Sunday, 22 September 2013

Nhiều dòng về giá sữa

Suốt bao năm nay dư luận (trừ cái bọn liên quan đến sữa) tỏ ra rất căm tức chuyện sữa cứ tăng giá liên tục ở VN mà không vì lý do cụ thể, thích đáng gì và không ai làm gì được. Gần đây thì dư luận dường như tóm được thằng thủ phạm làm tăng giá sữa là cái thằng cơ chế, khi 2 bộ, Tài chính và Y tế lằng nhằng thế nào đó trong chuyện đổi tên sữa thành sản phẩm dinh dưỡng, rồi là buông lỏng quản lý, rồi là không đưa sữa vào mặt hàng bình ổn giá v.v... Đến nỗi, mặc dù bận rộn trăm công nghìn việc, toàn chuyện quốc gia đại sự (tuy dạo này có vẻ hơi lặng lẽ tí chút), đồng chí Thủ tướng anh minh và kính yêu của tớ vẫn phải chỉ đạo 2 bộ này tìm ra thủ phạm, giải quyết vấn đề. 2 bộ thì chưa chỉ mặt đích danh được là tại ai, cái gì, thì báo chí đã phát hiện ra thủ phạm hộ rồi, như tớ nói, là thằng cơ chế.

Tuy nhiên, đọc cái tít giật gân và nội dung dài ngoẵng của bài này, tớ thấy hóa ra tưởng vậy mà không phải vậy.

Thứ nhất, nhìn vào cái biểu đồ thị phần các hãng sữa ở VN, ta thấy có hàng loạt hãng, với hãng lớn nhất không chiếm quá 1/4 thị phần và 3 hãng lớn nhất cũng chỉ chiếm 54% thị phần cả nước. Đọc một bài báo khác nào đó thì hình như có tới hơn 200 nhà nhập khẩu sữa vào VN. Với thị trường và thị phần như vậy, có thể nói thị trường sữa VN rất cạnh tranh, khó có đất sống cho chuyện độc quyền và lũng đoạn giá. Trong một thị trường khá cạnh tranh như vậy, có thể loại bỏ khả năng doanh nghiệp nào đó đơn thương độc mã tăng giá sữa mà không (sợ) bị doanh nghiệp khác cướp mất thị phần, trừ trường hợp các doanh nghiệp khác cũng phải tăng giá vì một áp lực nào đó từ thị trường, chứ không hẳn là chúng cũng "tự nhiên" muốn tăng giá.

Thứ hai, bài báo cho biết chênh lệch lớn giữa giá nhập và giá bán lên tới 3, 4 lần. Nhưng nếu đọc chi tiết trong cái box xanh ở cuối bài thì mới thấy rằng giá sữa ở VN phải gánh đủ loại chi phí và thuế khác. Chỉ riêng 17 loại phí chính thống (hình như chưa tính đến các loại thuế như nhập khẩu, thu nhập doanh nghiệp, VAT) đã lên tới 250k đồng/hộp. Với giá nhập khẩu 5-7,5 USD/hộp (hơn 100k-150k đồng/hộp), cộng với chỉ riêng 17 loại phí đã thành 350k-400k đồng/hộp. Nếu cộng thêm các loại thuế như kể trên thì giá nhập + phí + thuế chắc chắn không khác nhiều lắm, như người ta tưởng, so với giá bán là 400k-600k/hộp. Đấy là còn chưa kể doanh nghiệp phải chi ra thêm phí quảng cáo, mà nếu cứ cho là ở mức khiêm tốn 5%-10% theo quy định thì cũng thêm vài chục nghìn đồng/hộp nữa. Rồi là chi phí cho đại lý phân phối, chi phí bôi trơn, lobby v.v... Tóm lại là thêm một mớ chi phí nữa, trước khi để lại cho doanh nghiệp một mức lợi nhuận xứng đáng độ 10%-20% giá thành. Cứ như thế thì có thể thấy doanh nghiệp sữa đâu có hưởng siêu lợi nhuận như cái sự chênh lệch giữa giá bán và giá nhập mà người ta thấy trên giấy đâu?

Thứ ba, 2 tội đồ - Bộ Tài chính và Y tế - do buông lỏng quản lý, thực ra cũng bị oan. Phí, thuế, chi phí này kia không phải họ muốn đẻ ra thì sẽ đẻ ra được. Có trách thì trước tiên phải trách cái gì đã đẻ ra một loạt chi phí và thuế chính thống và phi chính thống như thế. Chuyện không đưa sữa vào danh mục bình ổn, hoặc có đưa vào cũng không bình ổn được cũng là điều dễ hiểu, chẳng có tác dụng ngăn chặn hoặc, chẳng có liên quan gì đến chuyện giá sữa cứ tăng ầm ầm. Hình như không có ai chịu phân tích vào thời điểm các hãng tăng giá sữa, chuyện gì thực tế đã xảy ra. Liệu tỷ giá có tăng lên không, liệu chính sách thuế, phí có bị điều chỉnh tăng lên không, liệu các mức phí liên quan (giao thông vận tải, phân phối, quảng cáo v.v..) có tăng lên không, nguồn cung có bị gián đoạn, thiếu hụt không, nhu cầu có tăng đột biến không (chuyện này có khả năng lắm nhé, vì, ví dụ, mấy đồng chí China lục địa sang VN mua vét sữa như đã và đang làm thế ở các nước khác, thậm chí còn ở xa Trung quốc hơn nhiều) v.v... là những vấn đề cần phải tìm hiểu trước rồi hãy kết luận giá sữa tăng vô lý.

Tóm tóm lại, như tớ đã nói trong entry trước, chuyện về giá sữa hay giá cá tra không phải vô cớ mà lại hóa ra nông nỗi vậy, còn báo chí và các chuyên gia bàn phím thì cứ việc ngồi một chỗ mà phán, đánh hội đồng, nguyền rủa bọn trung gian, bọn doanh nghiệp dã man mà chẳng chịu hiểu tại sao nó lại vậy.

Sunday, 15 September 2013

Chi phí phân phối

Trong entry trước về doanh nghiệp ép giá cá tra, tớ có nêu về chuyện buôn rau và giải thích dưới góc nhìn của tớ tại sao chuyện rau bán ở chợ có giá cao gấp vài lần giá mua tại ruộng nên coi là bình thường (kể cả chuyện sữa  cũng vậy).

Hôm nay đọc bài báo này tớ tìm thêm được một minh họa cho chuyện này. Tuy bài báo có cái dở nghiêm trọng là không nêu được lý do tại sao giá hành lại tăng 500% trong vòng 1 tháng, nó cũng phần nào cho thấy tại sao giá hành bán ở chợ lại thường cao hơn gấp đôi giá mua của nông dân. Từ Ấn Độ, cũng có thể suy ra một bức tranh tương tự cho Việt Nam.

Sẽ có người đọc và nghĩ ngay đến kiến nghị rằng thế thì tại sao nhà nước không tập trung xử lý những ách tắc này đi (ví dụ, cải thiện hệ thống đường xá toàn quốc, tạo chuỗi cung ứng mới với hệ thống bảo quản hiện đại, thu hút đầu tư tư nhân và nước ngoài v.v...).

Đương nhiên lẽ thường thấy mắc đâu thì xử lý đấy. Nhưng vấn đề đầu tiên là tiền đâu? Thứ hai, ai làm và/hoặc tại sao làm mãi mà không xong, không được? Rốt cuộc, tớ lại thấy có mặt của thằng cơ chế!

Friday, 13 September 2013

Sao chúng nó ăn dầy thế?

Tình cờ hôm nay có một bạn làm tại một tờ báo hỏi ý kiến tớ về chuyện nông dân bán cá tra bị doanh nghiệp xuất khẩu ép giá chỉ có 1 USD/kg, trong khi doanh nghiệp xuất với giá 2,5 USD/kg. Đại loại bạn này thấy bất bình cho nông dân quá, và thấy căm doanh nghiệp xuất khẩu cá tra vì độc quyền (?) nên ra sức chèn ép nông dân quá.

Tớ hoảng quá, vội phải nói ngay rằng chẳng phải vô cớ tự nhiên nó mua giá thấp, bán giá cao được thế đâu. Vì hôm lâu lâu tớ về gặp ông gì người Mỹ của AmCham, nói chuyện thì mới được biết rằng để đưa được hàng nhập khẩu vào các siêu thị Mỹ, ví dụ như Walmart thì doanh nghiệp (VN) phải đáp ứng được một loạt điều kiện mà nhiều trong số đó rất khắt khe, khó thực hiện (tớ nghe không thôi mà ù hết cả tai vì chẳng hiểu mô tê gì, lằng nhằng cực). Bởi vậy thường doanh nghiệp phải xuất qua một công ty trung gian của/ở Mỹ sẽ thực hiện những thủ tục này. Đương nhiên như vậy thì chi phí sẽ đội lên. Doanh nghiệp đâu có phải là được hưởng hết phần chênh lệch giữa giá mua đầu nguồn với giá bán cuối nguồn đâu?

Thứ nữa, tớ nói với bạn này rằng bị ép giá vậy mà nông dân vẫn tiếp tục nuôi và bán cá tra cho doanh nghiệp xuất khẩu thì chứng tỏ mức giá vậy vẫn có lãi, và có khi họ kêu thế để được trợ cấp từ chính phủ. Nếu không thì đương nhiên họ sẽ phải đóng ao (và bạn này xác nhận rằng có thế thật) và cái bọn doanh nghiệp dã man kia sẽ hết đường ép giá.

Ngược lại, vì xuất khẩu là tự do cạnh tranh (đúng thế không nhỉ?) nên lẽ thường nếu doanh nghiệp này mà ép giá quá đáng thì nông dân sẽ tự biết mà không bán cho nó nữa, mà bán cho thằng khác. Nhưng nếu họ vẫn cứ phải bán cho bất cứ thằng nào thì chứng tỏ một điều rằng cung đã quá dư thừa. Đương nhiên lúc đó doanh nghiệp, bất kể dã man hay không, không ngu gì mà không ép giá. Còn nông dân nếu khôn ra thì hoặc phải đóng ao, hoặc phải chọn thời điểm nuôi và xuất cá. Không làm được thế, tức ngược lại với khôn, thì đương nhiên phải trả phí không khôn, và tớ kết luận rằng đời có công bằng lắm đâu.

