từ hệ thống ngân hàng với tỷ giá 21.246 VND/USD, tăng 1% từ mức trước đây là 21.036 cho đến lúc các ngân hàng thương mại không còn nhu cầu bán USD cho NHNN tại mức giá này nữa. Tương ứng với việc mua USD này của NHNN là một lượng VND được tung ra lưu thông, giả sử là tương đương với 10 đơn vị nữa, qua hệ thống ngân hàng thương mại, làm tăng cung tiền lên thêm 110 đơn vị, tức là vượt hạn mức 100 đơn vị (đã sử dụng hết), và do đó tăng áp lực lạm phát, có thể đẩy lạm phát vượt trên mức mục tiêu 5% cho cả năm 2014.

Với sự kiên quyết khống chế lạm phát ở mức bằng hoặc thấp hơn 5%, NHNN phải và sẽ tung tín phiếu ngân hàng hoặc dùng công cụ dự trữ bắt buộc để hút 10 đơn vị VND thặng dư do phá giá về kho quỹ của NHNN. Nếu muốn làm và làm được như thế thì hoàn toàn có thể khẳng định rằng phá giá (kể cả ở quy mô lớn như ông Tuấn nói) không nhất thiết gây ra lạm phát, không nhất thiết phải đi kèm với chính sách tiền tệ nới lỏng. Nói cách khác, không nhất thiết đúng như ông Tuấn lập luận, NHNN vẫn có thể đồng thời lựa chọn và đạt được cả hai mục tiêu (phá giá để hỗ trợ xuất khẩu và ổn định vĩ mô)!
Sẽ có người phản biện rằng phá giá mà phải thắt chặt chính sách tiền tệ thì sẽ gây ra tác dụng ngược là làm giảm tăng trưởng, chính là mục đích để phá giá (thông qua hỗ trợ xuất khẩu). Nhưng lưu ý từ ví dụ trên, chính sách tiền tệ thực ra vẫn được nới lỏng thêm 100 đơn vị như kế hoạch ban đầu của NHNN, chứ không bị thắt chặt lại chỉ còn, ví dụ, 50 đơn vị cho cả năm 2014, sau khi phá giá. Nói cách khác, nền kinh tế vẫn có đủ tín dụng, đủ thanh khoản để vận động và tăng trưởng như kế hoạch (giả sử kế hoạch này là đúng đắn theo tính toán của NHNN).

Tất nhiên, khi phá giá ở quy mô lớn như lo ngại của ông Tuấn thì cũng có thể gây ra một sự hoảng loạn nào đó trong dân chúng và giới đầu tư. Nhưng trước tiên, không ai bắt ép NHNN (nếu họ không muốn) phải tiến hành phá giá ở mức độ lớn và đột ngột cả! Và NHNN cũng không nên, không dại gì để bị dồn vào thế phải phá giá ở mức lớn đến độ gây ra hoảng loạn như vậy. Thay vào đó, tại sao NHNN lại không (chủ động) phá giá từng nấc ở nhiều thời điểm khác nhau?
Ngược lại, chính vì quan niệm phiến diện là phá giá sẽ làm tăng lạm phát, tăng kỳ vọng lạm phát, gây bất ổn vĩ mô đã làm cho NHNN cố gắng neo tỷ giá ở mức “ổn định” nhất có thể, với niềm tin rằng làm thế sẽ làm tăng lòng tin của dân chúng và nhà đầu tư vào VND (trong khi cung tiền tiếp tục được mở rộng để kích thích tăng trưởng gây ra áp lực lạm phát lớn). Nhưng ngay như ông Tuấn cũng nhận định trong bài của mình rằng nếu tỷ giá bị neo quá lâu thì sẽ dẫn đến nguy cơ phải thực hiện một đợt điều chỉnh tỷ giá mạnh. Như thế có nghĩa là việc neo tỷ giá để đạt được sự ổn định tạm thời về tỷ giá, về lòng tin, không phải là giải pháp cơ bản và bền vững cho chính sách tỷ giá. Thay vào đó, cái cần có là một chính sách quản lý tỷ giá linh hoạt sao cho tỷ giá luôn phản ánh sát thực nhất có thể quan hệ cung cầu USD và đồng thời chênh lệch lạm phát giữa Mỹ và Việt Nam. Khi đã thiết lập được một sự linh hoạt như vậy rồi thì phá giá nếu có chỉ là những bước điều chỉnh nhỏ, không gây xáo trộn lớn trong xã hội (vì xã hội nhận thức rõ và thông cảm được tại sao NHNN phải “điều chỉnh” tỷ giá như vậy), và càng không có lý do gì để nói hoặc e ngại rằng phá giá sẽ làm bất ổn vĩ mô và mất lòng tin vào VND cả!

Tiện đây, xin bàn thêm về luận điểm của ông Tuấn rằng ông “...không ủng hộ một đợt phá giá mạnh VND để cải thiện sức cạnh tranh ngay lúc này. Đơn giản là vì ta phá giá được thì nước người ta cũng phá giá được, huống chi kiểu cạnh tranh như thế này sẽ chỉ khiến cho người ta càng có bằng chứng nói rằng chúng ta “trợ giá” cho nhiều loại đầu vào của nền kinh tế (gần đây nhất là chuyện giá nhiên liệu)”.
Như trên đã nói, nếu NHNN linh hoạt hơn với chính sách tỷ giá của mình thì NHNN đã không việc gì phải tiến hành “một đợt phá giá mạnh” vì đã và sẽ phá giá nhiều đợt, mỗi đợt phá giá một chút. Và để cải thiện sức cạnh tranh thì phá giá dù chỉ vài điểm phần trăm cũng đã là quý rồi vì như thế cũng đã làm lợi cho xuất khẩu, chứ không cần phải ở mức ví dụ như 10 điểm phần trăm (không biết đây có phải là mức ông Tuấn coi là mạnh hay không).

Và chắc chắn rằng khi VND đã lên giá thực (ở mức lớn) so với USD thì Việt Nam hoàn toàn có quyền và có cơ sở hợp lý để tiến hành phá giá (kể cả phá giá mạnh) mà không phải e ngại bất kỳ “nước người ta” nào dị nghị cả. Và nếu người ta bắt trước phá giá theo thì âu cũng là việc bình thường, giống như việc 2 đối thủ tìm mọi cách hạ giá thành để tăng tính cạnh tranh của sản phẩm. Có điều cần lưu ý là không phải nước người ta nào cũng (luôn) có thể bắt trước phá giá theo được, vì nhiều lý do.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).