Wednesday, 13 August 2014

Khi người lao động sợ tăng lương! (Bài đăng trên TBKTSG, 14/8/2014, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/118817/Khi-nguoi-lao-dong-so-tang-luong!.html

Thoạt nghe tưởng là chuyện đùa, vậy mà người lao động ở Việt Nam hiện nay lại sợ được tăng lương!

Ngày 6/8 vừa qua, Hội đồng tiền lương quốc gia đã thống nhất phương án tăng lương tối thiểu khối doanh nghiệp lên 15,1% so với năm 2014 để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. 
Phản ứng với tin tức tưởng như tốt lành này, báo chí đã đưa tin không ít người lao động bày tỏ nguyện vọng “xin” nhà nước đừng tăng lương! Lý do chung được đưa ra là lương được tăng lên một ít nhưng giá cả “té nước theo mưa” tăng lên còn nhiều hơn, càng làm cho đời sống công nhân khốn khó hơn. Một số người lao động khác thì cho rằng tăng lương tối thiểu chỉ làm tăng gánh nặng đóng bảo hiểm xã hội, vì mức đóng bảo hiểm xã hội họ phải đóng hàng năm đều tăng lên về tỷ lệ và lại dựa vào mức lương tối thiểu, trong khi thu nhập của họ dựa vào hệ số nhân với lương cơ bản (1,150 triệu đồng), là thứ không đổi, nên quy ra thu nhập vào tay họ hàng tháng lại giảm đi.

Thực ra, những lý do trên nếu được viện dẫn ra để phản đối tăng lương tối thiểu thì hơi... oan cho (việc tăng) lương tối thiểu. Cụ thể, lương tối thiểu hiện nay, kể cả có được tăng như đề xuất thì vẫn được thừa nhận là thấp hơn mức đảm bảo cho người lao động một mức sống tối thiểu. Như thế, nếu cứ chiểu theo quy luật cung cầu thì có lẽ chỉ có một rất ít ngành, bộ phận doanh nghiệp, vẫn trả lương bằng hoặc thấp hơn lương tối thiểu cho một bộ phận công việc, một bộ phận lao động ở một số nơi nào đó. Trong khi đó, lương thực tế của người lao động đa phần hoặc là dựa vào lương cơ bản nhân với hệ số nào đó hoặc là được trả theo công việc, theo sản phẩm, lương khoán do thị trường quyết định và thường cao hơn lương tối thiểu (đơn giản vì không ai đi làm trong một thời hạn đủ lâu mà chỉ để hưởng một mức lương chết đói). Vì vậy, nếu có một bộ phận nào đó được tăng lương thực tế do tăng lương tối thiểu thì số này chỉ như muối bỏ bể, không thể gây ảnh hưởng lớn đến cung-cầu hàng hóa và thu nhập làm giá cả tăng “té nước theo mưa” như nhiều người vẫn quy kết.

Ngoài ra, phần tiền lương tăng thêm này là do doanh nghiệp trả, trích từ lợi nhuận hoặc chi phí hoạt động của họ, chứ không phải xin/lấy từ ngân sách để rồi nghĩ rằng nhà nước in tiền để trả lương, làm tăng lạm phát (vì cung tiền tăng). Có chăng là sự trùng hợp ngẫu nhiên nào đó giữa thời điểm tăng lương với sự tăng lên của giá cả ở một số nơi, một số mặt hàng nên làm cho người lao động có ấn tượng rằng hễ cứ tăng lương là giá cả sẽ tăng theo.

Về chuyện thu nhập ròng giảm đi sau đóng bảo hiểm do tiền lương tối thiểu tăng cũng tương tự. Đúng là thu nhập còn lại của người lao động sau đóng bảo hiểm giảm đi, nhưng phần đóng góp bảo hiểm này không bị ai lấy đi mất, mà nó là cơ sở để tính lương hưu và các chế độ phúc lợi khác cho người lao động sau này. Tuy nhiên, vẫn phải thừa nhận rằng mặc dù hiểu được nguyên tắc trích nộp bây giờ càng nhiều thì sau này hưởng càng nhiều nhưng nhiều người lao động vẫn muốn cầm ngay tiền trong tay để chi cho đủ thứ nhu cầu cấp thiết trước mắt mà không muốn đợi đến một ngày nào đó xa xôi.

Xét như trên thì có thể nói tăng lương tối thiểu là vô hại với đa phần người lao động hiện nay. Nhưng ngược lại, liệu lương tối thiểu và tăng lương tối thiểu có cần thiết?
Lương tối thiểu thường được nhiều nước quy định nhằm đảm bảo cho người lao động không bị giới chủ bóc lột đến mức phải sống một cuộc sống dưới mức tối thiểu, cơ bản. Trở lại với ví dụ trên, sẽ có thêm một bộ phận người lao động ở Việt Nam đang được hưởng mức (bằng hoặc thấp hơn) lương tối thiểu, dù có thể là không đáng kể, được hưởng lợi nhờ tăng lương tối thiểu.

Tuy nhiên, lương tối thiểu nhiều lúc sẽ làm cho thị trường lao động xơ cứng, kém linh hoạt, không kịp điều chỉnh kịp thời với những diễn biến về cung và cầu lao động. Chẳng hạn, khi thị trường lao động nóng lên, tức công ăn việc làm dồi dào do nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh, thì sẽ có ít nhà tuyển dụng dám trả cho người lao động một mức lương dưới hoặc bằng mức cơ bản nếu không muốn đánh mất nhân công. Nói cách khác, trong trường hợp này, quy định lương tối thiểu (và tăng lương tối thiểu) là không cần thiết vì thị trường tự điều chỉnh được.

Ngược lại, khi nền kinh tế trầm lắng, thất nghiệp có xu hướng gia tăng, tiền lương cơ bản, đặc biệt nếu được xác định ở mức khá cao như khi nền kinh tế vẫn còn thịnh vượng, sẽ là rào cản để tạo thêm công ăn việc làm, để giới làm thuê gặp được giới chủ vì lúc này giới chủ phải tính toán và cắt giảm tối đa chi phí, trong đó có chi phí nhân công, để tồn tại và cạnh tranh được. Trước áp lực thất nghiệp và nghèo đói, nhiều người lao động sẵn sàng chấp nhận một mức lương thấp hơn cả lương tối thiểu. Như thế cũng có nghĩa là lương tối thiểu (và tăng lương tối thiểu) là không cần thiết trong hoàn cảnh này.

Mặt khác, như thừa nhận của Hội đồng Tiền lương Quốc gia, lương tối thiểu (sau tăng) vẫn thấp hơn mức/nhu cầu sống tối thiểu. Giải thích chuyện này, hội đồng cho rằng cần phải có một lộ trình tăng lương tối thiểu nhằm đáp ứng 100% nhu cầu sống tối thiểu. Nhưng mục đích này vẫn có thể đạt được bằng cách xây dựng và công bố mức/nhu cầu sống tối thiểu hiện nay (và cơ chế điều chỉnh nó theo thời gian, vì những lý do chẳng hạn như lạm phát) và thông báo trước cho giới doanh nghiệp lộ trình cụ thể năm nào sẽ áp dụng mức lương tối thiểu này, mà không cần phải áp dụng “thí điểm” một mức lương tối thiểu “lửng lơ” ngay từ bây giờ chỉ nhằm để làm cho giới chủ “quen” với sự tăng lên theo lộ trình của lương tối thiểu.

Và hiện tại, với những người lao động đang bị trả lương ở mức tối thiểu (tức thu nhập quá thấp, có thể xác định thuộc diện nghèo) thì có thể giải quyết thông qua những biện pháp trợ cấp xã hội khác, chứ không sợ bị xã hội bỏ mặc.

Tóm lại, lương tối thiểu không phải là điều nhất thiết phải có. Và tăng lương tối thiểu như hiện nay nếu có thì chỉ gây ra một tác động tích cực hạn chế đến một bộ phận thiểu số người lao động, trong khi sẽ là một cái vòng kim cô trên thị trường lao động, ngăn không cho cung và cầu lao động tự do gặp nhau. Còn nếu vẫn muốn áp dụng lương tối thiểu và tăng lương tối thiểu thì chỉ nên làm vậy khi đã có mức sống tối thiểu/cơ bản theo lộ trình một thời gian sau này.

Saturday, 9 August 2014

Quan hệ giữa lạm phát, lạm phát cơ bản và tổng cầu (Bài đăng trên Cafef, 10/8/2014, bản gốc)

Bài này nhằm phang Ủy ban giám sát tài chính quốc gia với quan niệm được đưa ra trong báo cáo tháng 7 về chuyện lạm phát lõi và tổng cầu. Bài được báo đặt lại tên thành: "“Quan niệm nới lỏng tiền tệ, hãi lãi suất để tăng tổng cầu là ngộ nhận”, theo tớ là khá misleading. Bài trên báo cũng bị biên tập, cắt bỏ mất vài đoạn mà không xử lý tốt nên đọc không liền mạch.

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/quan-niem-noi-long-tien-te-hai-lai-suat-de-tang-tong-cau-la-ngo-nhan-2014081008301913718ca34.chn

Cập nhật: Bản trên báo đã được sửa lại như bản gốc

---------------------------------------

Dường như đã thành một nhận thức chung ở Việt Nam trong mấy năm gần đây rằng lạm phát (hoặc lạm phát cơ bản) phản ảnh tình trạng sức khỏe của tổng cầu. Điều này có nghĩa là nếu lạm phát (hoặc lạm phát cơ bản) ở mức thấp thì tổng cầu tăng yếu. Từ đó suy ra, để tăng tổng cầu lên cao hơn so với mức hiện tại (nhằm thúc đẩy tăng trưởng GDP) thì phải kích thích lạm phát (hoặc lạm phát cơ bản) lên cao hơn so với mức hiện tại.

Đây là một quan niệm sai lầm và sẽ dẫn đến những hệ lụy lớn cho ổn định kinh tế vĩ mô.

Về khái niệm, lạm  phát là sự tăng lên của giá cả của hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế ở một giai đoạn nào đó. Nguyên nhân gây ra lạm phát được thống nhất rộng rãi bao gồm cầu kéo (tổng cầu tăng gây ra lạm phát; chính sách tiền tệ nới lỏng quá mức là một trong những nguyên nhân chính làm tổng cầu tăng ), chi phí đẩy (chi sản xuất tăng làm giảm cung gây ra lạm phát), kỳ vọng lạm phát (ví dụ, tăng lương dẫn đến tăng giá và ngược lại thành một vòng xoáy).

Trong khi đó, lạm  phát cơ bản cho biết xu hướng giá cả trong dài hạn, đã loại bỏ những thay đổi về giá có tính nhất thời, mùa vụ. Nói cách khác, rổ hàng hóa tính lạm phát cơ bản không bao gồm các hàng hóa có giá biến động mạnh như thực phẩm và năng lượng như đối với trường hợp tính lạm phát.