Để thêm phần thuyết phục, tớ mới nói rằng ở VN rất hay có cái kiểu nói thế này. Mớ rau muống mua tại ruộng chỉ có 1.000 đồng, thế mà về đến chợ được bán với giá 5.000 đồng, chứng tỏ bọn con buôn ăn lãi cực nhiều, và cần phải có biện pháp cắt giảm cái lợi nhuận vô ý này đi. Tớ phải nói rằng nếu thấy ngon, sao không đi buôn rau đi? Ai thức khuya, ai dậy sớm đi chợ mua rau, thồ trên xe mấy chục km mang về chợ, chịu tai nạn, chịu thiệt khi rau hư hỏng, thuế chợ, làm luật v.v... để đổi lấy cái giá bán như vậy?

Chuyện sữa trẻ em cũng vậy. Thiên hạ sôi sục khi thấy giá nhập và giá bán lẻ quá chênh nhau. Tớ không biết rõ lý do nhưng thấy không ngạc nhiên lắm nếu giá chênh lệch vậy, vì xét ra thị trường sữa là thị trường hình như khá là cạnh tranh đấy chứ, từ đầu nhập đến đầu bán lẻ, nên khó có khả năng một doanh nghiệp nào đó làm giá (ở mức đủ lớn) được, theo kiểu giá độc quyền hoặc gần độc quyền.

Tớ chưa kịp nói với bạn ở trên, khi hình như bạn ấy ấm ức muốn đề xuất nhà nước phải can thiệp vào cái tình trạng ép giá cá tra như nói trên. Tớ muốn can bạn ấy rằng hãy để thị trường tự điều chỉnh. Cứ can thiệp thì nhà nước tiếp tục tốn tiền trợ cấp cho nông dân tiếp tục nuôi để càng ngày càng dư thừa, còn doanh nghiệp thì hoặc là tha hồ ép giá, hoặc là lại lấy tiền trợ cấp của nhà nước (ví dụ như vay với lãi suất 0% để mua cá như với mua tạm trữ lúa). Đây là một điển hình cho phân bổ lãng phí nguồn lực trong nền kinh tế. Xét cho cùng, (một bộ phận) nông dân không nuôi cá tra thì sẽ tự khắc tìm được cái gì đó để làm, chứ có phải cứ thế bó tay chịu chết đâu? Sao cứ phải dồn nguồn lực (cả công lẫn tư) vào đó làm gì?

Thursday, 12 September 2013

Tác động của chấm dứt nới lỏng tiền tệ của Mỹ lên các thị trường mới nổi ở châu Á và Việt Nam (Bài đăng trên TBKTSG, 12/9/2013, bản gốc)


Một số định chế tài chính thế giới tin rằng Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) có khả năng chấm dứt chương trình nới lỏng định lượng mua trái phiếu (QE) của mình vào cuối tháng này. Họ cũng tin rằng các nước mới nổi ở châu Á như Ấn Độ và Indonesia, vốn là những nước có thâm hụt tài khoản vãng lai lớn, là những nạn nhân gánh chịu hậu quả trầm trọng nhất của việc rút lại gói kích thích tài chính này của Mỹ.

Thâm hụt tài khoản vãng lai thoạt nhìn tưởng vô hại, khi nó vẫn được tài trợ bởi vay mượn nước ngoài. Nhưng nền kinh tế sẽ bị cuốn vào bờ vực khủng hoảng nếu không còn đi vay được một cách dễ dãi, hoặc phải vay với lãi suất và chi phí cao hơn.

Các nền kinh tế mới nổi mấy năm qua đã được hưởng lợi từ  QE của Mỹ cũng như của các nước đã phát triển khác, khi chúng là một nguồn vốn dồi dào (lên đến vài nghìn tỷ USD) chảy đến những nơi có các tài sản đầu tư với lợi suất cao hơn ở bản quốc. Nguồn vốn này giúp các nước mới nổi trang trải cho thâm hụt tài khoản vãng lai của mình và là nguồn vốn bổ sung cho đầu tư trong nước.

Thế nhưng mọi việc đột nhiên thay đổi theo chiều hướng xấu khi QE có dấu hiệu bị chấm dứt. Những nguồn vốn này sẽ đảo chiều, như đang được chứng kiến, chảy ngược khỏi các nền kinh tế mới nổi về bản quốc, nơi mà lãi suất được kỳ vọng sẽ tăng lên do cung tiền được thắt chặt lại.

Sự chấm dứt nguồn vốn dồi dào với chi phí rẻ này sẽ làm việc tài trợ cho thâm hụt tài khoản vãng lai trở nên một bài toán hóc búa cho Chính phủ các nước mới nổi có thâm hụt tài khoản vãng lai lớn. Ngoài chuyện cầu mong các nước đã phát triển khác nối lại/duy trì các gói kích thích tài chính của mình để bù đắp cho sự chấm dứt của nguồn vốn từ QE của Mỹ, chính sách đối phó thông thường sẽ là phải phá giá để giảm thâm hụt tài khoản vãng lai, đồng thời phát hành trái phiếu nợ nước ngoài để tài trợ thâm hụt. Lãi suất cho các trái phiếu bằng bản tệ và ngoại tệ sẽ phải tăng vừa để tránh một cuộc tháo chạy của vốn nước ngoài, vừa để tạo hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài mua chúng nhằm có đủ vốn tài trợ thâm hụt cán cân vãng lai. Một trong số không nhiều lựa chọn khả thi khác là giảm thâm hụt ngân sách nhằm giảm áp lực lên ngân hàng trung ương tiền tệ hóa các khoản nợ của Chính phủ.

Tuy nhiên, biện pháp nâng lãi suất và giảm thâm hụt ngân sách lại là những chính sách khó được chấp nhận ở các nước mới nổi do hiệu ứng giảm tăng trưởng của nó. Nên các nước mới nổi thường chọn ngó lơ những biện pháp mang tính thắt lưng buộc bụng này, đặc biệt trong bối cảnh nguồn vốn quốc tế vẫn còn thuận lợi như trong mấy năm qua.

Cần lưu ý thêm rằng, ngoài tác động bất lợi lên tỷ giá, sự đảo ngược của dòng vốn đầu tư gián tiếp (bắt nguồn từ việc chấm dứt QE) ra khỏi các nước mới nổi còn làm giảm giá chứng khoán, bất động sản, và các tài sản có giá khác. Nguồn vốn đầu tư gián tiếp càng có tỷ trọng tiền “nóng” mang tính đầu cơ lớn thì những chao đảo và đổ vỡ trong thị trường tài chính và bất động sản trong nước càng lớn khi QE chấm dứt.

Chưa hết, giá chứng khoán và bất động sản suy giảm và sự chậm lại của dòng vốn nước ngoài đổ vào nền kinh tế trong nước sẽ làm suy giảm đầu tư vì các doanh nghiệp sẽ trì hoãn triển khai đầu tư chừng nào họ thấy còn chưa thấy cơ hội phục hồi chắc chắn. Kết hợp với việc lãi suất trong nước có thể tăng làm suy giảm thêm nữa nhu cầu đầu tư, tất cả những yếu tố này sẽ làm suy giảm tăng trưởng kinh tế ở các nền kinh tế mới nổi có sự phụ thuộc lớn vào dòng vốn nóng (và có nguồn gốc từ QE).

Tóm lại, cú số từ việc chấm dứt QE xem ra có vẻ như sẽ khá trầm trọng, đặc biệt với những nền kinh tế mới nổi có các bất cân đối vĩ mô lớn và có ít gối đỡ giảm các cú sốc từ bên ngoài (ví dụ, thâm hụt tài khoản vãng lai và thâm hụt ngân sách lớn, lạm phát ở mức cao, lãi suất và tỷ giá bị đè nén lâu, nợ nước ngoài gia tăng v.v...).

Nhìn đến Việt Nam, thâm hụt tài khoản vãng lai dường như chưa phải là vấn đề lớn khi cán cân tài khoản vãng lai đã chuyển từ thâm hụt lớn (11% GDP năm 2009) sang thặng dư khá lớn gần đây (5,9%  GDP năm 2012 và dự đoán tiếp tục thặng dư năm nay), chủ yếu do thặng dư chuyển ròng từ nước ngoài bù đắp cho thâm hụt cân thương mại trong suốt nhiều năm (trừ năm 2012). Điều đáng nói là có bao nhiêu trong số vốn chuyển ròng từ nước ngoài này là tiền nóng, mang tính đầu cơ, là điều chưa rõ, và cũng không thể loại trừ nhiều trong số các khoản mục chuyển ròng này có nguồn gốc là tiền đầu cơ, kinh doanh chênh lệch lãi suất (kể cả tiền đội lốt dưới dạng kiều hối).

Ngược lại, thâm hụt ngân sách là vấn đề có tính kinh niên (trừ 2 năm 2004 và 2006), và ở mức lớn, trên 5% GDP từ năm 2009 đến nay (thậm chí tới 9.3% GDP năm 2009), và chưa nhìn thấy có dấu hiệu giảm trong năm nay và các năm tới.

Trong khi đó, các gối đỡ giảm sốc như tỷ giá và lãi suất đang bị đè nén bởi nhiều biện pháp hành chính, không phản ánh chính xác cung cầu thị trường. Tỷ giá đang bị kìm giữ ở mức bất lợi cho xuất khẩu, góp phần làm cho thâm hụt thương mại kéo dài nhiều năm (trừ năm 2012), với lý do ổn định kinh tế vĩ mô và lạm phát. Lạm phát tuy đã giảm nhiều nhưng vẫn còn ở mức cao trong khi cần cấp vốn với lãi suất thấp cho nền kinh tế đã dẫn đến lãi suất bị kìm hãm trong khi chống lạm phát dựa chủ yếu vào các biện pháp kiểm soát giá mang tính hành chính.  Do bị đè nén lâu và ở mức lớn nên khi cần phải dùng đến các công cụ này để hấp thụ các cơn sốc từ bên ngoài (phá giá để lập lại cân bằng thương mại, nâng lãi suất để giữ chân và thu hút vốn trong và ngoài nước), mức độ cần có để chúng phát huy tác dụng sẽ rất lớn, so với hiện thời, dễ dàng gây ra những phản ứng ngược, làm trầm trọng thêm các bất cân đối vĩ mô.

Trong bối cảnh quy mô tiền nóng đổ vào Việt Nam sau các QE của Mỹ và các nước phát triển còn chưa rõ ràng, khó có thể kết luận rằng Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp và mạnh từ việc FED chấm dứt QE. Nhưng điều không thể phủ nhận được rằng tác động của việc chấm dứt QE sẽ đến một cách gián tiếp, thông qua việc làm giảm tăng trưởng ở các nền kinh tế mới nổi nói chung và toàn cầu nói riêng, từ đó gây ảnh hưởng đến từng quốc gia ở mức độ nhiều hay ít. QE cũng có thể châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng tài chính khu vực (và toàn cầu) khác như kịch bản đã xảy ra với các nước châu Á hồi những năm cuối thập kỷ 90, một khả năng mà không ai có thể phủ nhận hoàn toàn được. Những lúc như thế, nền kinh tế nào có các cân đối kinh tế vĩ mô lành mạnh nhất và nhiều gối đỡ giảm sốc nhất với các cơn sốc ngoại lai là nước trụ lại được, không bị cuốn đi bởi cơn lốc khủng hoảng. Và chắc chắn Việt Nam không nằm trong số này.

