Tuesday, 26 November 2013

Bình ổn vàng tổn thất ra sao?


Theo báo cáo “Xu hướng Nhu cầu Vàng của Hội đồng Vàng Thế giới, tổng nhu cầu tiêu thụ vàng của Việt Nam tiếp tục tăng trong quý 2 và quý 3 năm nay, đưa tổng lượng vàng tiêu thụ trong 2 quý này  lên 46,1 tấn, tăng 28% so với cùng kỳ năm 2012 (xem bảng dưới).

Nhu cầu vàng tiêu dùng của Việt Nam
 Quý 2+3/2012Quý 2+3/2013% tăng
Tổng khối lượng (tấn)36,146,128%
Vàng trang sức4,45,320%
Vàng miếng, thỏi31,740,829%
Tổng giá trị (triệu USD)1.8912.0317%
Vàng trang sức2302342%
Vàng miếng, thỏi1.6611.7978%

Nếu tính theo giá trị, Việt Nam đã tiêu thụ một số lượng vàng có giá trị trên 2 tỷ USD trong 2 quý qua. Mức tăng so cùng kỳ năm ngoái chỉ là 7% vì giá vàng đã liên tục giảm trong các quý vừa qua, xuống còn 1,326 USD/oz trung bình trong quý 3 này.
Đáng chú ý là lượng tiêu thụ vàng miếng và thỏi đã tăng mạnh trong quý 2 và 3 năm nay so với cùng kỳ năm trước (tăng 9,1 tấn). Cũng cần lưu ý là thời kỳ này cũng là thời kỳ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tổ chức đấu thầu vàng cấp tập với khối lượng lớn.

Vì Việt Nam là nước nhập khẩu hầu như toàn bộ lượng vàng tiêu thụ, và vì không thể coi con số nhu cầu 46,1 tấn nói trên là tổng lượng vàng có (sẵn) trong nền kinh tế, nên có thể coi nhu cầu tiêu thụ vàng do Hội đồng Vàng Thế giới cung cấp nói trên chính là nhu cầu nhập khẩu vàng thêm vào nền kinh tế trong 2 quý qua. Và vì thời gian này cũng là thời gian diến ra đấu thầu vàng của NHNN – nguồn cung độc quyền vàng miếng và thỏi ở Việt Nam – nên có thể nói rằng phần lớn khối lượng vàng miếng và thỏi tăng thêm vào nền kinh tế trong thời gian qua gắn liền với (và là kết quả của) hành động đấu thầu vàng của NHNN.
Đương nhiên, để nhập khẩu vàng miếng và thỏi phục vụ cho đấu thầu vàng trong nước thì NHNN phải dùng ngoại tệ trong quỹ dự trữ ngoại hối. Theo số liệu trong bảng trên thì Việt Nam đã phải bỏ ra gần 1,8 tỷ USD để nhập khẩu vàng miếng và thỏi trong 2 quý qua. Như thế, số ngoại tệ mà NHNN đã phải bỏ ra chắc cũng không xa con số này lắm.

Và mới đây, NHNN lại có chủ trương mua vào vàng miếng với dự đoán xu hướng giá vàng sẽ giảm trong 6 tháng hoặc 1 năm tới, được cho là có mục đích để bổ sung vào quỹ dự trữ ngoại hối của Việt Nam (mua rẻ và hy vọng vàng lên giá để tăng giá trị quỹ dự trữ ngoại hối).
Giả sử NHNN đã dự đoán đúng xu hướng giảm giá vàng này, và NHNN giá vàng trong 6 tháng tới sẽ giảm đi so với mức giá hiện tại như kỳ vọng của NHNN. Lúc đó, NHNN có 3 lựa chọn mua vào vàng miếng: mua vàng từ thế giới; mua vàng từ trong nước; và mua từ cả 2 nguồn này.

Đối với lựa chọn mua vàng từ thế giới, NHNN tiếp tục phải bỏ ra một lượng ngoại tệ  trong quỹ dự trữ ngoại hối để nhập khẩu vàng. Tuy giá vàng có thể đúng như dự đoán là sẽ rẻ hơn thời điểm này, và do đó lượng ngoại tệ bỏ ra cho cùng một số lượng vàng nhập khẩu sẽ ít đi, nhưng đồng thời với việc mua vàng về thì quỹ dự trữ ngoại hối lại mất đi một lượng USD tương ứng về giá trị. Như thế có nghĩa là tổng giá trị quỹ dự trữ ngoại hối không thay đổi về giá trị (quy đổi theo USD), mà chỉ có sự hoán đổi cấu thành của quỹ, chứ không có tác dụng “bổ sung” vào (làm tăng giá trị của) quỹ dự trữ ngoại hối như NHNN có thể đã dự tính. Và sẽ càng là vấn đề khi giá vàng lại tiếp tục giảm sau khi NHNN mua vào, vì lúc đó quỹ dự trữ ngoại hối càng tổn thất thêm nữa về giá trị.
Đối với lựa chọn mua vàng miếng từ thị trường trong nước, NHNN có thể in/xuất tiền đồng ra để mua vàng mà không cần phải dùng đến ngoại tệ trong quỹ dự trữ ngoại hối. Tuy nhiên, do nguồn cung vàng trong nước là rất có hạn (chủ yếu là lượng vàng do dân nắm giữ trước đây, đặc biệt kể từ khi NHNN tổ chức đấu thầu), nên hành động này của NHNN nhanh chóng đẩy giá vàng trong nước lên cao. Kết cục là NHNN hoặc phải rút thanh khoản từ hệ thống ngân hàng hoặc phải in tiền thêm để mua đủ số lượng vàng cần thiết. Như vậy, hành động mua vàng trong nước để bổ sung quỹ dự trữ ngoại hối của NHNN sẽ gây ra hoặc là tăng lãi suất do thanh khoản tiền đồng khan hiếm, hoặc gây ra áp lực lạm phát do in tiền. Cả 2 hậu quả này đều là điều NHNN muốn tránh, nhất là trong thời điểm hiện tại.

Đối với lựa chọn thứ 3, tức kết hợp cả 2 lựa chọn trên, tuy hậu quả có vẻ như được san sẻ giữa 2 lựa chọn ban đầu, nhưng nói ngắn gọn thì hậu quả vẫn là hậu quả (ví dụ, quỹ dự trữ ngoại hối có thể ít hao tổn hơn nhưng nền kinh tế sẽ bị thiệt hại nhiều hơn do lãi suất hoặc lạm phát tăng cao).
Tóm lại, cái giá của bình ổn vàng là sự hao hụt khá lớn trong quỹ dự trữ ngoại hối trong suốt thời gian qua, chưa kể những rủi ro đi kèm với việc NHNN có thể mua vàng vào trong thời gian tới (tùy theo lựa chọn mua vào của NHNN mà rủi ro sẽ là khác nhau).

Wednesday, 20 November 2013

NH Nhà nước đã thực sự thành NH Trung ương? (Bài đăng trên Doanh nhân Sài gòn, bản gốc)

http://www.doanhnhansaigon.vn/online/dien-dan-doanh-nhan/thoi-su/2013/11/1078110/nh-nha-nuoc-da-thuc-su-thanh-nh-trung-uong/

Hôm trước đồng chí Nguyễn Quốc Dân làm tớ mừng hụt vì tưởng Chính phủ sợ tớ mà vội vàng ban hành quyết định về thành lập NHTW. Tớ cũng quáng gà, vào đọc mấy lời bình luận của tờ báo mà tin sái cổ. Chỉ thấy lạ là một chuyện tầy đình thế mà sao lại được tiến hành im im, không hề được đề cập đến trên báo cho đến ngày được ký.

-----------------------------------------------------------------------------
Ở nhiều nước, Ngân hàng Trung ương (NHTW) độc lập với Chính phủ nói riêng và giới chính trị nói chung. Sự độc lập này là điều cần thiết để NHTW có thể theo đuổi chính sách có tác động tích cực lên tăng trưởng và ổn định kinh tế trong dài hạn. Nếu không được độc lập với Chính phủ và giới chính trị nói chung thì NHTW dễ tạo ra những cơn trồi sụt của nền kinh tế trong ngắn hạn bắt đầu bằng chính sách tiền tệ nới lỏng quá mức thông qua áp lực của giới chính trị đặc biệt trước thời điểm bầu cử nhằm “ghi điểm” với cử tri.

Ở Việt Nam, ngày 11/11/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 156/2013/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, Ngân hàng Trung ương của Việt Nam; thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng của NHTW về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của NHNN.

Với sự ra đời của Nghị định 156, nhiều ý kiến bình luận rằng từ 26/12 tới (là ngày Nghị định 156 có hiệu lực), Việt Nam sẽ chính thức có một NHTW hoạt động độc lập, tự chủ giống như các nước trên thế giới, với nhiệm vụ quan trọng nhất là ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm cho các tổ chức tín dụng hoạt động lành mạnh trong khuôn khổ luật pháp.
Tuy nhiên, xem xét kỹ một chút thì có thể thấy NHNN vẫn chưa thể là một NHTW độc lập như ở nhiều nước trên thế giới. Để được gọi là độc lập với Chính phủ và giới chính trị nói chung, một NHTW phải thỏa mãn (ít nhất) một trong những điều kiện sau: độc lập về mặt pháp lý; độc lập về mục tiêu; độc lập về hoạt động; và độc lập về quản lý.

Về độc lập pháp lý, lưu ý rằng Nghị định 156 là một văn bản luật do Chính phủ ban hành, quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN Việt Nam. Như thế, cho dù có thể NHNN đã được trao thêm nhiệm vụ và quyền hạn mới, về bản chất nó vẫn là một cơ quan trực thuộc của Chính phủ, do Chính phủ lập ra và bị chi phối hầu như trên mọi mặt.
Đối với việc độc lập về mục tiêu, Nghị định 156 không đề cập đến việc NHNN được quyền độc lập quyết định mục tiêu chính sách của mình (ví dụ, có thể là mục tiêu về lạm phát, cung tiền, và tỷ giá). Điều này có thể được minh họa rõ nét hơn ở nhiệm vụ “xây dựng chỉ tiêu lạm phát hàng năm để trình Chính phủ” mà Nghị định 156 quy định cho NHNN. Nếu chỉ dừng lại ở quyền hạn “xây dựng chỉ tiêu lạm phát hàng năm để trình Chính phủ”, rõ ràng NHNN vẫn chưa thể coi là đã có sự độc lập với Chính phủ nói riêng và giới chính trị nói chung. Việc xây dựng chỉ tiêu lạm phát hàng năm đương nhiên là việc của NHNN, với tư cách là một bộ chủ quản ngành, chứ không thể giao cho một cơ quan bộ nào khác. Bởi vậy, bản thân việc xây dựng chỉ tiêu lạm phát không phải là một điều mới mẻ, cho thấy một sự chuyển biến căn bản gì ở đây cả.

Thêm nữa, giả thiết rằng chỉ tiêu lạm phát của NHNN, tuy theo tính toán của NHNN là cần thiết để đảm bảo lạm phát thấp, lại bị Chính phủ coi là “không phù hợp” (với ai, vì cái gì đó). Lúc đó, Chính phủ hoàn toàn có thể phủ quyết chỉ tiêu lạm phát này, buộc NHNN phải trình ra một chỉ tiêu nào đó theo ý đồ của Chính phủ thì mới được chấp nhận. Nói cách khác, việc xây dựng chỉ tiêu lạm phát và việc chỉ tiêu đó được phê duyệt bởi Chính phủ là 2 chuyện có thể hoàn toàn khác nhau, và rốt cuộc, để “xuôi chèo mát mái” thì rất có thể NHNN phải nhượng bộ hoàn toàn trước yêu cầu của Chính phủ trong việc kiểm soát lạm phát.
Về độc lập trong hoạt động, thông thường NHTW có sự độc lập trong việc quyết định cách thức nào là tối ưu để đạt được các mục tiêu chính sách của mình, bao gồm loại hình công cụ chính sách và thời điểm sử dụng chúng. Về điểm này, Nghị định 156 cũng trao NHNN quyền sử dụng các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bao gồm: Tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Nhưng điều này tự thân không cho biết rằng NHNN từ nay sẽ có quyền độc lập trong việc hoạch định mục tiêu (của chính sách tiền tệ quốc gia), khi, ví dụ, mục tiêu lạm phát bị Chính phủ thay đổi và buộc NHNN phải có hành động chính sách tương ứng để đạt được mục tiêu lạm phát mới.