Như vậy, khi giá tăng chậm (lạm phát hoặc lạm phát cơ bản thấp), điều này không nhất thiết có nghĩa là tổng cầu tăng chậm, hay nền kinh tế trì trệ như nhiều người suy diễn. Giá cả tăng chậm có thể là do cung dồi dào (nhờ chi phí sản xuất và dịch vụ được khống chế, nhờ tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh v.v...), hoặc do nhà nước khống chế, kiểm soát giá cả và tiền lương, hoặc do chính sách bù giá, hoặc do chinh sách "neo" tỷ giá để giá hàng nhập khẩu không tăng lên (khi quy ra VND), không làm ảnh hưởng đến mặt bằng giá cả nói chung, hoặc cũng có thể do kỳ vọng lạm phát đã giảm đi do lòng tin vào chính sách vĩ mô của nhà nước làm cho không còn, ví dụ, hiện tượng "té nước theo mưa" v.v... Tóm lại, có thể kể ra rất nhiều lý do để cho thấy một bức tranh kinh tế trong đó tăng trưởng GDP và tổng cầu vẫn tích cực trong khi mặt bằng giá cả ổn định. Nhiều trong số những lý do trên đã và đang hiện diện ở Việt Nam hiện nay (tăng trưởng GDP ở mức khá, trên 5%, và có xu hướng tăng lên, giá cả tương đối ổn định, hàng hóa tồn kho tuy có giảm ở một số thời điểm trong một số lĩnh vực nhưng vẫn ở mức lớn, tỷ giá chỉ mới được điều chỉnh nhẹ gần đây, kỳ vọng lạm phát đã giảm đi với tiền gửi VND vẫn tăng mạnh khi lãi suất VND đã hạ, tổng mức bán lẻ và luân chuyển hàng hóa vẫn tăng khả quan, nhà nước tiếp tục không chế giá cả xăng dầu, dịch vụ y tế, giá sữa, giá năng lượng...).

Với ngộ nhận rằng lạm phát (và lạm phát cơ bản) thấp tức là tổng cầu yếu làm cho tăng trưởng GDP yếu nên người ta cho rằng cần phải kích thích hơn nữa tổng cầu chủ yếu thông qua chính sách tiền tệ nới lỏng hơn nữa để hạ lãi suất (vì chính sách tài khóa đang gặp nhiều trở ngại như nợ công đang tăng mạnh, giải ngân vốn trái phiếu chính phủ chậm...).

Khi tăng cung tiền, hạ lãi suất tất nhiên tổng cầu có thể tăng ở mức độ nào đó. Nói ở mức độ nào đó vì hạ lãi suất là con dao hai lưỡi khi nó một mặt kích thích người ta vay mượn để tiêu dùng và đầu tư, nhưng mặt khác lại tước đi thu nhập của một bộ phận lớn người dân và tổ chức có tiền gửi tiết kiệm và tài sản đầu tư hưởng lãi, và tức là thu hẹp khoản tiền dành cho tiêu dùng và đầu tư của họ, làm cho tổng cầu không nhất thiết tăng và tăng tương ứng với kỳ vọng khi nới lỏng tiền tệ và hạ lãi suất.

Tăng cung tiền và hạ lãi suất còn có thể tác động mạnh đến bên cung, làm cho cung có thể tiếp tục tăng nhanh và mạnh, vượt quá tổng cầu, dẫn đến tồn kho hàng hóa tăng lên và ở mức cao, như đã và đang chứng kiến trên thực tế mấy năm trước đây và hiện nay. Dư thừa cung dẫn đến giá cả không tăng hoặc tăng nhẹ, lại làm người ta cho rằng nền kinh tế đang trì trệ nên cần tiếp tục nới lỏng tiền tệ và hạ lãi suất, khép lại vòng luẩn quẩn lạm phát thấp, tăng cung tiền, hạ lãi suất, cung tăng đến mức độ dư thừa, lạm phát thấp. Như vậy, tăng cung tiền, hạ lãi suất để tăng cung nhằm thúc đẩy tăng trưởng trong trường hợp này là điều không mong muốn.

Ngược lại, tăng cung tiền và hạ lãi suất không nhất thiết kích thích tăng trưởng sản xuất trong nước, đặc biệt trong ngắn hạn, vì sản xuất trong nước không/chưa kịp điều chỉnh với tổng cầu tăng lên, dẫn đến nhập khẩu tăng, dẫn đến những hậu quả lớn hơn như thâm hụt thương mại lớn, suy giảm dự trữ ngoại hối, gây áp lực lên lạm phát, tác động ngươc lại đến sức cạnh tranh của sản xuất trong nước dẫn đến thu hẹp sản xuất trong nước. Trong trường hợp này tuy lạm phát có tăng lên, đi kèm với tổng cầu tăng lên, nhưng rõ ràng đây cũng không phải điều mong muốn.

Tóm lại, quan niệm cho rằng để thúc đẩy tăng trưởng GDP thì phải tăng tổng cầu thông qua nới lỏng tiền tệ, hạ lãi suất để làm sao lạm phát (hoặc lạm phát cơ bản) tăng lên là một ngộ nhận có thể gây ra những hậu quả nguy hiểm cho tăng trưởng và ổn định kinh tế. Trên hết, cần nhận thức rằng lạm phát (hoặc lạm phát cơ bản) thấp và ổn định luôn là một điều tích cực và là mục tiêu hướng tới cho các nhà làm chính sách trong trung và dài hạn.

Tuesday, 5 August 2014

Học ngay từ đây này

Tớ để ý thấy trên TBKTSG mấy số gần đây có đăng bài giảng về kinh tế, trong đó có tỷ giá và thương mại, chẳng hạn như trong bài ở link sau:

http://www.thesaigontimes.vn/118454/vu-dieu-cua-ti-gia-hoi-doai.html/

Các đồng chí, nhất là những đồng chí vẫn còn lấn cấn chuyện phá giá với tác động tiêu cực thì nên đọc và chỉ cần đọc ngay những bài giảng như vậy là sẽ tìm được câu trả lời cho các vấn đề mà các đồng chí đã lôi ra để phang tớ.

Wednesday, 30 July 2014

Rủi ro ai gánh? (Bài đăng trên TBKTSG, 31/7/2014, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/118236/Rui-ro-ai-ganh?.html

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa có văn bản số 5342/NHNN/TTGSNH gửi tới các tổ chức tín dụng yêu cầu đẩy mạnh việc cho vay vốn ra thị trường, đặc biệt đối với khách hàng không có tài sản đảm bảo (vay tín chấp). Ngoài ra, NHNN cũng yêu cầu các ngân hàng chủ động cơ cấu lại các khoản vay vốn có lãi suất cao trước đây, trên cơ sở thông tin về đánh giá tín nhiệm quốc gia, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ.

Để làm được những việc trên, NHNN yêu cầu các ngân hàng phải nhanh chóng hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp với phạm vi hoạt động, tình hình thực tế để áp dụng có hiệu quả vào việc phân loại nợ, đánh giá chất lượng tín dụng khách hàng làm cơ sở để xem xét cho vay khách hàng... Đây sẽ là cơ sở để các nhà băng xem xét cho vay tín chấp đối với các doanh nghiệp.

Có cái gì bất ổn với chỉ đạo trên của NHNN?

Tuy chỉ đạo này là hợp lý về mặt đạo đức, vì có thể nó xuất phát từ mong muốn làm điều tốt cho nền kinh tế thông qua việc thúc đẩy tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng, cung cấp vốn đầy đủ cho nhu cầu vốn của các doanh nghiệp, nhưng nó mang nặng dấu ấn của nền kinh tế chỉ huy và... nửa vời!

Theo văn bản trên, NHNN yêu cầu các ngân hàng thương mại đẩy mạnh cho vay tín chấp dựa trên thông tin đánh giá tín nhiệm quốc gia và xếp hạng tín dụng nội bộ. Nhưng cần lưu ý rằng thông tin đánh giá tín nhiệm quốc gia không có liên quan (trực tiếp) gì đến, không cho biết điều gì về đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp. Nên việc NHNN yêu cầu cho vay tín chấp doanh nghiệp dựa trên đánh giá tín nhiệm quốc gia xem ra là điều rất... bất thường.

Hơn nữa, một khi ngân hàng thương mại đã có hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để đánh giá chất lượng tín dụng khách hàng thì họ chắc chắn đã biết được rằng có thể cho vay như thế nào, bao nhiêu cho một khách hàng nào đó, dựa trên những tiêu chí cho vay của riêng ngân hàng đó (chẳng hạn, với khách hàng loại A thì cho vay tối đa bao nhiêu, có thể cho vay tín chấp được hay không và bao nhiêu; với khách hàng loại B thì không thể cho vay tín chấp được ...).

Nói cách khác, dù không có chỉ đạo trên của NHNN thì một ngân hàng thương mại nào đó vẫn có thể đã và đang cho vay tín chấp dựa trên những tiêu chí đánh giá và phân loại khách hàng riêng của mình (tất nhiên là hệ thống đánh giá, phân loại này thường được sự đồng ý, phê duyệt của NHNN ít nhất là thông qua các đợt kiểm toán, thanh tra của NHNN). Nói cách khác, chỉ đạo trên của NHNN có thể là điều thừa trên thực tế.

Nay, NHNN yêu cầu đẩy mạnh cho vay tín chấp, thì có thể hình dung 2 khả năng ở đây. Khả năng thứ nhất, một số ngân hàng thương mại không có hệ thống đánh giá tín dụng nội bộ và NHNN yêu cầu các ngân hàng thương mại này phải xây dựng hệ thống này. Tuy việc một ngân hàng nào đó không có hệ thống đánh giá tín dụng nội bộ là điều khó có khả năng xảy ra, nhưng dù trên thực tế có thế thì, thay vì ra một văn bản yêu cầu chung chung cho toàn bộ hệ thống ngân hàng như vậy, NHNN cần gửi công văn trực tiếp đến từng ngân hàng có vấn đề yêu cầu họ giải quyết việc này, và đây là một thiếu sót lớn của NHNN khi cấp phép và/hoặc theo dõi hoạt động của ngân hàng thương mại khi họ hoạt động mà không có hệ thống đánh giá tín dụng nội bộ.

Và lưu ý rằng việc NHNN yêu cầu ngân hàng thương mại xây dựng hệ thống đánh giá tín dụng nội bộ không có nghĩa là ngân hàng đó có nghĩa vụ phải cho vay tín chấp, nếu như bản thân ngân hàng đó không thích cho vay tín chấp, đơn giản vì e ngại rủi ro. Một ví dụ nhãn tiền về chuyện rủi ro có thể xảy ra với bất cứ ai, dù là khách hàng có độ tin cậy tín dụng cao, đó là thông thường, các ngân hàng thương mại khi cho vay ngắn hạn với nhau trên thị trường liên ngân hàng không yêu cầu phải có tài sản thế chấp. Thế nhưng, đã có thời điểm khi thanh khoản hệ thống căng thẳng, một số ngân hàng thương mại yêu cầu phải có tài sản thế chấp vì nhiều ngân hàng đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ đúng hạn.

Điều này dẫn đến khả năng thứ hai. Đó là, NHNN yêu cầu các ngân hàng thương mại, dù muốn hay không, vẫn phải cho vay tín chấp, và/hoặc hạ thấp điều kiện để cho vay tín chấp. Thế nhưng, khi xảy ra hậu quả cho ngân hàng thương mại, ví dụ khách hàng mất khả năng chi trả, liệu NHNN có gánh hậu quả này thay cho ngân hàng thương mại bị mất vốn không? Câu trả lời hầu như chắc chắn là không,và vì thế mới có thể nói là yêu cầu trên của NHNN là mang dấu ấn của nền kinh tế chỉ huy nửa vời, vì ở đây NHNN chỉ ra lệnh mà không phân bổ nguồn lực để cho ngân hàng thương mại thực hiện mệnh lệnh, không giống như trong nền kinh tế chỉ huy thuần túy với các cơ quan quản lý phân bổ các nguồn lực cho các đơn vị kinh tế và yêu cầu họ thực hiện các mệnh lệnh của mình.

Ngoài ra, văn bản trên của NHNN cũng yêu cầu các ngân hàng thương mại hướng việc cho vay vốn vào các dự án trọng điểm, dự án lớn có hiệu quả và các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ và quy định của pháp luật. 

