Tuesday, 16 April 2013

Gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng không giải cứu bất động sản thì “hỗ trợ” cái gì?

Trong bài báo này trên VnMedia, đồng chí Thống đốc Bình biện bạch như thế này: “Gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng đưa ra để nhằm hỗ trợ cho người thu nhập thấp vay vốn mua nhà. Ngân hàng nhà nước không đặt vấn đề đưa ra gói này để cứu bất động sản hay hỗ trợ một phần cho doanh nghiệp bất động sản”.

 Nói như thế xong, ở đoạn sau, đồng chí Thống đốc lại giải thích thêm cho rõ: “Gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng mà Chính phủ dự kiến sẽ đưa ra trong thời gian tới nhằm mục đích mang lại sự bình ổn của thị trường bất động sản, nó sẽ có tác động lan tỏa tốt với nền kinh tế. Gói hỗ trợ này hướng tới người sử dụng, đối tượng mua nhà, trong đó ưu tiên số một là những đối tượng chính sách xã hội và người thu nhập thấp”.

 Đồng chí Bình còn chỉ thị mang tính định hướng cho thị trường bất động sản như sau: “Ngoài những hỗ trợ về chính sách, tài chính, cần phải đảm bảo nguồn cung phù hợp với đối tượng mua nhà. Nếu không có nguồn cung thì phải chuyển đổi công năng một số dự án sang cho phù hợp với nhu cầu. Vì vậy, cũng cần phải hỗ trợ các doanh nghiệp làm nhà chuyển sang phân khúc này”.

 Tớ có thể̉ bình luận ngay ở đây rằng tại sao NHNN, chính phủ lại đặt ra vấn đề “hỗ trợ” người thu nhập thấp vay vốn mua nhà lúc này? Sao không phải là một năm, hai năm, hoặc thậm chí là 10 năm trước đây? Phải chăng đột nhiên NHNN/chính phủ động lòng thương xót dân nghèo không có nhà ở? Hơ hơ, tớ chẳng dám lạc quan đến thế đâu!

 Tiếp theo, cần phân tích cái gọi là “nhằm mục đích mang lại sự bình ổn của thị trường bất động sản” mà đồng chí Bình nói ở trên. Nói như vậy có nghĩa là thị trường bất động sản hiện tại đang “không bình ổn”. Mà thực tế xem ra có vẻ như vậy thật. Vậy thị trường bất động sản đang “không bình ổn” như thế nào? Phải chăng đó là sự rơi giá mạnh của bất động sản, sự ế chỏng của các dự án bất động sản bất chấp các biện pháp “tháo gỡ” của cả giới chủ đầu tư xây dựng bất động sản và Chính phủ/NHNN? Nếu vậy có thể rút ra là thị trường bất động sản hiện nay đang bất lợi cho giới chủ đầu tư xây dựng bất động sản và nhóm bè cánh thân hữu, có liên quan. Suy ra tiếp, mọi hình thức can thiệp vào thị trường bất động sản lúc này làm tăng nhu cầu bất động sản đều trực tiếp hay gián tiếp mang lại lợi ích cho các nhóm lợi ích này. Mà như thế cũng có nghĩa là việc tung ra gói “hỗ trợ” 30.000 tỷ thực ra là, trước tiên, làm lợi cho các nhóm lợi ích này, chứ không thể nói một cách bạt mạng là không phải hỗ trợ cho doanh nghiệp bất động sản.

 Có thể NHNN hay ai đó vẫn còn cố gắng biện bạch rằng gói “hỗ trợ” cũng làm lợi cho người mua nhà có thu nhập thấp để lấy lại tí điểm trong con mắt dư luận. Tớ khẳng định luôn rằng không nhất thiết như vậy. Về nguyên tắc, như đã nói ở trên, khi tung ra gói “hỗ trơ” thì giá nhà nói chung, nhà ở “xã hội” nói riêng sẽ ngừng/bớt rơi thêm. Mà như vậy thì cho dù có được vay vốn ưu đãi từ gói “hỗ trợ” này để mua nhà thì người thu nhập thấp vẫn vô hình trung bị/được mua nhà đắt hơn cái mức có thể có. Và vì gói “hỗ trợ” chỉ như một giọt nước trong cơn khát nguồn cầu của giới chủ bất động sản nên không ai có thể khẳng định rằng sau khi tung gói này ra thì giá bất động sản nói chung và giá nhà “xã hội” nói riêng sẽ không giảm đi nữa. Liên hệ với thị trường chứng khoán, tớ mượn câu nói của ai đó: “cổ phiếu ngược đãi” khi nói về việc cổ đông “được” mua cổ phiếu ưu đãi để rồi sau một thời gian phải chứng kiến giá cổ phiếu ưu đãi của mình sụt giảm thê thảm để mô tả viễn cảnh người thu nhập thấp mua nhà xã hội hiện nay sẽ “được” thấy giá căn nhà của mình đang từ, ví dụ, 14 triệu/m2 rơi xuống còn 12 triệu/m2 sau, ví dụ, 6 tháng mua nhà, trong khi gánh nợ vẫn được tính theo giá 14 triệu/m2.