Và cuối cùng là độc lập về quản lý, theo đó NHTW có sự độc lập trong điều hành hoạt động của mình, bao gồm bổ nhiệm nhân sự, lập ngân sách hoạt động v.v... mà không có sự can thiệp mạnh mẽ của Chính phủ. Nhưng trong trường hợp của NHNN, Nghị định 156 lại có những quy định rất rõ ràng liên quan đến công tác điều hành hoạt động của NHNN, ví dụ, bộ máy và nhân sự của NHNN.
Tóm lại, điểm qua những loại hình độc lập của NHTW thì có thể kết luận NHNN theo Nghị định 156 vẫn chỉ là một cơ quan ngang bộ trực thuộc Chính phủ và không có sự độc lập như của nhiều NHTW trên thế giới về bản chất như dư luận nhìn nhận. Sự mới mẻ có chăng là sự gia tăng thêm một số nhiệm vụ và quyền hạn cho NHNN.

Thursday, 14 November 2013

Quản lý giá: Không phải cứ muốn “bình” là “ổn” (Bài đăng trên TBKTSG, ngày 14/11/2013, bản gốc)

Thị trường đã nhiều phen chứng kiến một số mặt hàng nào đó lên cơn sốt giá. Những mặt hàng này bao gồm đủ loại, từ những thứ thiết yếu như mớ rau, cân thịt lợn, hộp sữa cái đinh, lá tôn lợp đến những thứ cao cấp và giá trị hơn nhiều như vàng, ngoại tệ.

Một trong những phản ứng chính sách thường thấy là cơ quan chủ quả (thuộc Bộ Tài chính, và/hoặc các bộ quản lý ngành chức năng), nói một cách nôm na, dùng mệnh lệnh hành chính cấm người cung những mặt hàng này trên thị trường tăng giá, tại thời điểm hiện tại. Những biện pháp quản lý giá cụ thể trong những trường hợp này là buộc người bán theo giá niêm yết, giá quy định; đưa (một số) những mặt hàng này vào diện hàng hóa được bình ổn về giá; thanh tra, điều tra, phát hiện và xử phạt những ai vi phạm các quy định về giá cả đã đăng ký và/hoặc trong diện được bình ổn; khi muốn tăng giá phải giải trình với cơ quan chủ quản và không được tăng liên tục trong vòng một thời gian nào đó v.v...

Vụ việc lùm xùm mới đây nhất là chuyện giá sữa trẻ em dưới 6 tuổi liên tục tăng trong thời gian ngắn (mà không vì lý do gì!?). Nguyên nhân cuối cùng được cho té ra là do các mặt hàng sữa trước đây đã bị thay tên đổi họ thành sản phẩm dinh dưỡng theo quy định của Bộ Y tế, và, do đó, “thoát” bị nằm trong danh mục hàng hóa phải bình ổn giá do Bộ Tài chính quản lý.

Và như một giải pháp xử lý để giá sữa trẻ em không tăng nữa, người ta đã nhanh chóng đưa sữa trẻ em vào lại danh mục hàng hóa phải bình ổn giá của Bộ Tài chính. Và rồi dư luận thở phào một cái, với những tờ báo giật tít lớn đại loại giá sữa từ này hết “cửa” tăng với hành động chính sách này! Tìm ra nguyên nhân và xử lý vấn đề xem ra thật rõ ràng và đơn giản.

Thế nhưng, có thể nhìn thấy trước tương lai tiếp tục bất ổn của những mặt hàng thuộc diện bình ổn giá nói chung và của sữa nói riêng. Có không ít những mặt hàng thuộc diện bình ổn mà giá của chúng nhiều khi và ở nhiều nơi còn cao hơn cả ngoài thị trường. Có nhiều mặt hàng bình ổn mà lượng cung như muối bỏ bể và tiểu thương đổ xô đến để mua rồi bán lại với giá cao hơn, để rồi rốt cuộc giá tăng vẫn cứ tăng. Có nhiều mặt hàng mà giá niêm yết một đằng, bán một nẻo mà người mua vẫn cứ phải lẳng lặng chấp nhận và móc túi trả tiền vì nhiều chiêu lách luật của người bán mà nếu có phát hiện thì cơ quan chủ quản chẳng thể làm gì, và người mua thấy chỗ nào cũng vậy v.v... Trong khi đó, có nhiều mặt hàng mà để giá của chúng được bình ổn, hàng loạt ưu đãi tài chính phải được đưa ra để rồi phí tổn liên quan đến bình ổn trở nên phi lý và tạo động cơ cho những hành động trục lợi của những doanh nghiệp tham gia bình ổn.

Mấu chốt của vấn đề, rất tiếc, lại rất đơn giản. Do cung và cầu chênh lệch nhau, chính xác hơn, cung nhỏ hơn cầu. Để khắc phục quy luật cơ bản này của thị trường, người ta phải tăng cung và/hoặc giảm cầu, và/hoặc bù giá. Tăng cung có thể bằng cách tăng sản xuất trong nước, tăng/nới lỏng điều kiện nhập khẩu. Giảm cầu có thể bằng cách “bóp mồm bóp miệng”, hoặc tìm loại hàng hóa thay thế được. Bù giá là lấy ngân sách nhà nước ra để bù vào phần chênh lệch giữa giá do thị trường quyết định và mức giá mà nhà nước thấy có thể chấp nhận được, làm cho tất cả nhu cầu hiện tại vẫn được thỏa mãn. Cứ dựa vào những yếu tố này sẽ thấy có nhiều vấn đề liên quan đến giá đã bị bỏ qua ở Việt Nam.

Cụ thể với mặt hàng sữa, việc tăng cung xem ra không phải là vấn đề khi, theo một số báo cáo, có tới hơn 200 nhà nhập khẩu sữa vào Việt Nam, chưa kể nguồn cung từ “hàng xách tay”. Sản xuất trong nước dường như không bị chịu một cơn sốc nào, vẫn không ngừng tiếp tục tăng trưởng, khó mà tạo thành cơn sốt giá đột ngột. Nhưng có điều, vẫn chưa thấy có phân tích nào, kể cả từ cơ quan chức năng, chỉ ra rằng chi phí và giá nhập khẩu sữa, và nguyên vật liệu vào Việt Nam để sản xuất sữa, có tăng lên không. Thay vào đó, một ví dụ cụ thể, cái mà người ta vẫn hay viện dẫn ra là một cái bảng giá sữa nhập khẩu vào Việt Nam của nhiều hãng sữa chỉ bằng một phần của giá bán hiện tại trong nước, để rồi kết luận rằng giá sữa tăng lên ở Việt Nam là vô lý. Nhưng phân tích theo kiểu này là vô nghĩa vì người ta không chỉ ra rằng giá nhập khẩu đó đã có thay đổi hay không so với trước khi các hãng sữa tăng giá. Nếu quả thật đã có sự thay đổi (tăng lên) thì đương nhiên giá sữa trong nước cũng phải thay đổi (tăng lên), bất chấp chênh lệch giá trong nước và giá nhập khẩu là bao lần. (Chuyện chênh lệch này lại thuộc một chủ đề khác).

Về phía cầu, cũng có một vài yếu tố bị bỏ qua. Chẳng hạn, người ta không chịu xem xét xem trong thời gian qua đã có sự chuyển dịch về lượng và cơ cấu của cầu về sữa làm thay đổi giá sữa hay không. Từ ngoài nhìn vào, có thể chỉ ra ngay một yếu tố có thể đã có ảnh hưởng đến cầu về sữa ở Việt Nam. Đó là việc mua vét sữa của dân Trung Quốc xảy ra trên phạm vi toàn cầu, từ Âu sang Mỹ xuống Úc và New Zealand rồi lên Á do người dân Trung Quốc lo ngại với chất lượng sữa sản xuất trong nước họ. Với nhu cầu mua vét khổng lồ này, việc tăng giá sữa trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam, nếu có, là điều không khó hiểu và bất ngờ. Ngược lại, việc Trung Quốc vơ vét sữa “ngoại” thế này đương nhiên cũng đẩy giá sữa và nguyên liệu sữa nhập khẩu lên, làm giá sữa sản xuất ở Việt Nam cũng phải tăng lên (xét về phía cung).

Về việc bù giá. Một khi cung cầu đã có biến động theo hướng bất cân đối như vậy thì giá sẽ chịu áp lực tăng lên. Để mọi người tiêu dùng vẫn tiếp cận được mức giá không đổi thì nhà nước phải bù giá. Nhưng ở Việt Nam hình như cho đến nay vẫn chưa nghe thấy chuyện ngân sách đã bỏ ra từng này đồng hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhập khẩu sữa hoặc nhập khẩu nguyên liệu sữa để sản xuất sữa với giá bán rẻ hơn so với không có hỗ trợ. Và cũng chưa nghe thấy chuyện nhà nước trợ cấp mỗi hộp sữa cụ thể là từng này đồng để người mua chỉ phải bỏ ra một số tiền không đổi so với trước cho cùng một hộp sữa. Chuyện thiếu vắng sự hỗ trợ và bù giá thế này xem ra vẫn tiếp tục trong thời gian tới. Ở đây ta chưa nói đến quy mô hỗ trợ cần thiết để đảm bảo mọi nhu cầu được thỏa mãn tại mức giá hiện tại (không tăng) và những tổn hại to lớn đi kèm với việc hỗ trợ, mà vì thế mà nhiều nước đang có trợ giá cho mặt hàng nào đó (xăng dầu, lương thực, thực phẩm v.v...) đã và đang phải cân nhắc thu hẹp hoặc xóa bỏ tài trợ do ngân sách của họ không thể kham nổi.

Tóm lại, việc quản lý giá hàng hóa nói chung và giá sữa nói riêng đang có nhiều bất ổn, từ chuyện phân tích và tìm ra nguyên nhân, cách tư duy và biện pháp xử lý, công cụ xử lý, năng lực và nguồn lực xử lý, và kể cả việc giám sát công tác xử lý. Bởi vậy, có thể thấy trước (và thực tế cũng cho thấy vậy) rằng giá cả các mặt hàng được bình ổn sẽ tiếp tục bất ổn và/hoặc đi kèm với những tổn thất lớn cho ngân sách.


Thursday, 7 November 2013

Khi chính sách tiền tệ gánh chính sách tài khóa (Bài trên TBKTSG, số ngày 7/11/2013, bản gốc)

Chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách tài khóa (CSTK) vốn là 2 chính sách kinh tế vĩ mô độc lập và được chịu trách nhiệm bởi 2 cơ quan chủ quản khác biệt, Ngân hàng Trung ương (NHTW) và Bộ Tài chính.

Về chức năng, NHTW thông qua CSTT để điều chỉnh cung tiền để đạt được một mức lãi suất phù hợp nhằm thúc đẩy tăng trưởng và ổn định kinh tế và ổn định. Trong số những mục tiêu theo đuổi chính thống thường có mục tiêu ổn định giá cả và thất nghiệp thấp. Còn CSTK là việc Chính phủ sử dụng tiền thu về ngân sách (trong đó có thuế) để chi tiêu và thông qua đó ảnh hưởng đến nền kinh tế. 2 công cụ chính của CSTK là thay đổi mức độ và cấu thành của thuế và chi tiêu của Chính phủ vào các ngành và lĩnh vực kinh tế khác nhau.
Sự độc lập của NHTW với Bộ Tài chính nói riêng và rộng hơn là với Chính phủ và cả giới chính trị nói chung là điều cần thiết để NHTW có thể theo đuổi chính sách có tác động tích cực lên tăng trưởng và ổn định kinh tế trong dài hạn. Nếu không được độc lập với Chính phủ và giới chính trị nói chung thì NHTW dễ tạo ra những cơn trồi sụt của nền kinh tế trong ngắn hạn bắt đầu bằng CSTT nới lỏng quá mức thông qua áp lực của giới chính trị đặc biệt trước thời điểm bầu cử nhằm “ghi điểm” với cử tri.