Tương tự như đã phân tích ở trên, đây có thể cũng là một thiện ý của NHNN cho cả nền kinh tế nhưng nó cũng chỉ là hiện thân của một kiểu tư duy cũ và nửa vời. Cần hiểu rõ rằng cho vay các dự án trọng điểm, dự án lớn có hiệu quả và các lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ không luôn đồng hành với lợi nhuận cao và ít rủi ro hơn so với cho vay các lĩnh vực và dự án thông thường khác. Nay NHNN yêu cầu các ngân hàng thương mại hướng cho vay vào những lĩnh vực và dự án này nhưng nếu xảy ra thua lỗ, mất mát vốn từ những khoản cho vay này thì liệu NHNN sẽ chịu trách nhiệm bồi thường, hoặc có một hình thức hỗ trợ gì đó cho các ngân hàng thương mại bị chỉ đạo không? Hay ai sẽ gánh trách nhiệm thay?

Tóm lại, có nhiều vấn đề bất ổn trong một văn bản cho thấy dường như nhà quản lý không quan tâm và/hoặc không hiểu rõ lĩnh vực và đối tượng quản lý của mình. Thay vào đó, cứ ra văn bản thể hiện ý chí và quyền lực của mình mới là điều quan trọng với họ.

Tuesday, 29 July 2014

Tớ lên báo Tây

Vừa nói chuyện Tây, Ta ở mục comment của entry "Phá giá không gây bất ổn vĩ mô" xong thì tớ nhận được email của đồng chí Nguyễn Khắc Giang, một cộng tác viên của tạp chí Focus Asean, thông báo bài của đồng chí ấy có trích dẫn lời của tớ đã được xuất bản trên tạp chí này, ở link sau. 

http://focus-asean.com/vietnam-non-performing-loans-focus-asean/

Tuy không phải là lần đầu được lên báo Tây, nhưng đọc xong bài này tớ vẫn tự thấy quả là mình lên "level" hẳn, chứ không lôi thôi như so với khi xuất hiện trên báo ta, mặc dù tớ cũng không dám chắc những trích dẫn trong bài là lời của tớ (vì tớ thấy nó sang quá, không hợp với tạng của tớ, hehe!) 

Sunday, 27 July 2014

Thêm một ví dụ sinh động về "tự diễn biến nhận thức"

http://laodong.com.vn/tai-chinh/nang-mua-len-21200-vndusd-tranh-de-ti-gia-giam-sau-228748.bld

Đang điểm báo, tớ tìm thấy bài trên, đúng cái chủ đề "tự diễn biến nhận thức" mà tớ nói hôm trước nên post lại để các đồng chí thấy tớ nói đúng về cái khả năng kỳ diệu này của con người, mà cụ thể ở đây là thêm đồng chí Cấn Văn Lực, người trước đây đôi ba tuần tớ đã có dịp hân hạnh lôi ra phang vì chuyện phá giá có tăng xuất khẩu hay không.

Cứ cái đà này thì thay vì đến 99% các chuyên gia phản đối phá giá như trước đây có lần tớ đã than vãn, sẽ có đến 99% chuyên gia chuyển sang ủng hộ phá giá. Thế mới tài!

Một ví dụ sinh động về nghề viết báo

http://thoibaonganhang.vn/tin-tuc/2-than-trong-voi-nhung-dieu-chinh-chinh-sach-ty-gia-23295.html

Các đồng chí đọc bài ở link trên sẽ thấy đồng chí tác giả rất "khôn", khi trích dẫn nửa lời, đúng hơn là nửa ý của tớ ở cái đoạn này:

"Vì vậy, những điều chỉnh chính sách tỷ giá vừa qua của NHNN không phải để hỗ trợ xuất khẩu và cho thấy sự không nhất quán trong chính sách tỷ giá” - một chuyên gia bình luận. Thực tế, nhiệm vụ của NHNN có phải hỗ trợ xuất khẩu?

Đọc các bài trước của tớ về tỷ giá sẽ thấy tớ nói vì sao NHNN phải phá giá và làm cách nào để phá giá mà vẫn kiềm chế lạm phát, và tớ phân tích vì sao mà thực tế đợt phá giá vừa rồi không phải như NHNN tuyên bố là để hỗ trợ xuất khẩu, mà là vì mục đích khác (vẫn lo ngại lạm phát). Nay đồng chí phóng viên nhét vào mồm tớ rằng nhiệm vụ (chính) của NHNN là hỗ trợ xuất khẩu.

Đây là một cách rất hay và các đồng chí, nhất là phóng viên, biên tập viên báo chí, rất nên học tập. Đơn giản, vì nhờ có thế thì mới có đề tài, mới có chuyện, mới có bài để mà viết. Chẳng hạn, như trong bài trên, từ việc nhét chữ vào mồm tớ thế là đương nhiên đồng chí phóng viên có hẳn một vấn đề rất lớn, rất to chuyện và trầm trọng để đến nỗi phải lôi thêm một vài chuyên gia cộm cán vào mới ra vấn đề rằng chức năng chính của NHNN không phải là hỗ trợ xuất khẩu, mà là để ổn định vĩ mô và kiềm chế lạm phát, rõ chửa?

Chứ nếu cứ bám vào kết luận của tớ rằng căn cứ vào những gì đã và đang xảy ra có thể kết luận rằng NHNN nói một đằng hành động một nẻo thì  làm gì còn cái gì đáng để viết, để "triển khai" thêm nữa?

Năng suất lao động Việt Nam thấp do đâu? (Bài đăng trên Doanh nhân Sài Gòn 28/7/2014 , bản gốc)

http://www.doanhnhansaigon.vn/online/dien-dan-doanh-nhan/thoi-su/2014/07/1082748/nang-suat-lao-dong-viet-nam-thap-do-dau/

Mới đây, theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) năng suất lao động của Việt Nam năm 2013 thuộc nhóm thấp nhất Châu Á – Thái Bình Dương; ví dụ, thấp hơn Singapore, Nhật và Hàn Quốc lần lượt là 15 lần, 11 lần và 10 lần. Ngay cả so với các nước ASEAN có mức thu nhập trung bình, năng suất lao động của Việt Nam vẫn có khoảng cách lớn, chỉ bằng một phần năm Malaysia và hai phần năm Thái Lan.
Cũng đáng chú ý là hiện tốc độ tăng của năng suất lao động đang giảm đi tại Việt Nam. Trong giai đoạn 2002-2007, năng suất lao động tăng trung bình 5,2%/năm - mức cao nhất trong khu vực. Tuy nhiên, kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, tốc độ tăng năng suất trung bình hàng năm của Việt Nam chậm lại, chỉ còn 3,3%/năm.
Một số chuyên gia cho rằng nguyên nhân của tình trạng năng suất lao động ở Việt Nam thấp là do, ví dụ, lao động chưa được đào tạo phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp, thể lực người lao động kém, kỹ năng yếu, kỹ thuật và công nghệ sản xuất thấp v.v... Nên, cứ thế mà suy ra, để cải thiện năng suất lao động thì tất nhiên phải khắc phục những mặt yếu kém này, ví dụ phải củng cố nguồn nhân lực, tăng cường thể chất, kỹ năng và trình độ người lao động, áp dụng kỹ thuật và công nghệ sản xuất tiên tiến.
Nhưng mọi chuyện đều không đơn giản, đúng hơn là không thẳng tuột như thế!
Để tìm đúng nguyên nhân năng suất lao động thấp thì trước tiên cần hiểu đúng khái niệm năng suất lao động. Theo định nghĩa chung nhất, năng suất lao động đo lường lượng hàng hóa và dịch vụ được tạo ra trong một giờ lao động.
Vì không thể đo lường năng suất lao động của những người lao động thuộc các ngành nghề khác nhau tạo ra những sản phẩm và dịch vụ khác nhau (chẳng hạn không thể so sánh để biết năng suất lao động của một công nhân xây dựng liệu có cao hơn một công nhân dệt trong một giờ làm việc hay không nếu chỉ sử dụng sản phẩm họ tạo ra tương ứng là bao nhiêu m2 tường và bao nhiêu m2 vải), nên người ta sử dụng một đại lượng chung, đó là giá trị GDP ròng, hoặc giá trị gia tăng (đo bằng đơn vị tiền tệ), tạo ra trong một giờ lao động.
Với khái niệm và cách đo lường năng suất lao động như trên, có thể nói một cách khái quát rằng năng suất lao động tỷ lệ thuận với tổng GDP của cả nền kinh tế và tỷ lệ nghịch với tổng số giờ lao động tiêu tốn trong cả nền kinh tế để làm ra từng đó GDP. Như vậy, với cùng quy mô dân số và lao động (giả thiết là cùng một cơ cấu dân số) thì nước nào có GDP lớn hơn sẽ có năng suất lao động cao hơn nước kia.
Trở lại với kết quả so sánh năng suất lao động nói trên của ILO. Không có gì đáng ngạc nhiên khi năng suất lao động của Việt Nam lại quá thấp so với những nước phát triển như Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, nơi có GDP bình quân đầu người đều cao tới hơn chục lần so với Việt Nam. Cũng tương tự nếu so với Malaysia và Thái Lan, nơi có thu nhập GDP bình quân đầu người gấp dăm lần Việt Nam thì mức chênh lệch dăm lần về năng suất lao động là một sự thật chẳng nên lấy làm ngạc nhiên.
Đến đây ta đã rõ hơn về nguồn gốc của chênh lệch năng suất lao động giữa Việt Nam và các nước khác. Do đó, để giảm chênh lệch này thì đương nhiên phải lấp đi khoảng cách về thu nhập bình quân đầu người. Mà để giảm chênh lệch thu nhập bình quân đầu người thì phải tăng tốc độ tăng trưởng GDP. (Và từ đây có thể giải thích được tại sao tốc độ tăng trưởng năng suất lao động của Việt Nam lại chậm lại kể từ 2008 đến nay, như ILO chỉ ra bên trên. Đó là do tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đã tụt giảm đáng kể so với giai đoạn tăng trưởng cao 2002-2007 trước đó).
Nhưng để nâng tốc độ tăng trưởng GDP nhằm tăng năng suất lao động thì ta lại vấp phải bài toán khó vốn đang là đề tài nổi cộm hiện nay mà vì thế mới phải có những việc lớn như tái cơ cấu nền kinh tế, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy kinh tế tư nhân và FDI, cải cách thể chế, tăng cường hòa nhập với nền kinh tế thế giới v.v...
Chưa kể, nâng tốc độ tăng trưởng GDP và tăng năng suất lao động hóa ra lại là vấn đề con gà và quả trứng. Vì tăng năng suất lao động cũng chính là giải pháp chính để cải thiện tốc độ tăng trưởng GDP.
Cũng may, để tăng GDP hay tăng năng suất lao động thì đều cần phải có vốn tư bản (nôm na: phải có tiền để đầu tư mua máy móc, công cụ làm việc, càng nhiều tiền thì càng mua được máy móc, công cụ tốt), công nghệ mới (có công nghệ mới, ví dụ dùng tự động hóa, có thể giảm được số người làm việc), và vốn con người (người lao động có kiến thức và kỹ năng tốt thì mới sử dụng và làm chủ được công nghệ mới, thiết bị mới, mới tổ chức được sản xuất một cách hợp lý...). Nhưng bản thân công nghệ mới và vốn con người suy cho cùng lại đều phụ thuộc vào vốn tư bản ở một mức độ lớn (có tiền thì mới có khả năng đầu tư cho công nghệ cao, hiện đại, đầu tư vào giáo dục, đào tạo nhân lực v.v...).
Tất nhiên, có tiền mới chỉ là điều kiện cần, và điều kiện đủ là phải tiêu số tiền đó ra sao cho hợp lý, ví dụ, phải biết dành bao nhiêu cho đầu tư vào máy móc, thiết bị, bao nhiêu vào ngành nào, lĩnh vực nào, bao nhiêu vào đào tạo và nâng cao thể chất, kỹ năng, trình độ người lao động, và biết làm thế nào để tránh bị mất mát do tham nhũng, lãng phí, hay thậm chí do tham lam, vĩ cuồng và ngu xuẩn đem tiền đi đổ vào những cái thùng không đáy v.v...
Như vậy, nói cho cùng, nguyên nhân của năng suất lao động, và rộng hơn là thu nhập bình quân đầu người, thấp kém ở Việt Nam là do thiếu tiền và thiếu (những cái đầu biết) cách tiêu tiền cho hợp lý, đúng đắn nhất. Nếu lại hỏi tiếp và để trả lời tiếp tại sao Việt Nam lại thiếu những cái này thì chỉ còn cách đổ tại... số phận! 

