Wednesday, 7 May 2014

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là gì? (Bài đăng trên Doanh nhân Sài gòn Online, 7/5/2014, bản gốc)

Bài này được báo đặt lại tiêu đề: "Xây dựng thể chế kinh tế: Đâu là nền móng?"

http://www.doanhnhansaigon.vn/online/dien-dan-doanh-nhan/thoi-su/2014/05/1081138/xay-dung-the-che-kinh-te-dau-la-nen-mong/

---------------------

Bất chấp đã tốn khá nhiều giấy mực, câu hỏi trên, một câu hỏi cực kỳ quan trọng trong việc hoạch định đường lối chính trị và kinh tế Việt Nam dường như vẫn chưa có câu trả lời khả dĩ.
Quả thật, lục tìm lại các tài liệu về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có thể thấy vẫn chưa có một khái niệm rõ ràng thế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khái niệm chính thống thường được trích dẫn vẫn là từ văn kiện Đại hội Đảng, cho rằng đó là một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Từ khái niệm trên có thể thấy những nhà lý luận của Đảng đã đồng hóa cụm từ “định hướng xã hội chủ nghĩa” với cụm từ “có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Như vậy, để có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo khái niệm trên thì cần phải thỏa mãn ít nhất 2 điều kiện: có một nền kinh tế thị trường; và có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa để thực hiện chức năng “quản lý chặt chẽ” nền kinh tế thị trường đó. Nói cách khác, chỉ khi nào đã xây dựng được một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, đồng thời thiết lập được nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì lúc đó nền kinh tế mới có thể được gọi là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhưng đến đây lại nảy sinh ra vấn đề, vậy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là gì? Chỉ đến Đại hội VIII cụm từ “xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” mới chính thức xuất hiện thay cho cụm từ “xây dựng nhà nước pháp quyền” như là một yêu cầu được đặt ra từ Đại hội VI. Tuy nhiên, trong kỳ đại hội đó và các kỳ đại hội tiếp theo, khái niệm “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” vẫn không được làm rõ, ngoài việc khẳng định bản chất “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Các nhà lý luận của Đảng có giải thích thêm trong một nghiên cứu rằng: “Về mặt tư duy lý luận, có lẽ điểm khác biệt của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam so với các nhà nước pháp quyền khác là ở cơ chế vận hành của nhà nước, bởi vì ở các nhà nước pháp quyền tư sản thì cơ chế vận hành phổ biến là “tam quyền phân lập”. Việc Đảng ta xây dựng cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, chính là dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về nhà nước và pháp luật” (1). Nhưng lời giải thích này lại vấp phải sự mơ hồ khác ngay ở sự thừa nhận “có lẽ...” được bôi đậm trong câu trên, chưa kể đến những vấn đề phát sinh thêm là “quyền lực nhà nước thống nhất” thì liên quan thế nào đến, và nhà nước như vậy có nhất thiết nên được gọi là “nhà nước pháp quyền”?
Cũng vì mơ hồ như vậy nên sau Đại hội XI một số nhiệm vụ đã tiếp tục được đặt ra cho các nhà lý  luận của Đảng, trong đó có “cần xác định rõ những đặc trưng xã hội chủ nghĩa của nhà nước pháp quyền mà chúng ta đang xây dựng”, và “cần làm rõ cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” (1).

Thực tế trên cho thấy, việc đi tìm lời giải thích cho một khái niệm vẫn còn mơ hồ là “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” lại dẫn ta đến một khái niệm không kém mơ hồ khác có liên quan mật thiết là “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”. Và do đó, không khó hiểu khi các chuyên gia, quan chức và chính trị gia đã đưa ra những lý giải riêng của mình về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chẳng hạn, mới đây nhất thì có Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Nguyễn Đức Kiên cho rằng: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là nền kinh tế hoạt động theo nguyên tắc của kinh tế thị trường, và lợi nhuận được phân phối theo quan niệm của người cộng sản. Đó là khi tài nguyên, khoáng sản thuộc sở hữu toàn dân, thì lợi nhuận phải được điều tiết bằng thuế theo quy luật kinh tế thị trường".

Dễ thấy rằng lý giải như trên cũng không ổn khi nó lại đưa ra một khái niệm cũng hết sức mơ hồ khác là “lợi nhuận được phân phối theo quan niệm của người cộng sản”, vốn xem ra không liên quan gì đến cũng lời giải thích tiếp theo đó của ông Kiên rằng “lợi nhuận được điều tiết bằng thuế theo quy luật thị trường”.
Tóm lại, công cuộc đi tìm khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” xem ra sẽ là một cuộc trường chinh, tuy cũng có thể chưa đến mức vô vọng như Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh thẳng thừng chỉ ra rằng: “Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm”.

Nhưng nói như vậy không có nghĩa là Việt Nam nên loay hoay thử nghiệm hết mô hình kinh tế này đến mô hình kinh tế khác. Thay vào đó, điều cần làm là phải xây dựng cho được một nền kinh tế thị trường cho đúng nghĩa là kinh tế thị trường, để được thế giới công nhận và thôi không phân biệt đối xử làm tổn hại đến hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam và không châm ngòi cho những vụ kiện cáo sẽ xảy ra ngay trên lãnh thổ Việt Nam vì, ví dụ, nhà nước có sự phân biệt đối xử với các thành phần kinh tế, nhất là khi Việt Nam tiếp tục hòa nhập sâu với thế giới qua các hiệp định đa phương như TPP. Điều này là thiết yếu vì bất kể nền “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” có được hiểu và hoạch định ở Việt Nam thế nào chăng nữa thì nó vẫn cần và vẫn phải được xây dựng trên nền móng của một nền kinh tế thị trường thuần túy.

(1)    http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen/2014/25460/Xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-o-Viet.aspx

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).