Sunday, 8 September 2013

Ổn định tỷ giá - Một kết quả nổi bật


Hehe. Thật vô cùng thú vị! Tiêu đề bên trên là tiêu đề của 1 bài báo của tác giả Minh Ngọc nào đó trên website của Chính phủ làm tớ giật mình thon thót, vội phải thanh minh ngay đây không phải là bài của tớ “nâng bi” (từ tớ mượn) mấy đồng chí Chính phủ đâu nhé. Không biết đây là sự trùng lặp vô tình hay hữu ý nữa không biết.

Thú vị cái nữa là tớ vừa mới nói 2, 3 tuần trước trên TBKTSG rằng thậm chí ổn định tỷ giá còn được coi là thành công trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô ở Việt Nam, thì nay tớ bị ngay bài viết này đập một nhát vào giữa mặt, từ cái tiêu đề trở đi. Đành phang lại bài báo này một vài nhát cho đỡ tức vậy.

Bài báo viết: Việc ổn định tỷ giá VND/USD đã có nhiều tác động tích cực. Tác động rõ nhất là góp phần kiềm chế lạm phát về hai mặt. Một mặt, có tác động kiềm chế sự tăng lên của chi phí đẩy, nhất là đối với hàng nhập khẩu- một trong những yếu tố quan trọng của lạm phát”.

Tớ bình luận:  Bài báo vừa viết ở đoạn trên đó rằng: “Có nguyên nhân quan trọng do lạm phát được kiềm chế từ năm ngoái đến năm nay. CPI tháng 12/2012 so với tháng 12/2011 chỉ còn tăng 6,81%;” Điều đó có nghĩa rằng tác giả cũng nhận định rằng lạm phát tác động đến tỷ giá chứ không phải theo chiều ngược lại. Nhưng đến cái đoạn này thì tác giả nói ngược lại, tức tỷ giá tác động đến lạm phát. Vậy thì cái nào tác động đến cái nào trước? Nói cách khác, tác giả tự mâu thuẫn hoặc tự đẩy mình vào thế kẹt. Và tớ xin góp lời ở chỗ này rằng, theo tớ thì đúng là lạm phát tác động đến tỷ giá trước, ít nhất là ở Việt Nam, ít nhất là trong thời gian vài năm qua.

Bài báo viết: “...Mặt khác, giảm thiểu tác động của tâm lý kỳ vọng lạm phát, nâng cao lòng tin vào đồng tiền quốc gia, mà tâm lý, lòng tin tuy không phải là yếu tố kinh tế trực tiếp như các yếu tố về kinh tế, nhưng trong nhiều trường hợp tác động còn lớn hơn cả các yếu tố về kinh tế.”

Tớ bình luận: Việc cho rằng neo tỷ giá làm giảm kỳ vọng lạm phát là sai, ít nhất ở Việt Nam. Kỳ vọng lạm phát xuất phát/bị chi phối một phần chủ yếu bởi cung tiền (cung tiền tăng mạnh thì lạm phát và kỳ vọng lạm phát cũng tăng mạnh), từ đó mới tác động đến lãi suất thực, chênh lệch lãi suất trong và ngoài nước, để rồi mới đến tỷ giá danh nghĩa. Khi tỷ giá danh nghĩa bị “ổn định”, không phản ánh đúng kết quả của các áp lực giảm giá VND, thị trường sẽ kỳ vọng tỷ giá danh nghĩa VND tăng lên nữa (VND mất giá) để lập lại cân bằng. Có nghĩa là lạm phát và kỳ vọng lạm phát vẫn chi phối tỷ giá (trước), chứ không phải ngược lại, ít nhất ở Việt Nam, trong thời điểm hiện tại. Và do đó, việc kìm hãm tỷ giá chỉ kéo dài được một thời gian chứ không thể kéo dài vô tận được; và tuy tỷ giá ổn định có thể giảm tác động tiêu cực ngược trở lại lạm phát thông qua kênh nhập khẩu nhưng khi đã phải phá giá thì thậm chí còn phải phá giá lớn hơn cả mức cần có nếu chủ động. Điều này cũng có nghĩa là ổn định tỷ giá bằng mọi giá có thể là lợi bất cập hại.

Bài báo viết: “Một tác động khác rất quan trọng là góp phần cải thiện cán cân thanh toán, giảm việc găm giữ ngoại tệ, giảm tình trạng “đô - la  hoá” nền kinh tế, thông qua việc mua vào ngoại tệ trên thị trường, tăng dự trữ ngoại hối, bảo đảm sự an toàn của nền tài chính quốc gia.”

Tớ bình luận: Khi tỷ giá bị kìm giữ và lãi suất VND lớn hơn ngoại tệ thì đương nhiên sẽ thu hút một lượng vốn nóng nước ngoài đổ vào hưởng chênh lệch lãi suất. Đây chính là một trong những khả năng dẫn đến thặng dư tài khoản vốn (thậm chí trong cái gọi là kiều hối chắc chắn bao gồm cả một phần loại vốn này). Mà cái này thì khó có thể gọi là tác động tích cực của việc ổn định tỷ giá, cũng như của việc “cải thiện cán cân thanh toán” được. Bản chất của luồng vốn này là vào nhanh, ra cũng nhanh để hưởng chênh lêch lãi suất. Và thặng dư tài khoản vốn thực ra là tiền vay của thiên hạ, sớm muốn cũng phải trả lại cho thiên hạ, chứ không thể giữ lại ở Việt Nam được. Bài học về khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ thâm hụt thương mại và tỷ giá cố định vẫn còn nóng hổi đó.

Còn về chuyện giảm “đô la hóa” nền kinh tế thì cũng phải xem lại. Giả sử số đô la mua thêm được vào dự trữ ngoại hối là luồng tiền nóng nói trên và nằm im trong két sắt của NHNN (không tung ra qua hệ thống ngân hàng Việt Nam)  thì đương nhiên tổng lượng đô la đang lưu thông trong nền kinh tế vẫn không đổi như trước chứ, sao gọi được là đã giảm đô la hóa? Đây mới chỉ là một ví dụ để thấy cái kết luận này là hết sức dễ dãi, chủ quan, duy ý chí.

Bài báo viết: “Ngoài ra, sự ổn định của tỷ giá cũng là một trong những yếu tố góp phần làm cho GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái thực tế đã tăng nhanh trong mấy năm nay (nếu năm 2010 đạt 1.273 USD, năm 2011 đã tăng lên 1.517 USD, năm 2012 đã tăng lên 1.749 USD và khả năng 2013 có thể đạt 1.900 USD).”

Tớ bình luận: Cái này làm tớ phì cả cười, vì lần đầu tiên được thấy một cái lý luận hài như vậy. Như tớ viết trong bài về thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam so với khu vực mấy tháng trước đây. Nếu muốn làm tăng thu nhập đầu người danh nghĩa của Việt Nam ở mức thần kỳ thì cách ngắn nhất là Việt Nam tăng cung tiền thật mạnh để lạm phát tăng chóng mặt, trong khi cố định tỷ giá danh nghĩa VND thì mức thu nhập đầu người Việt Nam còn có thể tăng lên đến 3.000 USD vào năm 2014 và 4.000 USD hoặc hơn vào năm 2015 chứ chẳng chơi. Vậy cứ yên tâm mà ổn định tỷ giá (đồng thời tăng cung tiền) đi, cho có lợi đủ đường nhé, khỏi cần thậm chí phải "điều chỉnh" tỷ giá 2-3% năm nay làm gì nữa cho thiệt.

 

 

 

 

 

Thursday, 5 September 2013

Lại thêm đồng chí TS Trần Du Lịch nói sai về tỷ giá


Hôm nay tớ đọc được bài này của đồng chí Lịch, thấy lý luận của đồng chí ấy giống hệt như những lý luận mà tớ đã lôi ra để phang trong các entry trước. Cứ cái đà tiếp tục phỏng vấn các đồng chí chuyên gia ở Việt Nam thế này thì khéo rốt cuộc tỷ lệ phản đối phá giá sẽ lên tới trên 99% trong tổng số người được hỏi. Nhưng thôi, lần này tớ không buông lời chê trách về trình độ của đồng chí nào nữa, kể cả đồng chí Lịch, vì xem ra chẳng thay đổi được cái gì hữu ích cả. Nhưng tớ vẫn cứ phải phang vào các lý luận của đồng chí Lịch để ... đỡ ngứa mắt.

---------------------------------------------

PHÓNG VIÊN: - Tại một cuộc hội thảo mới đây bàn về tỷ giá sau khi NHNN khẳng định không điều chỉnh tỷ giá và tiếp tục điều hành tỷ giá theo hướng ổn định. Nhiều chuyên gia cho rằng đây chính là nguyên nhân làm cho hàng hóa Việt Nam mất dần sức cạnh tranh so với hàng nhập khẩu, làm cho hàng tồn kho liên tục tăng, doanh nghiệp phá sản hàng loạt. Nhiều năm qua mà chúng ta có thể lấy mốc từ tháng 7-2007 đến tháng 7-2013, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 99,57% trong khi tỷ giá chỉ tăng 24,2%. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào? Vì sao NHNN ngại phá giá VNĐ? Tại sao giữ tỷ giá ổn định bất chấp lạm phát tăng luôn được coi là thành công trong chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam?

Tớ bình luận: Phóng viên này đang nói đến bài “Bàn tròn chuyên gia” trên TBKTSG số tuần trước, dùng ngay lời lẽ của tớ để đặt thành câu hỏi. Khá khen!
-TS. TRẦN DU LỊCH: ... Như đã biết, hầu hết sản phẩm xuất khẩu công nghiệp của Việt Nam là gia công, có nghĩa là chúng ta tùy thuộc nguyên liệu rất lớn, thể hiện qua nhập siêu rất cao, có năm lên đến 20% giá trị xuất khẩu. Như vậy, nếu phá giá, chúng ta sẽ tự nâng giá vật tư nguyên liệu đầu vào, đẩy chi phí sản xuất lên, kể cả trong nông nghiệp và công nghiệp, đặc biệt là các loại vật tư xây dựng phải nhập khẩu..