Wednesday, 16 July 2014

Về đâu chính sách tỷ giá? (Bài đăng trên TBKTSG, 17/7/2014, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/117608/Ve-dau-chinh-sach-ty-gia?.html

Sau khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng lên thêm 1 điểm phần trăm nữa với lý do để hỗ trợ xuất khẩu, tỷ giá đã có những diễn biến lạ. Sau một thời gian tăng khá mạnh lên gần mức trần trong mấy ngày đầu tiên sau điều chỉnh, tỷ giá hiện đã giảm mạnh về gần mức trước khi điều chỉnh.

Một trong những lý do hiển nhiên cho tình trạng này là cung ngoại tệ có thể đang rất dồi dào, thể hiện qua thông báo của NHNN rằng họ đang tiếp tục mua vào ngoại tệ để nâng dự trữ ngoại hối. Nhưng mặt khác, nếu xét đến lý do NHNN đưa ra trong đợt điều chỉnh  tỷ giá vừa rồi, rằng không phải là do áp lực cung cầu ngoại tệ mà là để thúc đẩy xuất khẩu, thì người ta có thể thấy sự bất nhất trong chính sách tỷ giá của NHNN.
Nếu đã định thúc đẩy xuất khẩu thì, về nguyên tắc, NHNN phải duy trì một tỷ giá cao hơn trước đây (tức làm VND yếu đi). Trong bối cảnh cung ngoại tệ tăng mạnh thì NHNN càng phải tích cực mua vào ngoại tệ với tỷ giá cao hơn trước để sao cho tỷ giá VND trong hệ thống ngân hàng và trên thị trường tăng thêm quanh quẩn 1 điểm phần trăm, tạo thuận lợi cho xuất khẩu đúng như ý đồ.

Nay tỷ giá chỉ tăng nhẹ hoặc hầu như không tăng so với trước đây cho thấy khả năng NHNN hoặc đã không tích cực mua vào USD, và/hoặc đã không mua với tỷ giá cao hơn đáng kể so với trước đây. Nếu đúng như vậy thì có thể kết luận rằng NHNN không muốn để VND yếu đi (so với hiện tại) và vì thế, mục đích đợt điều chỉnh tỷ giá vừa rồi thực chất không phải là để hỗ trợ xuất khẩu như tuyên bố.
Cùng với việc NHNN tiếp tục hút VND về thông qua kênh tín phiếu NHNN và tốc độ tăng trưởng tín dụng vẫn chậm, trong khi lượng vốn lớn của ngân hàng tiếp tục đổ vào trái phiếu chính phủ có thể suy luận rằng thanh khoản VND hiện đang dồi dào ở mức dư thừa. Trong bối cảnh này, có thể đối với NHNN nỗi lo ngại chính vẫn là nếu để VND mất giá như đã định thì sẽ lại có thêm một lượng lớn VND được tung thêm ra lưu thông, làm trầm trọng thêm tình trạng dư thừa VND, tăng áp lực lạm phát. Mà với mục tiêu chính sách đặt kiềm chế lạm phát là ưu tiên hàng đầu thì sẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi chính sách tỷ giá của NHNN trên thực tế vẫn thiên về giữ ổn định tỷ giá để giảm áp lực lạm phát, thay vì để nó tăng lên nhằm thúc đẩy xuất khẩu.

Nhưng về nguyên tắc, có thể vừa phá giá, vừa giữ áp lực lạm phát không thay đổi bằng cách điều chỉnh cung tiền, thông qua công cụ tín phiếu NHNN và dự trữ bắt buộc. Trong trường hợp hiện nay ở Việt Nam, cùng với việc tích cực mua vào ngoại tệ với tỷ giá cao hơn để tỷ giá tăng thêm 1 điểm phần trăm (hoặc hơn nữa) nhằm hỗ trợ xuất khẩu, NHNN song song với đó cần tung thêm tín phiếu NHNN và/hoặc nâng dự trữ bắt buộc để hút bớt VND tăng thêm từ quá trình mua vào ngoại tệ trước đó. Nếu thực hiện được như vậy thì NHNN không còn phải bận tâm đến khả năng xung đột mục tiêu chính sách, giữa ổn định vĩ mô (lạm phát) và hỗ trợ xuất khẩu nữa.

Bởi vậy, một khi đã công khai tuyên bố mục tiêu hiện thời của chính sách tỷ giá của mình - hỗ trợ xuất khẩu - thì NHNN nên hiện thực hóa chính sách này để gây dựng lòng tin của thị trường vào chính sách của mình, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu và tăng trưởng GDP. Phối hợp hài hòa với chính sách tiền tệ, chính sách nới lỏng tỷ giá sẽ thành công mà không gây ra hậu quả phá vỡ bất ôn vĩ mô, tăng lạm phát như NHNN đã có thể lo ngại và dẫn đến một chính sách tỷ giá dùng dằng, mất phương hướng như hiện nay.

Thursday, 10 July 2014

"Tự diễn biến" nhận thức!

Mấy lần trước tớ định lọc ra một số ví dụ về quá trình "tự diễn biến" của một số đồng chí chuyên gia và quan chức về nhận thức rất thú vị nhưng lại thôi vì không muốn tốn thời gian vô ích.

Nay đọc bài này của đồng chí Lịch về tỷ giá (ủng hộ thậm chí là khuyến khích NHNN phá giá thêm), tớ nhớ ra là trước đây cũng phang đồng chí này trong entry này (do cái tội đồng chí Lịch phản đối phá giá) rồi nên lục lại để so sánh cho các đồng chí thấy con người ta có cái khả năng rất đáng ca ngợi là tự diễn biến có khi một cách vô thức theo hướng "thiện", hehe.

Còn nhiều đồng chí khác dạo này cũng đã và đang tự diễn biến nhận thức và tư tưởng rồi (ít nhất về chuyện tỷ giá, là cái dễ thấy và nóng hổi). Nhưng các đồng chí tự tìm tòi, phát hiện nhé.

Sunday, 29 June 2014

Phá giá không nhất thiết gây bất ổn vĩ mô!

Một phiên bản của bài này được đăng trên Doanh nhân Sài Gòn, 30/6/20 ở link sau:
http://www.doanhnhansaigon.vn/online/dien-dan-doanh-nhan/thoi-su/2014/06/1082245/dieu-chinh-ty-gia-co-gay-bat-on-vi-mo/
-----------------------------------

Sau khi  Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều chỉnh tỷ giá ngày 19/6 với lý do là để hỗ trợ xuất khẩu, có một số người đã lo ngại rằng việc điều chỉnh này sẽ tác động tiêu cực lên ổn định vĩ mô. Chẳng hạn, theo tác giả Hồ Quốc Tuấn trên TBKTSG Online ngày 26/6, giữa chính sách ổn định vĩ mô (và duy trì niềm tin vào VND) và chính sách điều chỉnh tỷ giá (phá giá) để hỗ trợ xuất khẩu vốn tồn tại mâu thuẫn ở mức độ nhất định.
Lý do đằng sau quan hệ mâu thuẫn này là do, theo ông Tuấn, “...khi phá giá và mở đường cho nới lỏng tiền tệ hơn nữa, sẽ tạo nguy cơ lạm phát và khiến cầu mua USD tăng lên. Một sự mất ổn định trong giá cả tiêu dùng và giá VND có thể dẫn đến kỳ vọng lạm phát sẽ tăng càng cao và VND sẽ càng mất giá. Nếu rủi ro càng cao, kỳ vọng về phá giá và lạm phát sẽ càng lớn, tạo thành một vòng xoáy liên tục. Như vậy, có sự mâu thuẫn ở một mức độ nào đó giữa việc muốn giữ ổn định vĩ mô và việc phá giá đồng tiền (ở một qui mô lớn) để cải thiện sức cạnh tranh. NHNN không thể lựa chọn cả hai”.

Trên thực tế, phá giá chỉ gây ra/làm tăng áp lực lạm phát khi đi kèm với phá giá là một chính sách tiền tệ nới lỏng quá mức bình thường. Nếu song hành với phá giá mà NHNN thu hút lượng VND thặng dư phát sinh do phá giá về kho quỹ của mình thì áp lực lạm phát không hề tăng lên so với trước khi phá giá.
Để dễ hiểu, hãy xem ví dụ sau. Kế hoạch tăng cung tiền của NHNN trong năm 2014, trước khi phá giá, là 100 đơn vị (để tương ứng với mục tiêu lạm phát là 5%/năm, tăng trưởng tín dụng là 10%), và giả sử là NHNN đã sử dụng hết hạn mức cung tiền này vào quý 1. Nhận thấy VND đã bị lên giá thực so với USD ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu, NHNN quyết định phá giá VND thêm 1 điểm phần trăm. Để phá giá VND 1 điểm phần trăm, NHNN cần phải và sẵn sàng mua USD từ hệ thống ngân hàng với tỷ giá 21.246 VND/USD, tăng 1% từ mức trước đây là 21.036 cho đến lúc các ngân hàng thương mại không còn nhu cầu bán USD cho NHNN tại mức giá này nữa. Tương ứng với việc mua USD này của NHNN là một lượng VND được tung ra lưu thông, giả sử là tương đương với 10 đơn vị nữa, qua hệ thống ngân hàng thương mại, làm tăng cung tiền lên thêm 110 đơn vị, tức là vượt hạn mức 100 đơn vị (đã sử dụng hết), và do đó tăng áp lực lạm phát, có thể đẩy lạm phát vượt trên mức mục tiêu 5% cho cả năm 2014.

Với sự kiên quyết khống chế lạm phát ở mức bằng hoặc thấp hơn 5%, NHNN phải và sẽ tung tín phiếu ngân hàng hoặc dùng công cụ dự trữ bắt buộc để hút 10 đơn vị VND thặng dư do phá giá về kho quỹ của NHNN. Nếu muốn làm và làm được như thế thì hoàn toàn có thể khẳng định rằng phá giá (kể cả ở quy mô lớn như ông Tuấn nói) không nhất thiết gây ra lạm phát, không nhất thiết phải đi kèm với chính sách tiền tệ nới lỏng. Nói cách khác, không nhất thiết đúng như ông Tuấn lập luận, NHNN vẫn có thể đồng thời lựa chọn và đạt được cả hai mục tiêu (phá giá để hỗ trợ xuất khẩu và ổn định vĩ mô)!
Sẽ có người phản biện rằng phá giá mà phải thắt chặt chính sách tiền tệ thì sẽ gây ra tác dụng ngược là làm giảm tăng trưởng, chính là mục đích để phá giá (thông qua hỗ trợ xuất khẩu). Nhưng lưu ý từ ví dụ trên, chính sách tiền tệ thực ra vẫn được nới lỏng thêm 100 đơn vị như kế hoạch ban đầu của NHNN, chứ không bị thắt chặt lại chỉ còn, ví dụ, 50 đơn vị cho cả năm 2014, sau khi phá giá. Nói cách khác, nền kinh tế vẫn có đủ tín dụng, đủ thanh khoản để vận động và tăng trưởng như kế hoạch (giả sử kế hoạch này là đúng đắn theo tính toán của NHNN).