Điều đáng nói ở Việt Nam là Ngân hàng Nhà nước ( NHNN)  không có tư cách độc lập với Chính phủ. CSTT vì thế cũng bị sự chi phối các định hướng điều hành chung của Chính phủ. Bởi vậy, ở Việt Nam, CSTT nhiều lúc đã phải đảm đương cả vai trò của CSTK mỗi khi Chính phủ phải đối mặt với thâm hụt ngân sách lớn mà “không tiện” giải trình để xin Quốc hội cho nới lỏng trần thâm hụt, như đang chứng kiến hiện nay. Có điều, vì NHNN không phải giải trình và xin phép Quốc hội trong việc nới lỏng cung tiền ở từng thời điểm để tạo ra nguồn tiền tài trợ cho các hoạt động của Chính phủ nên việc CSTT phải gánh vác vai trò của CSTK thường không bị chú ý, không được biết đến và tác động tiêu cực của nó lên nền kinh tế cũng vì thế mà thường được bỏ qua, lãng quên. Sự lỏng lẻo và dễ dãi trong việc “thò tay” vào túi NHNN để lấy tiền, ngược lại, càng như một động lực khuyến khích Chính phủ lạm dụng NHNN như một bầu sữa ngân sách không bao giờ cạn để bổ khuyết cho sự bất cập về kỷ luật tài chính của mình, đặc biệt khi bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước có nhiều điểm không thuận.
Có thể liệt kê ra đây một số ví dụ về việc CSTT phải gánh vác vai trò của CSTK , hay đúng hơn là NHNN phải thay Bộ Tài chính tài trợ cho các khoản chi tiêu mà lẽ ra phải lấy từ ngân khố quốc gia để chi trả. Đó là, theo TS. Lê Xuân Nghĩa, hàng loạt các hỗ trợ cho 5 lĩnh vực ưu tiên lẽ ra của chính sách tài khóa thì lại qua ngân hàng, dùng tiền của ngân hàng trung ương; tạm ứng cho ngân sách như để giải phóng mặt bằng quốc lộ 1, hay tạm ứng ngân sách đối ứng giải ngân vốn ODA, 30.000 tỷ đồng hỗ trợ vay mua nhà, rồi xử lý nợ xấu qua VAMC cũng có thể tới 100.000 tỷ đồng, hay một vài lĩnh vực khác “không thể nói ra”… đều qua Ngân hàng Nhà nước.

Riêng xử lý nợ xấu qua VAMC mà ông Nghĩa đề cập, không rõ chuyện “xử lý” này là như thế nào, nhưng nếu chi có tới 100 nghìn tỷ đồng thì có lẽ ông Nghĩa chưa tính đủ, vì lượng nợ xấu của Việt Nam hiện lên tới mấy lần con số này. Trong bối cảnh ngân sách đang thâm hụt mạnh, vượt trần cho phép, đương nhiên ngân sách chẳng thể gánh vác được khối nợ xấu lớn như vậy. Mà cho dù thâm hụt ngân sách có được phép tăng lên và Chính phủ có được phép phát hành thêm trái phiếu để tài trợ cho việc mua nợ xấu thì hành động này hoặc sẽ dẫn đến lãi suất tiền đồng tăng vọt do tiền đã bị hút vào trái phiếu, hoặc NHNN phải nới cung tiền, cung cấp thanh khoản cho các ngân hàng thương mại để mua trái phiếu Chính phủ nhằm giữ lãi suất không tăng lên, dẫn đến tăng áp lực lạm phát do tăng cung tiền. Cả 2 kịch bản đều không phải là điều được mong muốn ở Việt Nam.
VAMC được ra đời với hình thức mua nợ độc đáo của nó là bằng trái phiếu đặc biệt, dùng để chiết khấu tại NHNN lấy tiền mặt được cho là một giải pháp sáng tạo của Việt Nam, khi ngân sách không phải trực tiếp chi trả cho việc mua nợ xấu. Và Thống đốc NHNN có thể đã đúng khi tuyên bố rằng: “Việc mua bán nợ của VAMC không sử dụng tiền của ngân sách”.

Tuy vậy, việc các ngân hàng thương mại mang trái phiếu đặc biệt của VAMC đến chiết khấu tại NHNN để lấy dù chỉ là 70% giá trị nợ xấu đã bán cho VAMC thì cũng vẫn có nghĩa là có nhiều trăm nghìn tỷ đồng vẫn sẽ phải được NHNN in ra và chảy vào nền kinh tế. Mà như vậy thì tác hại của nó lên kinh tế vĩ mô (cụ thể là lạm phát) cũng sẽ tương tự như việc phát hành trái phiếu Chính phủ để mua nợ xấu và được “hỗ trợ” bằng thanh khoản của, bằng cung tiền từ NHNN.
Như vậy, có thể thấy, việc thành lập VAMC và phát hành trái phiếu đặc biệt của nó nói riêng và nhiều khoản mục khác trong chi tiêu của Chính phủ được tài trợ bởi tiền từ NHNN nói chung là một hình thức lách luật của Chính phủ nhưng rốt cuộc hậu quả tiêu cực của hành động này lên nền kinh tế lại không thể tránh khỏi. Nếu làm nghiêm ngặt và thống kê đầy đủ thì thâm hụt ngân sách lẽ ra đã và sẽ phải ở mức lớn hơn như đã biết nhiều. Bởi vậy, những câu phát biểu kiểu như “ngân sách không tốn một đồng” chẳng hề có chút giá trị chút nào ngoài việc xoa dịu và đánh lạc hướng dư luận.

Và dẫu có muộn, cũng đã đến lúc hoạt động của NHNN phải được độc lập với Chính phủ, và hoạt động của nó phải chịu sự theo dõi sát sao của Quốc hội. Bằng không, sự tồn tại của NHNN cũng chỉ như là một cánh tay nối dài của Kho bạc Nhà nước.

Wednesday, 6 November 2013

"Hay, dở đều do Ngân hàng Nhà nước" (Bài trả lời phỏng vấn, tiêu đề do báo đặt)

 
 
PV: Nhiều ý kiến cho rằng điều hành chính sách tiền tệ đã góp phần quan trọng giữ cho lạm phát năm nay ở mức thấp. Nhưng lại cũng có phản bác, rằng, Ngân hàng Nhà nước "ăn may" vì giá cả thế giới không tăng. Ông nghĩ sao?
 
TS Phan Minh Ngọc: Cái đó đúng một phần. Thêm yếu tố nữa là tổng cầu đã tăng trưởng chậm lại nên bất chấp cung tiền vần tăng khá mạnh trong 10 tháng qua nhưng lạm phát mới dừng lại như hiện nay.

Nên quả thật là Ngân hàng Nhà nước có sự may mắn ở đây, chứ không hẳn cho thấy tính hiệu quả của chính sách tiền tệ như tự nhận.

Áp lực lớn nhất của điều hành chính sách tiền tệ trong năm 2014 theo ông là gì?

Đó là áp lực phải chạy theo mục tiêu tăng trưởng tín dụng, phát hành trái phiếu Chính phủ, mặt khác phải kiên định với ổn định tỷ giá.

Có người nói phát hành trái phiếu Chính phủ không làm tăng áp lực lạm phát nhưng thật ra không hẳn thế. Nếu để tăng tổng vốn đầu tư xã hội thì chính sách tiền tệ buộc phải chạy theo bằng cách cung cấp thanh khoản, vốn cho hệ thống ngân hàng để họ có tiền mua trái phiếu Chính phủ.

Rồi nữa, nhiều người sốt ruột với tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp trong năm nay nên gây áp lực tăng nó lên trong thời gian còn lại của năm và năm sau. Điều này sẽ làm tăng áp lực lạm phát ngay từ đầu năm sau.

Cuối cùng, áp lực gia tăng lạm phát (làm tiền đồng lên giá thực) một bên và áp lực phá giá để hỗ trợ xuất khẩu như Thủ tướng chỉ đạo bên khác sẽ làm cho kỳ vọng phá giá càng tăng mạnh, càng gây thêm áp lực lạm phát.

Nói gọn lại, chính sách tiền tệ năm sau sẽ phải đánh vật giữa nhiều mục tiêu trái chiều nhau, vừa ổn định kinh tế vĩ mô vừa phải cấp vốn cho Chính phủ, cho nền kinh tế để chạy theo mục tiêu tăng trưởng không kém tham vọng.

Như vậy, căn bệnh kinh niên “chính sách tài khóa lấn lướt chính sách tiền tệ” có vẻ sẽ tái phát trong năm tới?

Không phải là lấn lướt, mà chính xác hơn là ép chính sách tiền tệ phải chạy theo một cách vô tình hay hữu ý. Cũng có thể do quan niệm chưa đúng và đầy đủ của những người có trách nhiệm, rằng phát hành trái phiếu Chính phủ không làm tăng áp lực lạm phát, vì thế, cho tiện lợi, người ta cứ đề xuất và rồi được phê chuẩn.

Ngân hàng Nhà nước có thể xoay sở như thế nào trong năm tới nếu chính sách tài khóa không thắt chặt?

Tài khóa không thắt chặt có nghĩa là Chính phủ tiếp tục tăng chi tiêu và đầu tư. Sẽ không thành vấn đề nếu chỉ có duy nhất mục tiêu tăng trưởng. Nhưng sẽ thành vấn đề nếu có thêm đồng thời mục tiêu kiềm chế lạm phát. Trong trường hợp này, chính sách tiền tệ sẽ phải ngược hướng với chính sách tài khóa.

Hình dung cụ thể của ông về lạm phát năm tới là như thế nào trong bối cảnh này?

Phần lớn sẽ phụ thuộc vào hành động nới lỏng chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Càng nới
lỏng, càng chạy theo mục tiêu tăng trưởng, theo yêu cầu cấp vốn của Chính phủ thì áp lực lạm phát càng gia tăng.

Hy vọng, triệu chứng lạm phát sẽ đến sớm trong năm và Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ sẽ phải chùn tay, siết lại chính sách tiền tệ và tài khóa của mình.

Theo ông, lãi suất năm 2014 sẽ diễn biến như thế nào?

Ngân hàng Nhà nước đã biết và xác định được cơ sở thiết lập lãi suất, đó là dựa trên lạm phát và kỳ vọng lạm phát. Bởi vậy, lãi suất năm sau sẽ phụ thuộc vào lạm phát và lạm phát kỳ vọng, đến lượt nó, lạm phát và lạm phát kỳ vọng lại phụ thuộc vào chính sách tiền tệ nới lỏng đến mức độ nào.

Các quân cờ đều nằm trong tay Ngân hàng Nhà nước, hay dở thế nào đều do Ngân hàng Nhà nước thực hiện. Và sâu xa hơn là quan điểm của những lãnh đạo cấp cao hơn. Nếu họ vẫn mang tâm lý thích tăng trưởng bằng mọi giá thì Ngân hàng Nhà nước còn phải vật lộn một cách khá vô vọng với những mục tiêu mâu thuẫn, loại trừ lẫn nhau.

Nhưng sự độc lập của Ngân hàng Nhà nước, như ông biết, chỉ là tương đối?

Vì Ngân hàng Nhà nước chỉ là một cơ quan cấp bộ, không có sự độc lập về chính sách, mục tiêu hoạt động. Kết quả là nền kinh tế sẽ còn tiếp tục bị trồi sụt trong bãi lầy chính sách.

Theo ông, có cách nào để thoát khỏi bãi lầy đó?