Tớ bình luận: Đồng chí này sai cơ bản tại cái điểm này (cũng giống tuyệt đại đa số đồng chí khác cũng nhầm nhọt như thế) vì kinh tế gia công không nhất thiết liên quan đến nhập siêu. Không ai nhập nguyên vật liệu với chi phí 100 USD lại xuất hàng ra nước ngoài với giá 90 USD cả, mà phải là con số nào đó, ít nhất thì cũng bằng giá nguyên vật liệu (100 USD) cộng với chi phí gia công và các loại chi phí khác, tức phải lớn hơn 100 USD. Khi tỷ giá tăng thì đương nhiên giá nguyên vật liệu cũng tăng. NHƯNG đó là giá tính theo VND, chứ không phải giá tính theo USD (nhấn mạnh nhé!), vì giá nguyên vật liệu theo USD lúc đó vẫn là 100 USD và giá xuất khẩu vẫn là trên 100 USD và cả nền kinh tế tuy vẫn là gia công nhưng vẫn thu được lợi nhuận. Các đồng chí nhớ cho kỹ nhé! Về chuyện này tớ đã nói đi nói lại nhiều rồi, trong các entry sau:
http://phan-minh-ngoc.blogspot.sg/2013/02/co-nen-pha-gia-vnd-khong.html

và các entry tiếp theo đó (trong tháng 2 đến gần đây nhất là tuần trước) về cùng chủ đề. Vì thế tớ không mất thì giờ nêu lại nữa, chỉ cầu mong các đồng chí có thời gian đọc để mà rút kinh nghiệm cho những lần phát biểu sau này.

Đồng chí Lịch: Bên cạnh đó, nợ quốc gia bằng ngoại tệ của Nhà nước và doanh nghiệp đã lên đến gần 50% GDP, mỗi lần phá giá đồng tiền, nợ tăng tính bằng VNĐ rất lớn. Chúng ta nhập khẩu xăng dầu, mỗi lần điều chỉnh tỷ giá, giá xăng dầu sẽ tăng rất mạnh. Tôi thí dụ như lần điều chỉnh tỷ giá 9,3% vào đầu năm 2011, nhiều doanh nghiệp ngủ 1 đêm sáng dậy nợ tăng 10% đối với các khoản cam kết khi doanh nghiệp thu bằng tiền đồng và phải trả bằng ngoại tệ.

Tớ bình luận: Tớ cũng nói về chuyện nợ tư và công này rồi nên không nói lại, chỉ nói thêm là vậy thì cứ vui vẻ mà xuất dự trữ ngoại hối để “bù giá” cho mấy đồng chí tư nhân đi nhé. Còn nợ công thì cũng thế, lỗ hà ra lỗ hổng thôi.
Còn về chuyện tỷ giá tăng sẽ làm hàng nhập khẩu tăng, ngoài các entry liên quan tới nói đến thì hãy đọc thêm về bài này:

để mà thấy tại sao các nước người ta không ngu xuẩn như mình khi cố gắng tìm cách kìm hãm tỷ giá như vậy. Muốn học cái khôn của thiên hạ thì hãy học ngay từ những cái tưởng biết rồi như thế này, chứ đâu xa xôi gì?

Đồng chí Lịch: Dĩ nhiên, nếu ổn định tỷ giá như hiện nay rõ ràng bất lợi cho các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu không phải nhập khẩu nhiều. Như xuất khẩu cà phê, gạo, tỷ lệ nội địa hóa lớn, phần nhập khẩu cấu tạo giá trị ít hơn một số ngành khác nên đang chịu thiệt. Nhưng nếu nhìn tổng thể nền kinh tế, nếu như chúng ta cứ điều chỉnh tỷ giá liên tục theo mức CPI trong nước, chắc chắn chi phí sản xuất sẽ tăng rất cao.
Tớ bình luận: Khổ lắm, “chi phí sản xuất tăng cao” là chi phí sản xuất tính bằng VND thôi, chứ không phải USD tnên chẳng có gì là bất lợi cho sản xuất nông nghiệp cả. Nếu để xuất khẩu, giá sẽ được tính bằng USD. Vì giá bán/xuất không đổi nên rốt cuộc biên độ lợi nhuận không thay đổi. Nếu để bán ở mấy cái chợ nội địa và giá tính bằng VND thì giá bán cũng vẫn tăng lên theo đà tăng của CPI chứ, nó có chịu đứng yên đâu? Ai bảo mớ rau, con cá bán ở các chợ xanh không tăng giá? Nếu đồng ý là có tăng thì “chi phí sản xuất tăng cao” cũng vẫn Ok chứ? Có thế thôi mà không hiểu.

Đồng chí Lịch: Đây là vấn đề được bàn luận khá nhiều ở Hội đồng Tài chính tiền tệ Quốc gia cũng như ở các cơ quan. Cuối cùng cân nhắc là điều hành tỷ giá linh hoạt, nghĩa là để cho biên độ có dao động nhưng không đặt vấn đề phá giá đồng tiền. Đó là chưa kể phá giá đồng tiền ảnh hưởng tâm lý rất lớn khi đồng tiền bị mất giá.
Tớ bình luận: Trời ạ! Tớ đã mấy lần lên tiếng khuyến nghị dẹp cái hội đồng này đi, toàn nói linh tinh, sai nhiều hơn đúng. Có mấy khuôn mặt cộm cán của cái hội đồng này thì tớ đều có vinh dự lôi lên đây hoặc lên báo chí để phang rồi, có đẹp đẽ, sáng sủa gì đâu.

Đồng chí Lịch: Thực chất việc điều chỉnh tỷ giá 9,3% đầu năm 2011 cùng việc giảm biên độ giao dịch từ 3% xuống 1% không phải là phá giá, vì trước đó VNĐ đã mất giá trên thị trường. Trên thị trường từ quý IV-2010 đã hình thành 2 tỷ giá, tỷ giá thực và tỷ giá chợ đen, nhưng sau đợt điều chỉnh đó, cơ bản trên thị trường không hình thành 2 tỷ giá mà tỷ giá hướng dẫn của NHNN phù hợp với giao dịch của thị trường cung cầu về ngoại tệ.
Tớ bình luận: Liều, nhảm có cỡ!

Đồng chí Lịch: Tôi nghĩ rằng, trong thời gian tới, bên cạnh việc giữ ổn định tỷ giá cũng cần phải điều chỉnh ở mức độ phù hợp để nông nghiệp không bị thiệt hại do tỷ giá. Năng lực cạnh tranh của từng ngành tùy thuộc tỷ giá từng phần, còn phần lớn hơn là phụ thuộc năng suất và năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Chúng ta nên có một số biện pháp hỗ trợ nông nghiệp giảm chi phí, tăng năng suất, tăng cạnh tranh và chất lượng chứ không nên chỉ nhìn vào vấn đề tỷ giá để giải quyết căn cơ.
Tớ bình luận: Rồi, cứ “hỗ trợ” đi rồi yên tâm và chuẩn bị tinh thần bị các nước nhập khẩu áp dụng thuế chống phá giá và trợ cấp nhé!

Đồng chí Lịch: Đây là vấn đề khá lớn. Hiện nay sau 6 năm tham gia WTO, xuất khẩu gia tăng mạnh nhưng cũng bộc lộ năng lực cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam yếu kém, đặc biệt là chi phí cao. Gốc vấn đề là ở chỗ Việt Nam có năng suất lao động quá thấp, những năm qua, nhìn trên tổng thể nền kinh tế, tăng tiền lương, tăng các loại chi phí nhanh hơn tăng năng suất. Mặt khác, rất nhiều loại chi phí doanh nghiệp Việt Nam phải gánh chịu nhưng ở các nước không có như chi phí cảng, chi phí vận tải, các loại phí khác mà doanh nghiệp phải chịu, làm nâng giá thành sản phẩm.
Tớ bình luận: Cứ tăng cung tiền lắm vào thì lạm phát tăng và do đó các loại tiền lương và chi phí phải tăng nhanh hơn năng suất lao động là đúng rồi, không tránh được. Nguyên nhân là đấy chứ còn ở đâu mà phải tìm loanh quanh?

Và tớ thề là đã không tin vào mắt mình khi được đồng chí Lịch cho biết rằng các doanh nghiệp ở nước ngoài không phải gánh nhiều loại chi phí như chi phí cảng, vận tải v.v... như ở Việt Nam.

Đồng chí Lịch: Yếu tố tiếp theo là do công nghệ lạc hậu, chủ yếu gia công nên tính cạnh tranh cũng giảm xuống. Tổng thể để nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp, yếu tố tỷ giá chỉ là một phần nhỏ, yếu tố lớn nhất là Chính phủ và Nhà nước phải cung cấp tốt hơn các dịch vụ hạ tầng kỹ thuật và xã hội để doanh nghiệp được hưởng phí tổn thất.

Tớ bình luận: Rốt cuộc cũng đến điểm này. Nếu đã thừa nhận tỷ giá là một yếu tố (dù chỉ là phần nhỏ) thì (trong lúc chưa cải thiện được những yếu tố khác) sao lại không dám công khai thừa nhận và tiến hành “điều chỉnh” đi? Sao cứ lấp liếm, vòng vo, loanh quanh, cộng với sự “kiên định không phá giá” ngu xuẩn như hiện nay thế?

Thursday, 29 August 2013

Bàn tròn chuyên gia: Tỷ giá và chiếc tăm tre (Bài đăng trên TBKTSG 29/8/2013, nhiều tác giả)




Nguyên văn phát biểu của tớ (viết chung chung khi chưa biết ý kiến của các tác giả khác thế nào)

Ổn định tỷ giá không luôn là một thành tích

Với vấn đề liên quan đến tỷ giá mà TBKTSG đặt ra, có thể thấy rõ ràng rằng tỷ giá đồng đô la biến động (tăng lên) rất ít trong khi lạm phát của Việt Nam tăng mạnh so với Mỹ đã gây phương hại thế nào đến sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam nói riêng và rộng hơn là tăng trưởng kinh tế. Trong kinh tế học, khi tỷ giá danh nghĩa của bản tệ không điều chỉnh kịp với mức chênh lệch lạm phát trong và ngoài nước, lúc đó bản tệ được nói là đã lên giá thực (real appreciation) so với ngoại tệ, và hậu quả trực tiếp là làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế bản địa dẫn đến tăng nhập siêu và kết cục là giảm tăng trưởng kinh tế.

Có lẽ vấn đề cần bàn ở đây là tại sao trước một điều hiển nhiên như vậy nhưng người ta vẫn e ngại chuyện phá giá bản tệ (tăng tỷ giá danh nghĩa) ở mức độ ít ra là bằng một phần của chênh lệch lạm phát để khôi phục lại xuất khẩu, giảm nhập khẩu nhằm giảm nhập siêu? Thậm chí, chuyện giữ cho tỷ giá ổn định bất chấp lạm phát đã tăng thế nào còn luôn được coi là một thành công trong chính sách điều hành kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.