Tất nhiên, khi phá giá ở quy mô lớn như lo ngại của ông Tuấn thì cũng có thể gây ra một sự hoảng loạn nào đó trong dân chúng và giới đầu tư. Nhưng trước tiên, không ai bắt ép NHNN (nếu họ không muốn) phải tiến hành phá giá ở mức độ lớn và đột ngột cả! Và NHNN cũng không nên, không dại gì để bị dồn vào thế phải phá giá ở mức lớn đến độ gây ra hoảng loạn như vậy. Thay vào đó, tại sao NHNN lại không (chủ động) phá giá từng nấc ở nhiều thời điểm khác nhau?
Ngược lại, chính vì quan niệm phiến diện là phá giá sẽ làm tăng lạm phát, tăng kỳ vọng lạm phát, gây bất ổn vĩ mô đã làm cho NHNN cố gắng neo tỷ giá ở mức “ổn định” nhất có thể, với niềm tin rằng làm thế sẽ làm tăng lòng tin của dân chúng và nhà đầu tư vào VND (trong khi cung tiền tiếp tục được mở rộng để kích thích tăng trưởng gây ra áp lực lạm phát lớn). Nhưng ngay như ông Tuấn cũng nhận định trong bài của mình rằng nếu tỷ giá bị neo quá lâu thì sẽ dẫn đến nguy cơ phải thực hiện một đợt điều chỉnh tỷ giá mạnh. Như thế có nghĩa là việc neo tỷ giá để đạt được sự ổn định tạm thời về tỷ giá, về lòng tin, không phải là giải pháp cơ bản và bền vững cho chính sách tỷ giá. Thay vào đó, cái cần có là một chính sách quản lý tỷ giá linh hoạt sao cho tỷ giá luôn phản ánh sát thực nhất có thể quan hệ cung cầu USD và đồng thời chênh lệch lạm phát giữa Mỹ và Việt Nam. Khi đã thiết lập được một sự linh hoạt như vậy rồi thì phá giá nếu có chỉ là những bước điều chỉnh nhỏ, không gây xáo trộn lớn trong xã hội (vì xã hội nhận thức rõ và thông cảm được tại sao NHNN phải “điều chỉnh” tỷ giá như vậy), và càng không có lý do gì để nói hoặc e ngại rằng phá giá sẽ làm bất ổn vĩ mô và mất lòng tin vào VND cả!

Tiện đây, xin bàn thêm về luận điểm của ông Tuấn rằng ông “...không ủng hộ một đợt phá giá mạnh VND để cải thiện sức cạnh tranh ngay lúc này. Đơn giản là vì ta phá giá được thì nước người ta cũng phá giá được, huống chi kiểu cạnh tranh như thế này sẽ chỉ khiến cho người ta càng có bằng chứng nói rằng chúng ta “trợ giá” cho nhiều loại đầu vào của nền kinh tế (gần đây nhất là chuyện giá nhiên liệu)”.
Như trên đã nói, nếu NHNN linh hoạt hơn với chính sách tỷ giá của mình thì NHNN đã không việc gì phải tiến hành “một đợt phá giá mạnh” vì đã và sẽ phá giá nhiều đợt, mỗi đợt phá giá một chút. Và để cải thiện sức cạnh tranh thì phá giá dù chỉ vài điểm phần trăm cũng đã là quý rồi vì như thế cũng đã làm lợi cho xuất khẩu, chứ không cần phải ở mức ví dụ như 10 điểm phần trăm (không biết đây có phải là mức ông Tuấn coi là mạnh hay không).

Và chắc chắn rằng khi VND đã lên giá thực (ở mức lớn) so với USD thì Việt Nam hoàn toàn có quyền và có cơ sở hợp lý để tiến hành phá giá (kể cả phá giá mạnh) mà không phải e ngại bất kỳ “nước người ta” nào dị nghị cả. Và nếu người ta bắt trước phá giá theo thì âu cũng là việc bình thường, giống như việc 2 đối thủ tìm mọi cách hạ giá thành để tăng tính cạnh tranh của sản phẩm. Có điều cần lưu ý là không phải nước người ta nào cũng (luôn) có thể bắt trước phá giá theo được, vì nhiều lý do.

Wednesday, 25 June 2014

Cần một nhận thức chung đúng đắn về tỷ giá (Bài đăng trên TBKTSG, 26/6/2014, bản gốc)

Bài này xuất hiện trên TBKTSG dưới tiêu đề: "Tỷ giá- cần cái nhìn đa chiều", do báo đặt lại.
---------------------------------------------
http://www.thesaigontimes.vn/116699/Ty-gia---can-cai-nhin-da-chieu.html

Cuối cùng thì đồng Việt Nam cũng đã “bất ngờ” bị phá giá nhẹ (hay tỷ giá được “điều chỉnh”) sau bao nhiêu nỗ lực kêu gọi phá giá bất thành của một số ít người trước bức tường bảo thủ sai lầm của các nhà chức trách và đại bộ phận chuyên gia kiên quyết chống lại chuyện phá giá, dù là nhẹ.
Trước đó cho đến tận tuần mới đây, chưa nói gì đến ý kiến phản đối phá giá của nhiều chuyên gia, ngay chính các quan chức Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã nhiều lần tuyên bố một cách rất thống nhất rằng hoàn toàn không hoặc chưa thấy có lý do gì để phá giá vì “cung cầu ngoại tệ hết sức dồi dào”, không có gì biến động bất thường, vì tài khoản thanh toán đang thặng dư lớn, vì quỹ dự trữ ngoại hối đã và đang tăng mạnh, vì những áp lực phá giá nếu có chỉ là do tin đồn, do đầu cơ trục lợi...

Trên hết, họ cực lực phản đối ý kiến của một số ít người kiến nghị phá giá để kích thích xuất khẩu vì tỷ giá đã bất động quá lâu trong khi chênh lệch lạm phát giữa Việt Nam và Mỹ lớn dẫn đến tiền đồng bị lên giá thực ở mức lớn, ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu, tăng nhập siêu. Lưu ý rằng thực tế tiền đồng lên giá thực so với đô la Mỹ cũng chính là nhận định của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong cuộc trả lời phỏng bấn Bloomberg hồi tháng 9/2013 tại New York khi ông cho biết Chính phủ có kế hoạch “hạ giá VND tối đa 2% vào cuối năm (2013)”.
Nhưng theo nhiều chuyên gia và quan chức NHNN, phá giá không làm tăng xuất khẩu, mà, ngược lại, thậm chí làm tăng nhập siêu vì hàm lượng đầu vào nhập khẩu của hàng hóa sản xuất tại Việt Nam có tỷ trọng cao. Họ còn cho rằng phá giá sẽ làm cho lạm phát tăng lên. Hơn nữa, phá giá làm cho lòng tin vào tiền đồng suy giảm, gây bất ổn định vĩ mô.

Và rồi điều gì phải đến đã đến. Phá giá đã phải diễn ra như đã thấy. Điều đáng nói là lý do để phá giá lần này được chính NHNN đưa ra là để “hỗ trợ xuất khẩu”, điều mà mới đó chính họ còn ra sức phủ nhận. Chưa hết, để trấn an dư luận về lo ngại phá giá làm tăng lạm phát, điều mà chính họ cảnh báo trước đây, NHNN tuyên bố rằng phá giá không làm tăng lạm phát.
Còn riêng về chuyện lòng tin vào tiền đồng, NHNN dường như vớt vát rằng đợt phá giá này là nằm trong kế hoạch để cho tỷ giá biến động không quá 1-2% trong năm nay. Nhưng e rằng hành động phá giá diễn ra không lâu ngay sau những lời tuyên bố mạnh mẽ không phá giá của NHNN (vì “không có lý do gì để phá giá”) mới chính là cái làm sứt mẻ lòng tin của công chúng vào lập trường chính sách của NHNN nói chung, vào tiền đồng nói riêng. Minh chứng là đã có nhiều ý kiến trên các phương tiện thông tin đại chúng bày tỏ sự ngạc nhiên, bất ngờ với đợt phá giá lần này khi họ bị thuyết phục bởi những biện hộ cứng rắn của NHNN cho việc không điều chỉnh tỷ giá trước đó.

Những diễn biến trên cho thấy đã có sự biến chuyển theo hướng tích cực trong nhận thức về tỷ giá của NHNN. Và dư luận dường như cũng đã có sự biến chuyển tương tự khi không còn nghe thấy mấy lời phàn nàn, phê phán chuyện phá giá của NHNN từ giới chuyên gia nữa, mà thay vào đó là sự tán đồng (đây không phải là điều bất ngờ), hoặc sự cố gắng giải thích hành động phá giá này theo hướng không “chệch” quá xa so với ý kiến phản đối của mình trước đây (cũng không phải là điều bất ngờ).
Nhưng vạch ra những mâu thuẫn trong lời nói và hành động, cũng như sự biến chuyển tích cực trên trong giới chuyên gia và chức trách không phải là mục đích chính của bài viết này. Thay vào đó, như tiêu đề của bài, đây là cơ sở để nó lên tiếng kêu gọi hình thành một nhận thức chung đúng đắn về tỷ giá ở Việt Nam để tránh những tranh luận không còn cần thiết từ nay về sau nữa, ví dụ phá giá có hay không làm tăng xuất khẩu, tăng nhập siêu (vì đã rõ ràng, từ lý thuyết đến thực tế), và cũng là để tránh những hành động chính sách sai lầm như kiên định mù quáng với chính sách kìm giữ tỷ giá bất chấp điều kiện vĩ mô bất lợi thế nào.

Nhận thức này cụ thể là, việc quyết định có phá giá hay không không chỉ dựa vào quan hệ cung cầu ngoại tệ có thiếu hụt, căng thẳng hay không, mà còn phải dựa vào những yếu tố khác, trong đó có việc tiền đồng có lên giá thực (ở mức lớn) so với đô la Mỹ làm ảnh hưởng bất lợi đến cán cân thương mại hay không.
Cũng từ nhận thức thống nhất nói trên, mỗi khi có biến động gây áp lực lên tỷ giá và khi NHNN phải lên tiếng với công chúng về lập trường và ý định của mình thì NHNN cần phải thay đổi cách giải thích và lập luận phiến diện truyền thống của mình như nêu ở trên. Mọi giải thích và lập luận từ nay trở về sau phải xuất phát từ góc nhìn đa chiều bao hàm các yếu tố về quan hệ cung cầu ngoại tệ, về tương quan lạm phát trong và ngoài nước, về sức ép của tỷ giá lên thâm hụt thương mại, về cơ sở để gây dựng và củng cố lòng tin vào tiền đồng... Chỉ có như vậy thì chính sách về tỷ giá của NHNN mới có tính thực tiễn và sức sống lâu dài hơn trong nền kinh tế.