Không thể cầu toàn và tham lam mọi chuyện được. Phải biết điểm dừng và giới hạn, tuyệt đối cần bỏ thái độ chủ quan duy ý chí. Như vậy cần theo đuổi và chấp nhận một sự tăng trưởng vừa phải, trong những phạm vi an toàn cho phép để có được sự ổn định vĩ mô tương đối nhằm tạo điều kiện cho những cải cách và tái cơ cấu nền kinh tế hướng đến mục tiêu tăng trưởng bền vững trong dài hạn. Cái nhìn dài hạn thay cho tâm lý ứng phó, xoay sở trong ngắn hạn là cái cần thiết, cần có ở đây hiện nay.

Xin cảm ơn ông!
Tường Vi

Tuesday, 5 November 2013

Bồi bút của bác Lại Trần Mai

Hình như có lần bác Lại Trần Mai, chủ nhân của blog "Tôi thích đọc", người cũng thỉnh thoảng ghé chơi blog này, đề cập đến đồng chí phóng viên (nhà báo?) Xuân Ba của Tiền Phong, gọi đồng chí này là bồi bút thì phải.

Đọc mấy bài của đồng chí Xuân Ba, nhất là mấy bài viết về các lãnh tụ kính yêu của tớ, quả thật tớ thấy đôi lúc cũng muốn lộn mửa. Ấn tượng nhất là một bài viết của đồng chí ấy về chuyến thăm Nhật của đồng chí X kính yêu hồi mấy năm trước, có đoạn viết, đại loại mấy đồng chí CEO của các tập đoàn lớn của Nhật cứ "thập thò" ngoài cửa để mong được vào diện kiến đồng chí X.

Có lẽ nếu đồng chí Xuân Ba nói thế với mấy đồng chí quan chức của Việt Nam cứ thập thò diện kiến Bill Gate thì tớ còn tin chút chút, chứ nói mấy đồng chí Nhật, mà lại là CEO của ví dụ như Sony, Panasonic, Toyota v.v... cũng như vậy thì tớ muốn ... vào cái ... của bác Xuân Ba lắm, vì tớ nghĩ tư cách của mấy người Nhật, nhất là những nhân vật không phải tầm thường như thế này đâu có cho phép họ "thập thò", cho dù chỉ là để ngóng ý con ông trời là đồng chí X.

Hôm qua và hôm nay đọc thêm tuyệt phẩm này này của đồng chí Xuân Ba về Thống đốc Bình và NHNN mà thú thật là tớ chỉ đủ kiên nhẫn đọc được một đoạn (mà cũng không thể hiểu nổi ý của nó), tớ càng thấy cái thứ văn xôi thịt theo kiểu "thập thò", dây cà ra dây muống, thấy người sang bắt quàng làm họ, bốc thơm mang phong cách đặc trưng này.

Vỗ tay cho đồng chí Đặng Thành Tâm

Lần này tớ phải vỗ tay hoan nghênh đồng chí doanh nhân Đặng Thành Tâm khi phát biểu về Vinacomin xin miễn giảm thuế như ở bài này.

Thường tớ không mấy thiện cảm và ấn tượng với giới doanh nhân Việt Nam, nhất là khi nói gì đó về vấn đề quốc tế. Nhưng đọc phát biểu của đồng chí Đặng Thành Tâm, người từng bị tớ phang trước đây về phát biểu "hạnh họe" của đồng chí ấy với đồng chí X kính yêu của tớ trước nghị trường, tớ thấy khá phục đồng chí ấy về hiểu biết trong ngành sản xuất nhôm (nếu là trả lời phát biểu vo, không có chuẩn bị trước, không trả lời bằng giấy bút thì càng phục).

Có những đoạn viết như thế này:

"Tại vì sao không khả thi? Tôi là thành viên hội đồng cố vấn Apec cùng với ông Oleg Deripaska - ông vua nhôm lớn thế giới. Chính ông đã nói thẳng, chính bản thân ông ấy mua mỏ của nước Nga từ khi giá còn rất rẻ nhưng vẫn bị lỗ.
Nhà tỷ phú Oleg Derpaska – ông chủ Tập đoàn United Co Rusal của nước Nga buộc phải cắt giảm sản lượng vì riêng quí IV năm 2011 lỗ 974 triệu USD trong khi quí IV năm 2010 còn thu lãi 1,45 tỷ USD! Sáu tháng đầu năm 2012, lợi nhuận ròng sụt giảm tới 95,25%, doanh thu giảm 9,66% khi giá một tấn nhôm chỉ còn 1.810 USD. Chính vì thế, ông ấy rất băn khoăn chuyện Việt Nam đầu tư vào 2 dự án này."

Thực hư về quan hệ quen biết của đồng chí Tâm với đồng chí Deripaska như thế nào thì tớ không biết, nhưng cái đoạn nói về tình hình sản xuất nhôm, giá nhôm... mà đồng chí Tâm nói vanh vách, khá chính xác thì tớ phục thật. Chả là tớ cũng đã và sẽ phải làm các báo cáo thị trường kim loại định kỳ, trong đó có nhôm, nên cũng biết chút chút về chuyện này.

Và cả những đoạn khác về tình hình ngành và thị trường, về Vinacomin, là những phát biểu khá khách quan, chính xác.

Giá mà đồng chí Tâm lúc nào và ở đâu cũng minh mẫn, khách quan được thế này thì tốt thật.

Thursday, 31 October 2013

Việt Nam và Vinashin

Đọc cái tin xóa bỏ "mô hình thí điểm" Vinashin này mới thấy tội nghiệp và cay đắng cho dân ta, vì ta cũng đã và đang bị biến thành chuột bạch cho các thí nghiệm các kiểu vài chục năm nay, để rồi bao xương máu, nước mắt đã phải đổ ra và tiền của đội nón ra đi để hiện thực hóa những suy nghĩ điên khùng của một bộ phận người đã và đang nắm vận mệnh đất nước và dân tộc.

Vinashin đã phải trả giá cho lỗi lầm của mình, trả giá hộ cho lỗi lầm của những kẻ khai sinh ra nó, còn dân Việt Nam đang và sẽ phải è cổ, bóp mồm, thắt đít trả giá hộ cho tất cả những lỗi lầm này, trong không chỉ một mà vài thế hệ, điều mà nhiều người giờ mới ngã ngửa ra khi được biết.

Chưa hết, dân Việt Nam vẫn đã và đang phải trả giá cho một "mô hình thí điểm" mà về quy mô thì lớn gấp ngàn lần Vinashin, đó là mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà theo đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng kính yêu và thông thái thành thật tâm sự và chia sẻ: "Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa".

Đến đồng chí Trọng mà còn chưa biết thì ai biết đây? Thông thái gần bằng và nhìn xa hơn như tớ mà cũng chỉ lờ mờ cảm nhận rằng tương lai và tiền đồ của (công cuộc xây dựng) CNXH ở Việt Nam cũng mù mờ và sóng gió như, để rồi có kết cục giống của Vinashin hôm nay.

Vinashin đã đổ vỡ rồi, mô hình của nó đã phải bị xóa bỏ rồi (lời của báo Nhân dân nhé), liệu có hy vọng gì cho một khả năng tương tự như thế với mô hình CNXH mà ta đang nhắm mắt lao tới không? Và bao giờ đây? Sao các đồng chí chưa (hoặc cố tình không) tỉnh ngộ, rút kinh nghiệm từ Vinashin và thôi mang cái nước Việt khốn khổ này ra làm thí nghiệm nữa đi cho con dân được nhờ?


Áp lực lạm phát – Có hay không và đến từ đâu? (Bài đăng trên TBKTSG, ngày 31/10/2013, bản gốc)

Chính phủ đang phấn đấu kiềm chế lạm phát trong các tháng còn lại của năm để đạt được mục tiêu giữ lạm phát cả năm dưới 7% năm nay, tạo đà để kiềm chế lạm phát trong năm sau xoay quanh mức này. Với lạm phát 10 tháng năm nay so cùng kỳ năm trước “mới” đạt mức 5,92%, nhiều người cho rằng mục tiêu lạm phát 7% năm nay là hoàn toàn khả thi. Mặc khác, cho dù có đạt được thì cũng cần phải thừa nhận rằng mức này vẫn là cao so với khu vực và thế giới.

Tuy vậy, với một số đề xuất và công bố về chính sách vi mô và vĩ mô mới đây, sẽ là không dễ phủ nhận sự gia tăng của áp lực lạm phát cho những tháng còn lại của năm và ít nhất là sang đến năm sau.
Nguồn gia tăng áp lực lạm phát đầu tiên phải kể đến là nguồn cung tiền từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) liên quan đến khoản trái phiếu chính phủ 170 nghìn tỷ đồng mà Chính phủ đang đệ trình Quốc hội phê duyệt cho phát hành thêm nhằm bổ sung nguồn vốn cho kế hoạch chi tiêu đề ra từ trước trong bối cảnh hụt thu ngân sách mạnh. Mặc dù một số đại diện của Chính phủ có giải thích rằng đây không phải là khoản tiền in thêm ra nên “người dân có thể yên tâm là sẽ không gây ra lạm phát”, nhưng điều này phải có điều kiện.

Như đã biết, tại mỗi thời điểm với một khối lượng cung tiền không đổi, khi Chính phủ phát hành trái phiếu để huy động vốn cho đầu tư và chi tiêu,  hành động này sẽ hút bớt một phần vốn lẽ ra dành cho khu vực kinh tế phi nhà nước (tức khu vực kinh tế tư nhân). Lãi suất trái phiếu Chính phủ càng hấp dẫn thì lượng vốn hút vào trái phiếu càng tăng, và tức là lượng vốn còn lại dành cho khu vực tư nhân càng giảm. Cứ vậy, cho đến một lúc nào đó thì lượng vốn hút vào ngân sách sẽ đúng bằng lượng trái phiếu phát hành ra (trong trường hợp này là 170 nghìn tỷ đồng theo đề xuất của Chính phủ), và cũng đúng bằng lượng vốn chảy ra khỏi/lẽ ra dành cho khu vực tư nhân (170 nghìn tỷ đồng).
Như vậy, mục đích dùng để biện minh cho đề xuất phát hành thêm 170 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ là để tăng tổng đầu tư xã hội sẽ không thành hiện thực vì tổng đầu tư xã hội sau khi phát hành thêm 170 nghìn tỷ đồng trái phiếu vẫn không thay đổi so với trước khi phát hành trái phiếu. Để hiện thực hóa mục đích này, cần phải có thêm một nguồn tiền mới hấp thu hết được 170 nghìn tỷ đồng trái phiếu phát hành thêm, bên cạnh lượng tiền hiện có trong nền kinh tế.

Vậy nguồn tiền mới này có thể từ đâu đến? Nó có thể đến từ NHNN, thông qua việc bơm thêm thanh khoản cho các ngân hàng thương mại để họ mua trái phiếu Chính phủ. (Một phần) nguồn tiền đó cũng có thể đến từ các nhà đầu tư nước ngoài, mang ngoại tệ vào Việt Nam, đổi ra tiền đồng để mua trái phiếu, thông qua hệ thống ngân hàng trong nước. Một phần lượng trái phiếu trên cũng có thể được phát hành ra quốc tế, bằng ngoại tệ. Dù bằng nguồn nào thì rốt cuộc cung tiền (tiền đồng và ngoại tệ) trong nền kinh tế Việt Nam cũng tăng lên tương ứng, tạo thêm áp lực lạm phát, chứ không đơn giản như giải thích trấn an của Chính phủ.
Nguồn tăng áp lực lạm phát thứ hai đến từ việc chủ động phá giá tiền đồng nhằm hỗ trợ xuất khẩu, do tiền đồng đã lên giá mạnh, như tuyên bố của Thủ tướng. Mặc dù mức độ phá giá có thể là nhỏ (2% đến cuối năm), nhưng việc này cũng tạo ra thêm áp lực lạm phát (nhập khẩu) một thời gian đầu khi mới phá giá, nhất là khi việc phá giá tạo ra cơn sốc tâm lý mà Chính phủ không kiểm soát được, đẩy áp lực lạm phát nhập khẩu lên cao quá mức.

