Friday, 2 October 2015

Quyết định hạ lãi suất tiền gửi USD của NHNN – nên hiểu thế nào cho đúng? (Bài đăng trên DNSG, bản gốc, 2/10/2015)

Bản trên báo: http://www.doanhnhansaigon.vn/van-de/ha-lai-suat-usd-nhung-goc-nhin-khac/1092076/

(Bài gốc dưới đây là để phang mấy đồng chí  chuyên gia trên CafeF, như Bùi Quang Tín (ở đây) và Nguyễn Công Hiệp (ở đây), chỉ được cái nói linh tinh là giỏi).

Xoay quanh quyết định hạ lãi suất tiền gửi USD từ 0,25% về 0%/năm với tổ chức và từ 0,75% về 0,25%/năm với cá nhân của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) áp dụng từ 28/9/2015 đã có nhiều ý kiến và nhận định trái ngược nhau của không ít chuyên gia và lãnh đạo ngân hàng, gây không ít băn khoăn trong dư luận về tính hợp lý và hữu hiệu của quyết định này của NHNN.

Quan điểm đầu tiên là do Việt Nam áp dụng các biện pháp kiểm soát lưu chuyển vốn nên không lo chảy máu ngoại tệ ra nước ngoài sau khi NHNN quyết định hạ lãi suất tiền gửi USD làm giảm tính hấp dẫn của việc đầu tư hay nắm giữ USD ở Việt Nam. Nói cách khác, nhờ kiểm soát lưu chuyển vốn, tổng cung đồng USD từ cá nhân và tổ chức kinh tế trong nước sẽ luôn ở lại trong nước bất chấp lãi suất huy động USD là bao nhiêu.
Quan điểm trên chỉ đúng một phần. Nhìn trên giác độ tính hữu hiệu, đúng là các biện pháp kiểm soát lưu chuyển vốn sẽ phần nào “trói chân” nguồn vốn USD đang có ở thị trường Việt Nam, làm cho nhà đầu tư nước ngoài không dễ mà chuyển USD ra khỏi Việt Nam được. Nhưng mặt trái của các biện pháp kiểm soát lưu chuyển vốn này là làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài tiềm năng vào thị trường Việt Nam trong tương lai. Càng làm chặt chẽ theo hướng “vào thì dễ, ra thì khó” thì sẽ càng như xua đuổi nhà đầu tư nước ngoài tiềm năng vì sẽ không một nhà đầu tư nào lại can tâm đầu tư vào một nước nào đó khi đã biết rõ rằng vốn của mình sẽ rất khó hoặc không bao giờ được rút ra trong mọi hoàn cảnh. Chính từ giác độ này có thể kết luận rằng các biện pháp kiểm soát lưu chuyển vốn sẽ không bao giờ được thiết kế hoặc vô tình có tác dụng ngăn chặn hoàn toàn luồng vốn USD chảy ra khỏi Việt Nam mỗi khi có sự biến gì đó làm nản lòng nhà đầu tư nước ngoài. Bởi vậy, hành động hạ lãi suất tiền gửi USD của NHNN chắc chắn sẽ dẫn đến sự chảy ngược ra nước ngoài của một bộ phận vốn USD đang có mặt ở Việt Nam.

Nhìn từ giác độ hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài, quyết định hạ lãi suất tiền gửi USD của NHNN sẽ làm giảm tính hấp dẫn trong mắt nhà đầu tư nước ngoài. Vì thế, cho dù vốn USD chạy ra khỏi lãnh thổ Việt Nam chỉ ở mức hạn chế vì các biện pháp kiểm soát vốn như nói ở trên, nhưng ngược lại, số lượng vốn USD mới đổ vào Việt Nam sẽ suy giảm vì nhà đầu tư nước ngoài thấy đầu tư (gửi tiền) USD vào Việt Nam không có lợi so với trước đây. Như thế, hành động hạ lãi suất của NHNN sẽ làm gia tăng thêm sự căng thẳng về nguồn cung USD ở Việt Nam (do bị giảm cả về nguồn cung hiện tại do USD chảy ra ngoài, và giảm về nguồn cung USD bổ sung từ bên ngoài vào Việt Nam). Từ lý do này, có thể nói hành động hạ lãi suất của NHNN lại có tác động tiêu cực đến sự ổn định tỷ giá VND do cung USD bị sụt giảm.
Quan điểm thứ hai cho rằng quyết định hạ lãi suất tiền gửi USD của NHNN sẽ thúc đẩy cá nhân và các tổ chức kinh tế bán USD và gửi tiền VND vào hệ thống ngân hàng hưởng lãi suất cao. Quan điểm này cũng chỉ đúng một phần. Lý do chính làm cho cá nhân và tổ chức găm giữ USD là kỳ vọng phá giá VND. Bởi vậy, với một số cá nhân và tổ chức không kỳ vọng VND bị phá giá hơn nữa thì việc bán USD rồi gửi VND thu được vào ngân hàng để hưởng lãi là điều có lợi. Nhưng chắc chắn sẽ có một bộ phận cá nhân và tổ chức khác không nghĩ như vậy, và tin tưởng rằng tỷ giá sẽ phải được điều chỉnh hơn nữa (theo hướng VND yếu đi so với USD). Tùy vào mức độ kỳ vọng phá giá VND lớn đến đâu mà bộ phận cá nhân và tổ chức này sẽ găm giữ USD ở mức phù hợp với kỳ vọng đó. Do vậy, chừng nào VND còn bị kỳ vọng tiếp tục mất giá (mạnh) hơn nữa thì chừng đó sẽ vẫn có nhiều người và tổ chức găm giữ USD, bất chấp lãi suất tiền gửi USD có thấp đến đâu, thậm chí là 0% hay ở mức âm.

Quan điểm thứ ba cho rằng hạ lãi suất tiền gửi USD sẽ giúp NHNN có cơ hội để mua thêm được USD. Điều này vừa giúp tỷ giá cân bằng trở lại (tức VND không bị áp lực mất giá hơn nữa), đồng thời lại làm tăng thêm được cung VND (do mua USD), từ đó giúp cho lãi suất VND có cơ hội giảm xuống. Quan điểm này cũng chỉ đúng một vế. Khi mua USD về và tung VND ra, NHNN sẽ làm khan hiếm hơn nguồn cung USD trên thị trường, do đó sẽ làm tỷ giá có xu hướng tăng lên (VND yếu đi) vì trên thị trường có ít USD hơn nhưng lại có nhiều VND hơn. Tuy nhiên, mặt tích cực của việc tăng cung VND (do mua USD được nhiều hơn) này là sẽ làm mặt bằng lãi suất VND giảm thấp đi. Nói cách khác, cho dù hành động hạ lãi suất tiền gửi USD của NHNN có làm cho nhiều cá nhân và tổ chức bán USD cho hệ thống ngân hàng rồi rốt cuộc lượng USD thu mua được này chảy vào két sắt của NHNN thì hành động đó của NHNN chỉ có tác dụng làm giảm lãi suất VND chứ không có tác dụng hỗ trợ sự ổn định của tỷ giá (thậm chí còn làm tăng áp lực phá giá hơn nữa).

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).