Thursday, 19 June 2014

Cười một cái với tỷ giá

Tớ thực ra không muốn cười vào bản thân cái tỷ giá mà chỉ là cười vào cái sự im lặng khá tế nhị của nhiều đồng chí vốn lớn tiếng phê phán chuyện phá giá, và cười vào cái sự tráo trở, nói kiểu gì cũng được của nhiều đồng chí khác.

Chẳng hạn trước đây cũng các đồng chí này cho rằng phá giá thì sẽ không làm tăng xuất khẩu, mà chỉ tăng lạm phát, tăng nhập khẩu. Nay thì từ Thống đốc đến Vụ trưởng Vụ tiền tệ NHNN, đến những chuyên gia này kia đều rất tự nhiên khi nói phá giá (chính xác là "điều chỉnh" tỷ giá) là để hỗ trợ xuất khẩu, rằng tỷ giá tăng nhưng không làm tăng lạm phát. Hình như ngay cả Bình Thống đốc trước đây nói ngược lại thế thì phải nhi?

Hoặc trước đây thì tất cả đều một giọng giống nhau (như là có đạo diễn) rằng không có lý do gì để phá giá vì "cung cầu ngoại tệ rất dồi dào", vì nào là thặng dư cán cân thanh toán và cán cân tổng thể v.v... Nay thì dường như chẳng vì lý do gì ngoài lý do "hỗ trợ xuất khẩu" mà phá giá, hỏi thế có trêu ngươi không cơ chứ?

Rồi nhiều đồng chí ăn theo nói leo, hoặc trót tin vào lời hứa của Bình Thống đốc nên khẳng định như đúng rồi rằng tỷ giá sẽ ổn định, không tăng quá 1% năm nay. Nay thì đã nhỡ nhàng rồi, biết ăn nói với thiên hạ ra sao, làm sao lấy lại được lời đã nói đây? Cơ khổ!

Thôi tớ không muốn cười nữa, chỉ mong các đồng chí từ bây giờ trở đi ráng mà nhớ lấy cái lần này để lần sau có nói gì ấm ớ thì cũng ấm ớ cho nó vừa vừa, có chừng mực thôi, không sẽ lại có thêm nhiều kẻ cười cho.

Chẳng nhẽ tớ lại hô tớ muôn năm?!.

Wednesday, 18 June 2014

Ngủ trưa, Gmail với tặng quà (Bài đăng trên TBKTSG, 19/6/2014, bản gốc, tiêu đề do báo đặt)

http://www.thesaigontimes.vn/116429/Ngu-trua-Gmail-voi-tang-qua.html

Nhân chuyện FPT IS vừa có quyết định cấm nhân viên nằm ngủ trưa trong khu vực làm việc, có một số tờ báo đã liệt kê ra những lệnh cấm mà họ gọi là “bá đạo” của các sếp Việt, trong đó, ngoài lệnh cấm nằm ngủ trưa này, còn có những lệnh cấm như cấm nhân viên dùng yahoo mail, gmail, và cấm nhân viên tặng quà sếp.

Nhìn chung, nếu để ý theo dõi thì sẽ thấy dư luận có vẻ sốc và không đồng tình với những lệnh cấm này, ngoài một số lý do biện hộ này kia được đưa ra, sâu xa là vì chúng “xâm phạm” đến những thói quen cố hữu của người Việt. Điều đáng nói là những thói quen này không phải là tốt đẹp, đáng duy trì trong thời hiện tại, nhất là nhìn từ ngoài vào, và không phải là không thể thay đổi được.
Ví dụ về thói quen (nằm) ngủ trưa tại văn phòng. Bản thân tôi đã từng có một thời gian làm tại Việt Nam và cũng (buộc phải) có thói quen ngủ trưa khi xung quanh mọi người đều ngủ cả, tắt điện tối om. Và chuyện ngủ trưa này trở thành bình thường, đương nhiên trong quan niệm của tôi cho đến thời điểm đó.

Nhưng sau này đi du học và làm việc tại, tiếp xúc với nhiều công ty và tổ chức, tôi thấy rằng ở nhiều nước (những nơi mà tôi đã qua, đã làm việc), chuyện ngủ trưa, tắt đèn, đặc biệt là chuyện nằm trên bàn, trên ghế, rải tấm trải ra sàn văn phòng v.v... như ở Việt Nam dường như là chuyện chỉ có ở Việt Nam.

Bản thân tôi, sau khi rời khỏi Việt Nam, đã nhanh chóng đánh mất thói quen ngủ trưa để hòa vào cung cách làm việc xung quanh suốt từ hàng chục năm nay. Thú thực là đôi khi quá căng thẳng và ngủ ít từ hôm trước, tôi cũng cảm thấy buồn ngủ vào chiều hôm sau, đến nỗi có khi ngủ gật một cách vô thức. Nhưng đó chỉ là hãn hữu và cơn buồn ngủ cũng nhanh chóng qua trôi qua.

Các đồng nghiệp xung quanh tôi cũng vậy, không bao giờ thấy họ ở lại trong phòng để ngủ trưa, mà đều tranh thủ giờ nghỉ trưa để đi ăn, đi mua sắm, làm việc riêng, hoặc ngồi nhâm nhi cà phê tán gẫu với bạn bè.
Dù vậy, chỗ tôi làm việc, cơ quan cũng rất “nhân văn” khi bố trí một phòng ăn kiêm nghỉ ngơi thư dãn (chỉ có vài cái ghế bố) dành cho nhân viên ai có nhu cầu chợp mắt. Nhưng những cái ghế này cũng rất ít khi được sử dụng.

Không những đã mất thói quen ngủ trưa, tôi còn trở nên rất “dị ứng” với cái cảnh đến giờ nghỉ trưa thì hầu như đồng loạt tất cả công sở, văn phòng ở Việt Nam đều đóng cửa, treo biển ngủ trưa, kể cả những nơi làm dịch vụ, phục vụ khách hàng, ví dụ như ngân hàng. Thật là có trải qua mới biết không gì khó chịu bằng cảnh Thượng đế phải đợi người phục vụ ngủ trưa dậy rồi mới được phục vụ. Ở nước ngoài, với nhiều người làm công ăn lương, giờ nghỉ trưa là giờ họ tranh thủ đi giải quyết nhiều việc cá nhân, còn người dân thì vẫn có nhu cầu công việc như bình thường, nên các văn phòng, công sở mang tính chất dịch vụ thường cho nhân viên luân phiên nhau nghỉ/ăn trưa để vẫn tiếp tục phục vụ Thượng đế, chứ không đóng cửa, ngừng trệ công việc hoàn toàn như ở Việt Nam.
Chưa hết, nhìn cái cảnh nhân viên uể oải ngáp ngán ngáp dài, mắt nhắm mắt mở, quần áo xộc xệch, lục tục ngồi dậy (mặc dù nhiều lúc đã quá giờ quy định), xung quanh thì bề bộn chăn gối, thức ăn vặt... mới thấy cám cảnh cho môi trường công sở ở Việt Nam. Thế nên cũng rất đồng cảm với thái độ của đối tác của FPT IS khi nhìn thấy cảnh ngủ trưa ở đó. Và bởi thế, chưa cần nói đến những chuyện “đao to búa lớn” như toàn cầu hóa, thói quen (nằm) ngủ trưa đúng là một thói quen cần bỏ hay hạn chế tối đa, ở Việt Nam càng sớm càng tốt.

Sang chuyện dùng yahoo mail hoặc gmail, việc (cho nhân viên) sử dụng những hòm thư công cộng này trong công việc trước hết là thể hiện sự không chuyên nghiệp của tổ chức đó. Với tôi, mỗi khi nhận một tấm danh thiếp của ai đó từ một tổ chức nào đó mà chỉ có mỗi địa chỉ email có đuôi như yahoo hay gmail thì lập tức ấn tượng, sự tín nhiệm và đánh giá của tôi về tổ chức đó, người đó sẽ hao hụt rất nhiều. Ngược lại, khi nhận được những email từ những địa chỉ này gửi đến email của cơ quan tôi, tôi hầu như sẽ xóa ngay mà không đọc, trừ khi biết trước chủ nhân của email đó là ai. Và cơ quan tôi cũng có những quy định rất khắt khe về việc liên lạc với bên ngoài bằng những địa chỉ email công cộng thế này.
Bên cạnh đó, các cơ quan cũng cần cấm nhân viên dùng máy tính của cơ quan để gửi và nhận email công cộng. Đương nhiên là nếu không có máy tính cơ quan thì ngày nay nhân viên vẫn có thể dễ dàng tiếp cận gmail, yahoo thông qua những thiết bị cá nhân như máy tính bảng, điện thoại thông minh...  Nhưng vẫn cần phải cấm vì, ngoài lý do là việc cho phép này lại tạo thêm điều kiện cho nhân viên “tư nhân hóa” thời gian làm việc công, nó còn có mục đích quan trọng là góp phần bảo đảm an ninh mạng, là chuyện đã xảy ra rất nhiều khắp đó đây. Hãy thử hình dung hậu quả khi một nhân viên ngân hàng có thể dùng yahoo mail hay gmail để gửi dữ liệu mật của ngân hàng ra ngoài, hay nhập dữ liệu vào trong hệ thống, như là một cách “lách” khi hệ thống máy tính của nhiều ngân hàng không cho phép kết nối với các thiết bị ngoại vi như USB để upload, download dữ liệu.

Và cuối cùng là chuyện tặng quà sếp. Quả thật là ở ngoài Việt Nam, tôi chưa bao giờ phải chứng kiến cảnh nhân viên tặng quà sếp, hầu như bất cứ dịp gì ngoài dịp sinh nhật sếp. Cho dù thế, trong dịp tổ chức sinh nhật sếp (không phải là thông lệ, thói quen), quà được tặng cũng chỉ là một bữa ăn chung và thêm cái bánh sinh nhật do mọi người cùng góp tiền. Ngược lại, rất thông thường là nhân viên được sếp tặng quà, mừng tuổi và đãi ăn uống nhân dịp tổng kết quý, năm, Noen, năm mới... vì đây được cho là trách nhiệm và việc nên làm của sếp để lấy lòng nhân viên.
Tóm lại, không còn là sớm sủa gì nữa để nhiều thói quen trong môi trường công sở Việt Nam như trong bài này cần phải bị dẹp bỏ hoặc thay đổi ngay, và hoàn toàn có thể thay đổi được, dù chúng đã bén rễ chắc và sâu thế nào.

Tuesday, 10 June 2014

Quỹ bình ổn giá xăng dầu có tác dụng gì? (Bài đăng trên TBKTSG Online, 11/6/2014)

http://www.thesaigontimes.vn/116117/Quy-binh-on-gia-xang-dau-co-tac-dung-gi?.html

(TBKTSG Online)- LTS: Quỹ bình ổn giá xăng dầu hiện nay có thực sự đem lại lợi ích cho người dân hay đang làm tổn hại đến an sinh xã hội? Liệu có nên tiếp tục duy trì Quỹ bình ổn nữa hay không? TBKTSG Online giới thiệu ý kiến sau đây của một chuyên gia kinh tế và mong nhận các ý kiến khác.

Theo giải thích của Bộ Tài chính cũng như báo cáo của Kiểm toán Nhà nước, Quỹ bình ổn giá xăng dầu góp phần bình ổn mặt bằng giá nói chung, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì ổn định tăng trưởng và an sinh xã hội.

Có thực vậy không? Nếu đúng vậy, có lẽ nhà nước nên thành lập thêm càng nhiều quỹ bình ổn để bình ổn (ở cấp quốc gia) giá của càng nhiều mặt hàng thì càng tốt. Vì, cùng một logic, các loại quỹ bình ổn này sẽ đều có tác dụng bình ổn mặt bằng giá cả nói chung, và, do đó, ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng và an sinh xã hội.