Cần lưu ý rằng hành động phát hành thêm trái phiếu với thanh khoản tăng thêm từ NHNN sẽ tạo điều kiện cho thị trường kỳ vọng lạm phát sẽ gia tăng, từ đó làm tiền đồng càng lên giá thực so với đô la Mỹ, càng tạo bất lợi cho xuất khẩu, và tức là càng tạo thêm áp lực phá giá hơn nữa tiền đồng, có thể quá mức mục tiêu 2% như tuyên bố của Chính phủ. Đến lượt nó, việc phá giá tiền đồng mạnh hơn sẽ càng tăng áp lực lạm phát, theo một vòng xoáy trôn ốc.
Nguồn tăng áp lực lạm phát thứ ba đến từ chính NHNN, trong một nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng tín dụng đạt mức 12% như đã đặt ra ban đầu. Cho đến tháng 10 này, tăng trưởng tín dụng mới đạt trên 6%, thấp xa so với con số mục tiêu trên. Nếu NHNN phải biến mục tiêu này thành hiện thực thì sẽ không khó hiểu khi thấy một lượng thanh khoản lớn sẽ tiếp tục đổ vào hệ thống ngân hàng, bên cạnh lượng tài khoản giúp cho các ngân hàng mua 170 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ nói trên. Đương nhiên, lúc đó áp lực lạm phát đến từ gia tăng tổng cầu do tăng cung tiền sẽ phải tăng lên mạnh.

Ngoài ra, một số biện pháp hành chính đang và sẽ được thực thi như không cho một doanh nghiệp/ngành nào đó tăng giá sản phẩm và dịch vụ (điện lực, xăng dầu, giáo dục, y tế...) có thể sẽ có hiệu quả trong việc kiềm chế lạm phát trong thời gian cấm tăng giá. Nhưng cũng có thể dễ dàng thấy khi được “buông” thì giá của chúng sẽ được tăng “bù” và thậm chí còn tăng nhiều hơn, như thực tế đã cho thấy.
Với những nguồn trên, và nếu mọi kế hoạch và đề xuất đều được thực hiện ráo riết, có thể nói rằng áp lực gia tăng lạm phát sẽ rất lớn, và, do đó, mục tiêu giữ lạm phát như đã đề ra cho năm nay và cả năm sau sẽ trở nên bất khả thi, chứ không đơn giản như người ta nghĩ.

(Bổ sung: Tớ viết vội quá nên ẩu. Đoạn về phá giá và kỳ vọng lạm phát lẽ ra nên để ở sau yếu tố thứ ba, vì hành động thúc đẩy tăng trưởng tín dụng cũng làm tăng kỳ vọng lạm phát và do đó kỳ vọng phá giá hơn nữa do VND tiếp tục lên giá thực mạnh so với USD).

Friday, 25 October 2013

Sao cứ phải nâng bội chi ngân sách? (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=296367

08:28 | 26/10/2013
 
Thay vì nâng trần thâm hụt ngân sách để tăng nợ công, điều cần làm là phải thắt chặt kỷ luật thu chi ngân sách, đồng thời xây dựng các mục tiêu, kế hoạch mang tính thực tiễn, khoa học hơn, và quan trọng hơn, không buộc chúng phải đạt được bằng mọi giá, bất chấp hoàn cảnh khách quan và chủ quan.
Nguồn: vef.vn
Chính phủ đang trình Quốc hội nâng trần thâm hụt ngân sách để phát hành bổ sung 170.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2014 - 2016. Lý do xin phát hành bổ sung trái phiếu Chính phủ, theo giải trình của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính - Ngân sách, là: bổ sung nguồn lực đầu tư toàn xã hội và thúc đẩy đầu tư các thành phần kinh tế khác; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa Việt Nam thành nước công nghiệp vào năm 2020; tái cơ cấu nền kinh tế, nhất là tái đầu tư công, huy động vốn đầu tư xã hội (gồm ODA); bổ sung nguồn để thực hiện các dự án đầu tư bằng trái phiếu Chính phủ dang dở.
 
Tuy nhiên, lý do sâu xa, nói ngắn gọn, là do giảm thu trong khi chi ngân sách vẫn tăng, dẫn đến khả năng thâm hụt ngân sách lớn hơn dự kiến, và tình hình này có thể kéo dài sang một vài năm sau trong bối cảnh kinh tế trong (và ngoài) nước đã và sẽ tiếp tục có nhiều bất ổn. Vậy, lẽ ra biện pháp chủ đạo cần phải làm trước tiên, trước khi xem xét và phê chuẩn chấp nhận cho Chính phủ tăng trần thâm hụt và phát hành thêm trái phiếu Chính phủ, là cắt giảm chi tối đa, nhất là các khoản chi lãng phí, không hiệu quả, đồng thời tăng cường thu tối đa từ các nguồn hiện có và các nguồn có thể bổ sung.
 
Biện pháp trên thoạt nghe tưởng chừng quá hiển nhiên, ai cũng nói được, cũng biết được, và cũng... làm được (và đã làm được). Nhưng xem xét lại báo cáo giải trình của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính - Ngân sách mới thấy thực ra tình hình thực tế hoàn toàn không phải vậy.
 
Về thu ngân sách, báo cáo thẩm tra đã chỉ ra được một loạt những khoản thất thu, những bất cập trong công tác thu ngân sách, ví dụ như thất thoát và gian lận thuế, những khoản để ngoài ngân sách..., và kết luận rằng vẫn còn dư địa tăng thu. Về chi ngân sách, báo cáo thẩm tra cũng xác định được một loạt bất cập. Ví dụ, trong khi thu NSNN giảm nhiều, chi đầu tư phát triển vẫn tăng; phân bổ, bố trí vốn xây dựng cơ bản chưa khắc phục được tình trạng đầu tư dàn trải, thi công kéo dài, gây lãng phí nguồn lực; vẫn còn nhiều dự án triển khai chậm tiến độ, phân bổ vốn không đúng cơ cấu, chương trình hỗ trợ được giao; còn tình trạng một số cơ quan, đơn vị thiếu kiên quyết trong cắt, giảm đầu tư công; khởi công dự án mới trái quy định; một số chính sách, chế độ hỗ trợ cho các địa phương còn bất cập...
 
Trong bối cảnh trên, không khó hiểu tại sao bội chi lại có khả năng tăng mạnh so với mục tiêu kế hoạch đặt ra ban đầu. Lẽ ra Chính phủ phải tập trung khắc phục những bất cập này, còn Quốc hội cần phải nghiêm khắc hơn với Chính phủ về kỷ luật tài chính thay vì thông qua kế hoạch tăng bội chi của Chính phủ. Nếu thực hiện nghiêm túc quá trình thực hiện và giám sát thực hiện kỷ luật tài chính của cả Chính phủ và Quốc hội thì chắc chắn thâm hụt ngân sách không lớn như hiện tại và dự toán cho năm nay và những năm sau như trong các báo cáo của Chính phủ và Quốc hội, và hoàn toàn có khả năng không cần thiết phải nâng trần thâm hụt và nợ công. Còn nếu cứ để mọi việc trôi theo đề xuất của Chính phủ như hiện nay thì bội chi ngân sách khó có khả năng cải thiện trong những năm sau, nếu không muốn nói là sẽ tệ hơn, vì bao giờ Chính phủ cũng có những lý do nghe rất xác đáng (như hiện tại) để biện minh cho sự không hoàn thành nhiệm vụ của mình.
 
Biện pháp thứ hai cần làm là xem xét lại và thay đổi toàn bộ quy trình lập, trình và phê chuẩn các kế hoạch, mục tiêu phát triển KT - XH của Chính phủ và Quốc hội. Bản thân Quốc hội cũng (nên) nhận ra rằng các con số kế hoạch mục tiêu không gắn bó chặt chẽ với nhau và bản thân các con số đó được đưa ra chủ yếu bởi cảm tính, định tính (dựa theo các năm trước, theo nghị quyết, hoặc cảm thấy cần phải ở mức đó thì mới là hợp lý v.v...). Và kể cả có một cơ sở nào đó khi đưa ra những kế hoạch này nhưng đôi khi chúng sẽ thành mục tiêu ảo, đơn giản vì hoàn cảnh kinh tế (trong và ngoài nước) lúc đó đã thay đổi, không đúng như dự tính ban đầu. Lúc đó, nếu cứ khăng khăng phải đạt được mục tiêu kế hoạch thì hoặc là duy ý chí, hoặc là có hại nhiều hơn lợi.
 
Hãy lấy một ví dụ minh họa. Tăng trưởng năm nay ước đạt 5,4%, so với mức 5% của năm trước. Nhưng người ta sẽ giải thích làm sao khi tăng trưởng tín dụng và tỷ trọng đầu tư trên GDP năm nay lại giảm rất mạnh so với năm trước? Nghịch lý gì chăng? Không phải vậy. Nếu loại trừ khả năng các con số thống kê này là tạo dựng, thì đơn giản là chẳng có mối quan hệ rõ ràng và ổn định nào như kiểu, ví dụ, tăng trưởng tín dụng và đầu tư phải là x% để GDP tăng được y%. Trên nghĩa này, xin đừng “quyết tâm” với “quyết liệt” và “phấn đấu” để đạt được một con số mục tiêu vô căn cứ, duy ý chí nào đó, chẳng hạn tăng trưởng GDP phải là 6%,  hoặc tỷ trọng vốn đầu tư trên GDP phải là 30%, hoặc tăng trưởng tín dụng phải là 12%, hoặc thâm hụt ngân sách phải là 5,3% GDP... bằng mọi giá để rồi nền kinh tế phải trả giá trong trung và dài hạn, vì sự những sự quyết tâm, quyết liệt và phấn đấu này không được dựa vào, không tuân theo các nguyên tắc của kinh tế thị trường.
 
Tóm lại, thay vì nâng trần thâm hụt ngân sách để tăng nợ công, điều cần làm là phải thắt chặt kỷ luật thu chi ngân sách, đồng thời xây dựng các mục tiêu kế hoạch mang tính thực tiễn hơn, khoa học hơn, và quan trọng hơn, không buộc chúng phải đạt được bằng mọi giá, bất chấp hoàn cảnh khách quan và chủ quan.

Wednesday, 23 October 2013

Bình ổn thị trường vàng – nhiệm vụ mù mờ và bất khả thi (Bài đăng trên TBKTSG, ngày 24/10/2013, bản gốc)

Giá vàng trong nước sau một thời gian giảm giá liên tục đã lùi về gần mốc 37 triệu đồng/lượng hồi đầu tuần trước, do ảnh hưởng của giá vàng quốc tế. Điều đáng nói là chênh lệch khoảng cách giá vàng trong nước và thế giới sau một thời gian thu hẹp về mức 2-3 triệu đồng/lượng, được cho là công lao của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), gần đây lại tăng vọt lên, đạt mức gần 5 triệu đồng/lượng gần đây.

Tuy đã được nhiều người phân tích và chỉ ra những bất hợp lý trong chính sách quản lý thị trường vàng kiểu này của mình, nhưng NHNN vẫn khăng khăng bảo vệ quan điểm và cách làm như hiện nay. Trong bối cảnh chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới lại tiếp tục doãng rộng, điều này lại một lần nữa đặt ra một câu hỏi, liệu chính sách “bình ổn thị trường vàng” của NHNN có là khả thi, và, quan trọng hơn, nhằm mục đích gì?

Trong bài này, ta sẽ phân tích thêm về tính bất khả thi và mù mờ về mục đích của chính sách “bình ổn thị trường vàng” của NHNN.
Việt Nam đã nhập khẩu bao nhiêu vàng?