Thường thì điều này xuất phát từ những ngộ nhận và nhận thức phiến diện rằng phá giá sẽ không giúp gì cho xuất khẩu mà chỉ làm tăng lạm phát khi giá nhập khẩu nguyên nhiên liệu đầu vào tăng lên. Rồi là phá giá thì sẽ làm nhà đầu tư nước ngoài chán nản bỏ đi, còn gánh nặng nợ nước ngoài thì tăng lên v.v... Mặc dù là ngộ nhận và phiến diện (xin xem các bài viết của tác giả về tỷ giá trên TBKTSG) nhưng tiếc là nhiều người vẫn mắc phải và đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc hoạch định và điều hành chính sách vĩ mô ở Việt Nam.

Qua hội nghị bàn tròn này với TBKTSG, tôi tin và hy vọng rằng các vị chuyên gia ở đây cũng có chung một quan điểm với tôi, từ đó cùng kiến nghị lên Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực thi một chính sách tỷ giá thân thiện với xuất khẩu hơn, cũng chính là một chính sách kích thích tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô (thông qua giảm nhập siêu).

Ngược lại, tôi cũng rất mong các vị cùng bày tỏ tiếng nói quan ngại với chính sách tỷ giá hiện tại của NHNN khi chủ trương kìm tỷ giá trong khi tiếp tục tăng cung tiền để tăng cầu cho nền kinh tế. Sự “ổn định” của tỷ giá như hiện nay nên được nhìn nhận là một điều có hại hơn là một thành công chính sách, và cần được hiểu là một sự “ổn định” không bền vững và trong ngắn hạn, để rồi kết cục là một sự phá giá mạnh không thể tránh được, có thể châm ngòi cho một cơn hoảng loạn, mất kiểm soát.


Bình luận của tớ:
1.       Các lập luận của đồng chí Thơ và Tuấn có một lỗi sai cơ bản. Mặc dù (hình như) cũng đồng ý rằng tỷ giá hiện tại là bất lợi cho sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam, tức là đồng ý rằng tỷ giá là một trong những nhân tố có tác động đến tính cạnh tranh của hàng hóa nội địa, nhưng mặt khác, thay vì cho ý kiến có đồng ý điều chỉnh tỷ giá hay không thì họ lại quay sang bàn đến những vấn đề khác, nào là gốc rễ thực sự của việc cạnh tranh yếu, nào là khác biệt về tính cạnh tranh v.v.. Nói tóm lại là lạc đề!
 
Để dễ hình dung, tớ đưa ví dụ thế này. Một bệnh nhân bị bệnh tim mạch. Mặc dù bác sĩ điều trị cũng đồng ý với các bác sĩ hội chẩn khác rằng bệnh nhân này bị hẹp động mạch gì gì đó (ví dụ, do mỡ máu) cần phải nong động mạch ra thì mới có nguy cơ sống sót. Nhưng thay vì (kết hợp) điều trị theo cách này, ông ta chỉ chăm chú vào điều trị nguồn gốc của bệnh, tức là chế độ ăn uống, sinh hoạt không lành mạnh của bệnh nhân. Đương nhiên là cần cầu trời cho bệnh nhân này đủ dai sức để sống và chờ cho việc điều chỉnh chế độ ăn kiêng và sinh hoạt phát huy hiệu quả (không tích tụ thêm các cục xơ vữa nữa). Nhưng cho dù có sống được thì mạch máu của bệnh nhân vẫn tắc như cũ, và do đó dễ gây đột quỵ, vì vẫn hẹp do không được nong!
 
2.       Vấn đề mà TBKTSG đặt ra rất đơn giản và dễ hiểu. Họ hỏi là có nên phá giá không, chứ không hỏi là có cần phải phá giá bao nhiêu, phá giá mạnh không. Vì thế, lẽ ra câu trả lời tất yếu chỉ cần/đương nhiên là: Cần phải phá giá, dù ít, dù nhiều, chứ không thể tuyên bố như NHNN nói là không “điều chỉnh”. Tất nhiên cách thức và lộ trình phá giá như thế nào là chuyện khác, như đã được đồng chí Giang bàn đến và tớ cũng nói nhiều lần rồi (chẳng hạn cứ lẳng lặng mà làm, thỉnh thoảng làm bụp một phát, tùy theo mức độ cảm thấy phù hợp). Đằng này các đồng chí Thơ và Tuấn lại quay sang phản đối rằng phá giá/điều chỉnh mạnh là không phù hợp. Tức là, một lần nữa tớ nhấn mạnh, lại lạc đề!
 
3.       Như tớ đã góp ý với TBKTSG đặt lại câu hỏi thứ hai, như trong bài gốc, khi mọi thứ vẫn như nguyên mà tỷ giá vẫn cố định (tức VND lên giá thực so với USD) thì rõ ràng là hàng hóa Việt Nam càng mất tính cạnh tranh và vì thế càng phải nên phá giá chứ? Đây là vấn đề có tính logic mà các đồng chí Thơ và Tuấn đang vi phạm trong lập luận của mình, khi họ chuyển vấn đề từ việc có nên phá giá không sang việc phân tích yếu tố nào mới là yếu tố chính ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam, hoặc lặp lại vấn đề không nên phá giá mạnh (như đồng chí Tuấn ví dụ là 13%). Để tăng phần thuyết phục, họ đưa ra những lập luận mà xét cho cùng vừa rắm rối, và quan trọng hơn, vừa ... lạc đề!
 
4.       Đồng chí Giang, mặc dù như tớ vẫn thường hoan nghênh, nhất là trong bài này khi cùng đưa ra ý kiến khá giống với tớ, mắc một sai lầm nhỏ, khi cho rằng phá giá sẽ làm tăng gánh nặng nợ Nhà nước. Đây là vấn đề mà tớ đã phản biện trên TBKTSG mấy tháng trước đây (đại loại, nếu không phá giá thì nợ Nhà nước – tính bằng VND - có thể không tăng lên, nhưng rốt cuộc quỹ dự trữ ngoại hối của NHNN lại hao hụt tương ứng để kìm giữ tỷ giá. Tức là tiền từ chui từ lỗ hổng nọ ra lỗ hổng kia trong cùng một cái quần quốc gia).
 
5.       Còn về ý kiến của đồng chí Phạm Thế Anh, tuy có phân tích theo một hướng hơi khác một chút (chỉ số giá sản xuất), nhưng có thể thấy rõ ràng nó cũng phạm phải những sai lầm giống của đồng chí Thơ và Tuấn (tập trung vào tìm căn nguyên của tính cạnh tranh yếu, bỏ qua việc cần thiết phải phá giá, như là một trong những biện pháp cần làm).
 
Và qua bài này, mới thấy, như tớ đã phát biểu trong bài, rằng sự ngộ nhận và hiểu một chiều về tỷ giá đang ngự trị trong đầu của rất, rất nhiều người, kể cả giới học giả được coi là tinh hoa (nhất) của Việt Nam như trong bài này (bạn đọc nào còn nghi ngờ nhận định của tớ thì tìm đọc lại các bài phản biện về tỷ giá của tớ trên báo chí và post lại trên blog này), và chúng đã rất có ảnh hưởng (tiêu cực) đến việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ và tỷ giá ở Việt Nam. Và cứ nhìn lực lượng tương quan giữa phe phản đối và phe ủng hộ tỷ giá trong bài này thì sẽ dễ hiểu, dễ thấy tại sao NHNN lại “kiên định” với chuyện không phá giá đến thế. Có 5 người tham gia trong bài thì quá bán, 3 người, phản đối phá giá (mạnh); chỉ còn mỗi tớ và đồng chí Giang là luôn kiên định với việc phá giá (tất nhiên phá giá ở mức bao nhiêu là chuyện bàn sau).
 
 
Các comment trên của tớ có thể gây khó chịu cho ai đó, nên rất mong mỏi các đồng chí không tán thành hãy vào đây tranh luận ra ngô ra khoai với tớ.

Wednesday, 21 August 2013

Lại chuyện phản đối Mỹ áp thuế chống trợ cấp, phá giá

Tớ đã vài lần viết về chuyện cứ mỗi khi Mỹ áp dụng thuế chống phá giá, chống trợ cấp lên một mặt hàng nào đó của Việt Nam, từ dệt may, giày dép, thủy sản, đến thép là y như rằng một dàn đồng ca cất lên từ phía Việt Nam cãi bay cãi biến rằng Việt Nam không trợ cấp, ưu đãi cho những ngành này, nào là Việt Nam có lợi thế tự nhiên trong sản xuất những mặt hàng này làm cho giá thành và giá bán rất cạnh tranh, nào là v.v...

Chỉ cần google với cụm từ khóa, chẳng hạn như, "cho vay ưu đãi" là lập tức ra một loạt tin tức về chính sách cho vay ưu đãi với một số ngành nghề của Việt Nam thuộc diện bị kiện ở Mỹ như thế này:

http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30701&cn_id=599354
http://portal.tiengiang.gov.vn/wps/wcm/connect/Web+Content/portaltiengiang/Menu/tintuc/kinhte/Nuoi+tom+nuoc+lo+2013+Giam+dien+tich,+tang+san+luong
http://www.baophuyen.com.vn/Kinh-te-82/7706405705905605672
http://xttm.mard.gov.vn/Site/vi-vn/171/288/316/71648/Default.aspx
http://ndhmoney.vn/web/guest/s26/-/journal_content/hang-ngan-ty-dong-von-vay-uu-dai-di-ve-dau
http://tepbac.com/news/full/6506/Giai-ngan-kip-thoi-nguon-von-uu-dai.htm
http://www.tiengiang.gov.vn/xemtin.asp?cap=3&id=22068&idcha=10054

Chưa kể, còn rất nhiều chương trình cho vay ưu đãi của các ngân hàng thương mại mà người cấp vốn cuối cùng lại là nơi mà ai cũng biết là ở đâu.

Với những thông tin công khai thế này, thậm chí còn được giật tít như muốn nhấn mạnh rằng chính phủ quyết hỗ trợ các ngành nghề này, không bỏ rơi ai, thể hiện bản chất tốt đẹp của kinh tế thị trường định hướng XHCN v.v... mà vẫn cãi bay cãi biến người ta (Mỹ) thì có khác gì là cãi chày cãi cối?

Cũng có người tỉnh táo hơn, khuyến nghị rằng nếu có làm thì làm kheo khéo thôi, đừng công khai, đừng dùng từ "hỗ trợ" với "ưu đãi" để người ta có cớ mà hành (bài đăng trên báo hẳn hoi mà tớ quên mất là ở báo nào rồi). Nghe cũng có lý đấy, nhưng đây chỉ là cái lý của kẻ giỏi biến báo, luồn lách. Cung cách làm ăn không minh bạch, không đàng hoàng này rồi thế nào cũng sẽ bị lộ và phải trả giá.