Tuy nhiên, thực tế về Quỹ bình ổn ở Việt Nam lại khác, và, do đó, sẽ rất khiên cưỡng khi nói Quỹ bình ổn có những tác dụng như ca ngợi.

Về bản chất, Quỹ bình ổn xăng dầu hiện nay ở Việt Nam đang lấy tiền của chính người mua xăng dầu để “bình ổn” giá cho người mua xăng dầu. Do đó, xét về an sinh xã hội (hiểu nôm na ở đây là quyền lợi của người mua xăng dầu, và từ đó lan tỏa ra khắp xã hội) không được cải thiện gì, vì người mua xăng dầu tuy có được mua xăng dầu bình ổn với giá không tăng trong tương lai gần nhưng đó chỉ là do họ đã ứng trước cho phần giá tăng lên này, chứ sự “bình ổn” không tự nhiên đến, hoặc đến nhờ có tiền trợ giá của một bên thứ ba, chẳng hạn, nhà nước.

Để cho dễ hiểu hơn, ta lấy một ví dụ cụ thể như sau.

Giá bán lẻ xăng ngày hôm nay, chưa gồm tiền trích vào Quỹ bình ổn, là 20.000 đồng/lít. Sau khi trích Quỹ bình ổn, ví dụ, 5% giá xăng, giá bán lẻ xăng sẽ thành 21.000 đồng/lít. Như vậy, việc trích lập Quỹ bình ổn đã tước đi của người mua xăng dầu thêm 1.000 đồng/lít vào thời điểm hiện tại.

Giả sử một tháng sau, giá xăng dầu nhập khẩu tăng lên làm cho giá bán lẻ trong nước lẽ ra phải tăng lên đúng 5% (1.000 đồng/lít). Nhờ có Quỹ bình ổn, giá bán lẻ xăng dầu không thay đổi.

Nhưng điều này không có nghĩa là người mua xăng dầu được lợi 1.000 đồng/lít một tháng sau này, vì thực chất họ đã ứng trước số đó một tháng trước, thông qua trích lập Quỹ bình ổn! Tức là về mặt an sinh xã hội, người tiêu dùng nói riêng và xã hội nói chung chẳng được lợi thêm gì từ Quỹ bình ổn cả.

Thêm nữa, xét về tác dụng ổn định giá cả, chính phần tiền ứng trước cho Quỹ bình ổn này làm cho giá cả xăng dầu thay vì lẽ ra phải/sẽ tăng lên vào một thời điểm trong tương lai thì lại tăng ngay vào thời điểm trích lập Quỹ bình ổn hiện tại. Nói cách khác, và suy rộng ra, Quỹ bình ổn sẽ “kéo” sự  tăng giá (tức lạm phát) trong tương lai về hiện tại.

Trở lại ví dụ trên, việc trích lập 1.000 đồng/lít vào Quỹ bình ổn hôm nay đã  “vô tình” tạo ra áp lực tăng giá trong thời điểm hiện tại khi nó góp thêm áp lực đến từ việc tăng giá xăng dầu thêm 1.000 đồng/lít vào trong rổ hàng hóa tính CPI cho tháng hiện tại. Tuy áp lực lên CPI không thay đổi sau một tháng nữa, nhưng đó là vì áp lực đó đã dồn lên CPI từ một tháng trước đó rồi. Như thế, nếu tính mặt bằng giá cả chung cho cả năm thì CPI vẫn sẽ tăng lên, khi các điều kiện khác không thay đổi, cho dù có sự tồn tại của Quỹ bình ổn.

Ngoài những sự vô tác dụng nói trên, Quỹ bình ổn còn gây hại ở chỗ nó là “hố đen” để một nhóm người nào đó có thể trục lợi, vì mọi việc liên quan đến Quỹ bình ổn không thể minh bạch hoàn toàn được. Đó là chưa nói đển tổn thất tính vào Quỹ bình ổn, tức là được “trừ” vào lợi ích của người tiêu dùng, khi mà việc quản lý Quỹ bình ổn làm phát sinh chi phí quản lý và đủ loại chi phí liên quan khác.

Nói cách khác, sẽ là không quá khi kết luận rằng Quỹ bình ổn thực ra lại làm tổn hại đến an sinh xã hội cũng như kiểm soát lạm phát và ổn định vĩ mô, vì một phần của nguồn lực xã hội bị tiêu tốn một cách vô ích.
 
 

Monday, 9 June 2014

Phải cám ơn báo An ninh Thủ đô đã truyền đạt tư tưởng của tớ

Vốn như thường lệ, tớ khá có duyên với tờ báo này vì tư tưởng và lời văn của tớ được cóp bết khá nguyên vẹn trên tờ báo này, như bài về quan hệ với Trung Quốc.

Tuy nhiên, lần này tớ lại thấy rất dễ chịu vì nhờ có tờ báo và đồng chí phóng viên Đan Thanh mà tư tưởng của tớ được truyền đạt phổ biến, sâu rộng hơn (và quan trọng hơn, hoàn toàn miễn phí!) trên một tờ báo có tính chọn lọc đề tài, nội dung và tác giả mà một cộng tác viên như tớ không dễ gì mà được tờ báo này chấp nhận (thế mới đen!).

Lưu ý rằng tư tưởng này của tớ, xuất hiện ban đầu trên TBKTSG, có vẻ như không được dư luận tán thưởng cho lắm, vì động đến quan hệ nhạy cảm với Trung Quốc. Nay nó xuất hiện trên tờ an ninh, chắc là đúng ý đảng. Vinh dự phết đấy, vì chả mấy khi tớ nói trúng ý đảng.

Đồng chí Bình cũng thừa nhận VND bị định giá cao đây này!

Sau bao quanh co, biện luận, đúng hơn là ngụy biện của nhiều đồng chí từ dân thường đến quan chức và chuyên gia rằng tỷ giá VND là "ổn", là không cần thiết phải phá giá, là không có áp lực phải phá giá v.v... cuối cùng thì đồng chí Bình cũng phải chốt lại, thừa nhận rằng: “Để có thể khuyến khích xuất khẩu, để đồng Việt Nam không bị định giá quá cao, thì việc Ngân hàng Nhà nước xem xét điều chỉnh tỷ giá ở mức độ phù hợp cũng là việc xã hội rất quan tâm".

http://vneconomy.vn/20140609095635293P0C6/ty-gia-bat-tang-sau-phat-bieu-cua-thong-doc.htm

Lưu ý rằng một mặt đồng chí Bình thừa nhận rằng VND bị định giá (quá) cao (bằng cách nói gián tiếp như trong đoạn bôi đậm bên trên), nhưng mặt khác đồng chí ấy vẫn khẳng định rằng: "hiện các điều kiện khách quan để điều chỉnh tỷ giá, để buộc phải điều chỉnh tỷ giá là chưa có. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục khẳng định sẽ giữ ổn định tỷ giá từ nay đến cuối năm", như lời dẫn của VnEconomy. Xin thưa với đồng chí là áp lực để buộc phải điều chỉnh tỷ giá chính là sự bị định giá quá cao của VND đấy ạ.
Như thế tớ có thể kết luận rằng đúng là "miệng nhà quan có gang có thép", nói mà chẳng cần biết, cần quan tâm mình nói cái gì, nói đúng hay không. Cũng có thể quan này cũng chỉ là trí thức 1/2 mùa, kiến thức cũng chỉ đến từng này mà thôi.

Friday, 6 June 2014

Chuẩn bị chu đáo để quá trình hòa nhập xuôi chèo mát mái (Bài trả lời phỏng vấn DBND, ngày 7/6/2014)




Chuẩn bị chu đáo để quá trình hòa nhập xuôi chèo mát mái

08:55 | 07/06/2014
http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=317496

Năm nay và một vài năm tới, nước ta sẽ ký kết một số hiệp định thương mại tự do mới với các nền kinh tế khu vực và thế giới. Ts Phan Minh Ngọc, hiện đang làm việc tại Ngân hàng Sumitomo chi nhánh Singapore cho rằng, trước mỗi hiệp định mới, sự chuẩn bị chặt chẽ và chu đáo về tinh thần, pháp lý và môi trường KT - XH là thiết yếu để quá trình hòa nhập xuôi chèo mát mái, đem đến nhiều tác động tích cực hơn là tiêu cực.
Các hiệp định vẫn còn xa lạ
- Ông có bình luận gì về chủ đề Từ chương trình tới hành động - chuẩn bị cho các hiệp định thương mại mới của Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam giữa kỳ 2014 hôm 5.6 vừa qua?
- Trong năm nay và một vài năm tới, Việt Nam sẽ ký kết hoặc đang đàm phán một số hiệp định thương mại tự do mới với các nền kinh tế khu vực và thế giới. Ví dụ: Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Australia - New Zealand, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Đối tác kinh tế toàn diện khu vực ASEAN + 6 (RCEP), Hiệp định thương mại tự do EU - Việt Nam, Hiệp định thương mại tự do Hàn Quốc - Việt Nam, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam với liên minh thuế quan Nga, Belarus và Kazakhstan, và Hiệp định thương mại tự do châu Âu - Việt Nam.