Cuối tháng 9, NHNN đã có báo cáo một số nội dung liên quan đến công tác quản lý thị trường vàng thời gian qua. Báo cáo cho biết trước đây mỗi năm Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 50-100 tấn vàng; toàn bộ lượng ngoại tệ để nhập khẩu vàng được lấy từ nền kinh tế, do vậy, nhập khẩu vàng trên quy mô lớn đã ảnh hưởng lớn đến tỷ giạ, lạm phát, sự ổn định kinh tế vĩ mô.
Với lập luận trên, bản báo cáo của NHNN dường như ngụ ý rằng nhu cầu nhập khẩu vàng của Việt Nam kể từ khi NHNN tiến hành chính sách quản lý hiện tại đã giảm đi về quy mô so với con số trung bình hàng năm từ 50-100 tấn như nói trên.

Nhưng theo thống kê của Hội đồng Vàng Thế giới thì tổng nhu cầu tiêu thụ vàng nữ trang và vàng thỏi, vàng miếng đã đạt mức 23,2 tấn trong quý 2 năm nay, tăng tới 24% so với cùng kỳ năm ngoái là 18,8 tấn (Bảng 10, báo cáo: “Gold Demand Trend Q2 2013”). Nếu tính nhu cầu tiêu thụ trong 12 tháng kể từ tháng 6/2012 đến 6/2013 thì Việt Nam vẫn tiêu thụ tổng cộng tới 77,4 tấn vàng (Bảng 12).
Việt Nam là nước nhập khẩu hầu như toàn bộ lượng vàng tiêu thụ, và vì không thể coi con số nhu cầu 23,2 tấn hoặc 77,4 tấn nói trên là tổng lượng vàng có (sẵn) trong nền kinh tế, nên có thể coi nhu cầu tiêu thụ vàng do Hội đồng Vàng Thế giới cung cấp nói trên chính là nhu cầu nhập khẩu vàng thêm vào nền kinh tế hàng quý, hàng năm. Từ đó suy ra tiếp rằng tổng khối lượng nhập khẩu vàng vào nền kinh tế trong thời gian qua không có dấu hiệu giảm sút, nếu không muốn nói là ngược lại, kể cả sau thời điểm NHNN liên tục tung vàng ra thị trường qua đấu thầu.

Thêm nữa, nguồn cung vàng trước đây từ các nhà nhập khẩu vàng (kể cả nhập lậu) với ngoại tệ gom góp trong nền kinh tế, như NHNN khẳng định, thì nay được thay bằng nguồn cung từ NHNN qua đấu thầu. Đương nhiên, lượng ngoại tệ NHNN dùng để nhập khẩu vàng vẫn là lấy từ nền kinh tế (hoặc rút từ nền kinh tế về qua hoạt động mua ngoại tệ với các ngân hàng thương mại, và/hoặc sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối). Điều này cũng có nghĩa là cái lý do rằng độc quyền nhập khẩu vàng để hạn chế sức ép lên tỷ giá mà NHNN đưa ra để biện minh cho hành động của mình là không đúng.
Thị trường vàng đã được ổn định, tình trạng đầu cơ vàng đã được ngăn chặn?

Trong báo cáo trên, NHNN khẳng định thị trường vàng đã được ổn định, nhu cầu vàng miếng đã được đáp ứng, tình trạng đầu cơ vàng đã được ngăn chặn, cung cầu vàng miếng trên thị trường đã được thu hẹp.

Khẳng định trên là tự mâu thuẫn. Nếu nhu cầu vàng miếng đã được đáp ứng thì, như đã nói ở trên, tổng lượng vàng nhập khẩu vào Việt Nam phải ở mức (trung bình) như mọi năm. Mà như vậy thì có nghĩa rằng mục đích quản lý vàng của NHNN để không làm hao tổn ngoại tệ của nền kinh tế Việt Nam là không hiện thực. Nếu lượng vàng nhập khẩu quả thực là nhỏ hơn mức trung bình hàng năm thì điều này lại cho thấy khẳng định của NHNN rằng nhu cầu vàng miếng đã được đáp ứng là không đúng (và trên thực tế đã có một phần cầu vàng không được đáp ứng).
Về tình trạng đầu cơ vàng, bản thân dãn cách giá vàng trong và ngoài nước tăng mạnh đã cho thấy tình trạng đầu cơ vàng đã tăng lên khi một bộ phận nhà đầu tư (có thể là cả cá nhân) cho rằng giá vàng sẽ tăng lên tại một thời điểm nào đó nên họ tích cực gom vàng vào tại thời điểm hiện tại, bất chấp cái giá phải mua là quá cao so với giá quốc tế, với hy vọng rằng giá bán tại thời điểm nào đó trong tương lai sẽ lớn hơn giá mua hiện tại. Đây là điển hình của tình trạng đầu cơ, nên NHNN không có lý do gì để khẳng định rằng tình trạng đầu cơ đã bị ngăn chặn.

Mà cho dù dãn cách có thu hẹp lại thì vẫn có một bộ phận nhà đầu tư vẫn mua gom với hy vọng giá vàng thế giới (và, do đó, giá vàng trong nước) sẽ tăng lên trong thời điểm tương lai, lớn hơn giá tại thời điểm hiện tại, mang lại lợi nhuận cho họ. Để ngăn chặn tình trạng đầu cơ này, NHNN chỉ còn cách ngừng hoàn toàn cung, cấm hoàn toàn hành động mua bán vàng trên thị trường  để nhà đầu tư không thể tiếp cận được với nguồn cung (cả chính thức và không chính thức) và không đầu cơ được. Đương nhiên, điều này là không tưởng và bất khả thi.
Tương tự như vậy, lời khẳng định cung cầu vàng (chắc ý muốn nói là chênh lệch cung cầu vàng) đã được thu hẹp và thị trường vàng đã được ổn định cũng là vô căn cứ. Bản thân việc giá vàng trong nước xuống liên tục trong mấy tuần liền cho thấy hoặc dư cung, hoặc thiếu cầu vàng. Nói cách khác, chênh lệch cung cầu vàng đã tăng (nghiêng về cung). Như vậy, trừ khi NHNN có ý rằng thị trường ổn định có nghĩa là giá vàng (trong nước) đi xuống thì lời khẳng định trên mới phần nào có cơ sở. Nhưng kể cả có như vậy thì NHNN sẽ giải thích ra sao khi giá vàng trong nước lại tăng lên (theo đà tăng của giá vàng thế giới) như một vài hôm trước đây?

Khái quát hơn, vì NHNN, cho dù có độc quyền cung vàng trong nước, vẫn chỉ là một người tham gia cuộc chơi vàng toàn cầu và phải chấp nhận giá cả áp đặt bởi thị trường (price taker). NHNN không bao giờ có thể là người làm giá (price maker). Nên giả sử NHNN có thành công trong việc ổn định thị trường vàng trong nước với cái nghĩa là ổn định (chênh lệch) cung cầu thì thành công này chỉ mang tính thời điểm (thậm chí không kéo dài quá một ngày) vì giá vàng thế giới luôn biến động bất ngờ, kéo theo giá vàng trong nước, như đã được chứng kiến, cho dù mức độ tăng giảm của giá vàng trong nước không nhất thiết tỷ lệ thuận với mức độ tăng giảm của giá vàng thế giới tại cùng thời điểm. Và như thế có nghĩa là NHNN luôn là người chạy sau biến động của thị trường vàng thế giới (và, do đó, biến động của thị trường vàng trong nước), chưa kể tần suất can thiệp, nếu có, là quá nhỏ (tối đa thì cũng chỉ là một ngày một lần, thông qua đấu thầu như mấy tháng nay). Trong bối cảnh luôn phải “vuốt đuôi” thị trường như thế mà nhận rằng đã “bình ổn” được thị trường thì quả là quá ngôn.

Kết luận lại, những diễn biến phức tạp trong thị trường vàng trong nước suốt mấy tháng qua dưới chính sách quản lý vàng của NHNN cho thấy rõ thêm sự mù mờ về mục đích và tính bất khả thi của nó. NHNN càng ra sức biện minh thì càng bộc rõ những lúng túng và sai lầm trong lập luận của mình.

Tuesday, 22 October 2013

Chuyện linh tinh

Tớ mới đi Penang nạp năng lượng về. Cũng chẳng có gì nhiều để nói ngoài mấy cái quan sát nhỏ nhặt. Tớ cũng đã đi vài nơi ở Malaysia nên thấy họ bảo vệ rừng khá tốt. Cây cối trên núi, trong công viên, trong rừng vẫn còn khá nguyên sơ. Thành phố khá vệ sinh, sạch sẽ.

Điểm không ngờ là giá nhà cửa tại Penang khá đắt đỏ. Những căn hộ condo tại những vị trí đắc địa lên tới vài triệu ringgit (hàng triệu đô Mỹ rồi). Tớ vốn chỉ quen với khái niệm nhà cửa đắt đỏ ở Sing, nhưng sang đây mới thấy mình nhầm. Đồng chí Jackie Chan còn chọn mua một căn hộ penthouse tại nơi này nữa (nghe đâu trị giá vài triệu đô Mỹ), chắc cũng có lý của mình.

Có một điểm chung giữa Malaysia và Indonesia mà tớ rất ghét là 2 nước này duy trì chế độ 2 giá tại nhiều nơi vui chơi, giải trí hoặc tại một số nơi (công cộng) khác. Giá vé bán cho người nước ngoài gấp tới dăm đến cả chục lần giá vé bán cho dân bản địa. Ngẫm ra Việt Nam mình còn tiên tiến chán. Trước đây ta cũng có chế độ 2 giá, nhưng hình như nay đã không còn phổ biến lắm (vẫn còn, tỷ như vào địa đạo Củ chi hay Bảo tàng chứng tích chiến tranh ở SG, lần tớ về đó hồi tháng 4). Bây giờ thành là người nước ngoài đối với mấy nước này nên tớ mới hiểu được cái cảm giác bực bội, thấy mình là mục tiêu chặt chém, làm tiền không chỉ của tư nhân mà còn cả của chính phủ từ trên xuống của người nước ngoài khác trước đây ở Việt Nam, và những lời kêu ca của họ.

Chuyển sang chuyện khác. Đọc bài về tỷ giá này trên VnEconomy, tớ lại càng thấy có sự "tự diễn biến", những chuyển biến theo hướng mà đồng chí X đã tuyên bố trong trả lời phỏng vấn Bloomberg (cũng lạ, tại sao trả lời phỏng vấn nước ngoài thì nói rõ vậy, nhưng phát biểu trong nước thì hình như chưa bao giờ tớ nghe thấy cái gì tương tự, từ đồng chí X hay từ bất kể đồng chí nào khác. Phải chăng Việt Nam muốn duy trì chế độ 2 chính sách về tỷ giá chăng?).

VnEconomy vốn là tờ có nhiều bài đăng (mà cụ thể là của đồng chí Minh Đức) về tỷ giá theo đường lối của NHNN. Nhưng xem ra trong bài này, tác giả đã hiểu biết và thận trọng hơn,và cố gắng khéo léo lái phát biểu của đồng chí X theo hướng mà NHNN đã mạnh mồm tuyên bố nhiều lần, mặc dù tớ chẳng thấy có cái gì chung cả. Tiếc rằng, những "chuyên gia" với "nguồn tin có thẩm quyền" được trích dẫn trong bài nay đã tắt loa về cái gọi là "không phá giá" mà chỉ "điều chỉnh" (nếu có) vì "cung cầu vẫn bình thường". Thay vào đó, chuyện "phá giá" do "VND bị định giá cao" nay đã chính thức được thừa nhận, nêu ra công khai, đúng từng chữ như thế, chứ không còn cái kiểu nói lái, nói tránh, vòng vo, đánh tráo khái niệm v.v... như các bài trước trên báo và trong các trả lời chất vấn, phát biểu chính thức của NHNN.

Ấy thế mà hôm trước, hình như trong một cuộc hội thảo, họp hành nào đó mà vẫn có nhiều đồng chí chuyên gia, gồm cả Phạm Chi Lan, phản đối phá giá, vẫn với những lý do cũ rích và vớ vẩn. Hình như vẫn chưa có thêm một ai lên tiếng theo, dựa hơi đồng chí X (như tớ!). Để rồi xem mấy đồng chí trung kiên với không phá giá có còn tiếp tục cái điệp khúc này nữa không.