Cũng nhân đây sẽ thấy thêm về mặt trái của cung cách hoạch định và thực thi chính sách kinh tế xã hội ở Việt Nam. Bất chấp các nguyên lý của thị trường, dồn các nguồn lực khan hiếm cho một số ngành để đổi lấy những thành tích nào là xóa đói giảm nghèo nào là xuất khẩu hàng đầu thế giới v.v... Lợi đâu chưa thấy nhưng chỉ thấy những là dư cung, giá hạ, trắng tay, xóa nợ, khoanh nợ, và tệ hơn là tư cách "nền kinh tế thị trường" mãi mà chẳng được công nhận.

Thôi thì nhân lúc người ta vạch mặt chỉ tên, hãy dũng cảm chấp nhận sự thật và tìm cách đàng hoàng hơn mà làm cho có hậu.





Thursday, 15 August 2013

TPP: Nhìn từ hai phía Việt – Mỹ (Bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn 15/8/2013, bản gốc)

TPP - Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương đang được đàm phán bởi 12 nước thành viên (với Nhật mới tham gia đàm phán đầu năm nay) ở 2 bên bờ Thái Bình Dương, trong đó có Mỹ và Việt Nam. Trải qua 18 vòng đàm phán, TPP được kỳ vọng sẽ được thông qua bởi các nước thành viên vào tháng 10 năm nay.

Bài viết này dựa trên quan sát và ghi chép của tác giả thu được qua một số cuộc viếng thăm các cơ quan Việt Nam và Mỹ thường trú tại Việt Nam gần đây, nhằm cung cấp một số quan điểm trái chiều có liên quan đến TPP nhìn từ hai phía để giúp bạn đọc có cái nhìn toàn diện hơn về cuộc đàm phán TPP giữa Mỹ và Việt Nam (Lưu ý, bài viết không lặp lại mô tả chi tiết TPP).
Nhìn từ phía Việt Nam, một quan điểm phổ biến là Mỹ cần Việt Nam và tìm cách lôi kéo Việt Nam vào cuộc chơi TPP mà Mỹ cầm trịch (không có Trung Quốc và nước này cũng không được Mỹ mời vào TPP). Vào TPP, Mỹ hy vọng Việt Nam sẽ thành một nước có thế và lực mạnh hơn với kinh tế phát triển nhờ TPP để thoát khỏi vòng ảnh hưởng cũng như kìm hãm sự lan tỏa ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực, cốt có lợi cho Mỹ. Để đổi lại động cơ chính trị này, Mỹ sẵn sàng thỏa hiệp và chịu ép với Việt Nam trong một số lĩnh vực kinh tế và xã hội, như mở cửa thị trường Mỹ cho hàng xuất khẩu của Việt Nam...

Tuy tin như vậy, nhưng phía Việt Nam vẫn giữ một con mắt nghi ngờ, quan ngại với lập trường mà họ cho là “tiêu chuẩn kép” của Mỹ. Theo họ, một mặt Mỹ muốn, buộc các nước thành viên khác mở cửa cho hàng hóa và dịch vụ của Mỹ xâm nhập nhưng mặt khác Mỹ lại tìm cách gây khó dễ, đóng cửa với hàng hóa và dịch vụ của các nước thành viên đối tác của mình, đặc biệt là một nước đang phát triển như Việt Nam với một thế yếu mà Mỹ đã và sẽ lợi dụng triệt để. Những biện pháp gây trở ngại này của Mỹ thường sẽ là quy tắc xuất sứ sợi (Yarn Forward), danh sách loại trừ, những vấn đề liên quan đến nhân quyền, công đoàn, môi trường, tôn giáo và chuyển giao công nghệ, và một số cản trở phi thuế quan khác. Nhận định này đã hiện diện trong các vòng đàm phán với Việt Nam và là một trong những trở ngại chính cho việc sớm đi đến thỏa thuận.
Ngược lại, theo quan điểm của phía Mỹ  thì thực ra mức độ quan tâm của Mỹ đến Việt Nam không lớn như phía Việt Nam nghĩ. Đúng là Mỹ có ý muốn Việt Nam tham gia TPP nhưng điều này chỉ đơn thuần là Mỹ muốn nhìn thấy một Việt Nam phát triển ổn định về chính trị và kinh tế.  Thậm chí họ còn cho rằng nếu Mỹ buông Việt Nam thì Trung Quốc cũng chẳng thu được lợi ích đáng kể nếu lôi kéo được Việt Nam rơi vào lãnh địa của mình, nếu xét đến sự khác biệt quá lớn về quy mô kinh tế, lãnh thổ và dân số của Trung Quốc và Việt Nam và Trung Quốc cũng chẳng vì thế mà mạnh hơn lên nhiều.

Sự quan tâm của Mỹ đến Việt Nam càng suy giảm hơn với sự tham gia của Nhật vì Nhật là một đối tác kinh tế lớn của Mỹ và giữa 2 nước này chưa có một hiệp định tự do thương mại song phương (TPP cũng đóng vai trò như một hiệp định tự do thương mại song phương). Vì thế Mỹ phải tập trung nỗ lực hơn vào cuộc đàm phán với Nhật thay vì Việt Nam. Nội dung và thỏa thuận đàm phán với Nhật cũng sẽ là tiêu chuẩn để Mỹ áp dụng trong đàm phán với Việt Nam nên cuộc đàm phán Việt Mỹ sẽ càng trở nên phức tạp và rắc rối hơn, và cũng như vậy là tương lai gia nhập TPP của Việt Nam.
Một điểm đáng lưu ý là Chính phủ Mỹ không có nhiều quyền kiểm soát trong các thỏa thuận TPP với Việt Nam như với hiệp định tự do thương mại song phương Việt – Mỹ, không chỉ vì TPP còn phải trình Nghị viện Mỹ, nơi bị chi phối nặng nề bởi các nhóm lợi ích (trong đó có các công ty dệt may) và lực lượng chính trị, phê chuẩn, mà còn vì Chính phủ Mỹ phải tôn trọng các hiệp định tự do thương mại song phương với các nước khác như Mexico và Peru, sao cho tiêu chuẩn của các thỏa thuận với Việt Nam không thấp hơn tiêu chuẩn ký kết với, hoặc làm tổn hại đến các nước này.

Phía Mỹ còn cho rằng phía Việt Nam có quá nhiều đòi hỏi không chính đáng làm cho phía Mỹ ngán ngẩm, vì Việt Nam coi TPP cũng là một thỏa thuận song phương, mà thực ra không phải là vậy. Nguyên nhân cho vấn đề này, theo phía Mỹ, có thể là sự thiếu hiểu biết về bản chất của TPP của phía Việt Nam.
Thêm một thực tế là Cơ quan đại diện thương mại Mỹ đã có một người lãnh đạo mới và vị này thì rất ít thông cảm với Việt Nam, thay vào đó rất có cảm tình với Nhật. Ngoài ra, Cơ quan này cũng đang phải đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Đại Tây Dương (TAP) nên sự quan tâm cho cuộc đàm phán với Việt Nam càng trở nên ít đi. Mỹ cũng khó mà thỏa hiệp được với Việt Nam về điều khoản quan trọng nhất trong TPP là quy định Yarn Forward để có thể xâm hại đến quyền lợi của các đối tác của Mỹ ở châu Âu, Phi và Trung Đông trong một chuỗi cung ứng sản phẩm tạo ra nhiều triệu công ăn việc làm trong ngành dệt may.

Tóm lại, giữa 2 bên đã có sự khác biệt khá lớn về quan điểm và nhận định cũng như các mối quan tâm về đối phương. Cộng thêm với sự ràng buộc chính trị và xã hội trong nước, các bất đồng và có cả nghi kị, kèm theo sự gia nhập mới đây của Nhật làm cho quá trình đàm phán TPP trở nên phức tạp và khó khăn hơn. Vì thế nhiều nhà quan sát nghi ngờ khả năng cán đích hoàn tất đàm phán tháng 10 tới đây, mặc dù các nhà lãnh đạo khẳng định quyết tâm về đích đúng hạn.

Wednesday, 14 August 2013

2 comment của bạn đọc

Hôm nay tớ nhận được 2 comment. 1 gửi trực tiếp đến email của tớ (mà tớ mạn phép tác giả post lại ở phần dưới đây), còn comment thứ 2 thì để lại trên blog này, trong entry: "Cần hoan nghênh đồng chí TS Lê Hồng Giang" với nhõn mỗi 2 chữ "Thang dien"!

Về comment thứ 2 này, xin nói với đồng chí tác giả của nó, chắc không điên bằng tớ, rằng tớ không bận lòng lắm (và tớ không xóa comment này, cũng như bất cứ loại comment nào khác), và rất mong đồng chí này đừng lạc vào đây một lần nữa kẻo lại tẩu hỏa nhập ma như tớ thì khốn cho cái đời đồng chí lắm. Đọc mà không tiêu hóa được, lại thêm uất ức quá sẽ sinh bệnh nặng.