Nguồn: sukien.net
Bởi vậy, Diễn đàn với chủ đề này là một bước đi cụ thể trong quá trình hiện thực hóa sự hòa nhập hoàn toàn và đầy đủ của Việt Nam vào các sân chơi lớn của khu vực và thế giới như nói trên. Trước mỗi một hiệp định thương mại mới thì sự chuẩn bị chặt chẽ và chu đáo về tinh thần, pháp lý và môi trường kinh tế, xã hội là điều thiết yếu để bảo đảm cho quá trình hòa nhập được xuôi chèo mát mái, đem đến cho Việt Nam nhiều tác động tích cực hơn là tiêu cực.
Được biết, Diễn đàn này tập trung vào một số nội dung chính như những cơ hội và thách thức cho Việt Nam sau ký kết các hiệp định thương mại tự do mới này, cũng như thảo luận các lĩnh vực thu hút được sự quan tâm lớn của các nhà đầu tư trong các lĩnh vực ngân hàng, thị trường vốn, đầu tư và thương mại, cơ sở hạ tầng, lao động và việc làm v.v... Như vậy, có thể nói rằng, và hy vọng rằng Diễn đàn lần này đã cung cấp cho các thành viên tham gia một cái nhìn sâu sắc và đa chiều hơn về những thuận lợi và khó khăn, những lợi ích và thiệt hại có thể có của từng quốc gia thành viên trong các hiệp định tự do thương mại nói trên.
- Đánh giá chung của Ông về sự chuẩn bị của Việt Nam cho các Hiệp định thương mại mới này?
- Nhìn chung, có lẽ giống như với nhiều hiệp định thương mại tự do khác trước đây, các hiệp định thương mại tự do mới này vẫn tỏ ra khá xa lạ với nhiều cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức. Có thể một phần là vì thực tế hiện đang có khá nhiều thỏa thuận thương mại song phương và đa phương đã, đang tồn tại, và sẽ ra đời trong thời gian tới. Với số lượng lớn như vậy, không khó hình dung sẽ có sự quá tải thông tin, cũng như lẫn lộn về phạm vi, nội dung... giữa chúng với nhau ở đây. Đó là chưa kể với nhiều cá nhân và tổ chức vốn vẫn quen thụ động, ỷ lại vào nhà nước trong việc cung cấp thông tin cũng như định hướng, một phần do lý do khách quan là sự phổ biến các tài liệu liên quan bằng tiếng Việt chưa có nhiều và được cập nhật thường xuyên.
Thực tế này đòi hỏi nhà nước phải tích cực tuyên truyền sâu rộng hơn nữa thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, những hội thảo và diễn đàn, những tổ chức hội nghề nghiệp, những cổng thông tin đầy đủ và dễ tiếp cận v.v... để tăng thêm hiểu biết của cộng đồng đối với các thỏa thuận và hiệp định Việt Nam đang đàm phán và ký kết.
TPP - cuộc chơi dành cho doanh nghiệp nước ngoài
-  Trong số các hiệp định Ông nhắc tới ở trên, hiệp định nào cần được chú trọng đặc biệt?
- Đương nhiên những hiệp định được ký kết với các nhóm nước và khu vực mà Việt Nam có quan hệ đầu tư và thương mại lớn nhất sẽ là quan trọng nhất và cần được chú trọng nhất. Xét theo phương diện này thì những hiệp định thương mại với Mỹ, Nhật, Trung Quốc và châu Âu có tầm quan trọng hàng đầu với Việt Nam. Trong số đó phải kể đến TPP vì bản thân nó sẽ bao gồm những bạn hàng và nhà đầu tư quan trọng nhất đối với Việt Nam là Mỹ và Nhật. Nếu sau này TPP tiếp tục được mở rộng thêm cho cả Đài Loan và Hàn Quốc tham gia, thậm chí là Trung Quốc, thì nó sẽ trở thành một siêu hiệp định với Việt Nam.
Ngoài tầm quan trọng hàng đầu, TPP còn chứa đựng nhiều thử thách với Việt Nam vì nó sẽ buộc Việt Nam phải thực hiện nhiều nhượng bộ lớn về kinh tế, chính trị và xã hội, ví dụ như doanh nghiệp nhà nước, mua sắm công, công đoàn v.v... ngoài những nhượng bộ đầy khó khăn về mở cửa thị trường như thường có trong nhiều hiệp định thương mại khác.
- Được biết Ông đã gặp đại diện các cơ quan Việt Nam để tìm hiểu tiến trình của TPP. Ông có suy nghĩ gì sau những cuộc gặp này?
- Trước đây, khi gặp gỡ họ thì tôi thấy có một sự chủ quan ở một số người khi cho rằng Mỹ rất muốn và cần lôi kéo Việt Nam tham gia vào TPP bằng mọi giá, ví dụ, để làm một quân cờ chiến lược trong thế cờ với Trung Quốc. Từ nhận thức này, một số người cho rằng Việt Nam có thế hơn nên không muốn, không cần nhân nhượng nhiều với Mỹ trong cuộc mặc cả mang tên TPP. Thực ra thì không hoàn toàn như vậy, vì tôi cũng đã gặp gỡ một số tổ chức của Mỹ tại Việt Nam để có được một cái nhìn đầy đủ và khách quan hơn từ phía Mỹ.  
Nhưng vừa rồi qua một số thông tin trên báo chí về kết quả của các vòng đàm phán TPP trong nửa đầu năm nay, tôi thấy rằng chúng ta đã thực tế hơn nhiều trong vấn đề này, và tập trung vào những điểm đàm phán mà phía Mỹ có thể thỏa hiệp và đánh đổi được. Đó là một dấu hiệu tốt cho thấy cả 2 bên đã tiến đến gần hơn đến một thỏa thuận.
Tất nhiên, TPP không chỉ là cuộc chơi giữa Việt Nam với Mỹ mà còn là cuộc chơi đa chiều giữa 12 thành viên đàm phán, trong đó mỗi một thành viên lại mang đến bàn đàm phán đa phương những vấn đề “rắn” đối với các thành viên khác. Ví dụ như Nhật thì có vấn đề mở cửa thị trường nông sản. Bởi vậy, có lẽ khó có thể nói quốc gia thành viên nào đã chuẩn bị đầy đủ, sẵn sàng cho TPP, dù đó là Mỹ, hay Nhật, hay Việt Nam, bởi vì đây là cuộc thương lượng đa phương cực kỳ phức tạp với các lợi ích đan chéo nhau, đòi hỏi mỗi thành viên phải có thành ý, biết nhượng bộ, tự điều chỉnh mình nếu muốn hướng đến việc ký kết thành công TPP. Thêm nữa, việc đàm phán thành công chưa tự nó làm cho TPP chính thức ra đời vì kết quả đàm phán còn phải được phê chuẩn tại Quốc hội một số nước.
- Còn sự chuẩn bị của doanh nghiệp thì sao, thưa Ông?
- Sự chuẩn bị của doanh nghiệp trong TPP thực ra cũng chỉ mới bắt đầu sôi động từ năm ngoái khi TPP tưởng chừng sẽ được ký kết ngay trong tháng 10 năm ngoái. Trước đó, một phần do tính đàm phán kín nên TPP không được mấy người biết đến ở Việt Nam. Sôi động nhất, và cũng rất dễ hiểu, là các doanh nghiệp trong ngành dệt may vì ngành này được cho là sẽ hưởng lợi lớn từ TPP.
Thế nhưng, khi tiếp xúc với các doanh nghiệp dệt may thì cảm nhận của tôi là các doanh nghiệp này, đặc biệt là các doanh nghiệp may, nghĩ rằng không cần cố gắng nhiều, chuẩn bị gì hơn, cũng vẫn sống tốt, sống khỏe. Họ vẫn nhận được nhiều đơn đặt hàng gia công thậm chí làm không xuể. Trước hay sau TPP thì họ vẫn quen, vẫn thích làm gia công hơn, với nguyên vật liệu được chỉ định nhà cung cấp và đầu ra đã có doanh nghiệp nước ngoài bao tiêu. Đơn giá tiền công gia công thì đã có công thức tính toán.
Có một số nhà đầu tư trong nước đã tính đến đầu tư vào phân khúc thượng nguồn của ngành, như kéo sợi, dệt, nhuộm, hoàn thiện. Thực tế thì đã có một số ít hiện thực hóa được dự án của mình. Đa phần còn lại là vẫn đang nghiên cứu, xem xét, thu xếp, hoặc đang dậm chân tại chỗ trong việc triển khai dự án vì những trở ngại này kia, như vốn, giấy phép đầu tư, đáp ứng yêu cầu về môi trường v.v...
Chỉ có các nhà đầu tư đến từ Đài Loan, Trung Quốc, Hong Kong là nhanh chân nhất, vào Việt Nam trong thế đón đầu TPP, và tiến hành ngay một số dự án đầu tư thượng nguồn. Không hiểu lý do tại sao họ lại xúc tiến ngay được các dự án này, mặc dù trong các cuộc tiếp xúc với doanh nghiệp trong nước, tôi được biết là xin giấy phép cho các ngành có xu hướng gây ô nhiễm trầm trọng cho môi trường thế này tại các địa phương là rất khó khăn.
Như vậy có thể tạm thời kết luận rằng cuộc chơi TPP vẫn là cuộc chơi dành phần nhiều cho các doanh nghiệp nước ngoài, xét về mặt đầu tư nắm bắt cơ hội.
- Theo Ông, bối cảnh Biển Đông hiện nay có tác động đến sự chuẩn bị của Việt Nam cho TPP hay không?
- Tôi cho rằng xung đột ở Biển Đông không ảnh hưởng đáng kể đến tiến trình đàm phán TPP. Nếu nói về mối lo giữa một số thành viên đàm phán TPP với Trung Quốc thì không phải chỉ bây giờ mới có mối lo này. Ví dụ giữa Nhật với Trung Quốc vẫn đã và đang có tranh chấp chủ quyền đảo, còn Mỹ thì tuy có quan ngại với Trung Quốc nhưng vẫn cứ phải chấp nhận thực tế Trung Quốc là một bạn hàng thương mại và đầu tư quan trọng. Nói cách khác, yếu tố Trung Quốc không có mấy ảnh hưởng trong việc đàm phán TPP, nhất là so với những yêu cầu bảo hộ và nhượng bộ thị trường từ các thành viên đàm phán TPP.
- Xin cám ơn Ông!
Hồng Loan thực hiện

Thursday, 5 June 2014

Bình luận chút về tỷ giá

Mấy tuần này không thấy có mấy các đồng chí mạnh miệng nói về cái sự ổn định của tỷ giá lên tiếng nên tớ ngứa chân ngứa tay quá. Nhân có bài trên Thanh Niên nói về tỷ giá sáng nay, tớ đành lôi ra phang tạm vậy.

Tác giả rất ấm ức cho rằng tỷ giá tăng lên mạnh mà chẳng vì can cớ gì. Nhưng chính tác giả sau đó đã tự vô thức giải thích ấm ức của mình mà không hề hay biết.

Cụ thể, trong bài, yếu tố căng thẳng Biển Đông được nêu ra để "vạch mặt" cái tệ rỉ tai nhau đầu cơ. Vậy thì can cớ chính là đây chứ còn đâu nữa? Cái can cớ này phủ nhận hoàn toàn sự tồn tại của những yếu tố tích cực với tỷ giá mà tác giả nêu ban đầu, nào là xuất siêu, nào là dự trữ ngoại hối tăng kỷ lục, trong khi cầu khá bình lặng (chưa đến mùa thanh toán hợp đồng xuất nhập khẩu).

Bởi chính vì cái can cớ Biển Đông và "nạn" đầu cơ nên bên có ngoại tệ bán thì không muốn bán (giữ cái đã) hoặc có bán thì phải bán với giá cao, vì nghĩ rằng không bán được cao hôm nay thì cữ giữ lấy vì giá ngày mai còn cao hơn. Còn bên (muốn) mua thì cũng phải chấp nhận mua cao, vì nghĩ rằng không mua cao hôm nay thì ngày mai còn phải mua cao hơn nữa.

Và cũng phải phang đồng chí tác giả này một phát ở cái suy nghĩ nông cạn rằng cầu chỉ đến từ các giao dịch/cầu thực (ví dụ cho xuất nhập khẩu). Cầu còn đến từ chính nhu cầu mua ngoại tệ để đầu cơ, mà nhiều người tiện mồm gọi là "cầu ảo".

Tác giả cũng cho rằng vấn đề ở Biển Đông không phải chuyện một sớm một chiều có thể giải quyết. Nếu vậy thì kết luận này của tác giả càng ủng hộ cho nhận định của giới đầu cơ về sức ép lên tỷ giá có tính dài hạn hơn khi những rủi ro liên quan đến VN, tức đến nền kinh tế VN, tức đến đồng tiền VN, là có tính dài hạn hơn, chứ không phải chỉ tồn tại trong một sớm một chiều để mà nói tỷ giá tăng chẳng vì can cớ gì. Do đó, việc đầu cơ USD, và (dẫn đến) việc tỷ giá tăng là điều logic đấy chứ, sao lại phủ định đi? Chưa kể, tỷ giá vốn đã sẵn chịu áp lực từ lâu rồi, và Biển Đông bây giờ lại đổ thêm cả một biển nước vào nữa thì tỷ giá không tăng lên mới là lạ.

Tất nhiên, khi NHNN can thiệp thì tỷ giá sẽ ổn định trở lại thôi, nhưng đó là do có sự can thiệp, chứ chẳng phải vì tự thân thị trường ngu ngốc, vô lý gì cả.

Tất nhiên, vận dụng lòng yêu nước để đạt mục đích nào đó là điều cũng có lý thôi, nhưng lòng yêu nước không nên/thể bị lạm dụng quá, và lòng yêu nước không phải khi nào cũng thắng được thị trường.

Nghĩ đơn giản thế thôi cho nó... sáng suốt nhé!

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).