Friday, 10 April 2015

Đừng thành kiến với vốn FDI (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, 11/4/2015)

Ngày 9.4, Trung tâm Thông tin và Dự báo KT - XH thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức hội thảo Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến kinh tế Việt Nam. Phát biểu tại hội thảo này, có ý kiến đã chỉ ra một số hạn chế cũng như tác động tiêu cực của vốn FDI lên nền kinh tế, đó là: chuyển giá; độc quyền trong một số lĩnh vực (nước uống có gas, thức ăn gia súc, chất tẩy rửa)…; chèn ép các doanh nghiệp trong nước ra khỏi thị trường ở một số lĩnh vực nhờ lợi thế vốn lớn và công nghệ mạnh, làm méo mó thị trường; và doanh nghiệp FDI còn lấn át doanh nghiệp nội địa ngay trong cả ngành công nghiệp phụ trợ, thể hiện qua ví dụ về Công ty Toyota Việt Nam với tỷ lệ nội địa hóa công bố là 40% nhưng trên thực tế những chi tiết đó phần lớn cũng được cung cấp bởi những doanh nghiệp FDI. 

Trên thực tế, không khó thấy những ý kiến trên chỉ là định kiến khắt khe và tiêu cực về vốn FDI và tác động của chúng lên nền kinh tế Việt Nam.

Trước tiên, về chuyện chuyển giá, cần khẳng định ngay rằng các doanh nghiệp cũng như cá nhân luôn có xu hướng tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận. Bởi thế, họ sẵn sàng và luôn tìm mọi cách để lách luật nhằm mục đích này. Việc chuyển giá cũng là một cách thức để các doanh nghiệp cắt giảm nghĩa vụ thuế phải nộp. Do đó, chuyển giá là thủ đoạn xấu hay đặc tính cố hữu không chỉ của doanh nghiệp FDI mà ngay cả doanh nghiệp trong nước, nếu có điều kiện. Khi đã có hiện tượng (hoặc có nghi ngờ) chuyển giá thì điều này có nghĩa là hệ thống luật lệ giám sát, theo dõi hoạt động của các doanh nghiệp đã có lỗ hổng, và, hoặc năng lực cũng như phẩm chất nhân viên thuế vụ liên đới bất cập, có vấn đề.

Vì vậy, để ngăn chặn chuyển giá thì việc cần làm không phải là ngăn chặn vốn, doanh nghiệp FDI vì cho rằng chúng có đặc tính xấu là chuyển giá. Thay vào đó, nguồn gốc của vấn đề là chuyện phải tìm cách lấp các lỗ hổng pháp lý, cũng như tăng cường năng lực và phẩm chất của nhân viên thuế vụ liên đới. Nếu không làm được như thế thì cho dù có ngăn chặn vốn, doanh nghiệp FDI, hiện tượng chuyển giá vẫn sẽ diễn ra ngay tại doanh nghiệp trong nước (ví dụ, thông qua một chi nhánh ma mở ở nước ngoài).

Về chuyện độc quyền trong một số lĩnh vực, thực ra, nên lấy làm mừng vì doanh nghiệp FDI đã chiếm được thế độc quyền, vì đâu có điều luật nào cấm, hạn chế các doanh nghiệp nội địa nhảy vào lĩnh vực này đâu, và cũng có điều luật nào cho phép doanh nghiệp được độc quyền đâu? Nếu doanh nghiệp FDI chi phối các lĩnh vực này thì có nghĩa là họ làm ăn hiệu quả hơn, cạnh tranh tốt hơn, làm các doanh nghiệp nội địa kém hiệu quả, kém cạnh tranh phải ra đi. Sự đào thải này nên được coi là một sự sàng lọc tự nhiên, đem lại sự lành mạnh cho cả cộng đồng. Ngược lại, nếu không có các doanh nghiệp FDI hiệu quả này, ai dám chắc các doanh nghiệp nội địa lại không độc quyền, để rồi cũng lũng đoạn thị trường giống như nỗi lo về doanh nghiệp FDI?

Tương tự như vậy là chuyện chèn ép doanh nghiệp trong nước, làm méo mó thị trường. Khi đã công nhận doanh nghiệp FDI là một thành phần kinh tế không thể thiếu được trong nền kinh tế thì phải công nhận sự cạnh tranh sòng phẳng giữa các thành phần kinh tế, mà cụ thể là giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa. Như đã nói ở trên, luật pháp không cho phép sự độc quyền, cũng không cho phép có sự cạnh tranh không lành mạnh, nên người thắng trong cuộc cạnh tranh hiện nay ắt phải là người thắng hợp pháp và xứng đáng, cho dù người thắng ở đây lại là doanh nghiệp FDI. Ngược lại, chính ra cần phải nói rằng, thị trường sẽ méo mó nếu các doanh nghiệp nội địa, vốn là kẻ thua cuộc, lại được bảo hộ, trợ giúp để không bị thua trong cạnh tranh với doanh nghiệp FDI để rồi chiếm lĩnh và làm cho thị trường đó hoạt động không hiệu quả, chi phí cao, chất lượng sản phẩm thấp.

Về lời phàn nàn rằng doanh nghiệp FDI cũng chi phối cả lĩnh vực công nghiệp phụ trợ, nên dù kêu gọi nhiều nhưng trên thực tế doanh nghiệp Việt Nam đang không tham gia được vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI. Đây rõ ràng không phải là lỗi của doanh nghiệp FDI. Họ không tạo ra một rào chắn giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp khi lựa chọn sản phẩm phụ trợ. Tiêu chí mà họ đặt ra chắc chắn là những yếu tố như chất lượng, giá thành, khối lượng, và thời gian giao hàng nên bất cứ doanh nghiệp nào đáp ứng được các tiêu chí này thì sẽ được lựa chọn làm nhà cung cấp cho doanh nghiệp FDI. Doanh nghiệp nội địa yếu kém đến mức độ không làm nổi con ốc vít đạt tiêu chuẩn (và tất nhiên với giá bán cạnh tranh được với con ốc vít cùng loại của doanh nghiệp phụ trợ FDI khác) thì chẳng có lý do gì mà doanh nghiệp FDI lại lựa chọn doanh nghiệp nội địa. Đặt vấn đề theo cách khác, tương tự như với trường hợp các ngành sản xuất khác, nếu trên cùng một lãnh thổ, trong cùng ngành nghề, với cùng một môi trường kinh doanh như nhau mà doanh nghiệp phụ trợ nội địa không làm được sản phẩm như doanh nghiệp phụ trợ FDI thì các doanh nghiệp nội địa cùng nên nhường sân chơi cho doanh nghiệp FDI, chứ Nhà nước không nên thúc ép, bảo hộ để doanh nghiệp nội địa chi phối lĩnh vực công nghiệp phụ trợ. Nếu làm như thế, chi phí sản xuất, và chất lượng sản phẩm chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng, làm cho các doanh nghiệp FDI sử dụng các sản phẩm phụ trợ này sẽ phải cân nhắc rút lui khỏi Việt Nam.

Và trên hết, dù là doanh nghiệp FDI nhưng xin lặp lại là chúng cũng đều là một cấu thành kinh tế quan trọng, không thể thiếu của Việt Nam. Bởi vậy, không nên có cái nhìn cũng như sự đối xử mang tính phân biệt giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa cũng tương tự như sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).