Về comment thứ nhất, nguyên văn như sau (hơi dài):

"Em chào thầy
Trước khi vào chủ đề chính, em muốn chia sẻ với anh một chút cảm nhận của em như thế này ạ. Thực sự thì em cũng mới biết đến blog của anh thông qua một vài đường link nào đó mà em cũng không thể nhớ được. Và comment đầu tiên em đọc của anh có nội dung ngang tàng "nếu giỏi bằng tớ...", comment này làm em không khỏi tò mò về khả năng, kiến thức và tư duy của anh. Tuy nhiên càng đọc những bài của anh (gần như đêm nào trước khi ngủ em cũng đọc), em càng ngưỡng mộ anh. Quả thật phân tích của anh và anh Lê Hồng Giang sâu sắc và đứng trên một lập trường nhất định (điều quan trọng nhất của người làm khoa học). Nhưng em có cảm giác khi đọc các bài viết của anh, anh không phục gần như tất cả những nhà khoa học ở Việt Nam vậy? Không biết cảm giác của em là đúng hay sai, gần đây anh có entry chỉ trích một nhà giáo là thầy của em, thực sự đọc đến đoạn đó em không khỏi ấm ức, bực tức...vì a động chạm đến người thầy của em. Ngay lúc đó em cũng có ý comment luôn nhưng do entry quá lâu rùi, bởi vậy em cũng không viết nữa. Em chỉ muốn hỏi anh một việc: "Kiến thức là bao la, các chuyên gia kinh tế bản thân họ cũng khó có thể tường mình mọi vấn đề được. Vậy thì tại sao chỉ một hoặc hai nhận xét có phần chưa chính xác thì anh có thể kết luận đồng chỉ này thế nọ, đồng chí kia thế khác". Đến Gia Cát Lượng vẫn còn có lúc tính toán sai mà anh.
Đây là chuyện bên lề thôi ạ, còn mục đích chính em viết mail cho anh là để bái sư anh ạ! Em biết anh chưa biết em là ai, là thằng nào, danh phận ra sao, trình độ như thế nào...Nhưng em muốn bái sư anh để có thể học hỏi được từ anh, từ cách tư duy, cách liên hệ vấn đề, cách giải quyết vấn đề...Trong thời gian học đại học, em cũng đã từng nghĩ rằng không biết bao giờ mình có thể nhìn một chỉ số nào đó thay đổi, nghe một bản tin kinh tế nào đó...mà đoán biết được điều gì đang xảy ra và sắp tới sẽ diễn biến như thế nào. Trong 4 năm ấy, em vẫn chưa thực hiện được mong ước đó và cũng chưa tìm ra một tác giả nào, một người nào có những phân tích bóc tách vấn đề sâu sắc như anh và anh Giang. Em viết mail này chỉ hy vọng anh có thể chia sẻ con đường để anh đạt tới cảnh giới này và em mong rằng anh có thể dìu dắt em bằng 1/2 anh thôi ạ "em tự lượng sức mình". :) Em rất muốn đóng góp gì đó anh ạ! Rất mong anh vén lối mở đường cho em tới đỉnh cao của tri thức. Vậy nên em xin phép anh cho em gọi anh bằng thầy ạ!
Hy vọng sớm nhận được tin tốt lành từ Thầy!
Em cám ơn thầy!
Trân trong ./."
 
Chắc có rất nhiều đồng chí bạn đọc ở đây có cùng thái độ ngứa mắt với tớ như thế này nên tớ muốn lặp lại ở đây câu trả lời qua thư với tác giả để các đồng chí đỡ ngứa mắt:
 
1. Về chuyện tớ không phục một nhà khoa học nào ở VN, thì như tác giả cũng đã viết rằng "chưa tìm ra một tác giả nào, một người nào có những phân tích bóc tách vấn đề sâu sắc như anh và anh Giang" nên câu trả lời đã rõ.
 
2. Tớ nói "khi nào bằng tớ" (chứ không phải "khi nào giỏi bằng tớ") thì chỉ cần người nói nói ra một vài câu là có thể biết người đó thuộc dạng nào một cách tương đối chính xác. Vì thế đồng chí thầy của tác giả nói một vài câu sai lầm là đủ để tớ kết luận như đã kết luận, còn đúng hay sai thì tự tác giả biết (hoặc sau này sẽ biết).
 
3. Con đường đạt đến "cảnh giới" thì một phần lớn là do năng khiếu bẩm sinh cộng với đọc và học và trải nghiệm thực tế, một phần khác là thái độ hoài nghi và có cái nhìn phản biện mọi thứ, kể cả những cái tưởng là chân lý, kể cả với những ai là thần tượng. Với nhiều yếu tố này nên tớ nghĩ là số người được gọi là đạt đến "cảnh giới" không nhiều, nếu không muốn nói là rất it, và tớ cũng không dám nhận là như vậy, mặc dù tớ tự nhận là có một số yếu tố trên, đặc biệt là thái độ hoài nghi, phản biện, không coi ai là thần tượng (để khỏi phải hoài nghi) hết.
 
 
 


Wednesday, 7 August 2013

TPP và cơ hội cho ngành dệt may – nhìn từ các doanh nghiệp Việt Nam (Bản gốc của bài đăng trên Tuổi trẻ)

Một phiên bản của bài này xuất hiện dưới dạng bài phỏng vấn trên Tuổi trẻ, 8/8/2013
http://tuoitre.vn/Kinh-te/562578/nganh-det-may-khong-de-huong-loi-tu-tpp.html

--------------------------------------------
Bài viết này dựa trên tư liệu tác giả đã thu thập được qua các cuộc tiếp xúc và phỏng vấn với một số doanh nghiệp dệt may hàng đầu ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Hà Nội, cũng như một số cơ quan hữu quan của Việt Nam và nước ngoài thường trú tại Việt Nam mới đây, trong bối cảnh Việt Nam đang đàm phán với các nước thành viên khác để hoàn tất Hiệp định đối tác Thái Bình Dương (TPP) vào tháng 10 này như mục tiêu mà các nhà lãnh đạo đã đặt ra.
Ngành dệt may là một trong số những ngành xuất khẩu mũi nhọn ở Việt Nam, với doanh số hơn 17 tỷ đô la Mỹ và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đạt 7,5% trong năm 2012 (so với năm 2011). Xuất khẩu hàng dệt may hiện đã chiếm hơn 15% tổng doanh số xuất khẩu của cả nước.

Doanh số và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam được kỳ vọng sẽ còn tăng mạnh hơn nữa khi TPP được ký kết kèm theo đó là mức thuế xuất khẩu của hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường Mỹ (thị trường xuất khẩu chủ chốt chiếm đến 44% tổng xuất khẩu dệt may của Việt Nam năm 2012) được hạ từ mức trung bình khoảng 17% xuống 0%.
Hiện nay, có một số dự báo của những cơ quan hữu quan cho thấy Việt Nam sẽ tăng được doanh thu xuất khẩu hàng dệt may lên tới 30 tỷ đô la vào năm 2025 trong khuôn khổ TPP, tức là 70% lớn hơn so với khi Việt Nam đứng ngoài TPP.

Tuy nhiên, những dự báo trên có thể đã dựa trên những giả định tĩnh, khá đơn giản rằng năng lực sản xuất dệt may của Việt Nam sẽ tăng lên mạnh mẽ và nhanh chóng, theo đúng quy hoạch và chiến lược phát triển mà các cơ quan hữu trách vạch ra, cũng như đại bộ phận hàng dệt may của Việt Nam sẽ được hưởng thuế suất 0% khi xuất khẩu vào Mỹ và các nước thành viên TPP khác.
Trên thực tế, có rất nhiều trở ngại cho Việt Nam chạm tới được mục tiêu này. Thứ nhất, gánh nặng về thủ tục hành chính và chi phí như lưu giữ đầy đủ sổ sách chứng từ, thời gian và tốc độ giao hàng đến khách hàng v.v... có thể lớn hơn cả phần thuế được cắt giảm trong TPP, làm nản lòng các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may và các công ty thương mại trung gian, và do đó họ thà chấp nhận nộp thuế nhập khẩu để đưa được hàng của mình đến thị trường tiêu thụ nhanh nhất và đỡ phiền phức. Trở ngại này cũng có thể làm nản lòng một số doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam trong việc đẩy mạnh xuất khẩu thêm nữa, và do đó tổng doanh số xuất khẩu của Việt Nam không nhất thiết sẽ tăng mạnh như dự tính.

Trở ngại thứ hai, trở ngại chính, đến từ quy tắc về nguồn gốc sợi (yarn forward) trong khuôn khổ TPP. Theo đó, để được hưởng thuế nhập khẩu 0%, hàng dệt may của Việt Nam phải sử dụng sợi và các sản phẩm từ sợi có xuất sứ từ các nước thành viên TPP. Năng lực sản xuất sợi của Việt Nam và các nước thành viên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của phân khúc hạ nguồn (dệt may) nên vẫn sẽ còn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu từ các nước ngoài TPP, điển hình là Trung Quốc và một số nước khác trong khu vực châu Á. Ngoài ra, với đặc thù thường xuyên thay đổi mẫu mã, số lượng, chủng loại, cũng như vật liệu hàng dệt may theo năm hoặc theo mùa, việc luôn đáp ứng được quy tắc xuất sứ sợi để hưởng thuế suất 0% là không đơn giản và không phải không tốn kém. Do đó, nhiều doanh nghiệp buộc phải duy trì một tỷ lệ nhất định vải vóc và nguyên vật liệu có nguồn gốc từ các nước ngoài TPP, và tức là vẫn phải chịu thuế suất như hiện nay. Thực tế tham gia Hiệp định đối tác kinh tế với Nhật (EPA) trong đó có quy tắc nguồn gốc vải (fabric forward) vốn cởi mở hơn quy tắc nguồn gốc sợi mà xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Nhật không tăng mạnh cho thấy khả năng tương tự xảy ra cho Việt Nam trong TPP.
Trở ngại thứ ba, cũng liên quan đến quy tắc nguồn gốc sợi, là năng lực sản xuất bị hạn chế của Việt Nam, khó đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu tăng cao trong khuôn khổ TPP. Những yếu tố tiêu cực như năng lực quản lý yếu kém, thiếu hụt lao động (kể cả lao động phổ thông), năng suất lao động thấp, thiếu vốn đầu tư và công nghệ, và môi trường kinh doanh không thân thiện với nhà đầu tư, và đặc biệt là thủ tục hải quan hay bị kêu là nhũng nhiễu và mất thời gian, là một vài trong số những yếu tố kìm hãm việc tăng mạnh năng lực sản xuất ở Việt Nam. Những trở ngại này không phải chỉ là trên lý thuyết mà là ý kiến của đa phần các công ty dệt may xuất phát từ thực tế hoạt động hàng ngày cho biết.

Người ta hy vọng rằng với thời gian ân hạn 3 năm (như phía Mỹ đề xuất, hoặc 5 năm như phía Việt Nam đề xuất) cho việc áp dụng quy tắc nguồn gốc sợi là đủ để cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào các ngành thượng nguồn như kéo sợi, dệt, nhuộm, hoàn tất đáp ứng đủ nhu cầu vải đầu vào cho ngành may. Nhưng có vị tổng giám đốc một công ty dệt may lớn sau khi bộc lộ sự bất mãn với các con số kế hoạch và mục tiêu của các cơ quan hữu trách vì cho rằng họ quan liêu, xa rời thực tế,  ông cho biết khoảng thời gian này thậm chí may ra chỉ đủ để xây một nhà máy chưa chưa nói gì đến cả một chuỗi, một loạt các nhà máy theo nhu cầu, xuất phát từ kinh nghiệm không mấy hay ho mà doanh nghiệp ông đã phải nếm trải khi đầu tư vào một dự án mở rộng năng lực sản xuất của mình cách đây 2 năm mà vẫn chưa xin được giấy phép xây dựng, mặc dù mọi thứ đã chuẩn bị đầy đủ, kể cả đã phải “đi đêm” để “chạy” giấy tờ.
Về khả năng hạn chế trong việc tăng năng lực sản xuất ở Việt Nam, còn lưu ý thêm một số trở ngại lớn nữa là đất đai và môi trường. Nhiều doanh nghiệp cho biết không dễ xin được đất đai để làm nhà xưởng vì các địa phương coi ngành may mặc là ngành có giá trị gia tăng thấp, không hấp dẫn và vì thế các chính quyền địa phương không mấy mặn mà cấp đất cho doanh nghiệp làm nhà xưởng. Các doanh nghiệp cũng cho biết nếu có xin được đất thì họ cũng còn ngại ngần vì chi phí đền bù, giải tỏa nhiều khi bằng mấy năm lợi nhuận thu được của các doanh nghiệp này.

