Theo báo
cáo “Xu hướng Nhu cầu Vàng” của Hội đồng Vàng Thế giới, tổng nhu cầu tiêu
thụ vàng của Việt Nam tiếp tục
tăng trong quý 2 và quý
3 năm nay, đưa tổng lượng
vàng tiêu thụ trong 2 quý này lên 46,1 tấn, tăng 28% so với cùng kỳ năm 2012 (xem bảng dưới).
| Nhu cầu vàng tiêu dùng của Việt Nam | |||
| Quý 2+3/2012 | Quý 2+3/2013 | % tăng | |
| Tổng khối lượng (tấn) | 36,1 | 46,1 | 28% |
| Vàng trang sức | 4,4 | 5,3 | 20% |
| Vàng miếng, thỏi | 31,7 | 40,8 | 29% |
| Tổng giá trị (triệu USD) | 1.891 | 2.031 | 7% |
| Vàng trang sức | 230 | 234 | 2% |
| Vàng miếng, thỏi | 1.661 | 1.797 | 8% |
Nếu tính theo giá trị, Việt Nam đã tiêu thụ một số lượng vàng có giá trị
trên 2 tỷ USD trong 2 quý qua. Mức tăng so cùng kỳ năm ngoái chỉ là 7% vì giá
vàng đã liên tục giảm trong các quý vừa qua, xuống còn 1,326 USD/oz trung bình
trong quý 3 này.
Đáng chú ý là lượng
tiêu thụ vàng miếng và thỏi đã tăng mạnh trong quý 2 và 3 năm nay so với cùng kỳ
năm trước (tăng 9,1 tấn). Cũng cần lưu ý là thời kỳ này cũng là thời kỳ Ngân
hàng Nhà nước (NHNN) tổ chức đấu thầu vàng cấp tập với khối lượng lớn.
Vì Việt Nam là nước
nhập khẩu hầu như toàn bộ lượng vàng tiêu thụ, và vì không thể coi con số nhu cầu
46,1 tấn nói trên là tổng lượng vàng có (sẵn) trong nền kinh tế, nên có thể coi
nhu cầu tiêu thụ vàng do Hội đồng Vàng Thế giới cung cấp nói trên chính là nhu
cầu nhập khẩu vàng thêm vào nền kinh tế trong 2 quý qua. Và vì thời gian này cũng
là thời gian diến ra đấu thầu vàng của NHNN – nguồn cung độc quyền vàng miếng
và thỏi ở Việt Nam – nên có thể nói rằng phần lớn khối lượng vàng miếng và thỏi
tăng thêm vào nền kinh tế trong thời gian qua gắn liền với (và là kết quả của)
hành động đấu thầu vàng của NHNN.
Đương nhiên, để
nhập khẩu vàng miếng và thỏi phục vụ cho đấu thầu vàng trong nước thì NHNN phải
dùng ngoại tệ trong quỹ dự trữ ngoại hối. Theo số liệu trong bảng trên thì Việt
Nam đã phải bỏ ra gần 1,8 tỷ USD để nhập khẩu vàng miếng và thỏi trong 2 quý
qua. Như thế, số ngoại tệ mà NHNN đã phải bỏ ra chắc cũng không xa con số này lắm.
Và mới đây, NHNN
lại có chủ trương mua vào vàng miếng với dự đoán xu hướng giá vàng sẽ giảm
trong 6 tháng hoặc 1 năm tới, được cho là có mục đích để bổ sung vào quỹ dự trữ
ngoại hối của Việt Nam (mua rẻ và hy vọng vàng lên giá để tăng giá trị quỹ dự
trữ ngoại hối).
Giả sử NHNN đã dự
đoán đúng xu hướng giảm giá vàng này, và NHNN giá vàng trong 6 tháng tới sẽ giảm
đi so với mức giá hiện tại như kỳ vọng của NHNN. Lúc đó, NHNN có 3 lựa chọn mua
vào vàng miếng: mua vàng từ thế giới; mua vàng từ trong nước; và mua từ cả 2
nguồn này.
Đối với lựa chọn
mua vàng từ thế giới, NHNN tiếp tục phải bỏ ra một lượng ngoại tệ trong quỹ dự trữ ngoại hối để nhập khẩu vàng.
Tuy giá vàng có thể đúng như dự đoán là sẽ rẻ hơn thời điểm này, và do đó lượng
ngoại tệ bỏ ra cho cùng một số lượng vàng nhập khẩu sẽ ít đi, nhưng đồng thời với
việc mua vàng về thì quỹ dự trữ ngoại hối lại mất đi một lượng USD tương ứng về
giá trị. Như thế có nghĩa là tổng giá trị quỹ dự trữ ngoại hối không thay đổi về
giá trị (quy đổi theo USD), mà chỉ có sự hoán đổi cấu thành của quỹ, chứ không
có tác dụng “bổ sung” vào (làm tăng giá trị của) quỹ dự trữ ngoại hối như NHNN
có thể đã dự tính. Và sẽ càng là vấn đề khi giá vàng lại tiếp tục giảm sau khi
NHNN mua vào, vì lúc đó quỹ dự trữ ngoại hối càng tổn thất thêm nữa về giá trị.
Đối với lựa chọn
mua vàng miếng từ thị trường trong nước, NHNN có thể in/xuất tiền đồng ra để
mua vàng mà không cần phải dùng đến ngoại tệ trong quỹ dự trữ ngoại hối. Tuy
nhiên, do nguồn cung vàng trong nước là rất có hạn (chủ yếu là lượng vàng do
dân nắm giữ trước đây, đặc biệt kể từ khi NHNN tổ chức đấu thầu), nên hành động
này của NHNN nhanh chóng đẩy giá vàng trong nước lên cao. Kết cục là NHNN hoặc
phải rút thanh khoản từ hệ thống ngân hàng hoặc phải in tiền thêm để mua đủ số
lượng vàng cần thiết. Như vậy, hành động mua vàng trong nước để bổ sung quỹ dự
trữ ngoại hối của NHNN sẽ gây ra hoặc là tăng lãi suất do thanh khoản tiền đồng
khan hiếm, hoặc gây ra áp lực lạm phát do in tiền. Cả 2 hậu quả này đều là điều
NHNN muốn tránh, nhất là trong thời điểm hiện tại.
Đối với lựa chọn
thứ 3, tức kết hợp cả 2 lựa chọn trên, tuy hậu quả có vẻ như được san sẻ giữa 2
lựa chọn ban đầu, nhưng nói ngắn gọn thì hậu quả vẫn là hậu quả (ví dụ, quỹ dự
trữ ngoại hối có thể ít hao tổn hơn nhưng nền kinh tế sẽ bị thiệt hại nhiều hơn
do lãi suất hoặc lạm phát tăng cao).
Tóm lại, cái giá
của bình ổn vàng là sự hao hụt khá lớn trong quỹ dự trữ ngoại hối trong suốt thời
gian qua, chưa kể những rủi ro đi kèm với việc NHNN có thể mua vàng vào trong
thời gian tới (tùy theo lựa chọn mua vào của NHNN mà rủi ro sẽ là khác nhau).