Thursday, 2 May 2013

Chính sách kinh tế ở Việt Nam: Trọng cầu hay trọng cung ? (Hình như là được nhận đăng trên TBKTSG)

Hai tác giả Phạm Thế Anh và Đinh Tuấn Minh (các tác giả) trên TBKTSG số ra ngày 4/4/2013 đã lập luận Việt Nam cần và nên theo đuổi các chính sách kinh tế trọng cung như đã làm kể từ cuối thập niên 80 cho đến 2007, thay vì “sa lầy” với chính sách quản lý tổng cầu, “loay hoay” giữa hai mục tiêu kiềm chế lạm phát và kích thích tăng trưởng như đang làm kể từ năm 2007. Trong bài viết này, chúng ta sẽ phân tích để xem các luận điểm của các tác giả có thật sự hợp lý hay không.

Khác biệt giữa chính sách kinh tế trọng cầu và trọng cung
Còn gọi là kinh tế học Keynes, kinh tế học trọng cầu là trường phái kinh tế vĩ mô cho rằng tăng tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế, đặc biệt trong ngắn hạn, nhất là trong giai đoạn suy thoái, khi sản lượng kinh tế được chi phối mạnh bởi tổng cầu. (Cần lưu ý rằng chính sách trọng cầu không nhất thiết chỉ đúng trong ngắn hạn, vì, ví dụ, vẫn có khả năng các doanh nghiệp chỉ đầu tư để mở rộng sản xuất khi nhu cầu mạnh hơn, thể hiện qua doanh số bán hàng lớn hơn).

Theo trường phái trọng cầu thì tổng cầu không nhất thiết bằng với năng lực sản xuất của nền kinh tế. Thay vào đó, tổng cầu bị chi phối bởi một loạt các yếu tố và đôi lúc biến động rất thất thường gây ảnh hưởng lớn lên sản xuất, việc làm và lạm phát.
Đối lập với trường phái trên, trường phái trọng cung cho rằng tăng trưởng kinh tế có thể được thúc đẩy mạnh mẽ nhờ hạ thấp những rào cản cho sản xuất, cung cấp hàng hóa và dịch vụ, như hạ thấp thuế thu nhập, và tăng tính linh hoạt nhờ giảm bớt điều tiết của Chính phủ. Người tiêu dùng lúc đó sẽ được lợi nhờ được tiếp cận với nguồn cung hàng hóa, dịch vụ dồi dào hơn với giá cả thấp hơn.

Nói chung, chính sách trọng cung là chính sách kinh tế vĩ mô trong dài hạn, dựa trên 3 trụ cột chính: chính sách thuế (chủ trương hạ thấp thuế thu nhập để kích thích đầu tư), chính sách điều tiết (chủ trương duy trì một Chính phủ nhỏ gọn và giảm thiểu can thiệp), và chính sách tiền tệ (chủ trương một chính sách tiền tệ ổn định hoặc tạo ra lạm phát thấp tương ứng với tăng trưởng kinh tế).  Tuy nhiên, ý tưởng duy nhất xuyên suốt trường phái này là sản xuất là yếu tố quan trọng nhất quyết định tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, chủ yếu thông qua việc giảm thiểu can thiệp của Chính phủ và hạ thuế để tạo ra các động lực khuyến khích làm việc, tiết kiệm, đầu tư, và áp dụng các công nghệ mới.
Chính sách trọng cung là tối ưu hơn?
Các tác giả và một số người khác dường như hàm ý rằng chính sách trọng cung là tối ưu hơn do đã được thực thi rộng rãi trên khắp thế giới và mang lại tăng trưởng cao và bền vững ở các nền kinh tế theo đuổi chúng. Thực tế không hoàn toàn như vậy.
Chính sách trọng cung đã bị phê phán khá mạnh trong cộng đồng các nhà kinh tế học.  Nhiều người khác thì cho rằng nó thiếu một lý thuyết cơ sở mạnh mẽ làm hậu thuẫn, và chẳng mang lại cái gì đặc biệt mới mẻ hay đối nghịch với kinh tế học chính thống. Và trên thực tế, có nhiều nước (cả phát triển và đang phát triển) không áp dụng những chính sách chính yếu thuộc về trường phái trọng cung như hạ thuế, giảm thiểu quy mô và sự can thiệp của Chính phủ, mà không nhất thiết trải qua suy giảm tăng trưởng hay trì trệ.