 Bởi thế, nếu thực sự “vì dân” như cái chiêu bài hay được mang ra sử dụng này thì thay vì tung ra gói “hỗ trợ”, NHNN/Chính phủ nên khoanh tay ngồi im, chẳng cần làm cái gì cả, để chò giá bất động sản tiếp tục rơi thêm đến một mức nào đó mà người thu nhập thấp thấy quả thật là giá nhà đã rất phù hợp, “nhao nhao” lên tiếng xin vay vốn “hỗ trợ” để mua nhà. Lúc đó NHNN mới nên tung ra gói “hỗ trợ”, nếu xét thấy mình nên đóng thêm vai làm từ thiện, cứu khổ cứu nạn dân nghèo, chứ không phải chỉ đóng khung trong vai trò là một ngân hàng trung ương.

 Nếu làm khác đi, tung gói “hỗ trợ” ra bây giờ thì không thể nói khơi khơi rằng nó là vì dân (thu nhập thấp), mà phải thừa nhận cho rõ rằng nó nhằm cứu giới chủ bất động sản trước hết. Tất nhiên, sau đó thì nó có tác dụng đến đâu, cho ai nữa, thế́ nào v.v… là chuyện khác.

 Cái cách đồng chí Bình chỉ đạo: “… cần phải đảm bảo nguồn cung phù hợp với đối tượng mua nhà. Nếu không có nguồn cung thì phải chuyển đổi công năng một số dự án sang cho phù hợp với nhu cầu. Vì vậy, cũng cần phải hỗ trợ các doanh nghiệp làm nhà chuyển sang phân khúc này”, thực chất là đã bật đèn xanh cứu giới chủ bất động sản. Đưa ra gói “hỗ trợ” trong lúc thị trường chưa có (đủ) nguồn cung nhà xã hội thì có nghĩa là đồng chí Bình lại khuyến khích các doanh nghiệp bất động sản nhảy vào xây (thêm) nhà xã hội. Việc này khó/không thể xảy ra, đơn giản vì doanh nghiệp bất động sản giờ đã cạn (nguồn) vốn và không chắc đã bán được sản phẩm khi làm xong, khi mà các sản phẩm khác (nhà ở thương mại) đang thừa đầy rẫy, chưa bán được. Vậy thì chỉ còn khả năng là nhân chuyện này, các doanh nghiệp bất động sản được bật đèn xanh, được Chính phủ (gián tiếp) hỗ trợ cho việc chuyển đổi nhà thương mại thành nhà xã hội nhằm thực hiện cái chủ trương “nhân đạo”, người nghèo có nhà, nói trên, đúng như đồng chí Bình đã chỉ đạo.

 Nói cách khác, đây mới là “tim đen” của những người chủ trương tung gói “hỗ trợ” cho vay mua nhà dưới chiêu bài giúp người thu nhập thấp có nhà trong thời điểm này.  Trong bài báo trên còn có đoạn: “Đại diện Bộ Xây dựng cho biết, gói tín dụng 30.000 tỷ đồng được đưa ra căn cứ nghị quyết 02/NQ -CP. Đây là chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm hỗ trợ về nhà ở cho các đối tượng thu nhập thấp, cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản hiện nay. Ngân hàng nhà nước sẽ cấp cho 5 ngân hàng thương mại nhà nước để cho các đối tượng thu nhập thấp vay vốn thông qua hình thức tái cấp vốn. Vì vậy, ngân hàng nhà nước sẽ giám sát, thẩm định rất kỹ. Song song, Bộ Xây dựng cũng là đơn vị xem xét, đề xuất duyệt các doanh nghiệp đủ điều kiện được vay. Do vậy, sẽ không dễ dàng để xảy ra việc các ngân hàng cho vay không đúng đối tượng, mục đích”.

Với câu: “…tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản hiện nay”, rõ ràng ít nhất thì Bộ Xây dựng đã thừa nhận rằng̀ gói “hỗ trợ” là nhằm cứu thị trường bất động sản, tức là cứu giới chủ đầu tư. Thế thì tốt nhất là NHNN đừng có ngụy biện nữa.

Cũng nhân đây tớ nhắc nhở các đồng chí ở mấy cái Bộ này rằng đừng có khẳng định rằng việc cho vay này sẽ đúng đối tượng, vì cái kiểu phát biểu này đầy rẫy hồi năm 2008 khi Chính phủ tung ra gói hỗ trợ lãi suất để rồi kết cục thế nào thì tớ miễn phải nhắc lại.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).