Ngẫm ra, đúng là miệng nhà quan có gang có thép thật. Chỉ cần một câu của đồng chí X là tình hình xoay 180 độ, và các đồng chí chuyên gia ếch và đám bồi bút nay lại phải vắt óc xoay chuyển câu chữ và lời nói sao cho không lòi cái ngu, cái hèn, cái thối của mình ra, hoặc đơn giản là không đi ngược lại tinh thần của đồng chí X (nếu vẫn bảo thủ, nghĩ rằng mình suy nghĩ đúng, chỉ tại đồng chí X nói thế nên phải chịu). Giá mà xảy ra sớm một chút thì có phải là tiết kiệm bao nhiêu nước bọt trong các cuộc tranh luận giữa những người như tớ (có một dúm) với một đống quan chức và chuyên gia khác không nhỉ. Thật tiếc!

Thursday, 10 October 2013

Xem ra thông điệp của đồng chí X đang được hiện thực hóa

Đọc bài này cần phải sắp xếp lại các ý tưởng một chút thì mới hiểu được cái bản chất của sự việc. Tác giả hình như cho rằng việc mua vào USD là một cơ hội tại thời điểm này khi tỷ giá đã hạ và nguồn cung thuận lợi (và cứ như những lập luận vẫn nghe thấy trước đây thì hành động này là có lợi và nên làm vì làm tăng dự trữ ngoại hối).

Tuy nhiên, nhìn ngược lại, có thể hiểu đây là hành động can thiệp của NHNN để làm giảm giá VND (hoặc giữ cho VND không lên giá cả thực và danh nghĩa thêm nữa) so với USD, bằng cách mua USD vào và tung VND ra. Nếu NHNN không tiến hành một chiến dịch bán tín phiếu nữa để trung hòa nguồn cung VND tăng lên thì chắc chắn đây là hành động phá giá VND (hoặc không để cho VND lên giá thêm), theo đúng tinh thần của đồng chí X mà tớ có đề cập đến trong entry tuần trước.

Nói lan man thêm. Nếu cứ như những lập luận trước đây thì rõ ràng NHNN phải lấy làm mừng vì nguồn cung USD dồi dào, làm giảm tỷ giá, tức là ít nhất thì họ không cần phải bận tâm và can thiệp vào tỷ giá bây giờ làm gì cả vì nó chỉ có xu hướng giảm chứ không tăng (mất giá VND, vốn là điều mà họ coi là bất lợi cho nền kinh tế). Thế nhưng, việc NHNN phải tiến hành can thiệp cho thấy những gì mà người ta hay viện dẫn đến trước đây (cung cầu ngoại tệ dồi dào nên không phải phá giá, không cần thiết phá giá) hoặc là một sự sai lầm không thể tha thứ, hoặc là một sự lừa dối cũng không thể tha thứ.

Nhưng dù sao thì cũng mừng vì mọi việc đang có vẻ đi đúng hướng hơn.

Tại sao dân chủ không luôn là điều tốt?


Cái kiểu dân chủ như trong bài báo này quả thật là nguy hiểm.
Trích: “Tuy nhiên, theo đề nghị của cử tri tỉnh Trà Vinh, để doanh nghiệp có đủ điều kiện sản xuất, ngân hàng cần ổn định mức lãi suất cho vay từ 9 - 9,5%, vì bình quân lãi suất khu vực chỉ có 6,55%, còn ở Việt Nam là 14%, có lúc cao hơn gây khó khăn cho doanh nghiệp và mất cân đối trong đầu tư phát triển.”

Và: “Ở ý kiến khác, đáng chú ý là cử tri tỉnh Gia Lai đề nghị Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định các tổ chức tín dụng giảm mức chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay xuống 2% thay vì 3% như hiện nay, để giải quyết khó khăn cho các doanh nghiệp trong giai đoạn sản xuất, kinh doanh đang gặp nhiều khó khăn.”

Rồi lại: “Dù đã nhiều lần đề cập đến, song có ý kiến cử tri vẫn tiếp tục đề nghị xem xét áp một trần lãi suất cho vay, 10%/năm thời điểm này, cho cả người dân và doanh nghiệp.”

Bình luận: Cứ để cho mấy đồng chí cử tri này lên tiếng, và nhỡ chẳng may các đồng chí Chính phủ lại ếch ương hoặc mị dân mà làm cái gì đó thuận theo, chẳng hạn hạ lãi suất xuống như theo yêu cầu thì... thôi, khỏi nói. May mà các đồng chí NHNN lần này cũng có bản lĩnh và có trình độ, trả lời khá ổn.

Nói tóm lại, tớ cũng tán đồng là nên có dân chủ, nhưng không phải là dân làm chủ, thò mũi vào, có quyền hạch sách mọi việc.

Đừng để bị các con số điều khiển (Bài đăng trên TBKTSG ngày 10/10/2013, bản gốc)


Thông thường, các kế hoạch phát triển kinh tế được các cơ quan chức năng của Chính phủ đặt ra cho một kỳ nào đó, có thể là cho 1 năm sau,  3 năm sau, hoặc 5 năm sau, với những chỉ tiêu cụ thể, ví dụ như tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất, tăng trưởng tín dụng, thâm hụt ngân sách, thâm hụt thương mại, nợ nước ngoài, xuất khẩu, nhập khẩu v.v... trong khoảng từ bao nhiêu đến bao nhiêu.

Các chỉ tiêu trên thường được Chính phủ trình trước Quốc hội để xin phê chuẩn. Quốc hội sau một số phiên họp và thảo luận sẽ phê chuẩn hoặc yêu cầu Chính phủ sửa đổi một số chỉ tiêu mà Quốc hội cho rằng là thích hợp hơn. Và khi đã được phê chuẩn thì các con số chỉ tiêu phát triển kinh tế đó gần như trở thành chỉ tiêu pháp lệnh. Việc hoàn thành như thế nào các chỉ tiêu này cũng là thước đo đánh giá chất lượng và năng lực hoạt động của Chính phủ. Bởi vậy, không hiếm khi trong quá trình thực hiện các chỉ tiêu do chính mình đề ra, Chính phủ vấp phải những khó khăn chủ quan và khách quan để rồi không hoàn thành được kế hoạch và buộc phải xin Quốc hội cho điều chỉnh (một số) các chỉ tiêu này.

Điều đáng nói trong quy trình trên là việc đưa ra được các con số chỉ tiêu kế hoạch. Khi lập kế hoạch, các cơ quan chức năng của Chính phủ dựa vào các số liệu kinh tế vĩ mô và vi mô hiện tại, và có thể áp dụng một số mô hình kinh tế lượng, để tính toán và đưa ra được một số chỉ tiêu kinh tế cần thiết. Cũng không hiếm khi các chỉ tiêu kinh tế có yếu tố duy ý chí, định tính, căn cứ vào các nghị quyết và quyết tâm chính trị nhiều hơn là các tính toán khoa học.

Chẳng hạn, có một luồng quan niệm khá phổ biến là tăng trưởng GDP phải đạt khoảng 7%/năm trở lên thì mới “đảm bảo” an sinh xã hội, việc làm và thu hẹp khoảng cách về thu nhập đầu người với các nước láng giềng. Bởi vậy, các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ngắn và trung hạn đều được xây dựng xoay quanh con số này và đã không hiếm khi đẩy nền kinh tế vào trạng thái nóng quá mức vì Ngân hàng Nhà nước buộc phải bơm tiền ra cấp tập còn Chính phủ thì cũng gia tăng vay mượn để “thúc” cho nền kinh tế đạt bằng được tốc độ tăng trưởng “đảm bảo” này.

Vào những thời kỳ khó khăn, người ta hiểu rằng không thể “thúc” nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao và nguy hiểm như trên nữa nên buộc phải hạ chỉ tiêu tăng trưởng và một loạt chỉ tiêu khác có liên quan. Điều đáng lưu ý là việc điều chỉnh các chỉ tiêu đôi khi diễn ra dựa trên các phép tính số học đơn giản. Chẳng hạn, tăng trưởng GDP mấy năm trước trong khoảng 6%-7%/năm mà tốc độ tăng trưởng tín dụng đều trên 20%/năm, thậm chí trên 30%, thế nên người ta suy ra rằng để đạt tốc độ tăng trưởng  khoảng 5,5% như 1, 2 năm nay thì tốc độ tăng trưởng tín dụng phải tối thiểu phải đạt khoảng 20%. Nhưng rồi khi người ta nhận ra rằng con số này trở nên cao quá mức thì có cấp có thẩm quyền lại nói rằng tăng trưởng tín dụng phải là 15%, hoặc sau đó sửa xuống nữa còn 12%.

Dù là con số nào chăng nữa nhưng các con số khác nhau, liên tục được điều chỉnh, chứng tỏ 2 điều quan trọng. Thứ nhất, không có một cơ sở chắc chắn nào cho việc hình thành các chỉ tiêu kế hoạch, và việc các chỉ tiêu kế hoạch xa rời thực tế là điều phổ biến hơn, có thể tiên lượng được. Đôi khi, chỉ vì một biến cố ngoại lai bất ngờ xảy đến (ví dụ khủng hoảng tài chính), toàn bộ các chỉ tiêu kế hoạch cho dù trước đó có vẻ rất thực tế lại trở nên phi thực tế. Thứ hai, những nơi phê chuẩn các kế hoạch, như Quốc hội, lại càng không có một cơ sở chắc chắn nào làm chỗ dựa cho các quyết định của mình (duyệt hay không duyệt các chỉ tiêu kế hoạch do Chính phủ trình ra), ít nhất vì Quốc hội không nắm được nhiều thông tin, không có một lực lượng chuyên gia và công cụ trong công tác lập kế hoạch như của Chính phủ.

Trong bối cảnh đều có những bất cập từ cả 2 phía, phía xây dựng và đệ trình các chỉ tiêu kế hoạch (Chính phủ) và phía phê chuẩn các chỉ tiêu kế hoạch (Quốc hội), việc Quốc hội ép, nếu có, Chính phủ phải thực hiện cho được những chỉ tiêu kế hoạch của mình (Chính phủ), và/hoặc việc Chính phủ tự nguyện dốc hết sức, bằng mọi giá thực hiện cho bằng được các chỉ tiêu kế hoạch do chính mình đề ra thường sẽ không mang lại những kết quả thực tế tốt đẹp. Vì khi đó nền kinh tế được điều khiển bằng những “quyết tâm”, “quyết liệt”, “toàn hệ thống chính trị vào cuộc” v.v... chứ không phải bằng những công cụ và chính sách hợp với các quy luật kinh tế thị trường.

Tiếc rằng, nhiều người dường như không thấy được vấn đề và vẫn cứ loay hoay với việc điều chỉnh các chỉ tiêu kế hoạch đang diễn ra, ví dụ như việc xin nới trần thâm hụt ngân sách. Chắc chắn sẽ đến một lúc nào đó người ta sẽ phải nhận ra rằng nếu cứ để những con số vô tri, vô giác và vô nghĩa đó điều khiển mình thì nền kinh tế còn mãi sa lầy trong cái vòng luẩn quẩn bất ổn và tụt hậu.

Saturday, 5 October 2013

Chọn mô hình nào cho đại diện chủ sở hữu nhà nước? (Bài đăng trên báo Đại biểu Nhân dân)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=294342

11:12 | 05/10/2013
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trình Chính phủ 2 phương án về mô hình quản lý doanh nghiệp nhà nước. Dù chọn phương án nào, thì điều quan trọng là phải khẩn trương cổ phần hóa, tư nhân hóa càng nhiều doanh nghiệp nhà nước càng tốt.
 
Đề án Tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước được trình và thảo luận tại phiên họp Chính phủ cuối tháng 8.  Đề án đưa ra 2 phương án về mô hình quản lý doanh nghiệp nhà nước. Tại phương án thứ nhất, Chính phủ thành lập Ủy ban Quản lý, giám sát doanh nghiệp nhà nước (UBQLGS) làm đầu mối thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước quan trọng, bao gồm cả Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC). Còn trong phương án thứ hai, bộ quản lý ngành thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước tại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước còn UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước sản xuất, cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích trực thuộc.
 