Bên cạnh đó, việc phân định rạch ròi các chính sách kinh tế đã và đang áp dụng ở một (số) quốc gia nào đó vào hoặc trường phái trọng cung hoặc trường phái trọng cầu tỏ ra là một sự đơn giản hóa vấn đề. Ngày nay hầu như tất cả các nhà kinh tế học và hoạch định chính sách kinh tế trên thế giới, tất nhiên kể cả ở Việt Nam, đều nhận thức được tầm quan trọng của việc cải cách cơ cấu kinh tế và cải thiện phía cung của nền kinh tế. Trên thực tế, hầu hết họ khi họ nói hay viết về tăng trưởng kinh tế trong dài hạn thì họ đều nói/viết về cách thức để tăng năng suất của nền kinh tế, bao hàm tất cả các yếu tố nằm về phía cung của nền kinh tế.
Điều quan trọng là sự đồng thuận rằng tổng cung (và việc tăng nó thông qua các biện pháp khuyến khích, cải thiện năng suất, tăng cường sáng tạo) quyết định sản lượng và phúc lợi trong dài hạn lại nhiều lúc bị  lạm dụng trong các cuộc luận chiến chính trị và kinh tế, với bên trọng cung nhấn mạnh rằng các Chính phủ nhỏ gọn hơn và mức thuế thấp hơn luôn là chính sách duy nhất có ý nghĩa (ở mọi thời điểm). Ngược lại, bên trọng cung luôn phủ định mọi chính sách tăng thuế và tăng vai trò của Chính phủ vì cho rằng chúng sẽ tạo ra những méo mó nghiêm trọng và giảm tăng trưởng.

Vì đơn giản hóa vấn đề một cách cực đoan (Trọng cung = Chính phủ nhỏ + Thuế thấp) nên chính sách trọng cung dường như đã bỏ qua nhiều biến số mà đã được nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực chứng chỉ ra là những yếu tố quyết định tăng trưởng, và nhiều trong số những biến số này có thể lại yêu cầu phải có vai trò can thiệp, điều tiết lớn hơn, chứ không phải nhỏ hơn, của Chính phủ. 
Việt Nam đã và đang theo đuổi những trường phái kinh tế nào?
Các tác giả cho rằng Những thành tựu kinh tế mà Việt Nam đạt được thông qua công cuộc “đổi mới” kể từ cuối thập niên 1980 chủ yếu nhờ những chính sách dựa trên nền tảng lý thuyết trọng cung chứ không phải quản lý tổng cầu (ví dụ, dỡ bỏ hàng rào nội thương, cho phép thành lập công ty tư nhân, khoán 10, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, gia nhập WTO...).

Có thể thấy các tác giả đã rất khiên cưỡng khi xếp các chính sách mà Việt Nam đã áp dụng như trên là dựa trên lý thuyết trọng cung. Đàng rằng những chính sách này ít nhiều góp phần dẫn đến cải cách cơ cấu kinh tế và cải thiện năng lực sản xuất, là điều mà hầu như ngày nay không nhà kinh tế học hay người hoạch định chính sách nào phủ định. Nhưng theo phân tích ở phần trên, nếu thực sự đúng là trường phái trọng cung thì những gì đã và đang diễn ra ở Việt Nam không phải là do chính sách trọng cung (hạ thuế, Chính phủ nhỏ hơn với ít can thiệp hơn) mang lại. Ngược lại, có thể thấy dấu vết can thiệp sâu rộng hơn của Chính phủ vào nền kinh tế với quy mô (của Chính phủ) lớn hơn rõ ràng.
Các tác giả cũng khiên cưỡng khi cho rằng: “... từ năm 2007 tới nay, Việt Nam lại bị sa lầy vào chính sách quản lý tổng cầu để loay hoay hết kiềm chế lạm phát lại sang kích thích tăng trưởng, mà không ý thức được rằng các chính sách này chỉ có tính ngắn hạn và nhất thời. Việc sử dụng chúng liên tục như là một chính sách dài hạn là nguyên nhân chính khiến cho nền kinh tế bất ổn liên tục trong những năm vừa qua.

Như đã nói ở trên, thực ra chính sách trọng cầu không nhất thiết chỉ đúng/có giá trị trong ngắn hạn mà nó còn có thể có ảnh hưởng lên tăng trưởng trong dài hạn hơn. Quan trọng hơn, cũng như đã nói ở phần đầu, trong bối cảnh suy thoái, khủng hoảng cả trong và ngoài nước như thời gian từ năm 2007 đến nay thì chính sách trọng cầu tỏ ra thích hợp và cần thiết, trong khi chính sách trọng cung nói chung về lý thuyết thì không giải thích được (thỏa đáng) tại sao lại có suy thoái, còn thực tế thì không cung cấp được những bằng chứng thực chứng xác đáng cho thấy nó có tác dụng vực nền kinh tế ra khỏi những cuộc suy thoái này.
Ngoài ra, cũng cần phải nói rằng kể cả trong giai đoạn từ năm 2007 đến nay thực tế Việt Nam vẫn nhấn mạnh và cố gắng đeo đuổi các chính sách cải thiện năng lực sản xuất, chứ không đơn thuần chỉ chú trọng vào chính sách kích cầu như các tác giả nhận định.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).