Trong khi đó, vấn đề bảo vệ môi trường đã được các địa phương đặc biệt đề cao hiện nay. Với những phân khúc sản xuất gây ô nhiễm môi trường như nhuộm, rất khó để các doanh nghiệp xin được giấy phép hoạt động tại các địa phương. Mà theo một số nhà quản lý trong ngành thì phân khúc nhuộm chính là nút thắt cổ chai cho toàn bộ ngành dệt may của Việt Nam, quyết định đến năng lực sản xuất của cả ngành này.
Trên đây mới chỉ là những khó khăn và trở ngại về phía nhà xuất khẩu Việt Nam. Ý kiến chung từ các cuộc gặp cho thấy khả năng Mỹ (và các nước nhập khẩu hàng dệt may khác của Việt Nam) không dễ dàng ngồi nhìn hàng dệt may của Việt Nam tung hoành trên thị trường của mình, mặc dù có thể ngành dệt may là ngành đang lụi tàn, chỉ còn chiếm một vị trí hết sức khiêm tốn ở những nước này. Tuy là ngành đang lụi tàn, nhưng với Mỹ, các công ty dệt may của họ vẫn có khả năng lobby rất lớn và có sự chi phối đáng kể đến các chính sách thương mại của Chính phủ Mỹ. Bởi vậy, sẽ là không khó hiểu khi Mỹ sẽ dùng các công cụ và vấn đề như nhân quyền, môi trường, lao động, hàng rào kỹ thuật và các loại hàng rào thương mại phi thuế quan khác để cản trở xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào nước này.

Với những khó khăn và thực trạng nêu trên,  một mặt TPP sẽ mang lại cho ngành dệt may Việt Nam một số cơ hội mới để phát triển nhưng, mặt khác, những trở lực nội tại và bên ngoài có lẽ sẽ giới hạn đáng kể đến khả năng phát triển của ngành này ở Việt Nam. Bởi vậy, mọi chiến lược và quy hoạch phát triển cho ngành cần tính đến một cách đầy đủ những yếu tố chủ quan và khách quan này để cho các mục tiêu có tính khả thi và thực tế hơn.

Bất ổn tỷ giá: Đừng đổ cho “tâm lý”! (Bài đăng trên TBKTSG 8/8/2013, bản gốc)

Sau khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) “điều chỉnh” tỷ giá đồng/đô la Mỹ liên ngân hàng cuối tháng 6, lập tức tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng thương mại và tỷ giá trên thị trường tự do đã tăng vọt. Có lúc, tỷ giá đạt gần 21.900 đồng/đô la trên thị trường tự do.

Như thường lệ, NHNN lặp lại bài trả lời quen thuộc, quy buộc việc tỷ giá tăng mạnh là do yếu tố tâm lý, do động cơ đầu cơ trục lợi của một số người v.v…, chứ còn cân đối ngoại tệ vẫn đảm bảo, vẫn có thặng dư cán cân thanh toán đến mấy tỷ đô la, trạng thái ngoại tệ tại các ngân hàng không có đột biến v.v..

Tuy nhiên, một số vấn đề xảy ra cho thấy vấn đề không đơn giản, không đúng như những gì NHNN tuyên bố, thuyết phục dân chúng.

Thứ nhất, có thể đúng như NHNN nói, các yếu tố thiết lập tỷ giá không có mấy thay đổi theo chiều hướng xấu gây áp lực lên tỷ giá, và do đó không cần phải “điều chỉnh” tỷ giá. Nhưng nếu đúng như vậy thì câu hỏi được đặt ra là tại sao NHNN lại quyết định “điều chỉnh” tỷ giá liên ngân hàng hồi tháng 6, dù chỉ là 1%, mặc dù họ có thể biết rõ hậu quả của việc “điều chỉnh” này sẽ như thế nào, căn cứ từ những vụ “điều chỉnh” trước đây? Có thể NHNN sẽ có câu trả lời nào đó nhưng chắc chắn sẽ không phải là, chẳng liên quan gì đến những yếu tố mà NHNN đã viện ra (cán cân ngoại tệ không mất cân đối, thặng dư cán cân thanh toán, trạng thái ngoại hối của các ngân hàng không biến động mạnh...). Suy ra tiếp, sự giải thích của NHNN về lý do biến động tỷ giá như vừa qua (do yếu tố tâm lý, do đầu cơ) là không chuẩn xác.

Thứ hai, và liên quan đến vấn đề trên, khi tác giả nói sự quy kết của NHNN nhằm vào yếu tố tâm lý, đầu cơ là không chuẩn xác vì tác giả cũng công nhận rằng sự biến động mạnh có phần thái quá của tỷ giá đúng là có phần của tâm lý và đầu cơ. Nhưng cần nhấn mạnh rằng đây là yếu tố đến sau, chứ không phải là yếu tố châm ngòi cho sự “điều chỉnh” tỷ giá liên ngân hàng của NHNN. Vào thời điểm NHNN “điều chỉnh” tỷ giá, không thấy họ đề cập gì đến yếu tố tâm lý mà vì nó NHNN phải “điều chỉnh. Đã không có “yếu tố tâm lý”, là cái lý do giải thích cho biến động mạnh của tỷ giá như vừa qua theo lời của NHNN, mà NHNN vẫn phải “điều chỉnh” thì phải chăng “yếu tố tâm lý” thực ra chẳng có vai trò to lớn gì cả? Và theo lẽ thông thường, khi NHNN “điều chỉnh” tỷ giá (nhấn mạnh thêm là trước đó NHNN vẫn khẳng định “không phá giá”), việc này đương nhiên kích hoạt tâm lý sợ hãi của dân chúng rằng tỷ giá sẽ còn tăng lên nữa (vốn đã quá quen thuộc với dân chúng, như đã thường xảy ra trong quá khứ, chứ không phải là lần đầu). Từ tâm lý sợ hãi đến hành động mua gom, găm giữ (tức “đầu cơ”) là một khoảng cách rất gần, dẫn đến hậu quả như đã biết.

Thứ ba, lý giải cho hành động “điều chỉnh” tỷ giá của mình, NHNN chỉ giải thích một cách chung chung, mơ hồ rằng là để phản ánh đúng hơn quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Như vậy, bản thân lý do này cũng cho thấy quả thực quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường đã bị bóp méo (mất cân đối) ở một mức độ nào đó, gây sức ép lên tỷ giá. Nói cách khác, đây mới chính là nguyên nhân làm cho tỷ giá biến động mạnh, bắt đầu với việc “điều chỉnh” tỷ giá của NHNN và theo sau là tâm lý đầu cơ càng làm cho tỷ giá biến động mạnh hơn mức cần có.

Vậy điều gì dẫn đến quan hệ cung cầu ngoại tệ bị mất cân đối? Tin tức trên báo chí gần đây giúp ta trả lời được câu hỏi này. Luồn tin thứ nhất liên quan đến chuyện dư thừa tiền đồng, mà vì nó NHNN đã phải tung tín phiếu ra để hút về đến 21 nghìn tỷ đồng chỉ riêng trong 2 tuần đầu tháng 7, trong khi theo báo chí cho biết thì hành động hút tiền về đã bị sao nhãng trong tháng 6. Luồng tin thứ hai cho biết lãi suất tiền đồng liên ngân hàng ở mức thấp cho đến gần đây khi NHNN tung tín phiếu để giảm thanh khoản trong hệ thống. Lãi suất tiền đồng thấp đương nhiên sẽ làm tăng sức hấp dẫn của việc nắm giữ đô la. Luồng tin thứ ba liên quan đến tín dụng tiền đồng tăng trưởng mạnh trong tháng 6. Từ 3 luồng tin này, có thể tổng hợp để đưa ra một bức tranh cho thấy NHNN đã bơm mạnh tiền đồng vào hệ thống nói riêng và nền kinh tế nói chung trong suốt thời gian qua cho đến tháng 6, làm cho tiền đồng trở nên dư thừa so với đô la, từ đó tạo ra áp lực lên tỷ giá danh nghĩa. Trong khi đó, lạm phát ở Việt Nam tiếp tục tăng, càng làm cho tiền đồng tăng giá thực so với đô la, càng tác động tiêu cực đến xuất khẩu và cán cân thương mại, cũng tức là tăng áp lực lên tỷ giá danh nghĩa (chính là áp lực phá giá tiền đồng). Vì lý do này hay lý do khác mà NHNN đã chọn thời điểm tháng 6 để “điều chỉnh” tỷ giá (thực chất là phá giá), nhưng cần phải hiểu rằng hành động này không sớm thì muộn cũng sẽ phải xảy ra, chứ không thể nói khác đi được.

Điều liên quan còn lại cần nói trong bài này là tại sao NHNN đã chủ động “điều chỉnh” tỷ giá (có thể nói ở mức độ thăm dò, như một số người nhận định) mà NHNN rốt cuộc lại can thiệp kìm hãm đà tăng tỷ giá bằng cả biện pháp bán ngoại tệ cho hệ thống ngân hàng? Chẳng phải làm vậy chứng tỏ họ đang vừa lãng phí nguồn lực (tung dự trữ ngoại hối ra để chặn đà tăng tỷ giá), vừa lúng túng trong mục tiêu và biện pháp điều hành hay sao (cần phá giá nhưng phá giá nửa vời, không đủ liều lượng, thậm chí để tỷ giá quay trở lại gần vạch xuất phát)? Hay phải chăng họ sợ yếu tố tâm lý, như đã nói, làm mọi việc vượt quá tầm kiểm soát của họ?

Cuối cùng là vài lời về cách PR cho NHNN mỗi khi cần tuyên bố gì đó liên quan đến tỷ giá. Qua phân tích trên có thể thấy những tuyên bố với giải thích của NHNN là không chuẩn xác, máy móc, thậm chí là (vô tình hay hữu ý) sai lạc so với thực tế, là điều mà chính vì thế mới làm cho tâm lý của dân chúng càng tiêu cực với mỗi bước đi về chính sách của NHNN. Có lẽ NHNN cần thay đổi cách và nội dung PR của mình ở những lần sau mới mong đạt được hiệu quả như mong muốn.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).