Được biết, ban đầu, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiêng về phương án thứ nhất do sẽ giúp khắc phục được những hạn chế của việc chưa tách bạch chức năng quản lý nhà nước với chức năng đại diện chủ sở hữu và phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, sau đó, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư Bùi Quang Vinh cũng nhìn nhận, phương án thành lập một cơ quan làm đầu mối thực hiện chức năng đại diện đối với toàn bộ khu vực doanh nghiệp nhà nước là không khả thi do quá tải nghiêm trọng trong quản lý. Và phương án này chỉ có thể thực hiện khi số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm đến mức tối thiểu.
 
Quả thực, phương án thứ nhất có một nhược điểm lớn. UBQLGS này (tạm gọi là UBQLGS cấp 1) chỉ làm đại diện chủ sở hữu nhà nước với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước quan trọng. Với hàng chục nghìn doanh nghiệp khác có vốn nhà nước (gồm cả doanh nghiệp mà nhà nước không nắm giữ 100% vốn chủ sở hữu), thì về nguyên tắc sẽ phải lập ra một UBQLGS cấp 2 hay một cơ quan chức năng gì đó nữa để đảm nhiệm vai trò đại diện chủ sở hữu nhà nước ở các doanh nghiệp nhà nước không phải tổng công ty, tập đoàn quan trọng, nếu không muốn để xảy ra tình trạng “cha chung không ai khóc” như trước đây.
 
Việc phải có đến 2 UBQLGS để quản lý các đối tượng khác nhau đương nhiên sẽ dẫn theo sự cồng kềnh và chồng chéo về bộ máy, biên chế phình to, tốn một loạt các chi phí khác để duy trì cho cả 2 bộ máy hoạt động, là điều khó có thể chấp nhận trong bối cảnh hiện nay.
 
Ngoài ra, mới nghe qua thì cái từ “Ủy ban” có vẻ sẽ gọn nhẹ về biên chế và năng động hơn trong việc làm đại diện – là những tiêu chí quan trọng đối với việc thiết kế bộ máy quản lý nhà nước. Tuy vậy, sự thực chắc chắn sẽ khác nhiều. Với việc làm đại diện chỉ ở các tập đoàn, tổng công ty quan trọng của nhà nước thì có thể UBQLGS cấp 1 sẽ có bộ máy biên chế tinh giản, gọn nhẹ hơn. Nhưng với UBQLGS cấp 2 làm đại diện ở hàng vạn doanh nghiệp từ trung ương đến địa phương, thực tiễn chắc chắn sẽ đòi hỏi nó cũng phải được cơ cấu với bộ máy hoạt động cũng lan rộng từ trung ương đến địa phương để nắm sát được tình hình hoạt động có ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà nước ở các doanh nghiệp này.
 
Tóm lại, phương án thứ nhất trên thực tế hoàn toàn có thể vấp phải vấn đề cồng kềnh và kém hiệu quả trong hoạt động của bộ máy đại diện chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước, chính là điều mà chúng ta đang tìm cách khắc phục.
 
Đối với phương án 2, điểm lợi lớn nhất và dễ thấy nhất là có thể tận dụng được bộ máy quản lý nhà nước hiện thời cho việc quản lý vốn chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, mặt hạn chế lớn nhất, và chính là lý do để chúng ta phải tìm một giải pháp khác, là trong cơ chế này thì chức năng quản lý nhà nước lại bị trộn lẫn với chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước, vì người thực hiện 2 chức năng này là một.
 
Nói cách khác, hiện tại, cả 2 phương án đều có những hạn chế lớn, không thể khắc phục, đòi hỏi phải có một phương án thứ 3. Và trong lúc chờ cho đến khi có sự ra đời của một phương án khả dĩ thì có lẽ phương án 2 vẫn phải là phương án chính, chủ yếu vì nó không mang lại sự xáo trộn lớn cũng như các chi phí tốn kém như trong phương án 1.
 
Nhưng khi thực hiện phương án 2, hoặc kể cả phương án 1, bên cạnh những giải pháp vi mô thường được đề cập như tăng cường năng lực quản lý của các bộ chủ quản, UBND cấp tỉnh, gắn chặt trách nhiệm quản lý với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp v.v..., điều quan trọng là phải khẩn trương cổ phần hóa, tư nhân hóa càng nhiều doanh nghiệp nhà nước càng tốt. Một khi quy mô và số lượng doanh nghiệp nhà nước đã thu hẹp lại đến mức tối thiểu thì việc quản lý các doanh nghiệp nhà nước còn lại sẽ dễ dàng hơn nhiều và sẽ có nhiều lựa chọn khả thi hơn cho mô hình quản lý doanh nghiệp nhà nước lúc đó. Ngược lại, nếu không nhanh chóng giảm được quy mô và số lượng doanh nghiệp nhà nước thì tình trạng bùng nhùng này sẽ còn kéo dài vì không thể biết nên bắt đầu từ đâu và làm cái gì thì tốt hơn.

Thursday, 3 October 2013

Cơ chế điều hành tỷ giá qua thông điệp của Thủ tướng (Bài đăng trên TBKTSG 3/10/2013, bản gốc)

Càng ngày tớ càng thấy nể và có cái nhìn khác về đồng chí X, thỉnh thoảng nói câu nào ra câu đó, bằng cả vài chục buổi phỏng vấn với điều trần của các cơ quan hữu trách. Tớ có vài lần nâng bi đồng chí X trong blog này rồi, nhưng bài này vẫn thấy cần phải nâng thêm lần nữa.
------------------------------


Trả lời phỏng vấn Bloomberg hôm 27/09 tại New York, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết Chính phủ có kế hoạch hạ giá VNĐ tối đa 2% vào cuối năm vì hiện tiền đồng được xem là có định giá cao so với USD.
Đây là một thông điệp ngắn nhưng chứa đựng những nội dung hết sức quan trọng liên quan đến chế độ tỷ giá và cơ chế điều hành tỷ giá ở Việt Nam.

Nếu mới đây không xa, nhiều quan chức hữu trách và chuyên gia còn lên tiếng cho rằng không có áp lực để phá giá (hay điều chỉnh tỷ giá) vì cán cân cung cầu ngoại tệ đang có thuận lợi với dòng ngoại tệ dồi dào đang đổ vào nền kinh tế từ ODA, FDI và kiều hối v.v... Với dự đoán cán cân thanh toán tổng thể sẽ đạt thặng dư dăm tỷ đô la năm nay và lạm phát được kiềm chế ở mức cho phép, theo các quan chức và chuyên gia này thì điều chỉnh tỷ giá thậm chí còn mang lại những hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế. Vì thế, họ ủng hộ một sự ổn định tỷ giá, hoặc nếu có “điều chỉnh” thì chỉ ở mức 2%-3% cho cả năm nay, như mục tiêu mà Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đề ra từ hồi đầu năm.
Điều đáng lưu ý trong quan điểm điều hành tỷ giá nêu trên là tỷ giá được quyết định chủ yếu bởi cung cầu ngoại tệ một cách thụ động. Nếu ngoại tệ đổ vào nền kinh tế dồi dào thì áp lực lên tỷ giá sẽ yếu hoặc không có, vì thế không cần phải phá giá (điều chỉnh tỷ giá tăng lên). Ngược lại, nếu cung ngoại tệ thiếu hụt so với cầu, gây áp lực lên tỷ giá thì NHNN sẽ có khả năng can thiệp giữ ổn định tỷ giá bằng cách tung dự trữ ngoại tệ ra.

Thực tế thời gian 2, 3 năm qua cho thấy với cơ chế quản lý tỷ giá như vậy, được hậu thuẫn bởi một quỹ dự trữ ngoại tệ đã lớn hơn về quy mô, NHNN đã duy trì thành công một tỷ giá tương đối ổn định. Nguồn vốn và ngoại tệ từ nước ngoài càng đổ vào nền kinh tế trong nước càng lớn thì công việc của NHNN xem ra càng dễ dàng vì tiền đồng không hề bị áp lực phá giá, nếu không muốn nói là lên giá. Ngược lại, nếu cung cầu ngoại tệ ở thế bất lợi như mấy năm trước (thiếu hụt ngoại tệ và suy giảm dự trữ ngoại hối), NHNN thường là buộc phải phá giá, mặc dù trước đó có không ít lần cam kết ổn định tỷ giá.
Nhưng cơ chế quản lý tỷ giá nói trên có một nhược điểm lớn. Như đã biết, nếu tỷ giá danh nghĩa tiền đồng/đô la Mỹ ổn định một cách tương đối hoặc tăng ở một tốc độ nhỏ hơn tốc độ tăng của chênh lệch lạm phát giữa Việt Nam và Mỹ thì tiền đồng được gọi là đã lên giá thực so với đô la Mỹ, mặc dù tiền đồng vẫn mất giá so với đô la Mỹ về mặt danh nghĩa. Khi đó, giá cả các hàng hóa sản xuất trong nước trở nên đắt đỏ hơn một cách tương đối so với hàng ngoại nhập, làm giảm tính cạnh tranh của hàng hóa đó sản xuất ở trong nước. Hậu quả là xuất khẩu sẽ giảm sút trong khi nhập khẩu được khuyến khích, dẫn đến nhập siêu và thâm hụt thương mại – một nguồn gốc gây bất ổn kinh tế vĩ mô.

Có điều, cho đến nay dường như NHNN và các chuyên gia tỏ ra xem nhẹ tác động trái chiều của việc ổn định tỷ giá như trên. Họ luôn nhấn mạnh đến chuyện cung ngoại tệ dồi dào để phủ nhận sự cần thiết phải phá giá (điều chỉnh tỷ giá) để hỗ trợ xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, việc làm. Tuy họ có lúc thừa nhận sự bất lợi của tỷ giá lên xuất khẩu nhưng lại cho rằng có thể dùng các biện pháp khác để thúc đẩy xuất khẩu mà không cần phải phá giá.
Bởi vậy, thông điệp trên của Thủ tướng đã trực tiếp hay gián tiếp nhìn nhận rằng trong công tác điều hành tỷ giá, ngoài chuyện xem xét đến cán cân cung cầu ngoại tệ, điều quan trọng là phải duy trì năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu của Việt Nam. Đây có thể nói là một sự thay đổi lập trường chính sách rất đáng hoan nghênh. Với sự cân bằng hơn trong cách điều hành này, tỷ giá sẽ được điều chỉnh không chỉ căn cứ vào cung cầu ngoại tệ mà còn dựa vào sự lên giá thực của tiền đồng so với đô la, và phải chủ động điều chỉnh (phá giá) kể cả khi cán cân cung cầu ngoại tệ không căng thẳng, nếu VND lên giá thực quá nhiều so với USD.

Tuy mức “hạ” giá 2% như Thủ tướng nói vẫn có thể là quá nhỏ so với mức lên giá thực của tiền đồng so với đô la Mỹ do chênh lệch lạm phát của Việt Nam và Mỹ quá lớn, và mức này có thể sẽ phải tăng thêm, tùy theo yêu cầu của thị trường, nhưng trước mắt nó cho thấy đã đến lúc các cơ quan hữu trách của Việt Nam cần phải hoặc thay đổi nhận thức về điều hành tỷ giá, hoặc thay đổi cách họ thuyết trình với công chúng về cơ chế điều hành tỷ giá của mình, trong đó không chỉ có nêu cung cầu ngoại tệ thâm hụt hay thặng dư bao nhiêu mà còn phải cho thấy rõ rằng tỷ giá như vậy có thuận lợi cho xuất khẩu hay không. Việc thay đổi này là bắt buộc để thống nhất với, và theo chỉ đạo điều hành tỷ giá của Thủ tướng chính phủ, đồng thời gây dựng được lòng tin vào chính sách của công chúng.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).